1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng

230 387 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 230
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, trong thực tế sản xuất của nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng ngoài việc thiết kế, cải tiến và hoàn thiện về ngư cụ và thiết bị khai thác, điều cần thiết là phải sử dụng nguồn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nha trang

Nguyễn Đức Sĩ

Nghiên cứu một số giải pháp

nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng

luận án tiến sĩ nông nghiệp

Nha Trang - 2006

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nha trang Nguyễn Đức Sĩ

Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng

Chuyên ngành: Nuôi cá biển và Nghề cá biển nước mặn, lợ

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan bản luận án này là công trình do tôi nghiên cứu Các nguồn tài liệu trích dẫn đã được công bố Kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa

được ai công bố

Người cam đoan

Nguyễn Đức Sĩ

Trang 4

lời cảm ơn

Xin chân thành cảm ơn:

- Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang

- Ban Chủ nhiệm Khoa Khai thác Thuỷ sản

- Phòng Đào tạo Đại học & Sau Đại học

đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn để tôi hoàn thành luận án

Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Động, TS Hoàng Hoa Hồng, TS Nguyễn Văn Lục, TS Nguyễn Bá Xuân, TS Trương Sĩ Kỳ, TS Lê Khả, các nhà khoa học, các Nghiên cứu viên của phòng Công nghệ Khai thác thuộc Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng, bạn bè và đồng nghiệp đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận án

Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo các Sở Thuỷ sản, Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thuỷ sản các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Bình Định, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Cà Mau, cảm ơn các thuyền trưởng, các chủ phương tiện nghề cá đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được tiếp cận thực tế sản xuất để điều tra, khảo sát

và làm thực nghiệm trên các tàu lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng ở 3 vùng biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông-Tây Nam Bộ

Trang 5

mục lục

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục 1

Danh mục các chữ viết tắt 4

Danh mục các bảng 5

Danh mục các hình 8

Mở đầu 9

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 13

1.1 Tình hình sử dụng nguồn sáng trên thế giới và ở Việt Nam 13

1.1.1 Tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề cá trên thế giới 13

1.1.2 Tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề cá ở Việt Nam 15

1.1.2.1 Tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây ở vùng biển Bắc Trung Bộ 18

1.1.2.2 Tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây ở vùng biển Nam Trung Bộ 20

1.1.2.3 Tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây ở vùng biển Đông - Tây Nam Bộ 20

1.1.2.4 Nhận xét tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng ở Việt Nam 21

1.2 Một số vấn đề tồn tại trong sử dụng nguồn sáng trên tàu lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng 22

Chương 2: Phương pháp và tài liệu nghiên cứu 25

2.1 Phương pháp nghiên cứu 25

2.1.1 Cơ sở dữ liệu nghiên cứu 25

2.1.2 Mô tả các thông số cần thu thập trên một mẻ lưới 26

2.1.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 27

2.1.4 Phương pháp xác định dữ liệu thực nghiệm 31

2.1.5 Phương pháp đo độ rọi trên biển 34

2.2 Tài liệu nghiên cứu 35

Trang 6

2.2.1 Nguồn dữ liệu đã công bố 35

2.2.2 Dữ liệu thu thập thông qua phỏng vấn 37

2.3 Thiết bị và dụng cụ đo đạc 37

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 38

3.1 Kết quả điều tra thực trạng 38

3.1.1 Năng lực tàu thuyền nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng ở các vùng biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông - Tây Nam Bộ 38

3.1.2. Tình hình sử dụng nguồn sáng trên tàu lưới vây xa bờ 43

3.1.2.1 Tình hình sử dụng máy phát điện 43

3.1.2.2 Sử dụng nguồn sáng trên tàu lưới vây ở vùng biển Bắc Trung Bộ 44

3.1.2.3 Sử dụng nguồn sáng trên tàu lưới vây ở vùng biển Nam Trung Bộ 45

3.1.2.4 Sử dụng nguồn sáng trên tàu lưới vây ở vùng biển Đông - Tây Nam Bộ 46

3.1.2.5 Tổng hợp việc sử dụng nguồn sáng trên tàu lưới vây 3 vùng biển 49

3.1.2.6 Ưu nhược điểm của việc sử dụng nguồn sáng 50

3.2 Phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố nguồn sáng đến hiệu quả khai thác của nghề vây 52

3.2.1 Phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố nguồn sáng đến hiệu quả khai thác của nghề vây 52

3.2.1.1 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá Nục sò của tàu lưới vây ở vùng biển Bắc Trung Bộ 53

3.2.1.2 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá Nục sò của tàu lưới vây ở vùng biểnNam Trung Bộ 57

3.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá Nục sò của tàu lưới vây ở vùng biểnĐông Nam Bộ 61

3.2.2 Xác định tương quan định lượng một số yếu tố tương tác mạnh đến sản lượng khai thác cá Nục sò trên tàu lưới vây 6 tỉnh ven biển 65

3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề vây xa bờ 78

3.3.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng giải pháp 78

Trang 7

3.3.1.1 Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của nguồn sáng 78

3.3.1.2 Cơ sở thực tiễn sản xuất ở vùng nghiên cứu 79

3.3.2 Đề xuất một số giải pháp 88

3.3.2.1 Cải tiến và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng 88

3.3.2.2 Tổng hợp một số giải pháp 95

3.3.2.3 Thiết kế máng đèn, choá đèn và phụ kiện 96

3.3.2.4 Đào tạo và nâng cao kỹ thuật sử dụng hệ thống chiếu sáng 97

3.3.2.5 Chính sách về vốn, đầu tư trang thiết bị 98

3.4 Kết quả kiểm chứng một số thông số trên biển 99

3.4.1 Các thông số cần kiểm chứng 99

3.4.2 Kiểm chứng phạm vi chiếu sáng trên mặt nước và dưới nước 99

3.4.3 Kiểm chứng trang bị loại bóng đèn 101

3.4.4 Kiểm chứng độ cao treo đèn 104

Kết luận và ý kiến đề xuất 105

Danh mục các công trình đã công bố 109

Tài liệu tham khảo 110

Phụ lục 115

Trang 8

danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

MH Metal Halide (cao ¸p Halogen- kim lo¹i)

NH High Pressure Sodium (cao ¸p h¬i Natri) BR-VTµu Bµ RÞa - Vòng Tµu

Trang 9

danh mục các bảng

1 Bảng 2.1: Phân bố dữ liệu điều tra theo mẻ lưới từ năm 2002 đến

2 Bảng 2.2: Phân bố số lượng tàu và công suất máy chính 26

3 Bảng 2.3: Ma trận thông tin của yếu tố X(B) với hiện tượng nghiên

13 Bảng 3.9: Thống kê số lượng bóng huỳnh quang và bóng cao áp trên

14 Bảng 3.10: Thống kê các loại bóng đèn sử dụng trên tàu lưới vây ở

Trang 10

15 Bảng 3.11: Tổng công suất nguồn sáng trên tàu lưới vây xa bờ 3

16 Bảng 3.12: Các loại bóng đèn sử dụng trên tàu lưới vây xa bờ 3

17 Bảng 3.13: Bố trí nguồn sáng trên tàu lưới vây xa bờ 3 vùng biển 49

18 Bảng 3.14: Tổng hợp kênh liên hệ riêng yếu tố Xi với

19 Bảng 3.15: Các chỉ số thông tin của từng yếu tố với

20 Bảng 3.16:Tổng hợp kênh liên hệ riêng của yếu tố Xi với

21 Bảng 3.17: Tổng hợp các chỉ số thông tin với

21 Bảng3.18:Tổng hợp kênh liên hệ riêng yếu tố X[B] và hiện tượng

22 Bảng 3.19 Tổng hợp các chỉ số thông tin với

23 Bảng 3.20: Tương quan định lượng giữa tổng công suất nguồn sáng,

độ cao treo đèn và góc treo đèn đến sản lượng cá Nục sò 65

27 Bảng 3.24: Tương quan định lượng giữa tổng công suất nguồn sáng,

độ cao treo đèn và góc treo đèn đến sản lượng cá Nục sò ở

28 Bảng 3.25: Tổng hợp tương quan định lượng của các yếu tố tương

tác mạnh đến sản lượng cá Nục sò ở 3 vùng biển 76

Trang 11

29 Bảng 3.26: Cỡ tàu và công suất máy phát điện trên tàu lưới vây

30 Bảng 3.27: Quan hệ định lượng giữa tổng công suất nguồn sáng,

độ cao treo đèn, góc treo đèn với sản lượng trung bình cá Nục sò 89

31 Bảng 3.28: Quan hệ định lượng giữa tổng công suất nguồn sáng,

độ cao treo đèn, góc treo đèn với sản lượng trung bình cá Nục sò 91

32 Bảng 3.29: Quan hệ định lượng tổng công suất nguồn sáng, độ cao

treo đèn, góc treo đèn với sản lượng trung bình cá Nục sò 93

33 Bảng 3.30: Các giải pháp trang bị nguồn sáng trên tàu lưới vây

Trang 12

5 Hình 3.5: Số lượng tàu lưới vây xa bờ của Bà Rịa - Vũng Tàu,

6 Hình 3.6: Tổng công suất tàu lưới vây Bà Rịa - Vũng Tàu,

7 Hình 3.7:Hiệu suất sử dụng máy phát điện trên tàu lưới vây

8 Hình 3.8: Quan hệ giữa độ rọi và kích thước vùng được chiếu sáng

Trang 13

Sản lượng khai thác của nghề lưới vây kết hợp ánh sáng phụ thuộc nhiều yếu

tố, ngoài yếu tố về điều kiện tự nhiên của vùng biển còn phụ thuộc vào cấu trúc ngư

cụ, phương tiện khai thác và phương pháp tổ chức khai thác Trong các yếu tố ảnh hưởng đó, thì nguồn sáng dùng để tập trung cá đóng vai trò quan trọng, quyết định phần lớn đến hiệu quả đánh bắt

