Ở nước ta, một số trường đại học, cao đẳng đã triển khai đào tạo theo Hệ thống tín chỉ từ năm học 19931994 và đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp. Trong “Chương trình hành động của chính phủ” thực hiện nghị quyết số 372004QH11 khóa XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục đã chỉ rõ: “Mở rộng, áp dụng học chế tín chỉ trong đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp…”. Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 20062020 đã được Chính phủ phê duyệt cũng khẳng định: “… xây dựng học chế tín chỉ (HCTC) thích hợp cho giáo dục đại học ở nước ta và vạch ra lộ trình hợp lý để toàn bộ hệ thống giáo dục đại học chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ…”. Cho đến nay, cả nước đã rất nhiều trường đại học, cao đẳng chuyển đổi sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ với lộ trình và bước đi hợp lý, trong đó có một số trường thuộc khối ngành Văn hóa, Nghệ thuật, Thể dục thể thao (TDTT).Trường Đại học TDTT Đà Nẵng với nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ TDTT cho khu vực miền Trung – Tây nguyên nói riêng và cả nước nói chung, đã luôn nhận thức trách nhiệm nặng nề của mình và đã áp dụng nhiều biện pháp thích hợp nhằm ngày càng hoàn thiện và nâng cao sản phẩm đào tạo của mình, Trường đã tiến hành triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm học 20132014 và lựa chọn cho mình một lộ trình riêng là chuyển đổi đào tạo theo học chế tín chỉ theo khoá học (không triển khai đào tạo tín chỉ triệt để) và thực hiện cho khóa tuyển sinh năm 2013 (Khóa đại học 7) trở đi.
Trang 1ĐÁNH GIÁ 01 NĂM TRIỂN KHAI ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO ĐÀ NẴNG
số trường thuộc khối ngành Văn hóa, Nghệ thuật, Thể dục thể thao (TDTT)
Trường Đại học TDTT Đà Nẵng với nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộTDTT cho khu vực miền Trung – Tây nguyên nói riêng và cả nước nói chung,
đã luôn nhận thức trách nhiệm nặng nề của mình và đã áp dụng nhiều biện phápthích hợp nhằm ngày càng hoàn thiện và nâng cao sản phẩm đào tạo của mình,Trường đã tiến hành triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm học 2013-
2014 và lựa chọn cho mình một lộ trình riêng là chuyển đổi đào tạo theo học chế
tín chỉ theo khoá học (không triển khai đào tạo tín chỉ triệt để) và thực hiện cho
khóa tuyển sinh năm 2013 (Khóa đại học 7) trở đi
Ban đầu hầu hết cán bộ, viên chức đều cảm thấy lạ lẫm, mới mẻ, lo lắng,đôi lúc không ít người tỏ vẻ hoài nghi Vì vậy việc triển khai thực hiện đã gặpkhông ít khó khăn Nhưng với sự nỗ lực, quyết tâm của toàn trường nên những trởngại ban đầu cũng đã được vượt qua Đến nay sau một năm đào tạo, hôm naychúng ta tổ chức hội thảo chuyên đề để đánh giá quá trình đào tạo theo học chếtín chỉ của nhà Trường nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, nhằmhoàn thiện công tác tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ trong thời gian tới củaTrường ngày càng tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứngchuẩn đầu ra của các ngành mà Nhà trường đã cam kết
Trang 22 Những thuận lợi và khó khăn
15 tháng 8 năm 2007, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số
43/2007/QĐ-BGDĐT ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”.
- Quá trình học tập được đo lường bằng số tín chỉ tích lũy, tạo điều kiệncho sinh viên, dưới sự hỗ trợ của Cố vấn học tập, sẽ chủ động thiết kế tiến độhọc tập theo khả năng, theo điều kiện về tài chính Việc không đạt một môn họcchỉ có ảnh hưởng nhỏ trên các môn học liên quan tiếp theo nhưng không cản trởtoàn bộ quá trình học tập (khác chế độ tạm dừng học của hệ niên chế)
- Lãnh đạo nhà trường đã có sự quyết tâm cao trong việc triển khai thựchiện và đã có những chủ trương đúng đắn, phù hợp, có sự chuẩn bị chu đáo choviệc chuyển đổi từ học phần sang tín chỉ
- Thực hiện theo HCTC nhưng các quy chế hiện hành của Bộ GD&ĐTvẫn buộc phải có các hình thức tổ chức và sinh hoạt Đảng, Đoàn thích hợp.HCTC phát huy tối đa tiềm năng và khả năng cá nhân người học, mỗi sinh viên
có lịch trình học tập tự chọn riêng, có thời khóa biểu riêng, không còn quá dựavào lớp nữa, điều này làm cho nhà Trường băn khoăn
Trang 3Nhận thức được những vấn đề nêu trên, Lãnh đạo Nhà trường đã kịp thờichỉ đạo sâu sát các đơn vị, điều hành chuyên môn, do đó sau 1 năm thực hiện đãđạt được những kết quả bước đầu trong việc tổ chức đào tạo khóa Đại học 7 hệchính quy.
3 Kết quả đạt được
3.1. Ban hành được hệ thống văn bản về thực hiện công tác tổ chức đào
tạo theo hệ thống tín chỉ, bao gồm:
- Ban hành Lộ trình triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ
- Ban hành Quy định về đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
- Chuyển đổi Chương trình giáo dục đại học, ngành đào tạo: Giáo dục thểchất và Quản lý Thể dục thể thao Chương trình giáo dục đại học (liên thông từtrình độ cao đẳng lên đại học)
- Xây dựng, phát triển chương trình đào tạo ngành Huấn luyện thể thao
- Ban hành Hướng dẫn xây dựng đề cương chi tiết học phần phù hợp vớiphương thức đào tạo tín chỉ
- Ban hành Quy định Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ đối vớiđội ngũ cố vấn học tập
- Công bố Chuẩn đầu ra cho tất cả các ngành đào tạo trong Trường
- Khung kế hoạch đào tạo năm học 2013-2014 Sổ tay sinh viên khoátuyển sinh 2013, 2014 đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Hệ thống văn bản này là một trong những công cụ để thực hiện quản lýchương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ
3.2 Nhận thức và kỹ năng của cán bộ, giảng viên về đào tạo theo tín chỉ được nâng cao
Xuất phát từ đào tạo theo niên chế học phần, hầu hết các cán bộ giảngviên chưa được tiếp cận với quy trình, quy định đào tạo theo hệ thống tín chỉ.Tuy nhiên sau một năm chính thức thực hiện, đa số các cán bộ, giảng viên nhậnthức được tính tất yếu phải chuyển đổi từ đào tạo niên chế học phần sang tín chỉ,
từ việc dạy học tiếp cận theo nội dung sang dạy học tiếp cận theo phương pháp
Tham gia tích cực vào việc chuyển đổi chương trình, biên soạn đề cươngchi tiết học phần, đổi mới phương pháp giảng dạy giảng viên ý thức được vaitrò, nhiệm vụ của mình, quyết định cho sự thành công của đào tạo theo hệ thốngtín chỉ
3.3 Chuyển đổi và triển khai chương trình đào tạo từ niên chế học phần
Trang 4Ngay từ đầu học kỳ II năm học 2012-2013, Nhà trường đã triển khai pháttriển chương trình đào tạo, chuyển đổi toàn bộ chương trình đào tạo từ niên chếhọc phần sang tín chỉ. Tính đến tháng 8 năm 2014, đã có 05 chương trình đàotạo trình độ đại học và sau đại học theo hệ thống tín chỉ được chuyển đổi hoặcxây dựng mới.
Trong năm học 2012-2013, Nhà trường đã tổ chức thực hiện các chương
trình đào tạo đã ban hành đối với các khoá tuyển sinh năm 2013 hệ chính quy vàliên thông chính quy. Phòng Đào tạo đã phối hợp với các đơn vị chuyên mônquản lý việc tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo. Những công việc liênquan đến học vụ như xây dựng thời khoá biểu, phân công giảng dạy, tổ chức lớphọc phần, xây dựng đội ngũ cố vấn học tập, tổ chức thi kết thúc học phần đềutriển khai theo đúng quy định
3.4. Tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
Trong năm qua, Nhà trường đã quan tâm đến việc phát triển cơ sở vậtchất và thiết bị dạy học cả về chất lượng và số lượng Kết quả cụ thể:
Lắp máy chiếu kết nối với với hệ thống âm thanh đồng bộ 07 phòng họctại khu giảng đường Trang bị thêm 15 bộ vi tính để bàn, 03 máy tính xách taycho các phòng, khoa, bộ môn để phục vụ công tác Thay thế thiết bị hỏng gồm
07 máy chiếu, 03 hệ thống âm thanh phòng học, 15 máy in, 25 khối CPU
Bổ sung thêm 07 bàn Bóng bàn, 04 bộ thảm Cầu lông cho 02 bộ mônphục vụ giảng dạy Nâng cấp sân bóng đá khu A, hoàn chỉnh CSVC tại Cơ sở IIđưa khoa Giáo dục quốc phòng vào hoạt động
3.5 Kết quả đào tạo:
Bảng 1 Kết quả học tập năm học 2013-2014 khóa Đại học 7
T
Tổng số SV
Xuất sắc Giỏi Khá TB Khá Trung bình Yếu, kém
Trang 5Bảng 2 Kết quả học tập năm học 2013-2014 khóa đại học 6
T
Tổng số SV
Xuất sắc Giỏi Khá TB Khá Trung bình Yếu, kém
6 (27,12%) Đây là một vấn đề cần phải xem xét mang tính chiều sâu của vấn đề
và nghiêm túc đánh giá toàn diện hơn
Như vậy có thể thấy rằng, sau một năm đào tạo khóa đầu tiên theo họcchế tín chỉ cũng đã kết thúc với những kết quả đạt được nhất định Tuy nhiêncòn có nhiều vấn đề cần quan tâm, trong đó vấn đề chất lượng đào tạo là vấn đềcần quan tâm Thể hiện rõ nhất là kết quả học tập không cao so với đào tạo theoniên chế Có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, do quy chế chưa phù hợp, do
cơ sở vật chất chưa đáp ứng một cách đồng bộ, do hạn chế về năng lực của cán
bộ điều hành, do phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên chưa tiếp cận,
và do từ phía sinh viên chưa có sự chủ động, tích cực và tự giác,….Tất cả cácvấn đề đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả đào tạo và chất lượng đào tạo
Có thể khẳng định việc triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong nămhọc vừa qua là một kết quả chuyên môn đáng ghi nhận của Nhà trường trongđiều kiện hết sức khó khăn về đội ngũ lẫn cơ sở vật chất
4 Những tồn tại
Bên cạnh những kết quả đạt được qua quá trình triển khai thực hiện sau
một năm đào tạo theo hệ thống tín chỉ, vẫn còn nhiều tồn tại cần được tiếp tụckhắc phục và hoàn thiện, như:
- Nhiều văn bản pháp lý chưa thật phù hợp; Hệ thống để các văn bản pháp
lý chưa đáp ứng và thể hiện tốt vai trò công cụ trong quản lý đào tạo theo họcchế tín chỉ
Trang 6- Việc chuyển đổi được các chương trình đào tạo là từ niên chế sang hệthống tín chỉ là một cố gắng lớn của Nhà trường Tuy nhiên, cũng đã nhìn thấychương trình đào tạo chưa thật sự khoa học, sự chuyển đổi nhiều nội dung cònthể hiện tính cơ học, dẫn đến có những điểm không thống nhất giữa các chươngtrình đào tạo, chưa đảm bảo sự liên thông giữa các trình độ và giữa các ngànhđào tạo Vì vậy, cần được rà soát, điều chỉnh lại toàn bộ chương trình đào tạocủa tất cả các ngành, để đảm bảo tính đồng bộ và sự liên thông của các ngành vànhóm ngành.
