1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN VỀ VIỆC THỰC THICỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆTNAM TRONG THỜI GIAN 5 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY

39 459 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 807,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ là một công cụ điều tiết vĩ mô cực kỳ quan trọng, nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, kiềm chế lạm phát, hạnchế thất nghiệp, thúc đẩy tăn

Trang 1

ĐỀ T À I:

PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN VỀ VIỆC THỰC THI CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN 5 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

1 LÝ LUẬN CHUNG 5

1.1 Khái niệm và mục tiêu của chính sách tiền tệ 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 5

1.2 Các công cụ của chính sách tiền tệ và nguyên tắc thực thi chính sách tiền tệ của NHNN 6

1.2.1 Nghiệp vụ thị trường mở 6

1.2.2 Chính sách tái chiết khấu 7

1.2.3 Dự trữ bắt buộc 7

1.2.4 Ấn định hạn mức tín dụng 8

1.2.5 Quản lý về lãi suất của các ngân hàng thương mại 8

2 VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM TRONG 5 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY (2006-2010) 10

2.1 Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam giai đoạn 2006-2008 10

2.1.1 Thực thi chính sách 10

Trang 2

2.2 Năm 2008 – Khủng hoảng kinh tế 13

2.2.1 Giai đoạn 1: 6 tháng đầu năm 2008: Thực hiện CSTT thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát 15

2.2.2 Giai đoạn 2: 6 tháng cuối năm 2008: Thực hiện CSTT nới lỏng từng bước để hỗ trợ duy trì sản xuất, tạo việc làm 18

2.2.3 Kết quả điều hành chính sách tiền tệ năm 2008 20

2.2.4 Hạn chế và bài học kinh nghiệm 21

2.3 Sự đổi mới trong việc thực thi chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam giai đoạn sau năm 2008 đến nay 21

2.3.1 Có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác nhằm thúc đẩy sự phát trển của nền kinh tế 22

2.3.2 Sử dụng chính sách tiền tệ để điều phối đồng bộ cho tất cả các thị trường.28 2.3.3 Đẩy mạnh kiểm soát thị trường bằng việc giám sát chặt chẽ hoạt động của các Ngân hàng TM 34

3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM 36

3.1 Các giải pháp đối với lãi suất 36

3.1.1 Chính sách lãi suất đồng bộ 36

3.1.2 Thực hiện lãi suất cơ bản tiến tới tự do hoá lãi suất 36

3.1.3 Quy định mức lãi suất sàn 37

3.2 Sử dụng các công cụ gián tiếp điều hành chính sách tiền tệ 38

3.3 Hoàn thiện bộ máy hành chính, giảm bớt sự bất cập của các thủ tục hành chính 38

3.4 Kết hợp chính sách tiền tệ với các chính sách khác 39

KẾT LUẬN 41

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trước ngưỡng cửa của sự hội nhập, trở thành thành viên chính thức của tổchức thương mại thế giới (WTO), Đảng và Nhà nước ta luôn xác định chiến lượcphát triển kinh tế xã hội là sẽ tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đẩy nhanh quátrình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN, xây dựngnền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Mộttrong những điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công đường lối đổi mới làphải ổn định môi trường kinh tế vĩ mô và có các chính sách kinh tế phù hợp.Trong đó chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế quan trọng tác động mạnh

mẽ nhiều mặt đến các biến số kinh tế vĩ mô

Trong nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ là một công cụ điều tiết vĩ

mô cực kỳ quan trọng, nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, kiềm chế lạm phát, hạnchế thất nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta trong thời gian qua, đặc biệt

là trong 5 năm trở lại đây, đã đạt mức đáng kể song tỷ lệ lạm phát vẫn cao, đồngnội tệ ngày càng mất giá Điều này đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải

có một chính sách tiền tệ đúng đắn, linh hoạt để tạo điều kiện cho nền kinh tếnước ta phát triển nhanh, bền vững, đồng thời đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệphoá - hiện đại hoá đất nước

Như vậy, với đề tài thảo luận “Phân tích và Bình luận về việc thực thi chính sách tiền tệ của NHNN VN trong thời gian 5 năm trở lại đây” nhóm sẽ

có những khái quát về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chínhsách tiền tệ của NHNN Việt Nam

Do hạn chế về thời gian, trình độ cũng như việc thu thập tài liệu nên bàiviết không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp củathầy để bài viết được hoàn thiện hơn