ở mỗi địa phương, tuỳ theo kinh nghiệm và thói quen nghề nghiệp cũng như mức thu nhập của từng hộ gia đình và chủ phương tiện mà trên mỗi con tàu có những cách trang bị ngư cụ, phương tiện khai thác cũng như việc sử dụng nguồn sáng khác nhau Điều đó cho thấy tính đa dạng, phức tạp và không đồng bộ của nghề nghiệp, mà điển hình là việc sử dụng nguồn sáng khác nhau trong đánh bắt Ngư dân có xu hướng tăng công suất nguồn sáng trên tàu trong khi cỡ lưới vẫn giữ nguyên không thay đổi, điều đó dẫn đến làm tăng chi phí trong khai thác và sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các nghề Ngay trong cùng một địa phương, cùng một ngư trường, nhưng việc trang bị hệ thống chiếu sáng cũng khác nhau rõ rệt

Vì vậy, trong thực tế sản xuất của nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng ngoài việc thiết kế, cải tiến và hoàn thiện về ngư cụ và thiết bị khai thác, điều cần thiết là phải sử dụng nguồn sáng cho tàu thuyền như thế nào là hợp lý để vừa nâng cao năng suất đánh bắt vừa bảo vệ được nguồn lợi thuỷ sản Trên mỗi con tàu, ngư dân cần phải trang bị nguồn sáng với công suất chiếu sáng bao nhiêu đang là vấn đề cấp thiết đặt ra từ thực tế cần phải được các nhà khoa học, các nhà quản lý nghề cá quan tâm nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất của nghề lưới vây ở các

địa phương trong cả nước

Trang 14

Được sự đồng ý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Nha Trang, tôi

đã thực hiện đề tài: ²Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng

nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng²

- Mục đích của đề tài

+ Khảo sát và đánh giá việc sử dụng các loại nguồn sáng trong nghề lưới vây

xa bờ ở các địa phương nghề cá trọng điểm

+ Đề xuất một số giải pháp hợp lý trong việc sử dụng nguồn sáng để nâng cao hiệu quả đánh bắt của nghề vây xa bờ ở nước ta

- Đối tượng nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu là tàu thuyền nghề lưới vây xa bờ có công suất máy

từ 90CV trở lên, có sử dụng nguồn sáng nhân tạo và hoạt động đánh bắt trong năm

ở các vùng nước xa bờ theo đúng quy định của Nhà nước

- Phạm vi nghiên cứu

+ Nghiên cứu thực trạng sử dụng các loại nguồn sáng trong nghề lưới vây xa

bờ kết hợp ánh sáng như đèn cao áp, đèn huỳnh quang Các loại bóng đèn này được lắp đặt trong các choá đèn, máng đèn và được cố định trên tàu

+ Nghiên cứu một số thông số kỹ thuật có liên quan đến hiệu quả sử dụng nguồn sáng như công suất nguồn sáng, độ cao treo đèn, góc treo đèn, diện tích chiếu sáng, độ sâu chiếu sáng

+ Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng của nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng với đối tượng chính là cá Nục sò

(Decapterus maruadsi)

+ Giới hạn nghiên cứu ở một số địa phương có nghề vây xa bờ kết hợp ánh sáng phát triển mạnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông-Tây Nam Bộ

+ Dựa vào tàu thuyền nghề vây xa bờ kết hợp ánh sáng của ngư dân đang hoạt động sản xuất trên biển để thực nghiệm đo đạc số liệu

- Địa điểm nghiên cứu

Do địa bàn nghề cá Việt Nam trải rộng trên nhiều tỉnh, thành nên chúng tôi không có điều kiện thu thập dữ liệu nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng trên cả

Trang 15

nước, mà chỉ tập trung thu thập dữ liệu ở những tỉnh có nghề lưới vây kết hợp ánh sáng xa bờ phát triển mạnh

+ Khu vực Bắc Trung Bộ: gồm có 6 tỉnh, nhưng chúng tôi chỉ chọn 2 tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An để thu thập số liệu, vì ở khu vực này có nghề vây xa bờ kết hợp ánh sáng phát triển mạnh, tàu thuyền cùng đánh bắt trên ngư trường vịnh Bắc

Bộ từ đường đẳng sâu 30m nước trở ra thuộc vùng biển xa bờ

Các tỉnh khác thuộc khu vực Bắc Bộ như Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng…có nghề vây xa bờ kết hợp ánh sáng chưa phát triển mạnh nên chúng tôi không chọn để nghiên cứu

+ Khu vực Nam Trung Bộ: gồm có 8 tỉnh, thành, nhưng chúng tôi chỉ chọn

2 tỉnh Bình Định và Bình Thuận để thu thập dữ liệu, vì đây là những địa phương có nghề vây xa bờ kết hợp ánh sáng phát triển mạnh và cùng đánh bắt trên ngư trường Nam Trung Bộ từ đường đẳng sâu 50m nước trở ra thuộc vùng biển xa bờ

+ Khu vực Đông - Tây Nam Bộ: Gồm một số tỉnh, thành có nghề cá thuộc khu vực Đông Nam Bộ và một số tỉnh có nghề cá thuộc khu vực Tây Nam Bộ, nhưng do tàu thuyền nghề vây kết hợp ánh sáng đánh bắt xa bờ ở 2 khu vực này cùng đánh cá chung trên ngư trường Đông Nam Bộ từ đường đẳng sâu 30m nước trở

ra thuộc vùng biển xa bờ, nên chúng tôi chọn 3 tỉnh có nghề cá phát triển mạnh là

Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang và Cà Mau để thu thập dữ liệu và nghiên cứu

- Các nội dung được tiến hành khảo sát trên tàu lưới vây xa bờ

- Trang bị và hiệu quả sử dụng nguồn sáng của các loại đèn cao áp, đèn huỳnh quang (số lượng bóng đèn, công suất bóng đèn, kết cấu máng đèn, choá

đèn…)

- Cách bố trí máng đèn, choá đèn, độ cao treo đèn, góc treo đèn

- Trang bị và hiệu quả sử dụng máy phát điện xoay chiều

- Số mẻ lưới đánh bắt trong chuyến biển và sản lượng cá Nục sò (Decapterus maruadsi) trong các mẻ lưới

- Thực nghiệm đo độ rọi trên mặt nước và dưới nước của nguồn sáng được trang bị trên tàu cá

Trang 16

- ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

+ Luận án đã tiến hành điều tra, khảo sát một cách tổng thể về tình hình sử dụng nguồn sáng trong phạm vi cả nước và góp phần làm rõ những bất cập trong sử dụng nguồn sáng của nghề lưới vây xa bờ ở 3 vùng biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung

Bộ và Đông - Tây Nam Bộ

+ Trên cơ sở kết quả điều tra hiện trạng, bằng các phương pháp thông kê toán học để xác định các yếu tố nguồn sáng tác động đến hiệu quả đánh bắt của nghề lưới vây xa bờ, đưa ra những nhận xét và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ ở Việt Nam

+ Kết quả của luận án góp phần giúp cho các cơ quan quản lý nghề cá giải quyết được những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn chỉ đạo sản xuất, làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định phát triển nghề vây xa bờ kết hợp ánh sáng một cách

đồng bộ giữa các vùng biển, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm áp lực khai thác nguồn lợi thuỷ sản vùng ven bờ nước ta

Trang 17

Chương 1 tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề cá trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề cá trên thế giới

ánh sáng nhân tạo dùng trong nghề cá được sử dụng rộng rãi trên thế giới và

đã đạt đến trình độ công nghệ cao Việc bố trí nguồn sáng tập trung cá đã được thế giới quan tâm giải quyết từ những thập niên 40, 50 của thế kỷ XX Nghề đánh cá kết hợp ánh sáng ở Liên Xô (cũ) đã bắt đầu thử nghiệm đánh cá trích caxpi bằng máy bơm hút PБ-100 và mãi đến năm 1955 mới áp dụng thành công đánh cá trích caxpi bằng máy bơm hút kết hợp ánh sáng [45]

Nhật Bản là nước đã sớm sử dụng rộng rãi ánh sáng điện vào thực tế đánh bắt nhiều loài cá từ năm 1900 Nghề đánh cá trích sác-din phát triển ở Kyushu phía Tây Nhật Bản, đặc biệt là ở vùng Nagasaki, người ta dùng đèn điện trên mặt nước và đèn

điện dưới để đánh các loài cá thu, cá trích, cá sòng, mực với số lượng tàu có tới 20.000 chiếc tập trung làm nghề đánh cá kết hợp ánh sáng Sản lượng các nghề có

sử dụng ánh sáng ở Nhật Bản chiếm khoảng 25% tổng sản lượng khai thác hàng năm (1976) [49]

