Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu 38 Chương 2 : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ NỘI THẤT CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NAM VIỆT SANG THỊ TRƯỜNG PHÁ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
- o0o –
SVTH: TRẦN THỊ BĂNG TUYỀN
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NAM VIỆT SANG THỊ
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
- o0o –
SVTH: TRẦN THỊ BĂNG TUYỀN
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NAM VIỆT SANG THỊ
TRƯỜNG PHÁP
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
Trang 4Trước tiên em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô khoa Thương mại trường Đại Học Tài Chính – Marketing đã tận tình giúp đỡ, chỉ dẫn và cung cấp những kiến thức cần thiết, bổ ích để em vận dụng trong quá trình thực tập và hoàn thành tốt bài báo cáo tốt nghiệp của mình Đặc biệt là em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy Ths Lê Quang Huy với những kiến thức chuyên môn cũng như sự chia sẻ sâu sắc về kinh nghiệm trong cách ứng xử, giao tiếp và học hỏi nghiệp vụ ở đơn vị thực tập đã giúp hoàn thành tốt bốn tháng thực tập và bài báo cáo tốt nghiệp của mình đồng thời có thêm hành trang để tự tin, vững bước sau khi tốt nghiệp Em xin chúc thầy sức khỏe và thành công hơn nữa trong công tác giảng dạy Một lần nữa em xin gởi lời cảm ơn thật sâu sắc đến thầy
Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và các anh, chị trong phòng Kế hoạch kinh doanh cũng như toàn thể nhân viên của Công ty Cổ phần Nam Việt, đặc biệt là anh Viên Ngọc Long, anh Nguyễn Hữu Phúc, chị Nguyễn Thị Mộng Linh, chị Hoàng Thị Cúc đã giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình thực tập ở Công ty Sự giải đáp tận tình những thắc mắc và những chỉ dẫn về nghiệp vụ của các anh chị đã giúp em tiếp cận được với thực
tế về chuyên ngành của mình làm cơ sở để hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp Em xin chúc Quý Công ty thành công trong kinh doanh, mở rộng hơn nữa việc xuất khẩu đến những thị trường trên khắp thế giới, chúc các anh, chị Phòng Kế hoạch Kinh doanh và toàn thể nhân viên trong Công ty Cổ phần Nam Việt luôn có nhiều sức khỏe và luôn hoàn thành tốt công việc của mình
Do kiến thức còn giới hạn nên trong quá trình làm đề án không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các anh chị trong Công ty để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 5Lớp: 11DKQ2
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng ……năm 2015
Trang 6Lớp: 11DKQ2
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng ……năm 2015
Trang 71.1 Một số khái niệm về xuất khẩu 1
1.2 Các hình thức xuất khẩu 1
1.2.1 Xuất khẩu trực tiếp 1
1.2.2 Xuất khẩu qua trung gian 2
1.2.3 Buôn bán đối lưu 5
1.2.4 Xuất khẩu thông qua hội chợ và triển lãm 6
1.2.5 Hình thức gia công 7
1.2.6 Hình thức tái xuất khẩu 8
1.3 Quy trình tổ chức kinh doanh xuất khẩu 10
1.3.1 Nghiên cứu thị trường và tìm kiếm đối tác 10
1.3.2 Lập phương án kinh doanh 14
1.3.3 Đàm phán và kí hợp đồng 17
1.3.3.1 Đàm phán 17
1.3.4 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu 19
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu đồ gỗ nội thất 32
1.4.1 GDP thực của quốc gia nhập khẩu: 33
1.4.2 GDP thực của quốc gia xuất khẩu: 34
1.4.3 Tỷ giá hối đoái: 34
1.4.4 Khoảng cách giữa quốc gia xuất khẩu và các đối tác nhập khẩu đồ gỗ nội thất: 34
1.4.5 Nguồn cung gỗ nguyên liệu 34
Trang 81.5.1 Các phương pháp đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu 36
1.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu 38
Chương 2 : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ NỘI THẤT CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NAM VIỆT SANG THỊ TRƯỜNG PHÁP GIAI ĐOẠN 2010 – 2014 41 2.1 Giới thiệu tổng quan về công ty cổ phần nam việt 41
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Nam Việt
2.2.3 Giới thiệu về năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Nam Việt 49
2.2.4 Giới thiệu về thị trường tiêu thụ của Công ty Cổ phần Nam Việt
50
2.2.5 Phân tích kết quả kinh doanh chung của Công ty Cổ phần Nam Việt trong giai đoạn 2010 – 2014 51
Trang 92.3.1 Phân tích hoạt động tổ chức nghiên cứu thị trường và tìm kiếm đối tác của Công ty Cổ phần Nam Việt trong hoạt động xuất khẩu sản phẩm
gỗ nội thất sang thị trường Pháp 62 2.3.2 Phân tích hoạt động tổ chức lập phương án kinh doanh của Công ty Cổ phần Nam Việt trong hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất sang thị trường Pháp 88 2.3.3 Phân tích hoạt động tổ chức đàm phán và ký kết hợp đồng của Công ty Cổ phần Nam Việt trong hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất sang thị trường Pháp 91 2.3.4 Phân tích hoạt động tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu của Công ty Cổ phần Nam Việt trong hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất sang thị trường Pháp 96