Trang 4

1 LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Khái niệm và mục tiêu của chính sách tiền tệ

1.1.1 Khái niệm

CSTT là tổng hòa các phương thức mà NHNN sử dụng nhằm tác động đếnlượng tiền cung ứng để đạt được mục tiêu kinh tế, xã hội đất nước trong thời kỳnhất định

Có 2 CSTT chủ yếu:

- CSTT mở rộng: cung ứng thêm tiền, khuyến khích đầu tư, mở rộng

sản xuất… chống suy thoái

- CSTT thắt chặt giảm cung ứng tiền nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm

sự phát triển quá nóng của nền kinh tế…, kiềm chế lạm phát

1.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ

Mục tiêu của CSTT rất đa dạng như kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả, tạocông ăn việc làm(giảm tỷ lệ thất nghiệp), tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trườngtài chính, lãi suất, tỷ giá hối đoái…

Do lạm phát tăng cao có tác động xấu đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, trongkhi đó nguyên nhân lạm phát lại là tiền tệ Chính vì vậy, ở hầu hết các nước, kiềmchế lạm phát, ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu và mục tiêu dài hạn của CSTT.Tùy vào tình hình kinh tế mỗi nước mà sẽ có một tỷ lệ lạm phát phù hợp Bêncạnh đó, còn 2 mục tiêu khác là tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm, giảm

tỷ lệ thất nghiệp Để thực hiện 2 mụa tiêu này thì NHNN thường thực hiện CSTT

mở rộng

Xét cả 3 mục tiêu thì thấy, lạm phát, bình ổn giá cả thì phải áp dụng chínhsách tiền tệ thắt chặt Và như vậy thì trong ngắn hạn không thể thực hiện được 2mục tiêu còn lại Ngược lại, khi nền kinh tế mở rộng, thất nghiệp giảm, nền kinh

tế phát triển quá nóng dẫn đến lạm phát gia tăng… Tuy nhiên, xét các mục tiêutrên trong dài hạn thì chúng lại không mâu thuẫn với nhau Mối quan hệ giữa mục

Trang 5

tiêu giảm thất nghiệp và mục tiêu tăng trưởng kinh tế không mâu thuẫn cả trongngắn hạn và dài hạn.

Hầu hết NHTWW đều đật ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạncủa CSTT Nhưng trong ngắn hạn, dưới áp lực của chính trị, họ có thể tạm thời từ

bỏ mục tiêu chủ yếu để hạn chế tình trạng thất nghiệp… Ngân hàng trung ươngkhông thể đạt đồng thời tất cả các mục tiêu trong ngắn hạng và thường thì theođuổi một mục tiêu trong dài hạn và đa mục tiêu trong ngắn hạn

1.2 Các công cụ của chính sách tiền tệ và nguyên tắc thực thi

- Các nghiệp vụ thị trường mở là công cụ CSTT quan trọng nhất, vì chúng

là những nhân tố chủ yếu làm thay đổi lãi suất và tiền cơ sở, là nguồn chủ yếuthay đổi cung tiền Như vậy công cụ này không tác động trực tiếp mà là tác độnggián tiếp thông qua lãi suất liên ngân hàng và tiền cơ sở đến cung tiền và lãi suấtthị trường

- Ưu điểm: Nghiệp vụ thị trường mở được tiến hành theo chú ý của chủNHNN kiểm soát được hoàn toàn khối lượng của nghiệp vụ này mà không chịuảnh hưởng của bất kỳ nhân tố nào khác Là công cụ linh hoạt, chính xác, ít tốnkém về chí phí và thời gian

- Nhược điểm: Việc thực hiện công cụ này đòi hỏi phát triển thị trường tàichính thức cấp nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng Ngoài ra NH phải có khảnăng dự đoán và kiểm soát sự biến động của lượng vốn khả dụng trong hệ thốngngân hàng

Trang 6

1.2.2 Chính sách tái chiết khấu

Bao gồm các quy định và điều kiện về việc cho vay có kiếm soát bằng cáchtác động đến lãi suất cho vay chiết khấu

Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất mà ngân hàng đánh vào các khoản tiềncho các ngân hàng thương mại vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc bấtthường của các ngân hàng này

Khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt thực tế của ngân hàng thương mại giảm xuốngđến gần tỷ lệ an toàn tối thiểu thì họ sẽ phải cân nhắc việc có tiếp tục cho vay haykhông vì buộc phải tính toán giữa số tiền thu được từ việc cho vay với các chi phíliên quan trong trường hợp khách hàng có nhu cầu tiền mặt cao bất thường