Khác với nghề đánh cá mòi ở vùng Địa Trung Hải hoặc ở Mỹ, trên một đơn

vị thuyền đánh lưới vây hai tàu Nhật Bản có 3 xuồng đèn, mỗi xuồng có trọng tải 6 tấn, công suất 40 á 50 CV Một trong hai tàu đó có công suất 500 á 850CV, trọng tải từ 90 á 110 tấn, tàu kia cũng được trang bị đèn và máy dò cá Nghề đánh cá bằng lưới vây kết hợp ánh sáng ở Nhật Bản chiếm ưu thế từ những năm 30 của thế

kỷ XX [48], [49]

Ngày nay, công suất nguồn sáng cực đại được phép sử dụng đến 10kW trên một xuồng đèn và 7,5kW trên xuồng thăm dò cá Mỗi xuồng đèn dùng 4 á5 bóng 1kW để chiếu sáng trên mặt nước và 2 bóng 2kW chiếu sáng trong nước có thể đạt

đến độ sâu lớn nhất 100m [49]

Trang 18

ở Philippin, Indonesia nghề đánh cá kết hợp ánh sáng phát triển mạnh vào những năm 1960-1965 ở các nước ven biển Địa Trung Hải như Nam Tư (cũ), ý, Pháp cũng có nhiều thành công trong sử dụng nguồn ánh sáng điện để đánh cá Việc sử dụng nguồn sáng và kỹ thuật lắp đặt nguồn sáng trên tàu ở một số nước có

sự khác nhau rõ rệt [45]

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản, nếu trang bị công suất nguồn sáng vượt quá 2,5 kW/tấn trọng tải của tàu, thì mức ánh sáng đó có tác dụng tiêu cực đối với sinh vật biển Đối với Nauy, Luật Nghề cá nước này quy định phạm

vi công suất nguồn sáng dùng cho đánh cá trích không quá 15 kW cho mỗi tàu Nghề đánh cá thu đao Nhật Bản và Liên Xô (cũ) dùng 1 á 2 đèn pha công suất 2 á5 kW cộng thêm dãy sáng trên tàu 3500 á 6000W với tổng công suất sử dụng 5000 á 9000W Liên Xô (cũ) đã dùng đèn chiếu sáng trên tàu và chiếu sáng dưới nước loại bóng 1á1,5 kW với tổng công suất 4000 á 6000W trong nghề đánh cá trích caxpi ở Nam Tư (cũ), nghề lưới vây kết hợp ánh sáng đánh cá trích dùng 3 xuồng lắp các bóng đèn chiếu sáng, mỗi xuồng bố trí 6 á 9 bóng đèn 500W với tổng công suất từ 9000 á13.500W [45]

Theo giáo sư Gunzo Kawamura, đa số các nước phát triển nghề đánh cá kết hợp ánh sáng đều dựa theo kinh nghiệm Việc xác định các tiêu chuẩn nguồn sáng hợp lý cho từng nghề, đối tượng hay từng khu vực đánh bắt gặp phải không ít khó khăn, xu hướng hoàn thiện nguồn sáng chỉ được áp dụng cho từng nước, chứ không thể xây dựng tiêu chuẩn nguồn sáng trong đánh bắt cá chung cho toàn thế giới [1], [51]

Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Shigeo Hayase, Chuichi Miyata, Tomeyoshi Yamazaki, Srinsunan Narintharangkura thuộc Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam á (SEAFDEC) [53], và các tác giả Sakul Supongun, Pirochana Saikliang thuộc Khoa Khai thác, Cục Khai thác cá biển Thái Lan [53], nghiên cứu

đề tài: “ Bước đầu đánh giá hiệu quả cường độ chiếu sáng cho nghề lưới vây ở Thái Lan” đã đưa ra kết luận:

Trang 19

- Việc nâng cao công suất nguồn sáng có thể làm tăng hiệu quả tập trung đàn cá trên diện rộng, nhưng không có hiệu quả để giữ đàn cá quanh nguồn sáng

- Khi dùng đèn chiếu sáng trên mặt nước, thay vì nâng công suất nguồn sáng thì nên nâng độ cao treo đèn sẽ có lợi hơn

- Một đèn chiếu sáng trong nước có lợi hơn trong việc tăng độ sáng theo chiều thẳng đứng Khi đặt một đèn có công suất 3kW hoặc 5kW ở độ sâu lớn hơn 5m ở ngư trường xa bờ sẽ bảo vệ được ấu trùng của nguồn lợi thuỷ sản (ấu trùng này thường bắt gặp ở vùng ngư trường gần bờ)

Mối quan hệ giữa cường độ chiếu sáng và hiệu quả hấp dẫn cá được xác định thông qua việc nghiên cứu hiệu quả đánh bắt bằng việc sử dụng công suất điện của các bóng đèn tiêu thụ dùng để phát sáng [45], [46], [53]

Trong kết quả thực nghiệm, các tác giả bước đầu đã xây dựng được biểu đồ

đường đẳng lux cho các loại đèn có công suất khác nhau đặt trên mặt nước và trong lòng nước Nhưng các kết quả thực nghiệm này chưa được thực hiện trên biển trong lúc tàu đang sản xuất [54], [55]

Theo kết quả thí nghiệm của I.V Nhicônôrôp với các nguồn sáng có cùng công suất, thì sử dụng nguồn sáng với kích thước bóng đèn lớn đạt hiệu quả cao hơn bóng đèn có kích thước nhỏ [45]

Tóm lại, việc sử dụng các loại nguồn sáng và phương pháp tổ chức chiếu sáng tập trung cá đối với nghề cá nhiều nước trên thế giới đã áp dụng một cách rộng rãi, phù hợp với lý thuyết đánh cá kết hợp ánh sáng

Tuy nhiên, việc xây dựng các tiêu chuẩn nguồn sáng cho từng nghề phải

được mỗi nước tự hoàn thiện, mà không thể xây dựng một tiêu chuẩn chung về trang bị nguồn sáng cho tất cả tàu thuyền trên toàn thế giới được

1.1.2 Tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề cá ở Việt Nam

Trang 20

trích, cá lầm, mực Các nghề khai thác hải sản gồm có nghề vây, nghề vó, pha xúc, nghề chụp mực, mành đèn

Các loại nguồn sáng sử dụng trên tàu gồm có đèn măng xông, đèn sợi đốt,

đèn huỳnh quang, đèn cao áp Cách trang bị, bố trí nguồn sáng và tổ chức chiếu sáng của ngư dân ở mỗi nghề, mỗi tàu, mỗi địa phương đều khác nhau Ngư dân tự tìm hiểu, học tập kinh nghiệm qua lại giữa các địa phương với nhau hoặc học tập một số thuyền trưởng của Thái Lan, Trung Quốc để tự trang bị phương tiện đánh bắt và tự phát triển nghề nghiệp của mình

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng cho thấy,

từ những năm 1959-1960 của thế kỷ XX cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu và thực nghiệm về lĩnh vực đánh cá kết hợp ánh sáng Khởi đầu là thực nghiệm nguồn sáng tập trung cá ở vịnh Bắc bộ trên tàu ONDA và trên tàu Oclit, do đoàn

điều tra nghề cá Liên Xô (cũ) giúp đỡ (1960-1961) Ngư cụ dùng cho thực nghiệm

là lưới nâng hình chóp và lưới vó mạn tàu Nguồn sáng sử dụng trên tàu là loại bóng cao áp 500W, bố trí trong các choá đèn Tổng công suất nguồn sáng làm thực nghiệm là 4000W Kết quả đánh bắt trong các lần thử nghiệm chưa được khả quan [1]

Năm 1962-1963 đoàn khảo sát đã tiến hành thí nghiệm đánh cá bằng lưới nâng hình chóp kết hợp ánh sáng điện, công suất nguồn sáng sử dụng trên tàu là 13.600W Kết quả đánh bắt trong 57 mẻ đạt được 430 kg cá [1]

Năm 1964 đoàn tiến hành thử nghiệm đánh cá bằng lưới mành rút di động kết hợp ánh sáng điện với công suất nguồn sáng tăng lên 16700W Kết quả đánh bắt 44

mẻ đạt sản lượng 486 kg cá Cũng trong thời gian này, đoàn khảo sát tiến hành đánh cá bằng lưới vây bán nguyệt kết hợp ánh sáng với công suất nguồn sáng 4500W Kết quả đánh bắt 47 mẻ lưới đạt 2864 kg [1]

Giai đoạn từ 1967-1972, các đề tài cơ giới hoá nghề vó đèn, vây cơ giới trên tàu VĐ 90CV và trên tàu 250CV, nghiên cứu cải tiến nhiên liệu đốt đèn măng xông

4 mạng, nghiên cứu sử dụng nguồn sáng trong nước tập trung cá Thực nghiệm đánh cá bằng ánh sáng điện ở Quảng Bình; thực nghiệm đánh cá bằng ánh sáng điện trong nước ở Thái Bình Các công trình, đề tài nghiên cứu thực nghiệm trong giai

Trang 21

đoạn này đều mang nội dung nghiên cứu ngư cụ đánh bắt là chủ yếu, còn phần nghiên cứu kỹ thuật nguồn sáng ít được chú ý Nguồn sáng sử dụng trong thời kỳ này là nguồn sáng điện với công suất từ 5000 á10000W với mạng điện chiếu sáng hỗn hợp cả trong nước và trên mặt nước Đối tượng đánh bắt chủ yếu bao gồm: Cá nục (Decapterus spp.), cá lầm, cá trích (Sardinella spp.), cá cơm (Anchoviella spp.),

mực ống (Loligo spp.), cá thu (Scomberomorus spp.), cá bạc má (Rastreliger kanagurta), cá bánh đường (Evynnis cardinalis) [1]