- Phương pháp quản lý, giảng dạy theo học chế tín chỉ còn nhiều hạn chế.Hầu hết cán bộ, giảng viên đã nhận thức được tính tất yếu của đào tạo theo họcchế tín chỉ và sự cần thiết phải tự đổi mới bản thân để thích ứng với hệ thốngđào tạo này Tuy nhiên trong các hoạt động cụ thể, từ lãnh đạo các đơn vị chođến các giảng viên đều còn thể hiện sự lúng túng Việc đổi mới phương phápgiảng dạy của các giảng viên chưa nhiều; Việc tự bồi dưỡng nâng cao để tiếp cận
và đạt được một phương thức dạy học mới đối với nhiều giảng viên còn hạn chế;Mặt khác đến nay chưa có cách đánh giá và các tiêu chí đánh giá chất lượng của 1giờ giảng; Thêm vào đó là việc giám sát, quản lý chất lượng giờ giảng của giảngviên cũng chưa được các Khoa, Bộ môn thực sự chú ý
- Việc tổ chức thực hiện chương trình đào tạo chưa chuyên nghiệp hoá, cụthể như: Tính chuyên nghiệp chưa rõ nét trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chứcthực hiện kế hoạch, quản lý chương trình đào tạo và quản lý kết quả đào tạo;Việc phân công giảng dạy, xây dựng thời khoá biểu chưa thực sự khoa học; Độingũ cố vấn học tập chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc tư vấn cho sinh viên;Giảng viên chưa quen với cách đánh giá của quy chế đào tạo theo học chế tínchỉ; Sinh viên thì lúng túng trong việc đăng ký học phần; v.v
- Cơ sở vật chất chưa đáp ứng một cách tốt nhất cho hoạt động đào tạotheo hệ thống tín chỉ, như: Máy móc, thiết bị phòng thực hành, thực tập chưahoàn toàn đáp ứng được việc tổ chức các lớp học phần; Tài liệu học tập tại thưviện chưa đáp ứng yêu cầu cho một số ngành học; Chưa có phần mềm quản lýđào tạo tốt đáp ứng yêu cầu công tác điều hành và quản lý quá trình đào tạo;
v.v
- Việc phân công giảng dạy, xây dựng thời khoá biểu mất nhiều thời gian
và phải điều chỉnh nhiều lần do chồng chéo các kế hoạch triển khai của các đơnvị
- Đề cương chi tiết học phần chưa thật sự tốt, chưa có sự phân chia rõràng các cấp độ kiến thức
Trang 7- Các biểu mẫu mang tính nghiệp vụ chưa khoa học và thuận lợi.
Nguyên nhân của các tồn tại trên:
- Lãnh đạo các đơn vị chưa có kinh nghiệm về quản lý đào tạo theo hệthống tín chỉ Đội ngũ giảng viên chưa được tiếp cận với hệ thống tín chỉ trướckhi triển khai thực hiện đào tạo theo hệ thống này
- Công tác tập huấn, bồi dưỡng đã được triển khai nhưng mang tính thụđộng, đặc biệt là tập huấn cho đội ngũ cố vấn học tập
- Sự phối hợp giữa các đơn vị chưa thật hiệu quả Đặc biệt là sự phối hợpgiữa Phòng đào tạo và các Khoa, bộ môn trong tổ chức thực hiện các chươngtrình đào tạo, sự phối hợp giữa các Phòng chức năng trong việc đảm bảo điềukiện cho hoạt động đào tạo
- Với chất lượng đầu vào thấp và chưa có phương pháp học tập thíchhợp với hệ thống tín chỉ, sinh viên gặp nhiều khó khăn trong học tập, ảnh hưởngđến kết quả học
- Điều kiện về cơ sở vật chất, chế độ chính sách của Nhà trường chưakhuyến khích được sự tích cực của cán bộ, giảng viên trong thực hiện đào tạotheo hệ thống tín chỉ
- Quy định 64 quy định về chế độ lao động quy đổi 1 tiết tín chỉ bằng1.1 tiết chuẩn chưa đánh giá đúng mức về hoạt động của một giờ tín chỉ
5 Biện pháp thực hiện
5.1. Những nội dung trọng tâm cần thực hiện trong thời gian đến
Đối mặt với những thử thách trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, trên cơ
sở phân tích những tồn tại và nguyên nhân, cần thực hiện những nội dung sauđây:
- Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp lý về quản lý chương trình đào tạotheo hệ thống tín chỉ
- Cải tiến quy định, quy trình phát triển chương trình đào tạo phù hợp vớiyêu cầu xã hội và thống nhất trong toàn trường
- Chuyên nghiệp hoá công tác tổ chức thực hiện chương trình đào tạo
- Đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá theo hệ thống tín chỉ
- Xây dựng môi trường làm việc khoa học, hợp tác và thúc đẩy phát triển
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo
- Thường xuyên tiến hành lấy ý kiến của SV về giảng dạy để các CBGD
có những điều chỉnh cần thiết
Trang 85.2. Biện pháp thực hiện
a. Về hệ thống văn bản pháp lý
Các Phòng chức năng tham mưu cho Nhà trường hoàn chỉnh và ban hànhmới các văn bản liên quan đến đào tạo trong hệ thống tín chỉ. Cụ thể như sau:
- Rà soát lại các văn bản quy định về công tác học vụ, đánh giá học phần,
cố vấn học tập; trên cơ sở tổng hợp ý kiến từ các đơn vị tham mưu cho nhàtrường các điều chỉnh nếu có
- Ban hành quy định về công tác HSSV thích hợp với đào tạo theo tín chỉ
- Ban hành các quy định về chế độ chính sách đối với cán bộ, giảng viên
và SV trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, quy trình quản lý thu học phí sinhviên học theo tín chỉ phù hợp với quy chế 43
b. Về tổ chức thực hiện chương trình đào tạo
- Đề cương chi tiết học phần: Đề cương chi tiết học phần phải được xây
dựng một cách khoa học, có sự thẩm định của các cấp
- Đội ngũ cố vấn học tập: Chú trọng xây dựng đội ngũ cố vấn học tập
đảm bảo đủ trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, trình độ công nghệ thông tin vànhiệt tình trong công tác. Có thể chọn những sinh viên giỏi, có năng lực của nămcuối làm trợ lý cho cố vấn học tập Tổ chức tập huấn cho đội ngũ cố vấn học tập
- Tổ chức các lớp học phần: Các khoa, bộ môn phân công giảng dạy hợp
lý, đảm bảo một học phần có ít nhất hai giảng viên phụ trách Thiết kế lại các sổtheo dõi giảng dạy và học tập phù hợp với lớp học phần
- Phương pháp giảng dạy: Đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với
đào tạo theo tín chỉ Tổ chức các hội thảo về phương pháp giảng dạy tích cực
Tổ chức thao giảng, hội giảng cấp khoa, bộ môn, cấp trường
- Vấn đề tự học của sinh viên: Cần tập huấn cách tự học theo tín chỉ cho
sinh viên.Tổ chức các hội thảo về phương pháp học tập cho theo hệ thống tín chỉ
để sinh viên có điều kiện trao đổi và có kinh nghiệm trong việc xây dựng kếhoạch học tập của cá nhân
- Đánh giá học phần: Thay đổi cách đánh giá điểm học phần Bước đầu
xây dựng ngân hàng đề thi cho các học phần chung Ban hành quy định về việccông nhận kết quả học tập và chuyển đổi điểm đối với các trường hợp đã học từcác trường khác thuộc khối ngành TDTT
Khẩn trương triển khai việc biên soạn ngân hàng đề thi, đáp án cho tất cảcác học phần của các chương trình đào tạo, để áp dụng kể từ năm học 2015 -2016
Trang 9- Phương tiện quản lý: Sử dụng phần mềm quản lý đào tạo trong tất cả
các khâu của quy trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ
c. Về cơ sở vật chất
- Tăng cường các phòng học trang bị máy chiếu và phòng học đa phương
tiện
- Trang bị hệ thống tăng âm cho các phòng học lớn.
- Thư viện kết hợp với các khoa, bộ môn lên kế hoạch trang bị thêmsách, tài liệu, băng video chuyên ngành và có thể mở cửa để phục vụ ngoài giờ
d Về chế độ chính sách
- Trong phạm vi quy chế chi tiêu nội bộ của Trường, Quy định 1 giờ tínchỉ bằng 1,2 giờ chuẩn, trong đó bao gồm cả công tác coi và chấm bài thi giữahọc phần, chấm bài kiểm tra thường xuyên, giải đáp thắc mắc cho sinh viên,hướng dẫn sinh viên tự học
- Định mức giờ chuẩn cho cố vấn học tập là 85% (miễn giảm 15%).
- Phòng Tài vụ phối hợp với Phòng Đào tạo để tham mưu cho nhà trường
về chế độ của các hoạt động quản lý vào buổi tối, thi kết thúc học phần
- Khen thưởng đối với những CB, GV tích cực có trình độ và trách nhiệmcao
đ Về công tác quản lý sinh viên
- Cần thay đổi mô hình quản lý sinh viên thích hợp với cách tổ chức lớp
học phần và lớp sinh viên
- Xây dựng lại các quy định về công tác sinh viên, đoàn thể, trên cơ sở đóthiết kế mô hình quản lý và tổ chức công tác sinh viên, đoàn thể phù hợp Có thể
bố trí thời gian ngày thứ Bảy cho các hoạt động đoàn thể, xã hội
- Xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường và sinh viên, đặc biệt tăngcường hiệu quả website của Nhà trường để phụ huynh có thể biết được tìnhhình học tập và rèn luyện của sinh viên tại trường
e Công tác thanh tra, kiểm tra
Tăng cường công tác kiểm tra chuyên môn đến từng hoạt động của mỗikhoa, bộ môn và giảng viên trong việc thực hiện học chế tín chỉ; Đặc biệt chú ýkhâu kiểm tra, đánh giá thường xuyên, đánh giá quá trình, hướng dẫn sinh viên
tự học
Trang 106 Kết luận
Thế giới ngày nay luôn khuyến khích các hệ thống đào tạo mở, để cónhiều lựa chọn và thiên về hướng có lợi cho người học Hệ thống đào tạo theotín chỉ có nhiều ưu điểm mà chúng ta cần phải khai thác và sử dụng Với nhữngtổng kết và đánh giá qua một năm đào tạo trên đây, có thể chưa thật đầy đủ Cónhững kết quả đạt được chưa được nhìn nhận hết; cũng có thể còn những điểmchưa đáp ứng yêu cầu do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chưa được nêu
ra Thông qua hội thảo này, với những tham luận và những đóng góp tại hộithảo, chúng ta có thể rút ra các bài học kinh nghiệm, hy vọng trong thời gian tớichúng ta sẽ có những điều chỉnh, sửa đổi phù hợp, để làm tốt hơn, khai thác hếtnhững ưu điểm của phương thức đào tạo này, để có thể hòa nhập và phát triểncùng với các trường thuộc khối ngành TDTT trong nước, khu vực và quốc tế./
Tài liệu tham khảo
[1] Chính phủ, Quyết định số 73/2005/QĐ-TTg ngày 06/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 37/2004/QH11khoá XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục”.
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020.
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số 43/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo về việc ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”.
[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư số 57/2012/TT-BGDĐT ngày 27/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo về việc ban hành
“Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo”.