- Nếu lãi suất chiết khấu bằng hoặc thấp hơn lãi suất thị trường thì ngânhàng TM sẽ tiếp tục cho vay đến khi dự trữ tiền mặt giảm đến mức tối thiểu chophép vì nếu thiếu tiền mặt họ có thể vay từ ngân hàng trung ương mà không phảichịu bất kỳ thiệt hại nào

- Nếu lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, các ngân hàng thươngmại không thể để cho tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm đến mức tối thiểu cho phép, thậmchí phải dự trữ thêm tiền mặt để tránh phải vay tiền từ ngân hàng trung ương vớilãi suất cao hơn lãi suất thị trường khi phát sinh nhu cầu tiền mặt bất thường từphía khách hàng

Tuy nhiên, tác dụng của CS này chỉ phát huy khi các tổ chức tín dụng có nhu cầuvay vốn từ NHNN

Trang 7

- Ưu điểm: đây là công cụ có quyền lực ảnh hưởng rất mạnh đếnlượng tiền cung ứng Chỉ cần thay đổi nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng

sẽ dẫn đến sự thay đổi đáng kể khổi lượng tiền cung ứng

- Nhược điểm: Bất lợi chủ yếu của công cụ dự trữ bắt buộc là có thểkhiến cho một số ngân hàng có dự trữ vượt mức quá thấp rơi vào tìnhtrạng mất “khả năng thanh toán ngay” Đồng thời, việc thay đổithường xuyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc khiến cho các ngân hàng rơi vàotình trạng bất ổn trong việc quản lý thanh khoản, làm phát sinh tăngchi phí

1.2.4 Ấn định hạn mức tín dụng

Là quy định mức dư nợ tối đa mà các tổ chức tín dụng được phép vay.Ngân hàng căn cứ nhu cầu vay vốn; năng lực tài chính; chu kỳ sản xuất, kinhdoanh; vòng luân chuyển vốn vay, dòng tiền, khả năng nguồn vốn của ngân hàng

để xác định nhu cầu vốn và hạn mức tín dụng khách hàng mà ngân hàng có thểđáp ứng trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm)

Lãi suất cho vay: trong hợp đồng (hạn mức) tín dụng có thể ấn định lãi suất

cụ thể hoặc quy định nguyên tắc xác định lãi suất phù hợp với quy định về lãi suấtngân hàng Lãi suất cụ thể được ghi trong khế ước nhận nợ từng lần phù hợp vớithỏa thuận của khách hàng và ngân hàng trong hợp đồng(hạn mức) tín dụng

Nhược điểm: Công cụ này thiếu linh hoạt và có thể làm giảm cạnh tranhgiữa các ngân hàng

1.2.5 Quản lý về lãi suất của các ngân hàng thương mại

Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của NHNNViệt Nam trong ngắn hạn Theo luật Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cơ bản chỉ ápdụng cho đồng việt nam, do NHNN công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng

Trang 8

thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng nhànước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung– cầu vốn Theo luật dân sự, các tổ chức tín dụng không cho vay với lãi suất caogấp rưỡi lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản chỉ được công bố lần đầu vào ngày 30- 5-

2000 Trong lần đầu công bố, lãi suất cơ bản chỉ ở mức 7,2%/năm Vào thời điểmtháng 6 năm 2008, lãi suất cơ bản là 14%/ năm Điều này có nghĩa là các tổ chứctín dụng có thể quyết định mức lãi suất cho vay của mình cao tới 21%)

Lãi suất tái cấp vốn là loại lãi suất mà ở đó NHTW áp dụng cho các nghiệp

vụ tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng trung gian (bao gồm ngân hàng TM) ỞViệt Nam, Ngân hàng TW tái cấp vốn cho các NHTM qua hình thức: cho vay lạitheo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giángắn hạn khác, cho vay dưới hình thức cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn

Trang 9

2 VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM TRONG 5 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY (2006-2010)

2.1 Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam giai đoạn 2006-2008

2.1.1 Thực thi chính sách

Nhìn chung ở giai đoạn này, thị trường tiền tệ phát triển ổn định NHNNcan thiệp vào thị trường tiền tệ thông qua các công cụ điều tiết vĩ mô như: thịtrường mở, dự trữ bắt buộc, chứ không sử dụng các biện pháp hành chính rõràng như hạn mức tín dụng hay trần lãi suất

2.1.1.1 Nghiệp vụ thị trường mở

Thông qua nghiệp vụ thị trường mở, NHNN đã hút được một lượng tươngđối lớn vốn ngoại tệ khả dụng dư thừa của các tổ chức tín dụng, đồng thời vẫnđiều tiết kịp thời sự thiếu hụt vốn mang tính thời điểm của một số tổ chức tíndụng, đảm bảo duy trì ổn định tiền tệ, ổn định lãi suất thị trường