Các đề tài nghiên cứu nổi bật khác như: Sử dụng ánh sáng đèn măng xông cho tàu lưới vây cơ giới của Lê Nguyên Cẩn (1977), sử dụng ánh sáng điện đánh bắt tôm bằng lưới vây ở Kiên Giang của tác giả Nguyễn Hiện (1977), sử dụng ánh sáng đèn huỳnh quang đánh cá bằng lưới vây ở Thuận Hải (1980), nghiên cứu lưới vây khơi kết hợp ánh sáng và máy dò cá của Lê Nguyên Cẩn và Hồng Biểu (1983) cũng mang lại hiệu quả đánh bắt cao [1]

Năm 1990 nước ta du nhập nghề câu mực và lưới vó mạn tàu kết hợp ánh sáng mạnh của Hàn Quốc, năm 1992 du nhập nghề chụp mực của Thái Lan

Năm 1991 tác giả Nguyễn Đình Dũng - Vụ Khoa học Công nghệ, Bộ Thuỷ sản và tác giả Nguyễn Văn Lục - Viện Hải Dương học Nha Trang thực hiện đề tài

“Xác định ảnh hưởng của ánh sáng cưỡng bức và ánh sáng đèn cao áp thuỷ ngân

đến sự sống của một số loài cá, tôm” ở tỉnh Khánh Hoà nhằm giải đáp thắc mắc của dư luận nghề cá về việc ánh sáng mạnh làm nổ mắt cá [14]

Năm 2001 tác giả Vũ Duyên Hải và cộng tác viên của Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu tác động của sử dụng cường độ ánh sáng mạnh

đối với một số loài cá (cá cơm, cá trích, cá nục) và mực trong khai thác hải sản” trong nghề lưới vây kết hợp ánh sáng, nghề pha xúc và nghề chụp mực ở ba vùng Bắc, Trung, Nam Việt Nam nhằm xác định ảnh hưởng của ánh sáng mạnh đối với các loài hải sản và trả lời câu hỏi của dư luận có liên quan đến việc sử dụng cường độ ánh sáng mạnh trong khai thác hải sản có làm nổ mắt cá và gây ra ảnh hưởng lâu dài đến thị lực của cá, mực hay không [6]

Những kết quả nghiên cứu trong các giai đoạn trước đây đi sâu giải quyết một số vấn đề kỹ thuật về nguồn sáng tập trung cá gồm: Vùng chiếu sáng của đèn

Trang 22

măng xông 4 mạng, công suất nguồn sáng, sự biến động đàn cá trong vùng chiếu sáng, sự biến động đàn cá trong lúc đánh bắt, ảnh hưởng của ánh sáng mạnh đến các loài hải sản vv

Kết quả nghiên cứu trong thời gian này đã cho chúng ta những cơ sở kỹ thuật

về nghề đánh cá ánh sáng Số liệu thống kê nguồn sáng và sản lượng đánh bắt của mỗi vùng tuy chưa nhiều, nhưng đã khẳng định được rằng, nghề đánh cá kết hợp

ánh sáng ở nước ta có những đặc điểm riêng biệt về các mặt đối tượng đánh bắt, vùng đánh bắt, mùa vụ khai thác

Trong những năm gần đây, nghề đánh cá kết hợp ánh sáng ở Việt Nam ngày càng có xu hướng phát triển mạnh với số lượng tàu thuyền lớn và mở rộng khắp cả nước với các nghề đánh bắt chủ yếu: Nghề vó, nghề mành, nghề câu, nghề chụp mực, trong đó nổi bật là nghề vây kết hợp ánh sáng

Ngư trường hoạt động của nghề vây tập trung ở các ngư trường vịnh Bắc Bộ, miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Đặc biệt là ở khu vực miền Đông và miền Tây Nam Bộ như Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Cà Mau, nghề vây kết hợp

ánh sáng phát triển mạnh ở các trung tâm nghề cá như Long Hải, Thành phố Mỹ Tho và thị trấn Sông Đốc với đội tàu lưới vây có công suất tàu và công suất nguồn sáng lớn, đánh bắt ở các ngư trường xa bờ, năng suất đánh bắt cao

ở khu vực Bắc Trung Bộ, nghề vây ánh sáng được phát triển mạnh ở một số

địa phương như: Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Trị ở khu vực Nam Trung Bộ như: Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận ở khu vực Đông - Tây Nam Bộ như Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Cà Mau, Kiên Giang [41]

1.1.2.1 Tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây ở vùng biển Bắc Trung Bộ

Theo kết quả nghiên cứu “Kỹ thuật sử dụng nguồn sáng tập trung cá ở Việt Nam” giai đoạn 1981-1982 của kỹ sư Lê Nguyên Cẩn - Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng cho thấy, vào thập niên 60 -70 của thế kỷ XX, ngư dân Hải Phòng đã sử dụng nguồn sáng đèn măng xông 4 mạng trong nghề vây bán nguyệt Sản lượng

đánh bắt bằng nghề ánh sáng ở Hải Phòng không ngừng được nâng cao, chiếm tỷ

Trang 23

trọng 50% (năm 1972) lên 80% (năm 1976) trong tổng sản lượng thuỷ sản khai thác

được [19]

Đến nay đèn măng xông đã được thay thế bằng đèn điện trang bị trên những con tàu làm nghề vây có công suất lớn và vươn ra khai thác xa bờ Công suất bóng cao áp 1000W/bóng được bố trí ở hai bên mạn tàu, rất đa dạng về chủng loại đèn và phương pháp tổ chức chiếu sáng hiện đại hơn giai đoạn trước đây

Trong những năm gần đây, nhất là giai đoạn 1996 - 2002, ở các địa phương như Thị xã Sầm Sơn (tỉnh Thanh Hoá), hợp tác xã Vạn Xuân- Nghi Lộc (tỉnh Nghệ An), nghề đánh cá kết hợp ánh sáng đã có những bước phát triển mạnh so với trước

đây

Tại Thanh Hoá số lượng tàu thuyền làm nghề vây kết hợp ánh sáng tính đến năm 2003 có 228 chiếc, trong đó số tàu lắp động cơ công suất từ 45CV đến lớn hơn 150CV là 198 chiếc chiếm 86,8% Riêng ở Thị xã Sầm Sơn, số lượng tàu lưới vây

có công suất từ 45CV trở lên có 162 chiếc, chiếm 81,8% trong tổng số tàu thuyền

có công suất máy từ 45CV trở lên trong toàn tỉnh [33] Khối tàu có công suất lớn khai thác xa bờ được đầu tư đóng mới giai đoạn 1997 - 2001 là 95 chiếc Sản lượng khai thác trong năm 2000 đạt 6145 tấn trong tổng số 8584 tấn của đội tàu khai thác

xa bờ của tỉnh, chiếm 71,58% sản lượng Số ngày hoạt động bình quân từ 180 á190 ngày/tàu/năm Bình quân năng suất một mẻ đạt 360 kg [33]

Trang bị nguồn sáng trên tàu lưới vây là các loại đèn huỳnh quang loại 1,2m/40W, đèn cao áp có công suất từ 300 á1000W, mỗi tàu bố trí 4 á 6 bóng cao

áp, mỗi mạn 2 á3 bóng, phổ biến nhất là bố trí 2 bóng 1000W và 1 bóng 500W

Tại Nghệ An, theo số liệu khảo sát trên 28 tàu thuyền nghề vây kết hợp ánh sáng hoạt động xa bờ của KS Nguyễn Đình Nhân - Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng thì năng suất đánh bắt bình quân đối với khối tàu 45á89CV đạt 386,9 kg/mẻ; khối tàu 90á150CV đạt 389,4 kg/mẻ; khối tàu 151á300CV đạt 369,2 kg/mẻ; khối tàu >300CV đạt 500kg/mẻ [32]

Nguồn sáng trang bị cho nghề lưới vây là bóng huỳnh quang kết hợp với bóng cao áp, số lượng bóng cao áp từ 3 á4 bóng, công suất bóng từ 500 á 1000W

Trang 24

1.1.2.2 Tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây ở vùng biển Nam Trung Bộ

Trong những năm 1978 - 1982 nghề vây kết hợp ánh sáng ở các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ phát triển mạnh và đạt nhiều kết quả đáng kể, trong đó các tỉnh Bình

Định, Ninh Thuận và Bình Thuận là các địa phương có tốc độ phát triển nhanh và mạnh cả về số lượng và công suất tàu thuyền, năng suất và kỹ thuật đánh bắt không ngừng được cải tiến [1], [40]

Hiện nay tàu thuyền có công suất máy chính từ 90 á150CV và từ 151 á 300CV tăng mạnh Sản lượng của khối tàu 90 á150CV đạt năng suất cao nhất là 470kg/mẻ Riêng ở Bình Thuận một số tàu công suất 150 á300CV làm ăn chưa hiệu quả chỉ đạt năng suất bình quân 255,6kg/mẻ

ở các tỉnh miền Trung, nghề lưới vây sử dụng nguồn sáng bố trí trên tàu gần giống nhau giữa các địa phương Loại bóng đèn dùng phổ biến là bóng huỳnh quang loại 1,2m/40W, cao áp và siêu cao áp Tổng số bóng huỳnh quang sử dụng 40 á 80 bóng loại 1,2m/40W, số lượng bóng cao áp từ 4 á6 bóng, công suất từ 250 á1000W