Trang 11NÂNG CAO VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA CÔNG TÁC TƯ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
ThS Nguyễn Nhất Hùng Khoa Giáo dục thể chất
1 Đặt vấn đề
Trong những năm qua nền giáo dục đại học Việt Nam đã có một số đổithay mạnh mẽ, trong đó có việc tín chỉ hóa các chương trình giáo dục Đây làmột bước đi tất yếu bởi tính ưu việt của nó so với đào tạo theo niên chế Đào tạotheo học học chế tín chỉ đòi hỏi sự tự giác và chủ động của người học Thực hiệnđiều này là rất không dễ; do vậy, vai trò của người cố vấn học tập trong đào tạotheo học chế tín chỉ là thật sự quan trọng Xuất hiện cùng với sự du nhập củađào tạo theo học chế tín chỉ vào Việt Nam, cố vấn học tập là một khái niệm khámới, có liên quan đến nhiệm vụ đào tạo-quản lý sinh viên cố vấn học tập làngười định hướng, tư vấn, giám sát hoạt động học tập, rèn luyện của sinh viên;giúp cho sinh viên nắm bắt các quy chế, quy định, chương trình học, phươngpháp học tập,…; từ đó người học chọn lựa chương trình, xây dựng kế hoạch họctập phù hợp với năng lực và điều kiện cá nhân Thông qua hoạt động của cố vấnhọc tập, sinh viên sẽ nắm bắt tốt hơn về các bộ phận chức năng của nhà trường,các thủ tục hành chính, các hoạt động phong trào xã hội, chính sách quyền lợi vànhiệm vụ của sinh viên Không chỉ cung cấp thông tin, cố vấn học tập phải làngười khích lệ, giúp đỡ sinh viên phát huy năng lực bản thân để có thể tự giảiquyết các vấn đề cá nhân trong quá trình theo học tại trường
Năm học 2013-2014 Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường quyết tâm thựchiện chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ bắt đầu từđại học khóa 7 hệ chính quy; Tuy nhiên, thời gian thực hiện phương thức đàotạo này đến nay mới được 1 năm nên cũng chưa có sự đánh giá rút kinh nghiệmtrong công tác này, song mỗi chúng ta cần nhận thức đầy đủ về phương thức đàotạo theo học chế tín chỉ đặc biệt là công tác cố vấn học tập
2 Nhiệm vụ của cố vấn học tập
2.1 Nhiệm vụ của cố vấn học tập trong công tác tư vấn, trợ giúp sinh viên trong học tập, nghiên cứu khoa học, định hướng nghề nghiệp, bao gồm:
a Tổ chức triển khai thực hiện các quy chế, quy định về học chế tín chỉ,
về quyền và nghĩa vụ của sinh viên;
Trang 12b Tư vấn cho sinh viên phương pháp học ở bậc đại học, phương pháp tựhọc và kỹ năng nghiên cứu khoa học, kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, tài liệuhọc tập;
c Hướng dẫn cho sinh viên hiểu biết về chương trình đào tạo toàn khóa,chương trình đào tạo chuyên ngành và cách lựa chọn các học phần đăng kí học ởcác học kì, tuân thủ các điều kiện học trước, điều kiện tiên quyết của từng họcphần;
d Hướng dẫn sinh viên quy trình, thủ tục đăng ký học phần, hủy đăng kýhọc phần,… Xây dựng kế hoạch học tập cá nhân cho từng học kỳ;
e Ký chấp nhận hoặc không chấp nhận vào Phiếu đăng ký học phần củasinh viên;
f Thảo luận và trợ giúp sinh viên trong việc lựa chọn nơi thực tập, lựachọn đề tài khóa luận, tiểu luận, đề t ài nghiên cứu khoa học phù hợp với nănglực, nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của sinh viên;
g Lưu ý sinh viên về sự cố gắng học tập khi thấy kết quả học tập của họgiảm sút;
h Trả lời các câu hỏi của sinh viên liên quan đến việc học tập của sinhviên trong phạm vi thẩm quyền của mình;
i Trung thực, công bằng khi thực hiện hoạt động tư vấn, trợ giúp, hướngdẫn sinh viên
2.2 Nhiệm vụ của cố vấn học tập trong công tác quản lý sinh viên, bao gồm:
a Tổ chức Đại hội lớp hàng năm; phê chuẩn danh sách ban cán sự lớp,ban chấp hành chi đoàn; tổ chức sinh hoạt lớp định kỳ;
b Phối hợp với Trợ lý khoa, BM và chi Đoàn; Phòng Công tác sinh viên;Phòng Đào tạo; Hội sinh viên để theo dõi đánh giá toàn diện về học tập và rènluyện của sinh viên, nhận xét và tham gia cho điểm rèn luyện theo quy định vềđánh giá, xếp loại sinh viên;
c Phối hợp với Phòng Công tác sinh viên giáo dục phẩm chất chính trị,đạo đức, tác phong lối sống sinh viên;
d Kiến nghị Phòng Công tác sinh viên giải quyết các chế độ, chính sáchcho sinh viên;
e Phối hợp và trao đổi thông tin với Phòng Khảo thí đảm bảo chất lượnggiáo dục trong việc theo dõi, kiểm tra việc tuân thủ các quy chế, quy định củaTrường;
Trang 13f Phối hợp với Trung tâm thông tin thư viện trong việc trao đổi thông tingiữa Cố vấn học tập và sinh viên;
g Tư vấn, định hướng, tổ chức và hướng dẫn sinh viên trong việc thamgia các hoạt động đoàn thể, xã hội, văn nghệ, thể thao v à các hoạt động ngoạikhóa khác
2.3 Các nhiệm vụ khác của cố vấn học tập, bao gồm:
a Tham gia các cuộc họp, tập huấn về công tác cố vấn học tập theo yêucầu của trường;
b Phải nắm vững mục tiêu, chương trình đào tạo, các hình thức đào tạo,các quy định liên quan đến công tác đào tạo và quản lý sinh viên, cụ thể:
Nắm vững chương trình đào tạo toàn khoá; chương trình của ngành,chuyên ngành; nội dung của các khối kiến thức có trong chương trình; nội dung
và vị trí của từng học phần được Trường tổ chức giảng dạy trong từng học kỳ,năm học; có sự hiểu biết về học theo tiến độ nhanh, học theo tiến độ chậm;
Nắm vững về các học phần: học phần bắt buộc, học phần tự chọn, điềukiện học các học phần, cách đăng ký học phần, rút bớt học phần đã đăng ký học
và bổ sung học phần, đăng ký học các học phần chưa đạt, học cải thiện điểm cáchọc phần;
Nắm vững về hệ thống tín chỉ trong quá trình tổ chức đào tạo: lên lớp học
lý thuyết; thực hành hoặc thảo luận; thực tập tại cơ sở; làm bài tập lớn/đồ án; sốtín chỉ tối đa và tối thiểu phải tích luỹ trong từng học kỳ, năm học; số tín chỉ tíchluỹ để được xét cấp học bổng khuyến khích;
Nắm vững quy trình đánh giá kết quả học tập của từng học phần; quytrình đánh giá kết quả rèn luyện của sinh viên;
3 Tư vấn phương pháp học tập trong các năm của khoá học
Trong mỗi kỳ học, năm học cố vấn học tập phải xây dựng kế hoạch tư vấnhọc tập cho sinh viên cụ thể ở các năm học
3.1 Nhiệm vụ trọng tâm của cố vấn học tập đối với sinh viên năm thứ nhất:
Với năm đầu tiên, các sinh viên còn rất bỡ ngỡ với hình thức học tập kháchẳn với lúc còn học phổ thông, bạn bè mới, thầy cô mới Phần lớn các sinh viênvẫn còn rụt rè, thụ động và chưa xác định rõ ràng phương hướng học tập Đặcbiệt là hoàn toàn xa lạ với cách thức học chế tín chỉ
* Các nhiệm vụ cố vấn học tập cần thực hiện:
Giới thiệu khung chương trình đào tạo
Trang 14Cố vấn học tập có thể giới thiệu một vài Kế hoạch học tập toàn khóa tiêubiểu để các sinh viên làm mẫu Hướng dẫn cho sinh viên về cách đăng ký họcphần cho từng học kỳ, tư vấn cho sinh viên nên chọn học phần tự chọn nào làphù hợp với chuyên ngành mà mình đang học
- Hướng dẫn cho sinh viên đăng ký sử dụng Thư viện và tìm tài liệu, bàigiảng của giảng viên
- Hướng dẫn cho sinh viên đăng ký môn học Cố vấn học tập phải chịukhó trong thời gian này để bám sát các sinh viên trong khâu đăng ký học phầnnhất là các sinh viên đến từ các vùng nông thôn ít tiếp xúc với máy tính vàinternet
- Tư vấn sinh viên tự nâng cao trình độ ngoại ngữ, gợi ý cho sinh viênthấy rõ trình độ ngoại ngữ cũng là một trong những tiêu chuẩn để xét tốt nghiệp
3.2.1 Nhiệm vụ của cố vấn học tập cần thực hiện:
Tư vấn học tập - nghiên cứu khoa học:
Sinh viên vẫn còn chưa xác định rõ phương pháp học tập đúng đắn nhất làcác sinh viên bị điểm yếu kém trong năm học thứ nhất thường cảm thấy mất tựtin Mặt khác sinh viên thường có xu hướng đăng ký nhiều tín chỉ mà khôngnghĩ đến năng lực của mình và quan trọng hơn sinh viên thường có xu hướngchạy theo số tín chỉ đạt được chứ không quan tâm kiến thức mình học được baonhiêu? Ích lợi gì? Do đó phần lớn sinh viên học theo kiểu đối phó, ít chú ý đếnviệc tự học, ít chịu đọc thêm tài liệu để nâng cao kiến thức
- Dựa vào kết quả học tập của năm thứ nhất để đánh giá sơ bộ năng lựchọc tập của từng sinh viên từ đó giúp các sinh viên lập ra kế hoạch học tập phùhợp (thể hiện qua việc đăng kí môn học phù hợp)
- Rèn luyện tính tự lập cho sinh viên qua cách hướng dẫn sinh viênphương pháp tự học, tìm thông tin trên mạng Giúp sinh viên nhận thức rõ cốvấn học tập chỉ là người tư vấn cho các sinh viên chọn hướng đúng đắn chứkhông phải là người “dắt tay chỉ việc”, muốn vậy cố vấn học tập phải nhạy bén
Trang 15của sinh viên đều bắt buộc cố vấn học tập trả lời rõ ràng, đôi khi người cố vấnhọc tập thay vì phải trả lời câu hỏi của sinh viên thì sẽ đặt ra những câu hỏi gợi ýcho các sinh viên để giúp các sinh viên bỏ đi những thói quen thụ động ít chịutìm tòi suy nghĩ Tuy nhiên người cố vấn học tập phải hết sức nhạy bén và tế nhịtrong cách đặt ra câu hỏi để giúp các sinh viên không cảm thấy thất vọng khi cóthắc mắc mà không giải quyết được gì!