2.1.1.2 Dự trữ bắt buộc

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc duy trì ở mức cao, đối với nội tệ gửi dưới 12 thángcủa hầu hết các ngân hàng thương mại đã tăng từ 5% lên 10%; Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) tăng từ 4% lên 8%, Quỹ Tín dụng nhândân Trung ương tăng từ 2% lên 4%, kỳ hạn trên 12 tháng là 4% Còn đối với dựtrữ bắt buộc tiền gửi ngoại tệ: kỳ hạn dưới 12 tháng tăng từ 8% lên 10%; kỳ hạn

12 tháng đến 24 tháng tăng từ 2% lên 4% Tỷ lệ này được điều chỉnh tăng gấp hailần trong năm 2006 nhằm hạn chế lượng vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng,giảm lượng tiền cung ứng ra nên kinh tế, kiềm chế lạm phát

2.1.1.3 Hạn mức tín dụng

NHNN không đưa ra quy định hạn chế cũng như các định hướng cụ thểnhằm điều chỉnh dư nợ toàn hệ thống Kết quả, tăng trưởng tín dụng đạt tốc độcao, trung bình ở mức 35%-50%/năm (năm 2007 tăng trưởng tín dụng đạt 54%).Chính sách chỉ tập trung hạn chế tăng trưởng tín dụng đối với các lĩnh vực chovay chịu rủi ro cao: cho vay kinh doanh chứng khoán, cho vay thị trường bất động

Trang 10

+ Tín dụng đầu tư vào thị trường chứng khoán được kiểm soát chặt chẽ vàgiảm dần cả số tuyệt đối và tỷ lệ dư nợ qua các tháng, góp phần thúc đẩy thịtrường chứng khoán phát triển ổn định Tín dụng đối với lĩnh vực bất động sảncũng được theo dõi, giám sát chặt chẽ nhằm góp phần hạn chế những tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động ngân hàng và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triểnbền vững.

+ Chất lượng tín dụng được cải thiện: Tỷ lệ nợ xấu tháng 9/2006 là 2,2%,

có xu hướng giảm so với tỷ lệ nợ xấu tháng 12/2006 (2,64%), trong đó tỷ lệ nợxấu của các nhóm TCTD đều giảm Cụ thể là: tỷ lệ nợ xấu của các NHTM nhànước là 2,8% (giảm 0,4%); tỷ lệ nợ xấu của các NHTM cổ phần là 1,26% (giảm0,34%); tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng liên doanh và chi nhánh nước ngoài là0,8% (giảm 0,4%); tỷ lệ nợ xấu của các TCTD khác là 2,4% (giảm 0,5%)

+ Các sản phẩm dịch vụ tín dụng đã được đa dạng hơn, nhiều lĩnh vực chovay đầu tư được mở rộng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều điều kiện thuậnlợi tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng để phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm,giảm tỷ lệ thất nghiệp góp phần ổn định xã hội, cho vay phát triển nông nghiệpnông thôn, cho vay chính sách hỗ trợ các hộ nghèo, hộ sản xuất kinh doanh vùngkhó khăn cũng được mở rộng, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu xoá đói giảmnghèo Bên cạnh đó, việc cho vay tiêu dùng cũng được mở ra rất đa dạng đáp ứngđầy đủ các nhu cầu của xã hội

2.1.1.5 Tỷ giá hối đoái

Trang 11

Điều hành tỷ giá và quản lý dự trữ ngoại hối phù hợp với điều kiện mở cửathị trường tài chính

- Ngay từ đầu năm 2007, NHNN bắt đầu thực hiện nới lỏng biên độ tỷ giá

từ 0,25% lên 0,5% và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên 0,75% Đồngthời NHNN đã thực hiện việc mua ngoại tệ theo nhu cầu bán của các NHTM, Khobạc Nhà nước và các tổ chức quốc tế với tỷ giá phù hợp để hạn chế sức ép tănggiá đồng Việt Nam và tăng cường mức dự trữ ngoại hối Nhà nước Chênh lệchgiữa tỷ giá mua ngoại tệ của NHNN và tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngânhàng đã được thu hẹp, phản ánh sát cung cầu ngoại tệ trên thị trường