1.1.2.3 Tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây ở vùng biển Đông - Tây Nam Bộ

Các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang số lượng tàu thuyền làm nghề vây kết hợp ánh sáng phát triển khá mạnh ở các trung tâm nghề cá như thị trấn Long Hải (tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu), thành phố Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang) Riêng khối tàu làm nghề lưới vây có công suất máy chính từ 110 CV á

420CV, cá biệt có một tàu công suất đạt đến 860CV Nguồn sáng trang bị trên tàu là bóng huỳnh quang và bóng cao áp Số lượng bóng huỳnh quang từ 60 á100 bóng

loại 40W, số lượng bóng cao áp công suất 125W á 500W là 10 á 20 bóng ở Tiền

Giang dùng phổ biến bóng cao áp loại 250W, ở Bà Rịa - Vũng Tàu dùng loại bóng cao áp 350 á500W

Các tỉnh miền Tây Nam Bộ như Cà Mau, Kiên Giang số lượng tàu làm nghề vây kết hợp ánh sáng phát triển mạnh ở các trung tâm nghề cá như thị trấn Sông Đốc

Trang 25

(tỉnh Cà Mau), huyện đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang) Công suất tàu lưới vây ở Cà Mau từ 190 á350CV, nguồn sáng trang bị trên tàu gồm bóng huỳnh quang và bóng

cao áp Số lượng bóng huỳnh quang 100 á180 bóng loại 1,2m/40W, bóng cao áp 12

á 34 bóng, công suất bóng cao áp dùng phổ biến là loại 400W

ở tỉnh Kiên Giang số lượng tàu làm nghề đánh cá kết hợp ánh sáng chủ yếu

là nghề lưới vây cá cơm tập trung ở huyện đảo Phú Quốc Công suất tàu từ 45 á

420CV, nguồn sáng trang bị trên tàu gồm bóng huỳnh quang và bóng cao áp Số lượng bóng huỳnh quang 30 á 80 bóng loại 1,2m/40W, bóng cao áp 2 á 6 bóng, công

suất bóng cao áp dùng phổ biến là loại 400W

1.1.2.4 Nhận xét tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng ở Việt Nam

- Quy mô nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng phát triển mạnh ở một số địa phương của 3 vùng biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông Tây - Nam Bộ, nhưng có sự khác nhau về số lượng tàu tham gia sản xuất và tổng công suất máy tàu

- Trong điều kiện phát triển kinh tế của từng chủ phương tiện, ngư dân đã lựa chọn một cỡ tàu và một cỡ lưới theo kinh nghiệm cho phù hợp với công suất nguồn sáng được trang bị, mà không tính đến hiệu quả sử dụng nguồn sáng như thế nào là hợp lý

- Xu hướng thực tế trên các tàu lưới vây xa bờ ở Việt Nam là muốn tăng công suất nguồn sáng bằng việc sử dụng các bóng đèn có công suất mạnh và trang bị máy phát điện có công suất lớn

+ Đối với nghề lưới vây kết hợp ánh sáng đánh bắt ở vùng biển vịnh Bắc Bộ:

- Nghề lưới vây kết hợp ánh sáng đánh bắt ở vùng biển vịnh Bắc Bộ phát triển

chậm hơn nghề vây ở khu vực phía Nam Phần lớn các tàu lưới vây có công suất nhỏ, số lượng tàu lưới vây hoạt động khai thác xa bờ có công suất lớn hơn 100CV còn ít và hiệu quả sản xuất chưa cao

- Ngư trường khai thác chủ yếu là vùng nước ven bờ, độ sâu nhỏ hơn 30 m Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng cho thấy sản

Trang 26

lượng khai thác của nghề lưới vây chỉ chiếm 4,5% tổng sản lượng của nghề lưới vây

toàn quốc [12]

+ Đối với nghề lưới vây đánh bắt ở vùng biển Nam Trung Bộ:

- Do ngư trường vùng biển khá sâu, nguồn lợi cá nổi phong phú nên nghề lưới vây vùng biển Nam Trung Bộ phát triển mạnh, kích thước tàu lưới vây lớn hơn

ở miền Bắc Tuy nhiên, số tàu thuyền có công suất nhỏ vẫn còn chiếm một tỷ lệ cao

- Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng cho

thấy, số tàu thuyền làm nghề lưới vây chiếm đến 50,4% so với tổng số tàu thuyền trong vùng này Sản lượng khai thác chiếm 38,1% tổng sản lượng của nghề lưới vây toàn quốc [12]

- Hàng năm tàu thuyền nghề lưới vây xa bờ ở khu vực Nam Trung Bộ thường di chuyển đến các ngư trường khác hoạt động như vùng biển vịnh Bắc Bộ

và Đông- Tây Nam Bộ nên rất khó kiểm soát về sản lượng khai thác của các tàu

+ Đối với nghề lưới vây đánh bắt ở vùng biển Đông - Tây Nam Bộ:

Vùng biển Đông - Tây Nam Bộ là một ngư trường thuận lợi cho việc khai thác cá nổi và cá đáy Đây là vùng biển có nghề lưới vây phát triển mạnh nhất trong cả nước và cũng là nơi có nhiều tàu lưới vây xa bờ có công suất lớn hoạt

động hầu như quanh năm

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng cho thấy,

số tàu thuyền làm nghề lưới vây ở vùng biển Đông - Tây Nam Bộ có công suất từ

90 á 400CV chiếm tới 27,2% tổng số tàu trong vùng Sản lượng khai thác đạt 57,4% tổng sản lượng nghề vây trong toàn quốc [12]

1.2 Một số vấn đề tồn tại trong sử dụng nguồn sáng trên tàu lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng

Cho đến nay nghề đánh cá kết hợp ánh sáng trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có những bước phát triển khá mạnh mẽ Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu Hải sản Hải Phòng thì sản lượng khai thác của nghề có sử dụng ánh sáng ở nước ta ước tính chiếm khoảng 32% tổng sản lượng khai thác cá biển hàng năm [6]

Các công trình nghiên cứu khoa học được áp dụng trong thực tế nghề cá nói chung và nghề đánh cá kết hợp ánh sáng nói riêng, mang lại những lợi ích thiết thực cho ngư dân

Trang 27

Tuy nhiên, nghề đánh cá kết hợp ánh sáng của nước ta hiện nay là nghề cá nhân dân nên còn nhiều bất cập về tàu thuyền, lạc hậu về công nghệ khai thác và trình độ kỹ thuật [13]

Ngoài ra, việc phân tích các đặc điểm sinh học của đối tượng đánh bắt bằng lưới vây kết hợp ánh sáng cũng phải được nghiên cứu giải quyết [43]

Đối với ngư dân việc sử dụng nguồn sáng là theo kinh nghiệm, ngư dân chưa thể xác định được công suất nguồn sáng cần trang bị trên tàu lưới vây là bao nhiêu để phù hợp với máy phát điện được trang bị, phạm vi công suất nguồn sáng bao nhiêu để phù hợp với chiều dài lưới…Hơn nữa, ngư dân chưa quan tâm đến việc kiểm tra chất lượng bóng đèn phục vụ chiếu sáng cho nên hiệu suất phát sáng của nguồn sáng được trang bị chưa cao

Những bất cập trên là chưa có sự hướng dẫn của cơ quan quản lý nghề cá về

kỹ thuật chiếu sáng cho ngư dân Hiện nay nguồn lợi thuỷ sản ven bờ đang cạn kiệt, đòi hỏi phải vươn ra khơi khai thác xa bờ, ngư dân tự phát gia tăng số lượng tàu thuyền với công suất máy tàu lớn Các phương tiện khai thác hải sản kết hợp

ánh sáng nói chung, và nghề vây nói riêng đang có xu hướng cạnh tranh nhau về công suất nguồn sáng trong khi cấu tạo tàu thuyền và cấu tạo ngư cụ không có gì thay đổi, dẫn đến lãng phí công suất điện dùng để phát sáng

Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khai thác hải sản, chủ yếu nghiên cứu một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật hoặc thực trạng sản xuất của một số loại nghề có trang bị nguồn sáng mà chưa đề cập

đến hiệu quả sử dụng nguồn sáng hoặc đề xuất các giải pháp cho việc trang bị nguồn sáng để góp phần làm tăng sản lượng khai thác cho tàu thuyền nghề vây xa

bờ trên từng vùng biển

Trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước và từ thực tiễn sản xuất của nghề vây kết hợp ánh sáng ở Việt Nam, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề vây xa bờ kết hợp ánh sáng với các nội dung:

- Khảo sát tình hình sử dụng nguồn sáng trong nghề vây xa bờ của Việt Nam (các vùng trọng điểm)

- Phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng các loại nguồn sáng trong nghề vây ở

3 vùng biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông - Tây Nam Bộ

Trang 28

- §Ò xuÊt mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ sö dông nguån s¸ng cña nghÒ v©y xa bê kÕt hîp ¸nh s¸ng ë ViÖt Nam

Trang 29

Chương 2

phương pháp và tài liệu nghiên cứu

2.1 phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Cơ sở dữ liệu nghiên cứu

Điều tra về năng lực tàu thuyền nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng được tiến hành từ năm 2000á2004 tại 6 tỉnh ven biển Việt Nam của 3 vùng biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông - Tây Nam Bộ (Xem bảng 3.1á3.3)