- Thành lập các nhóm học tập để các sinh viên giỏi phụ đạo cho các sinhviên yếu, kém Nhấn mạnh phần đóng góp này sẽ được cộng thêm trong điểmrèn luyện để khuyến khích các em tham gia cố vấn học tập nên nhạy bén để sắpxếp phân công cho phù hợp, nhắc nhở các sinh viên khá giỏi, đi học đều báo cáokịp thời với cố vấn học tập những trường hợp sinh viên bỏ học thường xuyên
Tư vấn cho các sinh viên thấy rõ việc đăng ký học vừa sức sẽ mang lại nhiều kếtquả tốt đẹp hơn (điểm cao hơn, nắm vững kiến thức hơn do có nhiều thời gianđầu tư cho học tập hơn)
- Phần lớn sinh viên năm thứ ba bắt đầu chuẩn bị làm luận văn tốt nghiệpnhưng vẫn chưa định hướng rõ sẽ làm luận văn tốt nghiệp trên lĩnh vực nào Do
đó cố vấn học tập cần tư vấn và tạo điều kiện giúp các sinh viên tham gia họcviệc tại các phòng thí nghiệm để giúp các sinh viên hình thành dần dần tácphong nghiên cứu khoa học cũng như định hướng nghiên cứu phù hợp với khảnăng
3.3 Nhiệm vụ trọng tâm của cố vấn học tập đối với sinh viên năm cuối
3.3.1 Tư vấn hướng làm luận văn tốt nghiệp – Báo cáo luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp là một học phần khá quan trọng đối với sinh viênnăm cuối Tuy nhiên do cơ chế học theo tín chỉ nên việc làm luận văn tốt nghiệpcủa sinh viên bị khống chế thời gian rất nhiều, một luận văn tốt nghiệp chiếm 10tín chỉ và phải hoàn thành trong vòng 5 tháng, trong đó sinh viên phải mất ítnhất nửa tháng đầu để viết đề cương luận văn tốt nghiệp và khoảng 1 tháng đểviết và xử lý số liệu của luận văn tốt nghiệp Tùy theo học lực của sinh viên, cốvấn học tập cũng có thể tư vấn cho sinh viên chọn những đề tài luận văn tốtnghiệp vừa sức mình
3.3.2 Tư vấn hướng nghiệp và việc làm
Hầu hết sinh viên vẫn chưa định hướng nghề nghiệp, rất hoang mang lo
lắng khi nghĩ về tương lai Mong muốn của phần lớn sinh viên là vừa tốt nghiệpxong sẽ xin được việc làm ngay, một số ít sinh viên với điều kiện kinh tế giađình ổn định thì mong muốn tiếp tục học thêm chương trình Cao học
Trang 164 Giải pháp đề xuất
Từ thực tiễn và tính cần thiết của công tác cố vấn học tập Tôi xin đề xuấtmột số giải pháp sau:
- Nhà trường cần thành lập Ban cố vấn học tập cấp trường và cấp khoa để
tổ chức, hướng dẫn và đánh giá công tác cố vấn học tập
- Xây dựng đội ngũ cố vấn học tập đủ số lượng, cơ cấu phù hợp với qui
mô, loại hình, hình thức đào tạo, từng bước tiến tới chuyên nghiệp; có phẩmchất đạo đức tốt và năng lực thực thi nhiệm vụ, tận tụy hỗ trợ giúp đỡ sinh viênhọc tập, rèn luyện tốt; đồng thời giúp lãnh đạo nhà trường chỉ đạo và quản lýsinh viên hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc tất cả vì học sinh, sinh viên thânyêu
- Xây dựng các văn bản pháp quy về công tác cố vấn học tập
- Xây dựng hệ thống phần mềm quản lý công tác đào tạo theo học chế tínchỉ, lắp đặt một số màn hình cảm ứng tại khu giảng đường, ký túc xá để sinhviên có điều kiện hơn trong việc truy cập Website của nhà trường
- Các đơn vị chức năng cần tăng cường cung cấp thông tin về các hoạtđộng đào tạo, NCKH, giáo dục sinh viên… với hướng đầy đủ, cụ thể và đưa lêncổng thông tin của website sớm để sinh viên và cố vấn học tập tra cứu kịp thời
- Cố vấn học tập cần hướng dẫn kỹ cho sinh viên lập kế hoạch học tậptoàn khóa, kế hoạch học tập trong từng học kỳ dựa vào năng lực từng cá nhâncủa sinh viên Đối với sinh viên năm thứ nhất, chưa có cách nhìn tổng quát nênkhó lập được kế hoạch học tập toàn khóa, do đó cố vấn học tập nên lập kế hoạchhọc tập toàn khóa gồm phần cứng (là các học phần không được thay đổi trongtừng học kỳ) và phần tự chọn, giúp sinh viên dễ dàng lựa chọn học phần học vàđược phép điều chỉnh khi cần thiết
Cần phải khẳng định lại rằng cố vấn học tập có vai trò đặc biệt quantrọng, không thể thiếu trong đào tạo theo học chế tín chỉ Mỗi cố vấn học tập làmột nhân tố then chốt trong mối quan hệ nhà trường sinh viên; là một chuyêngia tư vấn về học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện, định hướng nghề nghiệp
và cả tâm tư tình cảm cho sinh viên trong suốt quá trình học tập tại trường Dovậy, việc nâng cao vai trò, nhiệm vụ của cố vấn học tập trong công tác đào tạotheo học chế tín chỉ là hết sức quan trọng trong việc thực hiện thành công tácđào tạo của nhà trường
Trang 17ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA THƯ VIỆN NHẰM BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Chất lượng giáo dục đại học gắn chặt với chất lượng của đội ngũ giảngviên, sinh viên và được quyết định bởi các nhân tố sau: chương trình đào tạo,phương thức đào tạo và cơ sở vật chất, trong đó có thư viện Với phương thứcđào tạo tín chỉ, vai trò của thư viện càng quan trọng hơn Với hình thức đào tạotín chỉ, vai trò của việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được nâng cao Việcsinh viên đến với thư viện, do vậy, sẽ rất quan trọng Thư viện không còn là nơingồi học, thư viện trở thành nơi hướng dẫn kỹ năng tự học của sinh viên, biếtkhai thác hiệu quả thư viện bằng việc tìm kiếm tài liệu, sử dụng tài liệu thamkhảo…để phục vụ việc tự học, tự nghiên cứu
2 Nội dung
2.1 Vai trò của thư viện nhằm bảo đảm chất lượng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ
2.1.1 Vai trò của thông tin - thư viện đối với chất lượng đào tạo tín chỉ
Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007 của Bộ Giáodục và Đào tạo, bắt đầu từ năm học 2007 – 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đãđưa lộ trình đào tạo theo tín chỉ vào hệ thống giáo dục Đại học Việt Nam Đốivới Trường Đại học TDTT Đà Nẵng, bắt đầu từ khóa ĐH7, Nhà trường tiếnhành áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ Với hình thức đào tạo này, sinh viênphải tham gia học tập với thái độ tích cực, chủ động tìm kiếm tài liệu, tham khảo
Trang 18sách báo, thông tin điện tử, báo cáo, luận văn, công trình khoa học…để tiếnhành hành trình đến với tri thức của học phần; thay vì chỉ tiếp thu tri thức từgiảng viên giảng dạy trên giảng đường như trước đây.
Với phương pháp học tập như thế, người học phải luôn chủ động trongviệc chiếm lĩnh các tri thức Thư viện trở thành nơi cung cấp tri thức hiệu quảnhất cho sinh viên Thư viện tìm cách thu hút người đọc bằng tiện ích mà côngnghệ thông tin mang lại, tạo không gian cho việc đọc sách, tự học, phòng truycập Internet, tạo điều kiện cho sinh viên đến học một mình, theo nhóm, trao đổithông tin thu nhận được từ kho tài liệu của thư viện Người cán bộ thư viện sẽnăng động hơn, không chỉ đơn thuần là thủ thư trông coi sách như trước, màphải là cán bộ tư vấn, hướng dẫn bạn đọc tìm kiếm, khai thác thông tin, tài liệu.Thư viện trở thành Giảng đường thứ hai của các sinh viên trong quá trình họctập
2.1.2 Vai trò của thư viện đối việc học tập của sinh viên theo hệ tín chỉ
Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007 của Bộ Giáodục và Đào tạo, bắt đầu từ năm học 2007 -2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa
ra lộ trình đào tạo học chế tín chỉ trong hệ thống giáo dục Đại học Việt Nam Đểthực hiện tốt Quy chế này đòi hỏi phải có sự chuyển biến toàn diện về cách vậnhành chương trình đào tạo, mô hình quản lý đào tạo cũng như cơ sở vật chấtphục vụ học tập trong các trường Đại học; đặc biệt, vai trò của thư viện đối vớihình thức đào tạo tín chỉ sẽ ngày càng trở nên quan trọng
Để thực hiện tốt hình thức đào tạo mới này, giảng viên lên lớp không diễngiải lý thuyết dài dòng mà nêu vấn đề để cả lớp cùng thảo luận hay ấn định mộtvấn đề cần nghiên cứu để các sinh viên cùng thảo luận trong các buổi học sau.Muốn thực hiện tốt vấn đề cần nghiên cứu, sinh viên phải tham gia học tập vớithái độ tích cực, chủ động vào thư viện tìm kiếm và tham khảo sách báo, thôngtin điện tử, nghiên cứu các báo cáo, luận văn các công trình khoa học liên quanđến đề tài ấn định sau đó thực hiện phân tích, so sánh, phê bình đánh giá các dữliệu, tổng hợp kiến thức để đưa đến nhận định chung Việc sinh viên phát kiến,
tự tìm hiểu sẽ khắc sâu vào tâm trí sinh viên hơn là việc vừa lắng nghe vừa chépkiến thức từ giảng viên
2.1.3 Vai trò của thư viện trong công tác đổi mới phương pháp học tập
Đổi mới Giáo dục Đại học trong những năm gần đây đặt ra yêu cầu bứcthiết phải đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập Trung tâm của hoạt độngdạy và học không còn là những người thầy Vị trí đó được chuyển giao cho sinh
Trang 19viên Để hoạt động giảng dạy và học tập đạt chất lượng cao mỗi giảngviên và sinh viên phải hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Trong công tác đổi mới phương pháp học tập, nhiệm vụ của sinh viên lànhận nội dung bài tập, các vấn đề, câu hỏi mà giảng viên giao sau đó tiến hành
tự học, tự nghiên cứu theo phạm vi vấn đề, định hướng câu hỏi của giảng viên.Kết quả của phương pháp học tập như vậy sẽ hình thành cho người học kỹ năngchọn lựa thông tin, phân tích, so sánh, đánh giá tổng hợp những kiến thức thuthập được để đưa ra những kết luận cần thiết
Với phương pháp học tập như thế người học luôn phải chủ động trongviệc chiếm lĩnh các tri thức Ở môi trường Đại học, thư viện trở thành một trongnhững nơi cung cấp tri thức hiệu quả nhất cho sinh viên Thư viện phải đóng vaitrò quan trọng trong công tác hỗ trợ học tập, nghiên cứu của sinh viên
Qua tầm vóc, quy mô của thư viện ta cũng có thể đánh giá được phần nàoquy mô, chất lượng đào tạo của trường Đại học đó Với phương pháp học tậpmới, mỗi sinh viên cần phải coi thư viện là “giảng đường thứ hai” thì mới có thểhoàn thành được những yêu cầu về khối lượng cũng như chất lượng kiến thứccủa các môn học
2.1.4 Vai trò của thư viện trong công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên
Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đòi hỏi ở thư viện một khảnăng cung cấp thông tin và các dịch vụ kèm theo ngày càng mở rộng và ở trình
độ cao Đồng thời, chính từ việc nghiên cứu đó đã trực tiếp tạo ra nguồn thôngtin khoa học ngay tại thư viện nhà trường một khối lượng ngày càng lớn Nhìnchung, có thể thấy: khả năng cung cấp và quản lí thông tin của thư viện luôn đòihỏi ngày một cao hơn, đa dạng hơn, phức tạp hơn Đó là thực tế và nó luôn đặt
ra thách thức to lớn đối với hoạt động của thư viện
Vì vậy vai trò thư viện được đặt ra trong vấn đề nghiên cứu khoa học là:
- Bảo đảm việc đáp ứng các nhu cầu thông tin được hình thành trong cácquá trình nghiên cứu
- Cung cấp điều kiện khai thác, truy cập và các dịch vụ tương ứng đếnnguồn thông tin theo yêu cầu sinh viên
- Cung cấp các dịch vụ thông tin cần thiết để sinh viên có khả năng kiểmsoát và khai thác được các nguồn thông tin hiện có làm tư liệu cho hoạt độngnghiên cứu của mình
- Cung cấp các dịch vụ trao đổi thông tin, giúp sinh viên thuận lợi trong
Trang 202.2 Thực trạng của thư viện Trường Đại học TDTT Đà Nẵng
- Phòng máy tính gồm 30 máy có nối mạng, tòa nhà thư viện được phủsóng Wifi
- Phòng tự học được trang bị khang trang, thoáng mát, không gian thoảimái, yên tĩnh
2.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của thư viện nhằm bảo đảm chất lượng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ
Từ vai trò và thực trạng nêu trên, để đáp ứng nhu cầu tìm kiếm, khai thácthông tin, phục vụ sinh viên tốt hơn, chúng tôi đề xuất một số giải pháp như sau:
2.3.1 Giải pháp về cơ sở vật chất, công nghệ
- Có kế hoạch đầu tư và phát triển phòng truy cập internet thành phònghoạt động đa phương tiện
- Đầu tư thêm số lượng máy vi tính cho phòng truy cập internet
- Đầu tư máy tính tra cứu công cộng cho bạn đọc tra cứu tài liệu đượcthuận lợi
2.3.2 Giải pháp về tài liệu
Trang 21- Tiếp tục thực hiện việc cập nhật, bổ sung tài liệu mới theo từng năm đểđáp ứng nhu cầu của sinh viên.
- Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các giảng viên, những người thườngxuyên thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, các giảng viên viết giáo trình,sách chuyên khảo, tài liệu tham khảo, bài báo khoa học để họ tư vấn về nguồntài liệu cần bổ sung, đặc biệt là để bổ sung cho thư viện những tài liệu ít gặp trênthị trường xuất bản và tài liệu mà giảng viên có được do các chuyến đi công táctrong nước, học tập ở nước ngoài hoặc dự các hội nghị, hội thảo khoa học
- Nâng cao nhận thức của giảng viên đối với vai trò của thư viện Giảngviên đồng thời vừa khai thác thông tin, bổ sung thông tin, vừa là người hướngdẫn, tư vấn, hỗ trợ sinh viên trong quá trình tìm kiếm tài liệu
2.3.3 Giải pháp về hình thức tiếp cận, sử dụng nguồn thông tin
- Do kho mượn là kho đóng nên sinh viên không được tham khảo sơ quanội dung tài liệu trước khi mượn, mà chỉ biết nhan đề, dẫn đến tình trạng sinhviên mượn sách không đúng với mong muốn Vì vậy, nên tạo điều kiện cho sinhviên được tiếp cận với nội dung của tài liệu trước khi quyết định sẽ mượn cuốnsách nào
- Trên website của nhà trường (www.upes3.edu.vn) có danh mục tên cácloại sách được mượn và chỉ đọc Nhưng hiện tại trang Web tra cứu thư viện chỉmới được sử dụng trong nội bộ nhà trường, cần đưa địa chỉ này ra ngoài để được
sử dụng rộng rãi Như vậy sinh viên sẽ được đăng kí mượn trực tuyến quawebsite ngay tại nhà Mỗi sinh viên sẽ sở hữu 1 tài khoản với tên đăng nhập là
mã số sinh viên và 1 mật khẩu Số lượng sách mượn trực tuyến được giới hạn đểtránh việc mượn tràn lan Như vậy, vấn đề quản lý cũng khá đơn giản
- Tổ chức thường xuyên các lớp đào tạo, huấn luyện người dùng tin vềkiến thức thông tin
2.4 Giải pháp về cung cấp dịch vụ
Để phục vụ tốt nhất nhu cầu của sinh viên, đề nghị Ban giám hiệu quantâm chỉ đạo để đưa các dịch vụ sớm đi vào hoạt động: dịch vụ in sao, dịch vụtruy cập Internet, dịch vụ tư vấn học tập, dịch vụ cung cấp thông tin theo yêucầu của bạn đọc,…
3 Kết luận
Edmund Jamess, Viện trưởng viện Đại học Illinois viết: “Trong những cơ
sở phòng hay phòng ban của một trường đại học, không có cơ sở nào thiết yếuhơn thư viện đại học.” Ai cũng hiểu đầu tư cho thư viện là đầu tư cho chất
Trang 22cho thư viện có mang lại hiệu quả cho công tác phục vụ giảng dạy, học tập vànghiên cứu khoa học hay không, nếu không có chuyển biến mạnh mẽ về đổi mớiphương pháp dạy và học?