- Thực hiện Quyết định số 597/QĐ-TTg ngày 11/5/2007 của Thủ tướngChính phủ, NHNN đã duy trì hạn mức Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng bằng 30%tổng dự trữ ngoại hối nhà nước, (xác định theo quý) với biên độ +/- 10% thay vìxác định hạn mức theo giá trị tuyệt đối như trước đây Việc xác định hạn mức nhưvậy cho phép NHNN tăng cường tính linh hoạt trong điều hành tỷ giá, kịp thờiứng phó với các rủi ro đảo chiều của các nguồn vốn, đặc biệt là các nguồn vốnđầu tư gián tiếp của nước ngoài

- NHNN đã quản lý an toàn dự trữ ngoại hối Nhà nước, đáp ứng mục tiêuthanh khoản và sinh lời ở mức độ nhất định

- Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Ngoạihối; triển khai thực hiện Đề án nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam,khắc phục tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế đã được Thủ tướng Chính phủphê duyệt

2.1.2 Thành tựu và hạn chế trong thực thi chính sách tiền tệ

2.1.2.1 Kết quả đạt được

- Qui mô thị trường tiền tệ mở rộng và ổn định, không để xảy ra những cúsốc về lãi suất và tỷ giá trước những biến động khó lường của tình hình thị trườngtài chính quốc tế

Trang 12

+ Lãi suất thị trường liên ngân hàng mặc dù có biến động mạnh trong vàingày giữa tháng 11/2007, song, nhìn chung, mặt bằng lãi suất ổn định: lãi suất huyđộng và cho vay của TCTD đầu năm 2007 có xu hướng giảm nhẹ so với cuối năm

2006, tạo điều kiện cho việc huy động vốn và đầu tư cho tăng trưởng kinh tế

- Diến biến tổng phương tiện thanh mặc dù tăng cao, nhưng cơ cấu thay đổitheo chiều hướng tích cực

+ Tỷ lệ tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán giảm từ mức 19,3% năm

Mỹ đã dẫn tới cuộc khủng hoảng trầm trọng năm 2008

- Chính sách tỉ giá với biên độ giao động nhỏ làm cho nền kinh tế chưa kịpthích ứng với môi trường bên ngoài

2.2 Năm 2008 – Khủng hoảng kinh tế

Tổng quan kinh tế thế giới cuối năm 2007 -2008: Kinh tế thế giới đối mặtvới nhiều khó khăn: Khủng hoảng tín dụng thế chấp dưói chuẩn ở Mỹ từ tháng7.2007 lan toả mạnh mẽ trên toàn cầu Giá cả thế giới liên tục tăng cao, 3 nền kinh

tế lớn là Trung Quốc, Mỹ, khu vực EU đều đối mặt với lạm phát leo thang; giádầu tăng 57,7%, Giá gạo tăng 19%

Trang 13

KINH TẾ THẾ GIỚI 2007

Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2008: Mang biểu hiện của một nền kinh

tế quá nóng: lạm phát gia tăng, thâm hụt cán cân thanh toán vãng lãi, bong bóngtrên thị trường bât động sản, kết quả là tăng trưởng kinh tế dương nhưng thực chất

là thấp hơn những năm trước (suy giảm kinh tế) Một năm thị trường có nhiềubiến động, nền kinh tế hàm chứa cả hai thái cực là nóng và lạnh, sự chuyển đổigiữa hai thái cực này cũng diễn ra hết sức nhanh chóng: giai đoạn 5 tháng đầunăm nền kinh tế suy giảm gắn với lạm phát trong khi 7 tháng cuối năm 2008 nềnkinh tế suy giảm lại gắn với thiểu phát

Trang 14

Biểu hiện rõ nhất trên thị trường tiền tệ là sự thiếu hụt nguồn vốn, dẫn đếnmột cuộc khủng hoảng thanh khoản nghiêm trọng đe doạ đến sự tồn tại của cả hệthống ngân hàng Để đảm cho sự tồn tại, các ngân hàng liên tục tăng lãi suất huyđộng nhằm bù đắp thiếu hụt và để đảm bảo lợi nhuận các ngân hàng lần lượt nânglãi suất cho vay

Trong điều kiện đó, việc điều hành chính sách của NHNN đã trở thành tâmđiểm chú ý, và trong bối cảnh đó cũng chứng minh một điều rằng, khi nền kinh tếbiến động thì những quyết định trong điều kiện bình thường được coi là "hànhchính" đã trở thành biện pháp "can thiệp" cần thiết

Chính sách tiền tệ trong năm 2008 được chia làm 02 giai đoạn:

2.2.1 Giai đoạn 1: 6 tháng đầu năm 2008: Thực hiện CSTT thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát.

Trong 6 tháng đầu năm, áp lực lạm phát gia tăng mang tính toàn cầu, CPIcủa Việt Nam trong 6 tháng tăng bình quân là 15,03%, mức thâm hụt cán cânthương mại ở mức kỷ lục (hơn 14% GDP)

- Dự trữ bắt buộc: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc giai đoạn này xác lập ở mức cao

nhất trong 10 năm trở lại đây Tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 1% và xác lập ở mức

Trang 15

loại tiền gửi có kỳ hạn từ 24 tháng trở lên (trước đây chỉ có kỳ hạn 24 tháng trởxuống mới chịu dự trữ bắt buộc)

NHNN phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc vào ngày 17/3/2008), tổng khốilượng phát hành: 20.300 tỷ đồng, lãi suất 7,8%/năm, kỳ hạn 364 ngày, trong đócác NHTM Nhà nước phải mua 9.500 tỷ đồng, các TCTD khác: 10.800 tỷ đồng

- Kiểm soát hoạt động tín dụng: NHNN đã bước đầu định hướng tốc độ

tăng trưởng tín dụng cả năm là 30% toàn hệ thống

Tuy nhiên, một tình huống khó lường là các NHTM đã không phản ứng kịp thờitrước việc thắt chặt chính sách tiền tệ nên vẫn tiếp tục đẩy mạnh tín dụng, cùngvới việc quản lý thanh khoản của các NHTM còn bất cập đã gây nên tình trạngthiếu khả năng thanh khoản tại nhiều ngân hàng

Để bù đắp thiếu hụt thanh khoản, các NHTM đã đua nhau tăng lãi suất huyđộng vốn trên thị trường, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng trong thời giannày có thời điểm lên đến 37%/năm, nếu tình trạng này cứ tiếp tục kéo dài, khảnăng đổ vỡ hệ thống ngân hàng có thể xảy ra

- Công cụ thị trường mở: trước diễn biến thị trường như vậy, NHNN đã kịp

thời tăng tính thanh khoản cho thị trường bằng cách bơm mạnh tiền qua nghiệp vụthị trường mở (OMO), chuyển từ đấu thầu lãi suất sang đầu thầu khối lượng, tăngcường thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của các NHTM, thắt chặt điều kiện

mở chi nhánh Mở rộng điều kiện cho vay tái cấp vốn (cho phép các TCTD đượccầm cố hồ sơ tín dụng trong giao dịch tái cấp vốn với NHNN)

Thêm vào đó, NHNN tăng cường giám sát thị trường tiền tệ: liên tục thanhtra giám sát các tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại Đây cũng là mộtcăn cứ để NHNN trợ giúp NHTM trong trường hợp khó khăn về khả năng thanhtoán

- Lãi suất: NHNN sử dụng lãi suất cơ bản như một công cụ để định hướng

lãi suất thị trường, Trong năm 2008, NHNN thực hiện 3 lần tăng lãi suất cơ bản từmức 8,25%/năm lên 14%/năm (từ 1/2/2008 đến 11/6/2008) Từ ngày 19/5/2008,

Trang 16

động và cho vay không quá 150% lãi suất cơ bản Tuy nhiên, các biện pháp chínhsách trên chưa ngăn chặn được đà tăng lãi suất huy động và mở rộng tín dụng củacác NHTM, do vậy buộc NHNN phải quy định trần lãi suất huy động tiền gửi củacác NHTM không được vượt quá 12% Giải pháp trên đã có tác động nhanhchóng, tích cực “giảm đà tăng lãi suất huy động của các NHTM” chỉ trong vàingày

Bước tiếp theo để tiếp tục tạo sự bình ổn thị trường bền vững qua cú “sốc”tháng 3, tháng 5, NHNN thực hiện cơ chế điều hành lãi suất mới, theo đó quy địnhcác NHTM cho vay nền kinh tế không vượt quá 150% lãi suất cơ bản và mức lãisuất cơ bản được điều chỉnh từ mức 12%/năm lên 14%/năm

Quy định này phù hợp với Bộ luật Dân sự, đó như là một liệu pháp mạnhmang tính tình thế đã có tác động ổn định lãi suất và tăng trưởng tín dụng đã chậmlại từ tháng 5 cho đến hết năm

- Tỷ giá hối đoái: sự kiện nổi bật trong năm 2008 là tỷ giá giữa USD/VND

xuống thấp kỷ lục bởi đồng USD giảm giá do ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế ở