Điều tra về hoạt động đánh bắt của nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng

được tiến hành từ năm 2002 á 2004 theo từng quý trong năm (Xem bảng 2.1)

Địa điểm thu mẫu là những địa phương có nghề vây xa bờ kết hợp ánh sáng phát triển mạnh dọc theo ven biển Việt Nam gồm:

Khu vực Bắc Trung Bộ: điều tra dữ liệu 2 tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An Khu vực Nam Trung Bộ: điều tra dữ liệu 2 tỉnh Bình Định và Bình Thuận Khu vực Đông - Tây Nam Bộ: điều tra dữ liệu 3 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Cà Mau

Số mẫu thu thập là số lượng và công suất tàu, chiều dài lưới, chiều cao lưới, tháng đánh bắt, tổng công suất nguồn sáng, tỷ lệ phần trăm công suất bóng cao áp trên tổng công suất nguồn sáng, tỷ lệ phần trăm công suất bóng huỳnh quang trên tổng công suất nguồn sáng, độ cao treo đèn, góc treo đèn, thời gian chiếu sáng, tổng

số mẻ lưới đánh bắt trong năm, tổng sản lượng chuyến biển

Bảng 2.1 Phân bố dữ liệu điều tra theo mẻ lưới từ năm 2002 đến năm 2004

STT Địa điểm thu mẫu

Thời gian thu mẫu/Số lượng mẫu (mẻ)

Trang 30

Bảng 2.2: Phân bố số lượng tàu và công suất máy chính (chiếc/CV)

Địa điểm nghiên cứu Số lượng tàu/công suất các năm (chiếc/CV)

Công suất tàu từ 90 á 860CV; phổ biến là loại tàu có công suất từ 90CV á

< 200CV, chiếm tỷ lệ 62,22% trên tổng số tàu điều tra

Chiều dài lưới từ 300m á805m

Chiều cao lưới từ 50m á160m

Loại bóng cao áp có công suất từ 125Wá1000W/bóng chiếm tỷ lệ 29,8 á 100% trên tổng công suất nguồn sáng

Bóng huỳnh quang loại 1,2m/40W chiếm tỷ lệ 0 á 70,2% trên tổng công suất nguồn sáng

Tổng công suất nguồn sáng từ 1420Wá8350W

Độ cao treo đèn từ 2,0m á 5,3m

Trang 31

Trong lĩnh vực nghề cá biển, để đánh giá cấu trúc ngư cụ, đối tượng khai thác, nguồn lợi thuỷ sản…các nhà khoa học thường dựa vào số liệu thực nghiệm, từ

số liệu thực nghiệm xây dựng được những mô hình trong nghề cá bằng nhiều phương pháp phân tích dữ liệu khác nhau Một trong những phương pháp phân tích

đó là phương pháp phân tích lôgic thông tin [9]

Hiện nay phương pháp phân tích lôgic thông tin được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sinh học, vật lý học, hoá học…Riêng trong lĩnh vực nghề cá, các phương pháp này được ứng dụng để đánh giá nguồn lợi thuỷ sản, các thông số ngư

cụ của lưới kéo, lưới vây… để tìm ra qui luật cho từng yếu tố nghiên cứu [24]

Vì vậy, việc ứng dụng phương pháp phân tích lôgic thông tin làm cơ sở khoa học để phân tích, đánh giá khách quan các yếu tố nghiên cứu có ảnh hưởng

đến nghề cá nhằm tìm ra những qui luật biến đổi của các yếu tố đó có liên quan đến hoạt động nghề cá Trên cơ sở tìm được sự tác động của các yếu tố tương tác, sẽ tạo tiền đề cho việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đẩy mạnh phát triển sản xuất nghề cá trong cả nước [24], [25]

Trong phạm vi nội dung luận án, chúng tôi tập trung phân tích các yếu tố nguồn sáng (X) có ảnh hưởng đến hiện tượng nghiên cứu Y[A] (A: là sản lượng cá Nục sò (Decapterus maruadsi)) trong nghề lưới vây kết hợp ánh sáng xa bờ ở các

vùng biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông - Tây Nam Bộ như: mùa vụ đánh bắt, tỷ lệ phần trăm công suất điện tiêu thụ của các bóng cao áp trên tổng công suất nguồn sáng, tỷ lệ công suất điện tiêu thụ của các bóng huỳnh quang trên tổng công suất nguồn sáng, tổng công suất nguồn sáng, độ cao treo đèn, góc treo đèn, thời gian chiếu sáng…

Trang 32

Từ kết quả tính toán theo phương pháp phân tích logic thông tin, xác định

được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiện tượng nghiên cứu

+ Mã hoá thông tin:

Các hiện tượng nghiên cứu cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng nghiên cứu phải được mã hoá

Việc mã hoá thông tin là đưa số liệu thu thập về dạng mới, tương đương với

số liệu ban đầu nhưng tất cả các giá trị cụ thể của yếu tố được biểu diễn dưới dạng lớp, số lượng lớp tuỳ thuộc vào đặc điểm số liệu

Phân lớp sẽ làm thông tin tập trung hơn và loại trừ được sai số cho phép + Xác định các chỉ số thông tin:

Sau khi mã hoá thông tin, tiến hành lập ma trận thông tin để xác định các chỉ số thông tin Ma trận thông tin được thể hiện như bảng 2.3

Bảng 2.3: Ma trận thông tin của yếu tố X(B) với hiện tượng nghiên cứu Y(A)

Trang 33

Trong bảng 2.3, cho thấy:

- nji: là số lượng của yếu tố X nằm ở lớp “i” ứng với hiện tượng Yj hay số lượng của hiện tượng Y nằm ở lớp “j” ứng với yếu tố Xj;

- Pji: là xác suất của yếu tố X nằm ở lớp “i” ứng với hiện tượng Yj hay xác suất của hiện tượng Y nằm ở lớp “j” ứng với yếu tố Xj;

- Entropi của hiện tượng nghiên cứu: n Yj

j Yj

- Số lượng thông tin truyền từ yếu tố đến hiện tượng: IY,X = HY + HX -HY,X (2.4)

- Hệ số truyền thông tin (hay hệ số liên hệ): K = IY,X/HY < 1 (2.5) Tính thông tin của của yếu tố được xác định bởi trị số của chỉ số thông tin |I|

và |K| So sánh chỉ số thông tin của các yếu tố cho phép ta đánh giá được mức độ

ảnh hưởng (mạnh, yếu) của từng yếu tố đến hiện tượng nghiên cứu, từ đó có thể loại

bỏ những yếu tố có chỉ số thông tin không đáng kể

+ Xác định kênh liên hệ riêng:

Để xác định tính quy luật tác động của các yếu tố đến hiện tượng nghiên cứu, cần phải thành lập các kênh liên hệ riêng của các yếu tố với hiện tượng nghiên cứu Bảng 2.4: Xác định kênh liên hệ riêng giữa yếu tố (X) với hiện tượng nghiên cứu (Y)

Trang 34

J(Aj/Bi)

Trong đó: J(Aj/Bi) = HY - H(Aj/Bi)

HY,X: Entrôpi qui ước của hiện tượng Y khi yếu tố X ở trạng thái Xij (có nghĩa là Xi nằm ở lớp i);

J: chỉ số giá trị kênh liên hệ, là lượng thông tin truyền từ yếu tố Xi ở trạng thái Xij về hiện tượng Y (có nghĩa là Yj nằm ở lớp i);

Trong trường hợp nếu J = 0 thì sự thay đổi của hiện tượng Y không phụ thuộc vào yếu tố Xi ở trạng thái Xij;

Nếu trạng thái Xji hoàn toàn xác định trạng thái hiện tượng Y thì: HY = J; Tất cả các giá trị J > 0 đều thể hiện ở mức độ xác định sự liên hệ giữa yếu

tố và hiện tượng nghiên cứu;

Mỗi lớp yếu tố Xj có một kênh liên hệ duy nhất đến các lớp hiện tượng, ta thu được mối liên hệ riêng, ký hiệu là: “(+)”;

Ngược lại, từ một lớp của yếu tố Xj có một vài kênh liên hệ đến các lớp hiện tượng v thì ta được mối liên hệ chung, ký hiệu “+” Trạng thái chung của mối liên hệ mang yếu tố thông tin không rõ ràng (phản thông tin), để vạch rõ mối liên hệ này trên cơ sở mối liên hệ thực của từng yếu tố đến hiện tượng nghiên cứu cần phân tích liên hợp các yếu tố này để có thể kết luận về mức ảnh hưởng của các yếu tố trong từng khoảng giá trị đến hiện tượng nghiên cứu

Để lập bảng kênh liên hệ riêng của các yếu tố Xi đối với hiện tượng Y ta chỉ xét các trường hợp P(Aj/Bi) > P(Aj) Còn các trường hợp P(Aj/Bi) < P(Aj) sẽ không xác định sự liên hệ giữa yếu tố Xj và hiện tượng nghiên cứu Y

Quá trình tính toán phân toán bằng phương pháp logic thông tin cần chú ý chỉ số thông tin nhỏ hơn 0,1 có thể bỏ qua, bởi vì lượng thông tin không đáng kể

Trường hợp phân tích riêng lẻ các yếu tố với hiện tượng nghiên cứu mà có lớp yếu tố nào đó đồng thời thể hiện nhiều lớp hiện tượng, thì lớp yếu tố đó được