Vì vậy, để chất lượng đào tạo sinh viên tín chỉ được tốt hơn, cần có sựđồng bộ trong giảng viên, sinh viên; cách giảng dạy, cách tự học, cách nghiêncứu…trong đó không thể thiếu việc phục vụ của thư viện
Hình ảnh thư viện đầy ắp các bạn sinh viên luôn là hình ảnh đẹp nhấttrong mỗi trường Đại học Tuy nhiên, để xây dựng và giữ được hình ảnh đó,ngoài sự nỗ lực của tập thể cán bộ Trung tâm Thông tin – Thư viện; còn cần có
sự chung tay của mỗi một cán bộ, viên chức Nhà trường Có như vậy, chấtlượng phục vụ của thư viện đối với bạn đọc nói chung và sinh viên hệ tín chỉ nóiriêng mới ngày càng được nâng cao, phục vụ tốt hơn nhu cầu và góp phần nângcao chất lượng đào tạo, thương hiệu của Nhà trường
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Huy Chương, Đề xuất đổi mới thư viện Đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, Hội nghị quốc tế về thư viện, Tp HCM, 2006
2 Phạm Thị Mai, Đào tạo tín chỉ và mối quan hệ của thư viện với các khoa trong trường Đại học, Tạp chí thông tin và tư liệu, 6/2012
3 Lê Minh Tiến, Cần chú trọng xây dựng kho học liệu, Báo Tuổi trẻ,
29/12/2011
Trang 23NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ TRONG BƯỚC ĐẦU
TRIỂN KHAI HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐH TDTT ĐÀ NẴNG
ThS Phan Nam Thái, ThS Nguyễn Văn Hiếu
Bộ môn Bóng bàn
1 Đặt vấn đề
Trước yêu cầu phát triển của xã hội, học chế niên chế, dù có những ưuđiểm nhất định, đã bộc lộ rõ những nhược điểm cần khắc phục như thiếu tínhlinh hoạt, hạn chế sự chủ động của người học và sự hội nhập vào các nền giáodục phát triển Với phương thức đào tạo theo triết lý “Tôn trọng người học, xemngười học là trung tâm của quá trình đào tạo”, học chế tín chỉ tạo điều kiện tốtnhất cho sự phát triển năng lực của người học Ra đời ở Hoa Kỳ từ cuối thế kỷ
19, học chế tín chỉ đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới và xâm nhập vào nước
ta từ trước 1975 Tại Châu Á, học chế tín chỉ đã được áp dụng và mang lại rấtnhiều thành công cho các nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan vàcác nước đang phát triển như Trung Quốc, Thái Lan, Malaisia… Nhìn thấyđược những mặt tích cực phù hợp với quan điểm đổi mới giáo dục nên Nhànước đã chủ trương triển khai áp dụng học chế tín chỉ trong hệ thống các trườngđại học, cao đẳng ở Việt Nam Vì vậy, Nghị quyết 14 /2005/NQ-CP ban hànhngày 2.11.2005 nêu rõ quyết tâm đổi mới toàn diện nền giáo dục của Nhà Nướcta: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tínchỉ (TC), tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổingành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ởnước ngoài"
Trên tinh thần ấy, năm học 2013-2014 trường đại học TDTT Đà Nẵng mới bắt đầu thực hiện những bước đi đầu tiên áp dụng học chế tín chỉ Một năm học chưa phải đủ dài để đánh giá kết quả đạt được, tuy nhiên, trong bài viết này tôi sẽ phân tích những mặt tích cực và hạn chế sau một năm triển khai học chế tín chỉ tại trường.
2 Học chế tín chỉ: Đặc điểm cơ bản và điều kiện thực hiện
2.1 Đặc điểm cơ bản của hệ thống tín chỉ
Xu hướng giảng dạy tích cực – lấy sinh viên làm trung tâm, coi trọng tínhchủ động, sáng tạo của sinh viên;
Giảng viên phải viết tài liệu giảng dạy thiết thực liên quan trực tiếp đếnmục tiêu của bài giảng, không rườm rà, cô đọng, đầy đủ mà dễ hiểu, các vấn đềphức tạp của bài giảng đều có thể quy về các giai đoạn, các bước cơ bản
Trang 24Giảng viên dành thời gian cho sinh viên tham gia vào bài giảng của thầy
để sinh viên tự phát hiện ra vấn đề, tự phát hiện ra chân lý bằng các con đườngkhác nhau
Giảng viên tổng kết, đánh giá, kết luận, khẳng định Khái quát lại các vấn
đề cốt lõi thuộc về bản chất của từng vấn đề, kèm theo sự hỗ trợ của các phươngtiện giảng dạy hiện đại như: máy tính xách tay, projector, băng hình, trình diễn
Chương trình đào tạo mềm dẻo (có học phần bắt buộc và học phần tựchọn), tính liên thông cao, sinh viên có điều kiện tích lũy thêm tín chỉ và địnhhướng chuyên môn, nghề nghiệp;
Có hệ thống cố vấn học tập: cố vấn để hướng nghiệp và ghi danh học kiểutích lũy cho đúng quy định và sinh hoạt đoàn thể;
Đòi hỏi sinh viên phải tích luỹ kiến thức theo từng học phần (tín chỉ);Kiến thức cấu trúc thành các môđun (học phần);
Điều đó giúp cho việc phân cấp đào tạo trong giáo dục đại học Tính liênthông giữa các cấp học được thực hiện tương đối dễ dàng hơn hơn so với họcchế niên chế
Một năm học có hai học kỳ chính (mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuầnthực học) và một học kỳ phụ (có ít nhất 5 tuần thực học)
Ghi danh (đăng ký) học đầu mỗi học kỳ, lớp học tổ chức theo mỗi họcphần;
Đánh giá thường xuyên, sử dụng thang điểm 10, lấy chính xác đến 1 chữ
số thập phân, thang điểm chữ (A,B,C,D,F) và điểm trung bình chung tốt nghiệp;
Có thể tuyển sinh theo học kỳ;
Không thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khoá luận tốt nghiệp đối vớicác chương trình đại học
Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng Xếp nămhọc của người học theo khối lượng tín chỉ tích luỹ;
Chỉ có 1 văn bằng chính quy đối với 2 loại hình tập trung và không tậptrung
2.2 Điều kiện thực hiện:
Có đủ điều kiện vật chất tối thiểu đạt yêu cầu đào tạo theo tín chỉ:
- Đủ thiết bị giảng dạy hiện đại đáp ứng được tính mềm dẻo và linh hoạtcủa Hệ thống quản lý đào tạo tín chỉ, giúp giảng viên đỡ mất thời gian viết bảnghoặc trình bày, giảng giải trên lớp;
Trang 25- Hệ thống giảng đường phải đa dạng có sức chứa lớn, trung bình và nhỏ
để tổ chức các lớp lý thuyết, thảo luận, thực hành, phòng đọc ở thư viện … phục
vụ theo yêu cầu đăng ký của sinh viên và tạo điều kiện cho sinh viên tự họcngoài giờ lên lớp;
- Có hệ thống phần mềm, cơ sở dữ liệu quản lý đào tạo và sinh viên theo
hệ thống tín chỉ
Có đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ:
- Các giảng viên phải hiểu biết về các phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá tiên tiến như yêu cầu của hệ thống tín chỉ và có kỹ năng sử dụng cácthiết bị giảng dạy hiện đại Để có điều kiện này, nhà trường phải tổ chức các đợttập huấn cho đội ngũ giảng viên về các phương pháp dạy - học, kiểm tra - đánhgiá tiên tiến
Có đủ đội ngũ cố vấn am hiểu về chương trình đào tạo để hướng dẫn
người học chọn môn học và xây dựng kế hoạch học tập
Xây dựng chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ:
Xây dựng chương trình đào tạo cũng là dịp để chúng ta nghiên cứu và vậndụng các lý luận về thiết kế chương trình hiện đại theo chuẩn của các trường Đạihọc tiên tiến, đáp ứng được yêu cầu hiện tại và tương lai của đất nước đối vớingành đào tạo và yêu cầu hội nhập quốc tế Khi xây dựng khung chương trìnhđào tạo theo học chế tín chỉ nên rà soát lại để bỏ bớt những môn không cần thiết,
bổ sung các môn học mới cập nhật hơn, kế thừa những yếu tố tích cực, phù hợpcủa khung chương trình đào tạo hiện có
3 Đào tạo theo học chế tín chỉ: Tích cực và hạn chế
Tích cực:
- Đầu tiên là sự ủng hộ về chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà Nước
và các cấp quản lí giáo dục, thể hiện sự quyết tâm của tập thể lãnh đạo và toàn
thể cán bộ viên chức trong trường về đổi mới phương pháp đào tạo: linh hoạt, khả năng thích ứng cao, hiệu quả tích cực trong quản lí giáo dục, chi phí đào tạo giảm ;
- Thứ hai, trong những năm gần đây, người ta hay đặt vấn đề về chấtlượng giáo dục, trong đó có giáo dục đại học, nên việc thay đổi để có chất lượngđào tạo cao hơn chắc chắn sẽ nhận được sự đồng tình của xã hội, đặc biệt là cácnhà tuyển dụng ;
- Thứ ba, đối với sinh viên, tính linh hoạt và chủ động chắc chắn sẽ mangđến cho họ nhiều động lực hơn ;
Trang 26- Thứ tư, đối với giảng viên, học chế tín chỉ là cơ hội để họ nhìn lạiphương pháp dạy học và trau dồi kiến thức chuyên môn của mình ;
- Thứ năm, cơ sở vật chất của Trường, dù chưa thật sự tối ưu, nhưng cũngkhá đủ để thực hiện sự chuyển đổi này ;
- Thứ sáu, trình độ nguồn nhân lực đang từng bước được nâng lên
Từ những mặt tích cực trên, đối với Trường Đại học TDTT Đà Nẵng, việcđang từng bước chuyển đổi sang học chế tín chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lượccủa lãnh đạo nhà trường, cũng như những kinh nghiệm rút ra từ các trường tiênphong đi trước và quá trình thử nghiệm ban đầu chắc chắn là một lợi thế khôngnhỏ để hoàn thiện chương trình đào tạo của mình
Hạn chế:
Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, việc chuyển đổi sang hệ thống tínchỉ cũng gặp phải không ít những hạn chế nhất định
- Đối với nhà trường: Về kinh nghiệm trong những bước đầu thực hiện
nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết:
+ Sự thay đổi phương thức đào tạo cũng đồng nghĩa với việc xoá bỏ mộtthói quen đã thành nếp sẽ khó thực hiện trong giai đoạn đầu, điều này gây trởngại cho sự chuyển đổi
+ Một số bộ máy quản lí hoạt động chưa hiệu quả và đồng bộ, từ ngườiquản lí cho đến giáo viên Thực tế tồn tại này chúng ta khắc phục chưa triệt để,một bộ phận giáo viên đôi khi còn chưa chuyên nghiệp, công tác thông tin chosinh viên đôi khi còn làm chưa tốt Qua thực tế, chúng tôi thấy rằng nhiều sinhviên gặp nhiều khó khăn khi đăng kí hoặc chuyển đổi môn học, còn thiếu thôngtin về môn học
+ Chưa tổ chức nhiều các cuộc hội thảo, toạ đàm trong đội ngũ cán bộquản lý, giảng viên, chuyên viên với sự tham gia, hướng dẫn của đội ngũ amhiểu về chương trình đào tạo tín chỉ Đến nay, vẫn còn một số bộ phận khôngnhỏ cán bộ quản lý, giảng viên chưa nắm vững các quy chế, quy định việc vận
Trang 27- Đối với thầy: Việc đổi mới phương pháp dạy và học là vấn đề khó khăn
nhất trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ đặc biệt là các giờ thảo luận, tự học(thực hành)
+ Thay đổi phương pháp dạy học từ chủ yếu là đọc giảng, cách truyền thụkiến thức một chiều sang hình thức định hướng, đánh giá vẫn còn bị động Khigiảng học phần lý thuyết có hiện tượng giảng viên không cô đọng được nội dungbài học dẫn đến dạy quá nhiều trong thời gian ngắn làm cho sinh viên khó tiếpthu và hoang mang Các giờ thảo luận còn có nhiều quan điểm khác nhau về tổchức và đánh giá Nhiều giờ thảo luận còn chưa thực sự đúng là thảo luận và đạthiệu quả thấp
+ Cố vấn học tập chưa có nhiều kinh nghiệm để tư vấn, một số trườnghợp chưa làm hết vai trò đối với sinh viên
- Đối với trò: sức ỳ lớn nhất là các em vẫn quen với tác phong học tập bị
động phụ thuộc nhiều vào nội dung các thầy cô truyền đạt
+ Một số sinh viên vẫn còn giữ quan điểm học tập bằng mọi giá thi đạt làđược Một số sinh viên còn lười học, say mê với chơi điện tử
+ Chuyển đổi sang học chế tín chỉ là tạo sự chủ động cho sinh viên.Tuynhiên, trên thực tế một bộ phận sinh viên chưa thật sự chủ động trong công việchọc tập của mình Điều này thể hiện qua việc nhiều sinh viên khi được tạo điềukiện tự tổ chức học ngoại ngữ thì một bộ phận gần như đã lãng quên môn họcnày
Điều cuối cùng là giáo dục đại học mà một bộ phận của hệ thông giáodục, do vậy đổi mới giáo dục đại học phải song hành với giáo dục phổ thông Dovậy, thành công của việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ cũng phụ thuộc vàonhững đổi mới từ nên giáo dục phổ thông, trong đó đặc biệt chú trọng đến tính
tự chủ của người học
4 Kết luận
"Vạn sự khởi đầu nan", nhưng chúng ta không thể không làm Tôi chorằng việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ là bước đi đúng đắn trong thời đạitoàn cầu hóa, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học và nâng cao chấtlượng đào tạo, qua đó đưa đất nước hội nhập sâu rộng hơn vào thế giới Tuynhiên, để việc chuyển đổi đạt kết quả tốt, cần chú trọng đổi mới đồng bộ, từchương trình đào tạo đến cách thức quản lí
Đào tạo theo Hệ thống tín chỉ đòi hỏi cả nhà trường phải có những đổimới cơ bản về tư duy tổ chức đào tạo để đáp ứng với yêu cầu chuyển từ đào tạolấy nhà trường và thầy cô giáo làm trung tâm sang lấy người học làm trung tâm
Trang 28Đây là vấn đề thuộc về tư tưởng nên không thể thay đổi trong một sớm, mộtchiều mà cần có thời gian nên trên con đường chuyển đổi từ cái cũ sang cái mới,nhà trường cần có lộ trình và liên tục điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh cụthể của mình.