Mỹ và việc FED cắt giảm lãi suất cơ bản đồng USD xuống mức thấp nhất trongnhiều năm qua (có lúc xuống 0,25%) khiến cho việc xuất khẩu hàng hoá của ViệtNam gặp nhiều khó khăn

Để khuyến khích xuất khẩu, NHNN đã quyết định mua vào hơn 7 tỷ USD,tương đương với việc “bơm” thêm hơn 112.000 tỷ VND vào nền kinh tế làm cholạm phát càng thêm trầm trọng Biện pháp mua vào 7 tỷ USD có mặt tích cực đó

là gia tăng dự trữ ngoại hối quốc gia (còn đang ở mức rất thấp so với các nướctrong khu vực), đồng thời nâng giá trị đồng USD nhằm khuyến khích nền kinh tếxuất khẩu qua đó tạo điều kiện phát triển sản xuất trong nước, điều chỉnh giảm bộichi cán cân thương mại Mặc dù sau đó, NHNN đã thực hiện nghiệp vụ thị trường

mở (Open Market) để “hút"”tiền trở lại nhưng chỉ thu hồi được hơn 82.000 tỷ.Tuy nhiên, việc làm này vẫn làm gia tăng áp lực lớn về lạm phát vì với một khốilượng tiền quá lớn đã được NHNN cung vào nền kinh tế

Trang 17

Để bình ổn thị trường ngoại hối, NHNN đã thực hiện hàng loạt biện pháp,như nới rộng biên độ tỷ giá từ ±1% lên mức ±2% tạo sự linh hoạt tỷ giá sát vớicung - cầu thị trường; thực hiện mở rộng đối tượng bán ngoại tệ cho các NHTM,việc can thiệp dựa vào trạng thái ngoại tệ của các NHTM trong ngày, thực hiệnminh bạch các thông tin về dự trữ ngoại hối Các biện pháp này đã đáp ứng đượccác kỳ vọng của thị trường, trên cơ sở đó tạo dựng lòng tin của thị trường vớiNHNN

Bên cạnh đó, NHNN thực hiện giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh ngoại

tệ, cấm các tổ chức tín dụng (TCTD) không được mua - bán USD thông qua ngoại

tệ khác, phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và xử lý các hoạtđộng đầu cơ, kinh doanh ngoại tệ trái pháp luật trên thị trường và thiết lập đườngdây nóng Hành động này đã có tác động nâng cao kỷ luật thị trường, góp phầntích cực tạo bình ổn thị trường Nhận định của một số quỹ đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam cho rằng, nhờ đường dây nóng mà các NHTM đã không ép được cácdoanh nghiệp mua ngoại tệ với tỷ giá cao hơn biên độ Việc thực hiện kịp thời,đồng bộ các giải pháp bình ổn thị trường ngoại hối đã nhanh chóng tạo được sựbình ổn

2.2.2 Giai đoạn 2: 6 tháng cuối năm 2008: Thực hiện CSTT nới lỏng từng bước để hỗ trợ duy trì sản xuất, tạo việc làm.

Bước sang tháng 7.2008, tình hình kinh tế thế giới diễn ra theo chiều hướngbất ổn rõ nét: Từ khủng hoảng thị trường nhà đất của Mỹ chuyển sang khủnghoảng tài chính mang tính toàn cầu, suy thoái kinh tế đã xảy ra ở hầu hết nền kinh

tế chủ chốt, như Nhật, Mỹ, Anh và nhiều nước thuộc khu vực Euro Zone ; giádầu và giá lương thực giảm mạnh kéo theo giá các mặt hàng tiêu dùng khác giảmtheo

Kinh tế thế giới đang từ xu hướng suy thoái kinh tế gắn lạm phát sang suythoái kinh tế gắn với giảm phát đang là nỗi lo của các quốc gia hiện nay Để cứu

Trang 18

tiền tệ và chính sách tài khóa nới lỏng nhằm tăng tính thanh khoản cho thị trường,khuyến khích các NHTM mở rộng cho vay, kích thích đầu tư

Trong tình hình kinh tế thế giới như vậy, mặc dù những tháng cuối năm 2008mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế ViệtNam, nhất là thị trường tài chính Việt Nam còn nhỏ, song để ngăn chặn ảnhhưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và giảm áp lực lạm phát vẫn diễn ra ở ViệtNam đến tận tháng 9.2008, NHNN đã phải tiếp tục áp dụng một số biện pháp hỗtrợ thị trường như nâng lãi suất tín phiếu bắt buộc (từ 7.8%/năm lên mức13%/năm), cho phép các TCTD thanh toán tín phiếu NHNN bắt buộc trước hạntheo nhu cầu (21/10/2008), trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND

Để kích thích kinh tế chống lại nguy cơ giảm phát, bắt đầu từ tháng 10.2008,các loại lãi suất chỉ đạo đã liên tục được hạ xuống theo một lộ trình thích hợp Lãisuất cơ bản từ mức 14%/năm sau 4 lần hạ hiện xuống còn 8,5%/năm, lãi suất táichiết khấu, lãi suất tái cấp vốn cũng được hạ tương ứng, biên độ dao động tỷ giáđược nâng từ từ +/-2% lên +/- 3%

Hành động này nhằm tạo sự hợp lý giữa các công cụ CSTT, giảm một phầnchi phí hoạt động cho các NHTM, để các NHTM có điều kiện hạ lãi suất cho vay

hỗ trợ cho các doanh nghiệp duy trì và mở rộng sản xuất, khuyến khích xuất khẩutrong điều kiện kinh tế thế giới suy thoái

Các chỉ số thị trường tiền tệ (tốc độ tăng M2, tín dụng và lãi suất) và các chỉ

số kinh tế đạt được trong những tháng cuối năm cho thấy việc thực thi CSTT củaNHNN năm 2008, mặc dù có những bất cập nhất định, nhưng thực sự đã có nhữngtác động rất rõ nét đến việc ổn định thị trường tiền tệ, ngăn chặn đà lạm phát đanggia tăng rất cao, tạo thế chủ động cho NHNN trong thực thi CSTT, thiết lập được

kỷ luật trên thị trường tiền tệ mà trước đây rất lỏng lẻo, làm thay đổi thái độ vàhành vi ứng xử của các thành viên thị trường theo chiều hướng tích cực

Các NHTM đã có sự điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình phù hợp vớicác động thái chính sách, quản lý vốn thanh khoản được nâng lên một bước, các

Trang 19

thành viên khác của thị trường (doanh nghiệp và cá nhân) đã phản ứng rất nhanhtrước những thay đổi chính sách và thông tin thị trường

Các biểu hiện này cho thấy, thị trường tiền tệ phát triển theo xu hướng tíchcực, tăng tính thị trường và nó cũng cho thấy, độ trễ tác động của chính sách sẽngắn lại hơn so với các năm trước

Đây là vấn đề cần được các nhà hoạch định chính sách vĩ mô quan tâm, đểviệc ban hành các chính sách vĩ mô trong những tháng tiếp theo được chủ động vàmang lại hiệu quả cao hơn

Tuy nhiên, thắt chặt CSTT cũng có những ảnh hưởng đến sản xuất của cácdoanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Đó là cái giá phải trả trongngắn hạn để ngằn chặt đà lạm phát đang gia tăng, tạo sự tăng trưởng bền vữngtrong tương lai

2.2.3 Kết quả điều hành chính sách tiền tệ năm 2008

Như vậy, trong năm 2008, NHNN đã tập trung vào 2 mục tiêu chủ yếu làkiểm soát tổng phương tiện thanh toán ở mức hợp lý và kiểm soát dư nợ tín dụng

và tính đến hết tháng 10/ 2008 các chỉ tiêu này lần lượt đạt là 10,59% (cùng kỳnăm ngoái tăng 32%) và 19,6% (cùng kỳ năm ngoái tăng 37%) Từ việc kiểm soát

2 chỉ tiêu chủ yếu này, NHNN đã rút về một lượng lớn tiền mặt khỏi lưu thông và

từ đó giảm bớt áp lực của sự tăng lạm phát Việc rút bớt một lượng tiền mặt khỏilưu thông được thực hiện thông qua việc siết chặt các khoản vay không hiệu quả

để tập trung tăng trưởng tín dụng cho sản xuất, xuất khẩu, cho lĩnh vực nôngnghiệp, nông dân và nông thôn, cho hộ chính sách và đặc biệt là đối với các dự ándang dở có hiệu quả phải đầu tư nhanh để phát huy hiệu quả Đồng thời NHNN đãlinh hoạt kịp thời nới lỏng CSTT bằng cách hạ lãi suất cơ bản, giảm tỷ lệ dự trữbắt buộc… khi có dấu hiệu giảm áp lực lạm phát và tăng trưởng khó khăn, nhất làkhi tình trạng suy thoái kinh tế đang lan tỏa ra toàn cầu và có thể tác động mạnhđến nền kinh tế Việt Nam trong năm 2009 nếu Việt Nam không có giải pháp ứng

Ngày đăng: 27/02/2016, 18:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w