Trang 35

xem là phản thông tin Khi đó cần tiến hành phân tích phối hợp với yếu tố khác để tìm ra qui luật cho chính xác hơn

Chẳng hạn lớp yếu tố B1X1 vừa ở trạng thái A1, vừa ở trạng thái A2 thì lớp yếu tố B1X1 được xem là phản thông tin, cần phân phân tích phối hợp với các yếu tố khác để tìm ra qui luật chính xác hơn

Các yếu tố tương tác bao gồm công suất tàu (X1); chiều dài lưới (X2); chiều cao lưới (X3); tỷ lệ phần trăm công suất bóng cao áp trên tổng công suất nguồn sáng (X4); tỷ lệ phần trăm công suất bóng cao áp trên tổng công suất nguồn sáng (X5); công suất nguồn sáng (X6); độ cao treo đèn (X7); góc treo đèn (X8); thời gian chiếu sáng (X9); tháng đánh bắt (X10) tương tác lên sản lượng đánh bắt cá Nục sò (Y)

Các yếu tố tương tác được phân thành lớp, mỗi lớp có mối quan hệ tương tác với sản lượng đánh bắt

- Phương pháp hồi quy tuyến tính:

Từ phương pháp lô-gic thông tin, xác định được các chỉ số thông tin có giá trị lớn, nghĩa là tìm các yếu tố tương tác mạnh với sản lượng đánh bắt Các yếu tố này được biểu diễn dưới dạng tương quan hàm bậc nhất Y = f(X)

Theo quan hệ tuyến tính, nhận định xu thế biến đổi của các yếu tố tương tác lên sản lượng đánh bắt

Tổng hợp các yếu tố tương tác lên sản lượng đánh bắt dưới dạng tương quan hàm bậc nhất Y = f(Xi)

2.1.4 Phương pháp xác định dữ liệu thực nghiệm

Tàu lưới vây xa bờ là những tàu có công suất từ 90CV trở lên, có sử dụng nguồn sáng nhân tạo tập trung cá Trong một năm các tàu lưới vây xa bờ có tham gia hoạt động khai thác hải sản ở các vùng nước xa bờ, sử dụng ngư cụ, phương tiện khai thác thuỷ sản có kích cỡ phù hợp với các loài thuỷ sản được phép khai thác [37], [38], [39]

Vùng nước xa bờ: là vùng nước được giới hạn bởi đường đẳng sâu từ 30 mét nước trở ra đối với vùng biển vịnh Bắc Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và vịnh Thái Lan; và đường đẳng sâu từ 50 mét nước trở ra đối với vùng biển Trung Bộ [37], [38]

Trang 36

Nếu tính theo đường đẳng sâu từ 50 mét nước trở ra đối với vùng biển Trung Bộ thì tàu lưới vây có công suất ³ 33CV là những tàu có khả năng đánh bắt

Trang 37

Nếu gọi S = UI là công suất biểu kiến của nguồn cung cấp (máy phát điện),

P = UIcosj là công suất điện của các bóng đèn tiêu thụ (tải) để phát sáng thì công suất điện cung cấp cho tải sẽ là:

U: điện áp nguồn (V)

I: cường độ dòng điện (A)

Hệ số cosj (-1 Ê cosj Ê 1) lấy theo thời gian sử dụng bóng đèn có tổn hao

điện trên đường dây như sau:

Hệ số cosj đối với bóng đèn huỳnh quang: 0,5 á 0,6

Hệ số cosj đối với đèn cao áp: 0,6 á 0,8

Quãng đường của ánh sáng xuyên trong nước được tính theo công thức Bughe và theo định luật khúc xạ ánh sáng [17], [45]:

Ei = E0.e- gx (2.9)

Trong đó: Ei - độ rọi ở độ sâu cần tính (lux)

E0 - độ rọi ngay trên mặt nước (lux)

e - cơ số logarit tự nhiên, lấy bằng 2,7

g - hệ số hấp thụ ánh sáng (1/m); phụ thuộc độ trong của nước biển được đo bằng đĩa Secchi (Xem hình 2, Phụ lục 4)

Theo tài liệu của nước ngoài, cá Nục sò cảm quang ở độ rọi từ 0,01 á 0,001 lux [10], [45], [50]

x - chiều dài quãng đường ánh sáng đạt tới độ sâu cần tìm (m)

n - Hệ số khúc xạ giữa môi trường không khí - nước biển, bằng 1,33;

h - độ sâu tia sáng theo phương thẳng đứng (m)

Trang 38

Thể tích vùng nước [3] được chiếu sáng trên tàu thực nghiệm tính gần đúng theo công thức:

Vi = d i .h i

4 3

1p 2

(2.12)Trong đó: di - khoảng cách theo phương nằm ngang tính từ vị trí đặt nguồn sáng đến vị trí Lux kế chỉ 1 lux

hi - độ sâu tính từ mặt nước được chiếu sáng đến vị trí độ rọi bằng 0 lux

Diện tích chiếu sáng trên mặt nước theo phương nằm ngang được tính từ công thức tính số lượng bóng đèn [35]:

ETB: độ rọi trung bình tính theo phương nằm ngang từ vị trí đặt nguồn sáng đến

vị trí độ rọi 1lux

S: diện tích bề mặt được chiếu sáng theo phương nằm ngang (m2)

k: hệ số sử dụng, phụ thuộc hiệu suất quang của bộ đèn và phương án bố trí đèn, thường lấy từ 2 á 3 Chọn k = 2

D - đường kính lớn của choá đèn (m)

Diện tích bề mặt của máng đèn huỳnh quang xác định theo công thức:

Trang 39

liệu đo Số lần đo n = 30 lần

Từ vị trí đặt đèn, dùng phương pháp đánh dấu điểm, đo độ rọi của nguồn sáng theo phương ngang từ vị trí 0 m (tính từ mạn tàu) đến vị trí 5m; 10m; 15m; 20m; 25m; 30m vv… cho đến khi số chỉ trên Lux kế chỉ 1 lux thì kết thúc đo (hình

1 - Phụ lục 9) Số lần đo n = 30 lần

+ Đo độ rọi dưới nước:

Từ vị trí chiếu sáng trên mặt nước ứng với các khoảng cách 0m; 5m; 10m, 15m, 20m vv… , thả tế bào Sêlen xuống nước theo từng độ sâu khác nhau, đọc giá trị độ rọi tương ứng cho đến khi độ rọi chỉ 0 lux thì kết thúc đo (hình 2á5- Phụ lục 9) Số lần đo n = 25 á 30 lần

2.2 Tài liệu nghiên cứu

2.2.1 Nguồn dữ liệu đã công bố

Dựa vào các báo cáo tổng kết nghề lưới vây xa bờ qua từng năm ở các tỉnh thuộc vùng biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông-Tây Nam Bộ do Sở Thuỷ sản, Chi cục bảo vệ nguồn lợi Thuỷ sản ở các địa phương công bố để có các số liệu

về tàu thuyền, lực lượng lao động, sự phân bố nghề các theo từng địa phương [28], [29], [30], [31], [32], [33], [34]

Các nguồn tài liệu nghiên cứu về sinh học khai thác cá, đánh cá kết hợp ánh sáng, hiệu quả sử dụng nguồn sáng để tập trung cá, các kết quả thực nghiệm về chiếu sáng trên mặt nước và dưới nước của các tác giả trong nước, khu vực Đông Nam á và trên thế giới [1], [6], [7], [10], [12], [13], [14], [19], [48], [51], [53], [55]

Các nguồn tài liệu của Bộ Thuỷ sản,Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng, Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản ở các địa phương về tình hình tàu thuyền nghề vây, trang thiết bị khai thác, ngư cụ có năng suất đánh bắt cao [7], [8], [26], [27], [28], [29], [30], [31], [32], [33], [34], [35], [41]

Các công trình nghiên cứu về ánh sáng cưỡng bức tác động đến một số loài cá, tôm [6], [14]

Trang 40

Tài liệu về kỹ thuật điện, kỹ thuật chiếu sáng, thông số kỹ thuật các loại

đèn cao áp, huỳnh quang ở trong nước và ngoài nước [2], [23], [35], [36], [44], [47]

Theo I.V Nhicônôrôp, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tập tính cá trong vùng được chiếu sáng như sự ảnh hưởng của ánh sáng trăng, ánh sáng ban ngày, ảnh hưởng điều kiện tự nhiên của vùng biển như: độ trong, nhiệt độ, dòng chảy, độ trôi dạt, sóng, cá dữ, đặc điểm sinh học của đối tượng khai thác

Để nâng cao hiệu của nguồn sáng trong đánh cá kết hợp ánh sáng người ta

đã có nhiều phương pháp khác nhau như chọn vị trí chiếu sáng, loại bóng đèn, kích thước và số lượng bóng đèn, màu sắc bóng đèn, cường độ sáng, vị trí đặt đèn một cách khoa học phù hợp với lý thuyết đánh cá kết hợp ánh sáng

Tuy nhiên ở Việt Nam, việc trang bị và sử dụng nguồn sáng, trang bị ngư

cụ và kỹ thuật khai thác trong nghề đánh cá kết hợp ánh sáng chủ yếu dựa theo kinh nghiệm của ngư dân

Để thuận lợi trong tính toán và có cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng, dựa trên số liệu điều tra, chúng tôi dùng phương pháp phân tích logic thông tin để xác