Với quyết tâm cao của mọi thành viên trong tập thể nhà trường, tôi tinrằng, dù khó khăn đến đâu, chúng ta cũng sẽ khắc phục để hoàn thành nhiệm vụđào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá - hiệnđại hoá đất nước
Tài liệu tham khảo
1 Quy chế 43 về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ.
2 Quy định về đào tạo Đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ tại trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
3 Sổ tay sinh viên (2013), Trường Đại học thể dục thể thao Đà Nẵng.
4 Nguyễn Tấn Hùng (2007), Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy
và học đáp ứng yêu cầu đào tạo tín chỉ.
Trang 29THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT ĐÀ NẴNG - ĐỔI MỚI SÂU SẮC
VÀ TOÀN DIỆN ĐỂ ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐÀO TẠO
THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
ThS Nguyễn Thị Hùng - ThS Nguyễn Thị Hải Vy
Trung tâm Thông tin - Thư viện
hệ thống vận hành trong quỹ đạo chung đó và vì thế Thư viện cũng cần vậnđộng, nghiên cứu, học hỏi không ngừng để thay đổi, đáp ứng nhu cầu ngày càngcao của nhà trường Trên cơ sở phân tích những đặc điểm cơ bản trong đào tạotheo hệ thống tín chỉ và đổi mới phương pháp giảng dạy, chúng tôi xác định nhucầu đổi mới thiết yếu Kết hợp lý luận và thực trạng công tác thông tin thư việntại trường để xây dựng nội dung đổi mới của Thư viện Trường Đại học TDTT
Đà Nẵng Sau quá trình nghiên cứu chúng tôi đã xác định được hệ thống giảipháp và tiến hành một số giải pháp khả thi Mặc dù thời gian tiến hành còn ngắnnhưng chúng tôi có cơ sở và tin vào các giải pháp đổi mới sẽ mang lại kết quảnhư mong đợi
2 Những đặc điểm cơ bản trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ đặt ra nhu cầu đổi mới.
Giáo dục đại học, dù ở thời đại nào cũng mang sứ mạng chuyển giao trithức và nghiên cứu khoa học Một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng, đóngvai trò quyết định chất lượng chuyển giao tri thức và nghiên cứu khoa học là khảnăng cung cấp nguồn tin thông tin thư viện, nhằm thỏa mãn tốt nhất, thuận lợinhất nhu cầu thông tin khoa học
Việc chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ và đổimới phương pháp dạy học với mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng đàotạo đáp ứng nhu cầu xã hội đã và đang đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới chohoạt động thông tin thư viện trong các trường đại học Yêu cầu cấp thiết đặt
ra cho thư viện đại học hiện nay là vấn đề phát triển, nâng cao chất lượng sảnphẩm và dịch vụ thông tin thư viện nhằm thỏa mãn nhu cầu cao nhất của người
Trang 30dùng tin Để định hướng cho sự phát triển đúng yêu cầu, chúng ta sẽ xem xét 03
sự thay đổi mang tính chất quyết định sau:
2.1 Trao quyền chủ động cho sinh viên trong xác định chương trình học
Điểm mạnh của phương thức đào tạo theo tín chỉ là phát huy độ mềmdẻo và linh hoạt của chương trình Mỗi khối kiến thức đều có số lượng nhữngmôn học dự kiến lớn hơn số lượng các môn học hay số lượng tín chỉ được yêu
cầu có "hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn".[1] Sinh
viên có thể tham khảo giảng viên hoặc cố vấn học tập để chọn những môn họcphù hợp với mình Chính vì thế, sinh viên nắm quyền chủ động trong việc xácđịnh chương trình học để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và hướng nghiệptương lai
Như vậy đầu mỗi năm, mỗi kì sinh viên cần lượng thông tin định hướngkhá lớn, đối tượng cung cấp thông tin ngoài giảng viên, cố vấn học tập sẽ là Thưviện Thông tin giúp sinh viên hình dung và định lượng ra tất cả các yêu cầu đốivới bản thân trong từng học kì, năm học cũng như trong suốt quá trình học tập
của mình "Đầu mỗi năm học, trường phải thông báo lịch trình học dự kiến cho từng chương trình trong từng học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến sẽ dạy, đề cương chi tiết, điều kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần, lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi đối với các học phần".[1] Thông tin giúp sinh viên chủ động lên kế hoạch và thực hiện việc học
tập dựa vào năng lực và điều kiện của mình, làm chủ thời gian và công việc
"Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, tùy theo khả năng và điều kiện học tập của bản thân, từng sinh viên phải đăng ký học các học phần dự định sẽ học trong học kỳ
đó với phòng đào tạo của trường”.[1] Việc trao quyền chủ động cho sinh viên
chỉ thực sự hiệu quả khi sinh viên tiếp nhận trong tư thế chủ động và có thôngtin khoa học, kịp thời Nếu sinh viên không chủ động, không có tinh thần tráchnhiệm, hay không tự ý thức thì sẽ dẫn đến nhiều hậu quả khôn lường Sinh viênthiếu thông tin, không hiểu rõ đường hướng học tập rèn luyện, chỉ biết đăng kítheo bạn bè sẽ không xác định được chương trình học phù hợp Có những sinhviên đăng kí quá nhiều môn lí thuyết, học không nổi và rớt hàng loạt, bù lại, cónhững học kì lại đăng kí quá nhiều môn thực hành, thực tập, dẫn đến quá sức
Thông tin giúp sinh viên không bị mất đi những mảng kiến thức và kỹnăng cần tích lũy nếu như việc học của họ bị gián đoạn Sự chủ động xác địnhchương trình học cho phép sinh viên có sự lựa chọn chương trình học theo sởthích của mình Tuy nhiên, sinh viên có thể nói là đang tập tự đăng kí môn học,
Trang 31tự quyết định, tự hoạch định kế hoạch học tập cho riêng bản thân nên chắc chắn
sẽ còn nhiều thiếu sót Đối với học chế tín chỉ, sinh viên đầu vào nếu đầy đủthông tin sẽ tự phân hóa ra thành các nhóm theo nguyện vọng, khả năng, nhucầu Việc tự xây dựng kế hoạch tiếp thu khối lượng kiến thức khổng lồ từchương trình đào tạo đặt ra nhiều khó khăn, áp lực cho sinh viên Nếu việc phânhóa tốt, sinh viên giỏi, có điều kiện sẽ có thể học vượt chương trình và nhữngsinh viên khó khăn có thêm cơ hội, thời gian để đeo đuổi con đường học tập củamình Tuy nhiên, tất cả sinh viên sẽ cần nhiều thông tin cho quá trình học, kể cảhọc nâng cao và học kéo dài
Đào tạo theo tín chỉ vừa giúp sinh viên rèn luyện tính chủ động trong họctập, lao động nhưng cũng đòi hỏi tinh thần trách nhiệm, tính tích cực, tự chủ.Tuy nhiên trên thực tế tính chủ động của sinh viên rất thấp và đa số sinh viênđang đói thông tin Sinh viên chủ yếu chưa quen làm việc độc lập, sáng tạo, vẫngiữ tư duy dựa vào giảng viên và cán bộ lớp để nắm bắt thông tin Vì vậy, đểsinh viên thích ứng với đào tạo theo tín chỉ thì trước mắt hệ thống cung cấpthông tin cần kéo gần sinh viên với những trợ giúp thiết thực
Cung cấp thông tin đầy đủ, dễ tiếp cận là định hướng chung cho sự pháttriển thông tin, thư viện hiện nay, đặc biệt trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ.Trợ giúp sinh viên suy nghĩ, hoạch định kế hoạch học tập chung cho toàn quátrình học Xác định rõ những kĩ năng, những kiến thức cần bổ sung, cần có về
kỹ năng mềm, ngoại ngữ, tin học liên quan đến chuyên ngành đang học, và kếhoạch hóa việc thực hiện Thông tin về các hoạt động, hội nhóm, tổ chức ngoạikhóa phát triển kĩ năng bên cạnh việc học để đăng kí môn học cho phù hợp.Thông tin về các hoạt động, nhóm học tập để cùng nhau đào sâu nghiên cứu và
hỗ trợ nhau trong học tập Thông tin khi sinh viên bị thiếu, cần mở rộng, nângcao, học vượt
2.2 Đổi mới phương pháp đào tạo “lấy người học làm trung tâm”
Một đặc điểm quan trọng của việc học tập theo hệ thống tín chỉ là sinhviên phải tự học nhiều Giờ tín chỉ được tính ngoài giờ lên lớp, còn có giờ dựkiến làm bài tập và tự học ở nhà Giờ giảng của giảng viên ít hơn so với cáchdạy truyền thống, và giảng viên chủ yếu đóng vai trò là người hướng dẫn, cốvấn, giúp sinh viên hình thành kỹ năng tự học
Học chế tín chỉ hướng về việc lấy người học làm trung tâm và đề cao việc
tự học của sinh viên Như vậy, đào tạo theo hệ thống tín chỉ thì người học chủđộng hơn trong việc tiếp thu kiến thức và quản lý thời gian (chủ động lựa chọnmôn học, giảng viên, giờ học ), nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu
Trang 32"Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách học, phát huy tính chủ động của người học; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy và học."[2]
Chúng ta sẽ thấy vai trò cung cấp thông tin rất lớn cho sinh viên: Thôngtin để sinh viên hiểu được những điều kiện cần thiết, định hướng tìm tòi, tiếp thukiến thức môn học thông qua tài liệu Trong trường hợp bế tắc, sinh viên có thểtìm thấy những sự trợ giúp cần thiết để nhanh chóng hoàn thiện kiến thức.Thông tin môn học cũng giúp sinh viên xác định lập trường, sở thích, mongmuốn để qua đó có thể phát huy được vai trò chủ động và sáng tạo trong quátrình tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng cho mình
Sinh viên thường có nhu cầu, động cơ học tập và sự kì vọng khác nhau vềngành học, môn học của mình Trong quá trình học, sinh viên cần phải phát huynăng lực chủ động sáng tạo, điều chỉnh kế hoạch học tập cho phù hợp với nhữngmục tiêu đã xác định, kỹ năng làm việc độc lập, thể hiện sự trưởng thành trongviệc sắp xếp kế hoạch cho riêng mình, nhất là trong việc tự học Vì càng học lêncao thì lượng thông tin cung cấp càng nhiều hơn, nhanh hơn và chính xác hơn
Như vậy, đào tạo theo tín chỉ lấy sinh viên làm trung tâm thì trong hoạtđộng thông tin thư viện, người dùng tin cũng phải được đặt vào vị trí trung tâm.Hoạt động thông tin thư viện không chỉ ngồi chờ phục vụ giảng viên, sinh viênđến đọc, mượn mà phải vươn tới quản lý và cung cấp thông tin theo đối tượng,theo nhu cầu cụ thể Trung tâm thông tin thư viện cần nghiên cứu, tìm hiểu đểđáp ứng thông tin theo sự phân hóa đối tượng dùng tin: Theo ngành học, theochương trình học, theo trình độ chuyên môn, theo trình độ ngoại ngữ, kĩ năng tinhọc Thông tin phải đảm bảo lôi cuốn và hấp dẫn trước hết vì giá trị của thôngtin và sự tiện lợi trong quá trình sử dụng Nhu cầu dùng tin của sinh viên cũngtheo đó mà phát triển cao hơn, phong phú hơn Thông tin là điều kiện quan trọnghình thành và phát triển tính tích cực trong học tập và nghiên cứu của sinh viên
2.3 Đa dạng hóa các hình thức tổ chức giờ học
Trong đào tạo theo niên chế, chương trình khung là một bộ khung cứng vàmỗi đơn vị học trình gồm 15 tiết tiếp xúc trực tiếp trên lớp giữa giảng viên vàsinh viên Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu củasinh viên được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình Đây là phươngthức đưa giáo dục đại học về với đúng nghĩa của nó: người học tự học, tự nghiêncứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy, và do đó, phát huy được tính
chủ động, sáng tạo của người học "Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực
Trang 33hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân."[1]
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì Tín chỉ là đại lượng đokhối lượng lao động học tập trung bình của người học sử dụng để học một mônhọc, bao gồm:
(1) Thời gian học tập trên lớp
(2) Thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phầnviệc khác đã được quy định trong đề cương môn học
(3) Thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu,hoặc chuẩn bị bài
Như vậy, ngoài việc lĩnh hội tri thức mang tính định hướng, hướng dẫn từgiảng viên thì phần quan trọng của sinh viên là tự học, tự nghiên cứu, tự thựchành Với tỉ lệ 1 tiết (50 phút) giảng viên giảng bài sẽ có 2 tiết tự học, tự nghiêncứu đối với môn học lý thuyết; 2 tiết giảng viên hướng dẫn 1 tiết sinh viên tựhọc, tự chuẩn bị đối với môn thực hành thì sinh viên sẽ cần một lượng thông tin
vô cùng lớn Phần thông tin này, chủ yếu sinh viên tìm kiếm, khám phá qua tàiliệu, thông tin hướng dẫn
Và để sinh viên tiếp thu được lượng kiến thức lớn, hình thành kỹ năngquan trọng thì hình thức tổ chức dạy học cũng đa dạng Theo đó, thông tin cungcấp cho sinh viên cũng cần được biến đổi để phù hợp với từng hình thức tổ chứcdạy học tương ứng Có thể tóm tắt một số loại thông tin cần cung cấp cho giảngviên, sinh viên với một số loại hình tổ chức giờ học như sau:
a Giờ lý thuyết: Thông tin về nội dung tự học và cách học, vấn đề, câu
hỏi, bài tập, tài liệu phải đọc, phải tìm kiếm bổ sung để sinh viên chuẩn bị chothảo luận trên lớp Cách thức xây dựng, thu thập, phân loại, hướng dẫn sử dụnghọc liệu, tài liệu phục vụ cho việc tự học, tự nghiên cứu Kế hoạch chi tiết đểthực hiện tất cả các nhiệm vụ đối với từng giờ học mà giảng viên giao: tìm, đọc,ghi chép những tài liệu liên quan,…
b Giờ thảo luận: Thông tin về nội dung, vấn đề, yêu cầu, tài liệu tham
khảo để nhóm hoặc sinh viên chuẩn bị và trình bày Tài liệu về phương pháp rènluyện thu nhận, tư duy và trình bày vấn đề Thông tin tham khảo để mở rộng, đisâu vào bản chất, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, chuẩn bị bài trình bày theo
sự phân công
c Giờ hoạt động theo nhóm: Thông tin về nội dung, vấn đề, công việc và
yêu cầu liên quan cho nhóm, nguồn tài liệu tham khảo tối thiểu Tài liệu về
Trang 34phương pháp lập kế hoạch, triển khai, đánh giá hoạt động nhóm, vai trò của cácthành viên, nguồn tài liệu tham khảo.
d Giờ thực hành, thực tập: Thông tin hướng dẫn, kế hoạch tổ chức chỉ
đạo và chuẩn bị điều kiện cần thiết để thực hành Tài liệu hướng dẫn tự thựchành, thực tập; viết báo cáo thực hành, thực tập, liên hệ thực tế, mở rộng, nângcao
e Giờ tự học, tự nghiên cứu: Cung cấp tài liệu và giới thiệu địa chỉ tìm tài
liệu tối thiểu cần đọc, nghiên cứu Hướng dẫn cách thức tìm kiếm, xử lý thôngtin Nhận và xây dựng kế hoạch chi tiết, tổ chức thực hiện nhiệm vụ tự học, tựnghiên cứu mà giảng viên giao, kiến thức bài học, cụ thể đến từng chương, mục,trang
3 Thực trạng Thư viện và một số nội dung cần đổi mới của Thư viện Trường Đại học TDTT Đà Nẵng
Thư viện trường đại học có chức năng phục vụ hoạt động giảng dạy, họctập, đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học côngnghệ và quản lý của nhà trường thông qua việc sử dụng, khai thác các loại tàiliệu có trong thư viện (tài liệu chép tay, in, sao chụp, khắc trên mọi chất liệu, tàiliệu điện tử, mạng Internet…) Và cũng theo Quy chế mẫu của Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch thì "Đối tượng phục vụ chính của thư viện trường đại học là cán
bộ quản lý, giảng viên, nhân viên, nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên, học sinh, các nhà nghiên cứu khoa học và chỉ đạo sản xuất; doanh nghiệp, doanh nhân và người sản xuất thuộc nhà trường Nếu có điều kiện, thư viện trường đại học có thể phục vụ đối tượng bạn đọc ngoài nhà trường và được phép thu phí dịch vụ theo quy định."[4] Như vậy, dù đào tạo theo phương thức nào thì đối tượng phục
vụ của Thư viện vẫn không thay đổi Tuy nhiên, với phương pháp giảng dạytruyền thống thì phương thức phục vụ của thư viện là tại chỗ, bị động chờ bạnđọc, điều này cần thiết phải thay đổi Khi thực hiện đào tạo theo tín chỉ và đặcbiệt là ứng dụng phương pháp giảng dạy mới, tích cực thư viện cần quan tâmnắm bắt nhu cầu của người dùng tin để chọn phương thức phục vụ phù hợp
Để đánh giá thực trạng về phương thức phục vụ, giá trị, hiệu quả sử dụngThư viện chúng tôi đã thực hiện việc khảo sát Đối tượng được khảo sát là 100sinh viên theo học hệ niên chế (Khóa Đại học 06) và 100 sinh viên theo học hệtín chỉ (Khóa Đại học 07) và thu được kết quả như sau:
Về mức độ thường xuyên sử dụng thư viện, có 48 sinh viên (24%) không
sử dụng thư viện, 152 sinh viên (76%) ít khi sử dụng và không có sinh viên nào
Trang 35(0%) thường xuyên sử dụng, trong đó 100% sinh viên đều cho rằng chỉ thực sựcần thiết sử dụng khi giảng viên yêu cầu.
Về mục đích sử dụng thư viện cũng còn bó hẹp, có 82% sinh viên sử dụngcho học tập, 13% sử dụng cho nghiên cứu khoa học và có 8% sinh viên dùng thưviện để giải trí Trong đó nổi lên các ý kiến đóng góp là: Tài liệu thư viện chưaphong phú, còn hạn chế về cách tiếp cận Sách chuyên ngành là điểm mạnh củathư viện vì rất khó tìm thấy ở các nhà sách Không gian học tập thuận lợi, tuynhiên thời gian để sử dụng thư viện còn hạn chế Thư viện chưa có các dịch vụnâng cao để đáp ứng nhu cầu dùng tin cụ thể
Kết hợp đánh giá thực trạng, nhu cầu và các đề xuất đối với sản phẩmthông tin thư viện tại trường Đại học TDTT Đà Nẵng, chúng tôi nhận được kếtquả như bảng 1
Bảng 1 Đánh giá tài liệu sử dụng (n=200) Tài liệu sử dụng Số người chọn
(Chọn nhiều mục) (%)
Thực trạng đáp ứng (Thang điểm 100)
Nhu cầu đáp ứng (Thang điểm 100)
Từ kết quả khảo sát thực trạng cho thấy về cơ bản hạ tầng thông tin,nguồn tài liệu đáp ứng được nhu cầu Tuy nhiên, về phương thức phục vụ vẫncòn nhiều hạn chế cụ thể: Cách phục vụ còn thụ động, chủ yếu phục vụ tại chỗ,
Trang 36Kĩ năng tìm kiếm, xử lý thông tin Trình độ ngoại ngữ Trình độ chuyên môn Chương trình học Ngành học
chờ sinh viên đến tận nơi tham khảo, người dùng tin chưa được hướng dẫn, hỗtrợ nhiệt tình để định hướng tìm kiếm thông tin Phương pháp phục vụ này chỉphù hợp với đào tạo theo niên chế, ở đó sinh viên chỉ lên thư viện khi giảng viên
có yêu cầu Để nâng cao chất lượng phục vụ thư viện đáp ứng nhu cầu đào tạotheo tín chỉ về cơ bản thư viện phải đổi mới theo các hướng sau đây: Phân hóađối tượng dùng tin để phục vụ theo ngành, chương trình học, trình độ chuyênmôn ; Đa dạng hóa sản phẩm bao gồm: Tài nguyên thư viện, sản phẩm thưviện, dịch vụ thư viện, dịch vụ hỗ trợ học tập; Thực hiện các dịch vụ cung cấpthông tin đáp ứng nhu cầu chuyên biệt cao
4 Đề xuất giải pháp đổi mới Thư viện trường Đại học TDTT Đà Nẵng
Trên cơ sở phân tích yêu cầu đổi mới, thực trạng và nhu vầu dùng tin,chúng tôi đề xuất, đã xây dựng và từng bước thực hiện 03 nhóm giải pháp
4.1 Phân hóa đối tượng dùng tin để phục vụ
Việc phân hóa đối tượng dùng tin theo ngành, chương trình học, trình độchuyên môn là căn cứ đầu tiên để thực hiện các chính sách bổ sung tài liệuđáp ứng theo nhu cầu Từ những dạng học liệu truyền thống là giáo trình, sáchtham khảo, trong cung cấp thông tin đúng đối tượng sẽ cần bổ sung rất nhiều tàiliệu thứ cấp gồm tài liệu mở
rộng, nâng cao, hướng dẫn
kĩ năng, bổ túc kiến thức
Rõ ràng nếu thông tin tiện
dụng, vừa mức và đáp ứng
kịp thời sẽ giúp đỡ được
nhiều hơn cho sinh viên
trong học tập và đó chính là
biện pháp hiệu quả để nâng
cao chất lượng phục vụ
Hình 1 Phân hóa đối
tượng dùng tin là sinh viên
Trang 37hướng phân hóa ở trên để tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên khai thác có hiệuquả Trong kế hoạch bổ sung của thư viện đặc biệt chú ý đến các loại tài liệu vừasức, có nhu cầu và hiệu quả sử dụng cao
Thư viện phải thiết lập mối quan hệ tốt với giảng viên để bổ sung nhữngtài liệu ít công bố trên thị trường xuất bản Thường xuyên có các công trìnhnghiên cứu khoa học, giáo trình, sách chuyên khảo, tài liệu tham khảo, bài báokhoa học theo các nhóm có nhu cầu cao Phân cấp tổ chức tài liệu, chỉ dẫn rõràng phạm vi thông tin có thể khai thác để người dùng tiếp cận nhanh chóng,chính xác
Các hình thức sản phẩm và dịch vụ thông tin cần phải được đa dạng hoá.Sản phẩm và dịch vụ thông tin có giá trị gia tăng cao cần phải được ưu tiên Vớimỗi môn học hay chuyên đề học tập nên có những sản phẩm thông tin “ăn theo”,
ví dụ như các thư mục chuyên đề, các ấn phẩm tóm tắt, tổng quan,… Đặc biệtchú trọng các dịch vụ giúp cho người dùng tin có trình độ thấp hoặc cao hơn mặtbằng chung
4.2 Đa dạng hóa phương thức phục vụ người dùng tin:
Giải pháp thích hợp để cung cấp thông tin hữu ích cho sinh viên là việc
đa dạng hóa phương thức phục vụ, tối
ưu hóa mức độ đáp ứng nhu cầu
Phương thức cơ bản nhất là sử dụng
tài nguyên thông tin thư viện ở dạng
các ấn phẩm thông thường qua hình
thức đọc, mượn truyền thống
Phương thức này dễ đáp ứng nhưng
chỉ phù hợp với đối tượng người
dùng tin truyền thống Để nâng cao
chất lượng phục vụ, trên nền tảng
phương thức truyền thống thông tin
cần được biến đổi thành ba dạng thức
có thể phục vụ tốt hơn đó là sản
phẩm thư viện, dịch vụ thư viện và
dịch vụ hỗ trợ học tập Hình 2 Các phương thức phục vụ
- Sản phẩm thông tin thư viện là kết quả của quá trình xử lý thông tin do
cá nhân, tập thể thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu dùng tin Sản phẩm bao gồm:phân loại, biên mục, từ khóa, tóm tắt và các thông tin mang tính chất phân tích,tổng hợp, đánh giá thông tin Một số sản phẩm thông tin thư viện chủ yếu như:
4 D ch v h tr h c t pị ụ ỗ ợ ọ ậ
3 D ch v th vi nị ụ ư ệ
2 S n ph m th vi nả ẩ ư ệ
1 Tài nguyên th vi nư ệ
Trang 38+ Thư mục được biên soạn để thông báo tài liệu giáo trình, tài liệu thamkhảo, luận văn, luận án mới được bổ sung, đã được Thư viện xử lý kỹ thuậtxếp giá sẵn sàng phục vụ bạn đọc Thư mục này thông báo những thông tin vềnhững tài liệu đó một cách nhanh chóng kịp thời và chính xác, qua các yếu tốthông tin: Tác giả, tên sách, năm xuất bản, nơi xuất bản, lần xuất bản, ký hiệuxếp giá Thư mục thông báo được biên soạn theo định kỳ để đảm bảo tính cậpnhật.