định các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác

Trong các mẻ lưới vây điều tra cho thấy, cá Nục sò chiếm tỷ lệ sản lượng cao trong thành phần các loài cá đánh bắt được, cho nên chúng tôi chọn đối tượng cá Nục sò là đối tượng chính để phân tích

Dựa vào các công trình nghiên cứu [45], [51], [53] kết hợp với điều tra thực

tế, chúng tôi chọn 10 yếu tố có ảnh hưởng đến sản lượng khai thác cá Nục sò (Y) của 6 tỉnh ven biển Việt Nam ở 3 vùng biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ đó là: công suất tàu (X1), chiều dài lưới (X2), chiều cao lưới (X3), tỷ lệ % công suất bóng cao áp trên tổng công suất nguồn sáng (X4), tỷ lệ % công suất bóng huỳnh quang trên tổng công suất nguồn sáng (X5), tổng công suất nguồn sáng (X6),

độ cao treo đèn (X7), góc treo đèn (X8), thời gian chiếu sáng (X9), tháng đánh bắt (X10)

Ngày đăng: 27/02/2016, 22:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Long (2002), Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật khai thác cá ngừ bằng nghề lưới vây khơi, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học, Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng, tr. 37-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật khai thác cá ngừ bằng nghề lưới vây khơi
Tác giả: Nguyễn Long
Năm: 2002
14. Nguyễn Văn Lục, Nguyễn Đình Dũng (1991), Xác định ảnh hưởng của ánh sáng cưỡng bức và ánh sáng đèn thuỷ ngân đến sự sống của một số loài cá, tôm, Báo cáođề tài nghiên cứu khoa học, Viện Hải dương học Nha Trang, tr. 50-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định ảnh hưởng của ánh sáng cưỡng bức và ánh sáng đèn thuỷ ngân đến sự sống của một số loài cá, tôm
Tác giả: Nguyễn Văn Lục, Nguyễn Đình Dũng
Năm: 1991
15. Thái Văn Ngạn (1997), Cơ sở điều khiển đối tượng đánh bắt, Giáo trình cao học, Trường Đại học Thủy sản, tr. 28-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở điều khiển đối tượng đánh bắt
Tác giả: Thái Văn Ngạn
Năm: 1997
16. Thái Văn Ngạn (2004), Giáo trình Khai thác cá nghề lưới vây, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 12-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Khai thác cá nghề lưới vây
Tác giả: Thái Văn Ngạn
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2004
17. Thái Văn Ngạn (2004), Giáo trình Khai thác cá nghề lưới vây (phần lưới vây kết hợp ánh sáng), Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 84-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Khai thác cá nghề lưới vây (phần lưới vây kết hợp ánh sáng)
Tác giả: Thái Văn Ngạn
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2004
18. Phạm Đức Nguyên (2002), Chiếu sángtự nhiên và nhân tạo các công trình kiến trúc, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr. 64-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiếu sángtự nhiên và nhân tạo các công trình kiến trúc
Tác giả: Phạm Đức Nguyên
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2002
19. Nguyễn Đình Nhân (2001), Hiện trạng nghề lưới vây khai thác hải sản xa bờ ở Việt Nam, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học, Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng, tr. 1-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng nghề lưới vây khai thác hải sản xa bờ ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Nhân
Năm: 2001
20. Nguyễn Đức Sĩ (1997), Nghiên cứu thực trạng của việc sử dụng các loại nguồn sáng trong nghề lưới vây kết hợp ánh sáng ở khu vực Phan Thiết tỉnh Bình Thuận, Luận án thạc sĩ khoa học Thủy sản, Trường Đại học Thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng của việc sử dụng các loại nguồn sáng trong nghề lưới vây kết hợp ánh sáng ở khu vực Phan Thiết tỉnh Bình Thuận
Tác giả: Nguyễn Đức Sĩ
Năm: 1997
21. Nguyễn Đức Sĩ (1997), Tìm hiểu ảnh hưởng của nguồn sáng đến đối tượng đánh bắt của nghề lưới vây ở tỉnh Bình thuận, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ảnh hưởng của nguồn sáng đến đối tượng đánh bắt của nghề lưới vây ở tỉnh Bình thuận
Tác giả: Nguyễn Đức Sĩ
Năm: 1997
22. Nguyễn Đức Sĩ (2002), Điều tra thực trạng việc sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ ở tỉnh Tiền Giang và Cà Mau, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cÊp Bé Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thực trạng việc sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ ở tỉnh Tiền Giang và Cà Mau
Tác giả: Nguyễn Đức Sĩ
Năm: 2002
23. Nguyễn Viễn Sum (2000), Sổ tay thiết kế điện chiếu sáng, Nxb Thanh Niên, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 19-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thiết kế điện chiếu sáng
Tác giả: Nguyễn Viễn Sum
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2000
24. Lê Xuân Tài (1997), Nghiên cứu một số thông số cơ bản của lưới kéo có liên quan đến tính chọn lọc ngư cụ, Luận án thạc sĩ khoa học Thủy sản, Trường Đại học Thủy sản, tr. 38-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số thông số cơ bản của lưới kéo có liên quan đến tính chọn lọc ngư cụ
Tác giả: Lê Xuân Tài
Năm: 1997
25. Nguyễn Trọng Thảo (1997), Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng đánh bắt của lưới vây kết hợp ánh sáng ở tỉnh Bình Thuận, Luận án thạc sĩ khoa học Thủy sản, Trường Đại học Thủy sản, tr. 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng "đánh bắt của lưới vây kết hợp ánh sáng ở tỉnh Bình Thuận
Tác giả: Nguyễn Trọng Thảo
Năm: 1997
26. Bộ Thuỷ sản (1996), Nguồn lợi Thuỷ sản Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi Thuỷ sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Thuỷ sản
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
27. Bộ Thuỷ sản (2005), Kỷ yếu hội thảo toàn quốc về khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 168-184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo toàn quốc về khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá
Tác giả: Bộ Thuỷ sản
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
28. Chi cục BVNLTS Bà Rịa - Vũng Tàu (2004), Thống kê tàu thuyền nghề cá Bà Rịa - Vũng Tàu, Bà Rịa - Vũng Tàu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê tàu thuyền nghề cá Bà Rịa - Vũng Tàu
Tác giả: Chi cục BVNLTS Bà Rịa - Vũng Tàu
Năm: 2004
29. Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản Bình Định (2004), Thống kê tàu thuyền nghề cá Bình Định, Bình Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê tàu thuyền nghề cá Bình Định
Tác giả: Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản Bình Định
Năm: 2004
30. Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản Bình Thuận (2004), Thống kê tàu thuyền nghề cá Bình Thuận, Bình Thuận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê tàu thuyền nghề cá Bình Thuận
Tác giả: Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản Bình Thuận
Năm: 2004
31. Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản Cà Mau (2004), Thống kê tàu thuyền nghề cá Cà Mau, Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê tàu thuyền nghề cá Cà Mau
Tác giả: Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản Cà Mau
Năm: 2004
32. Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản Nghệ An (2004), Thống kê tàu thuyền nghề cá Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê tàu thuyền nghề cá Nghệ An
Tác giả: Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản Nghệ An
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5: Chóa đèn và máng đèn huỳnh quang bố trí phía sau đuôi tàu - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 5 Chóa đèn và máng đèn huỳnh quang bố trí phía sau đuôi tàu (Trang 125)
Hình 9: Thiết bị mồi bóng huỳnh quang - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 9 Thiết bị mồi bóng huỳnh quang (Trang 127)
Hình 7: Quan hệ giữa tổng công suất nguồn sáng với sản lượng trung bình cá Nục sò vùng - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 7 Quan hệ giữa tổng công suất nguồn sáng với sản lượng trung bình cá Nục sò vùng (Trang 210)
Hình 9: Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò vùng - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 9 Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò vùng (Trang 211)
Hình 3: Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 3 Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò (Trang 213)
Hình 4: Quan hệ giữa tổng công suất nguồn sáng với sản lượng trung bình cá Nục sò - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 4 Quan hệ giữa tổng công suất nguồn sáng với sản lượng trung bình cá Nục sò (Trang 214)
Hình 6: Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 6 Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò (Trang 215)
Hình 9: Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 9 Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò (Trang 217)
Hình 11: Quan hệ giữa độ cao treo đèn với sản lượng trung bình cá Nục sò - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 11 Quan hệ giữa độ cao treo đèn với sản lượng trung bình cá Nục sò (Trang 218)
Hình 12: Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 12 Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò (Trang 219)
Hình 14: Quan hệ giữa độ cao treo đèn với sản lượng trung bình cá Nục sò - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 14 Quan hệ giữa độ cao treo đèn với sản lượng trung bình cá Nục sò (Trang 220)
Hình 13: Quan hệ giữa tổng công suất nguồn sáng với sản lượng cá Nục sò - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 13 Quan hệ giữa tổng công suất nguồn sáng với sản lượng cá Nục sò (Trang 220)
Hình 15: Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 15 Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò (Trang 221)
Hình 16: Quan hệ giữa tổng công suất nguồn sáng với sản lượng cá Nục sò - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 16 Quan hệ giữa tổng công suất nguồn sáng với sản lượng cá Nục sò (Trang 222)
Hình 18: Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò - Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng
Hình 18 Quan hệ giữa góc treo đèn và sản lượng trung bình cá Nục sò (Trang 223)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w