+ Giới thiệu sách mới, bên cạnh cung cấp các yếu tố thư mục: Tác giả, tênsách, nơi xuất bản, năm xuất bản, nhà xuất bản, ký hiệu xếp giá , có thêm phầngiới thiệu tóm tắt nội dung chính của cuốn sách và các chú giải cần thiết Thưmục chuyên đề giới thiệu những tài liệu, sách, báo mới, có giá trị chọn lựa theonhững chuyên đề nhất định Thư mục giới thiệu có mục đích rõ ràng và phục vụcho loại đối tượng nhất định, đặc biệt phù hợp với tổ chức các lớp tín chỉ
- Dịch vụ thông tin thư viện là phương thức phục vụ nâng cao, ra đờitrước yêu cầu không giới hạn của đối tượng dùng tin Thư viện nên nghiên cứuphát triển dịch vụ phong phú, đa dạng với mục đích giúp người dùng tin có thểthỏa mãn các nhu cầu với thời gian ngắn nhất, tiết kiệm và hiệu quả
Dịch vụ thông tin thư viện bao gồm dịch vụ cung cấp tài liệu theo yêu
cầu; dịch vụ phổ biến thông tin chọn lọc; dịch vụ tìm tin; dịch vụ trao đổi thông
tin; dịch vụ thư viện số; dịch vụ mượn tài liệu; dịch vụ sao chép tài liệu; dịch vụ
cung cấp tài liệu đa phương tiện Dịch vụ thông tin trọn gói là một loại hình rấtđược ưa chuộng theo dõi bao quát, tập hợp, cập nhật, cung cấp và đáp ứng thôngtin theo yêu cầu Dịch vụ này là công cụ đắc lực giúp tìm kiếm thông tin; hoànthành tốt các đề tài nghiên cứu, bài báo cáo, luận văn tốt nghiệp, niên luận, bàitập, chuyên đề… tránh trùng lặp khi thực hiện nghiên cứu khoa học
4.3 Thực hiện dịch vụ cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu chuyên biệt.
Hướng dẫn tra cứu thông tin cho sinh viên tra cứu tài liệu thư viện, tài
liệu điện tử, tài liệu Internet, cách sử dụng thông tin trong học tập Tổng quan
về kiến thức thông tin Tra cứu nguồn tài liệu thư viện (sách in, sách điện tử, tàiliệu học tập, cơ sở dữ liệu) Cách tìm kiếm thông tin và đánh giá thông tin trênInternet Cách tra cứu Google nâng cao Vấn đề bản quyền và chống đạo văntrong dạy và học Phương pháp hiệu quả để đọc sách và ghi chú bài giảng trênlớp Phương pháp lập danh mục tham khảo cho luận văn, bài nghiên cứu Cácnội dung liên quan đến kiến thức thông tin, hỗ trợ giảng dạy và học tập khác(theo yêu cầu cụ thể)
Trang 39Cung cấp tài liệu học tập và đề cương môn học: Tài liệu học tập là thành
phần thiết yếu trong chất lượng đào tạo, để đảm bảo điều đó, nhà Trường cóchính sách hỗ trợ tài liệu học tập cho sinh viên Tài liệu là sách xuất bản trong
và ngoài nước được sử dụng để giảng dạy hoặc tham khảo cho tất cả các mônhọc Tài liệu dạng điện tử còn được cung cấp trên trang web Thư viện tạo điềukiện cho sinh viên truy cập mọi lúc mọi nơi Sinh viên căn cứ trên đề cươngmôn học để xác định chương trình học, nội dung và phương thức tiến hành hoạtđộng tự học
Tìm tin theo yêu cầu (dịch vụ tham khảo): cung cấp thông tin phục vụ
trong nghiên cứu khoa học, soạn tài liệu giảng dạy, làm luận văn, đề án tốtnghiệp Các thông tin bao gồm sách, bài tạp chí, nghiên cứu, bài tập tình huống,
số liệu thống kê, văn bản pháp lý, tiêu chuẩn, bằng sáng chế dạng toàn văn,tóm tắt hay danh mục
Photo, scan, xuất bản điện tử: sưu tập, phát hành tài liệu theo chủ đề hoặc
theo yêu cầu Nội dung gồm các bài giảng điện tử, giáo án mẫu, bài trình chiếu,bài tập lớn tài liệu phục vụ giảng dạy, phim ảnh minh hoạ, tài liệu học tập dogiảng viên soạn thảo, sưu tập Thư viện làm dịch vụ photo/scan có thu phí, cóthể photo cả những tài liệu bạn đọc không được phép mượn về như sách tra cứu,sách độc bản Sưu tập, phát hành tài liệu đa phương tiện theo chủ đề hoặc theoyêu cầu
Dịch vụ cho giảng viên, nhân viên: Khoa, bộ môn có tủ sách riêng có thể
nhờ thư viện mua, cung cấp danh mục sách mới, xử lý kỹ thuật và hướng dẫncho mượn, trả sách tự động trên phần mềm thư viện Giảng viên cơ hữu có thểchọn mua những sách chuyên ngành/tài liệu học tập mà họ thấy phù hợp và cầnthiết cho môn học mình phụ trách Sách này sẽ được bổ sung vào kho sách Thưviện và được Thư viện thanh toán lại tiền mua sách Giảng viên cũng có thể yêucầu Thư viện mua những tựa sách mình cần bằng cách điền vào Phiếu yêu cầu
bổ sung tài liệu (theo mẫu) Thư viện sẽ đánh giá mức độ phù hợp của sách đóvới nhu cầu sinh viên, xem xét kinh phí Thư viện và khả năng thị trường đểquyết định bổ sung
Dịch vụ tư vấn thông tin là một loại dịch vụ phức tạp và phải có một đội
ngũ cán bộ thư viện là những chuyên gia tư vấn trong các lĩnh vực môn loạitrong thư viện Đây là một dịch vụ phát triển và chiếm nhiều sự quan tâm củacác thư viện Các phương thức chủ yếu gồm có: những câu hỏi trong quá trìnhtra tìm thông tin, câu hỏi chuyên sâu, tìm kiếm theo chủ đề Người dùng tin nêucâu hỏi để được gợi ý và định hướng nguồn thông tin cần thiết
Trang 40Trên cơ sở tham khảo các loại hình dịch vụ thư viện, chúng tôi xin đề xuấtmột số dịch vụ tại trường nhằm đáp ứng nhu cầu cho sinh viên trong đào tạotheo tín chỉ như sau:
Bảng 2 Một số dịch vụ đề xuất tại thư viện trường ĐH TDTT Đà Nẵng
TÊN DỊCH VỤ
Photo/ In ấn / Scan/ Đóng luận văn / Ghi đĩa
Tạo mail, chuyển mail, dịch vụ internet / Chuyển tin
Gõ máy tính/ Chuyển font, mã, dò lỗi
Tìm kiếm thông tin trong tài liệu giấy/ file, tài liệu điện tử/ ảnh/ phim
Thiết kế slide/ trình chiếu/ Phim /tờ rơi, quảng cáo, bìa tài liệu
Dịch Việt - Anh – Việt, Xử lý số liệu khoa học
Tư vấn tài liệu học tập, nghiên cứu/ NCKH + làm luận văn
Hướng dẫn soạn giáo án truyền thống/ giáo án điện tử
Ưu điểm lớn nhất của dịch vụ thông tin là giúp đỡ người dùng tin thoảmãn nhu cầu tìm tin tốt nhất Đây là hoạt động mà các thư viện lớn đã phục vụ
và đem lại sự thân thiện với người dùng tin Dịch vụ tuy tốn chi phí nhưng manglại những thuận lợi cho việc tìm tin dễ dàng và chính xác Người dùng tin đượcphục vụ mọi lúc, mọi nơi mà không cần phải đến thư viện giúp tiết kiệm đượcthời gian và chi phí cho người dùng tin
5 Kết luận
Thư viện cần có hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin thân thiện, chấtlượng và hiệu quả, cũng như cần có những chính sách tích cực để quản lý vàphát triển Việc nghiên cứu nhu cầu tin, tạo lập những sản phẩm, dịch vụ mới đểđáp ứng nhu cầu là một công việc cần phải được tiến hành nghiêm túc thườngxuyên và có kế hoạch
Mục đích cần đạt tới của việc cung cấp thông tin thư viện không chỉ làvấn đề quan tâm tới việc gia tăng số lượng, loại hình, mà hướng tới các sảnphẩm có chất lượng, hiện đại đáp ứng nhu cầu cao Hiệu quả của sản phẩm vàdịch vụ được đo bằng mức độ đầy đủ, chính xác, cập nhật và thích hợp củathông tin với yêu cầu cũng như lợi ích mà sản phẩm và dịch vụ mang lại
Để đạt được mục tiêu trên, thư viện cần không ngừng nâng cao chấtlượng, đa dạng hoá và nâng cao khả năng phổ biến các sản phẩm và dịch vụthông tin, có chính sách quản lý và phát triển hệ thống hiệu quả Thư viện luôn