2.4 Phân tích kết quả kinh doanh xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất của công
ty cổ phần nam việt sang thị trường pháp giai đoạn 2010 – 2014 113
2.4.1 Phân tích kết quả kinh doanh xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp theo kim ngạch và số lượng xuất khẩu 113 2.4.2 Phân tích kết quả kinh doanh xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Công
ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp theo mặt hàng xuất khẩu 117 2.4.3 Phân tích kết quả kinh doanh xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp theo hình thức xuất khẩu 120
2.4.4 Phân tích kết quả kinh doanh xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp theo phương thức thanh toán 122
Trang 102.4.6 Phân tích kết quả kinh doanh xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất
của Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp theo theo khách hàng
127
2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu đồ gỗ nội thất sang thị trường Pháp của công ty cổ phần Nam Việt 129
2.5.1 GDP thực của Pháp 129
2.5.2 Thói quen, thị hiếu tiêu dùng đồ gỗ nội thất của người dân Pháp 130
2.5.3 Yếu tố con người và bộ máy quản lý 131
2.5.4 Nguồn cung gỗ nguyên liệu 132
2.5.5 Tiềm lực tài chính 133
2.6 Phân tích đặc điểm thị trường pháp đối với sản phẩm gỗ nội thất 134
2.6.1 Một số đặc điểm chung về kinh tế, chính trị, xã hội của Pháp 134 2.6.2 Phân tích tình hình cung – cầu sản phẩm gỗ nội thất trên thị trường Pháp 139
2.6.3 Chính sách và công cụ quản lí của Pháp đối với sản phẩm gỗ nội thất 143
2.6.4 Phân tích đặc điểm tiêu dùng sản phẩm gỗ nội thất tại Pháp 149
2.6.5 Quan hệ thương mại Việt Nam – Pháp 152
2.7 Đánh giá hoạt động kinh doanh xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất của công ty cổ phần nam việt sang thị trường pháp giai đoạn 2010 – 2014 154
2.7.1 Điểm mạnh 154
2.7.2 Điểm yếu 156
Trang 11Chương 3 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ NỘI THẤT CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NAM VIỆT SANG THỊ
TRƯỜNG PHÁP 168
3.1 Phương hướng và mục tiêu của công ty 168
3.1.1 Chiến lược phát triển của Công ty 168
3.1.2 Mục tiêu xuất khẩu của Công ty 168
3.2 Cơ sở đề xuất giải pháp 169
3.3 Một số giải pháp cụ thể 172
3.3.1 Giải pháp 1: Cải tiến dòng sản phẩm đồ gỗ nội thất, đặc biệt là đồ gỗ nội thất phòng ngủ với chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng tăng giá trị xuất khẩu 172
3.3.2 Giải pháp 2: Xây dựng thương hiệu gỗ Nhà Việt 175
3.3.3 Giải pháp 3: Xây dựng hình ảnh của Công ty trên các trang thương mại điện tử 177
3.3.4 Giải pháp 4: Ổn định nguồn nguyên liệu bằng cách tập trung và hỗ trợ các hộ trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC 178
3.3.5 Giải pháp 5: Thu hút, giữ chân người lao động có tay nghề 180
3.4 Một số kiến nghị 180
3.4.1 Đối với công ty 181
3.4.2 Đối với Nhà nước 182
Trang 12Bảng 2.2 Tăng trưởng Kết quả kinh doanh của Công ty Cổ Phần Nam Việt giai đoạn 2010 –
2014 52
Bảng 2.3 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của Công ty Cổ phần Nam Việt giai đoạn 2010 – 2014 53
Bảng 2.4 Doanh thu của Công ty Cổ phần Nam Việt theo lĩnh vực kinh doanh 54
Bảng 2.5 Tỷ trọng doanh thu của Công ty Cổ phần Nam Việt theo lĩnh vực kinh doanh 55
Bảng 2.6 Doanh thu đồ gỗ nội thất của Công ty theo cơ cấu giai đoạn 2010 – 2014 57
Bảng 2.7 Tỷ trọng doanh thu đồ gỗ nội thất của Công ty theo cơ cấu giai đoạn 2010 – 2014 57
Bảng 2.8 Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt giai đoạn 2010 – 2014 theo thị trường 58
Bảng 2.9 Tỷ trọng xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt giai đoạn 2010 – 2014 theo thị trường 59
Bảng 2.10 Doanh thu xuất khẩu đồ gỗ nội thất theo mặt hàng của Công ty Cổ phần Nam Việt giai đoạn 2010 – 2014 61
Bảng 2.11 Tỷ trọng Doanh thu xuất khẩu đồ gỗ nội thất theo mặt hàng của Công ty Cổ phần Nam Việt giai đoạn 2010 – 2014 61
Bảng 2.12 Danh sách các Hiệp hội ngành nghề gỗ và sản phẩm gỗ mà Công ty thường dùng để thu thập thông tin 66
Bảng 2.13 Kết quả thu được sau khi tham gia hội chợ Maison & Objet tháng 9 hằng năm từ năm 2011 đến năm 2014 76
Bảng 2.14 Kết quả nghiên cứu thị trường từ việc nghiên cứu tại bàn thực hiện năm 2014 79
Bảng 2.15 Tổng hợp kết quả nghiên cứu thị trường và khách hàng sau khi tham gia hội chợ Maison & Objet năm 2014 86
Bảng 2.16 Bảng tính giá các mặt hàng cho đơn hàng Songma 066NV021/ALI 89
Bảng 2.17 Bảng chi phí dự kiến cho đơn hàng Songma 066NV021/ALI (Tỷ giá: 1USD = 21,216 VND) 90
Bảng 2.18 Bảng doanh thu dự kiến cho đơn hàng Songma 066NV021/ALI (Tỷ giá: 1USD = 21,216 VND) 90
Trang 13trường Pháp theo mặt hàng xuất khẩu giai đoạn 2010 – 2014 118 Bảng 2.21 Tỷ trọng các mặt hàng đồ gỗ nội thất xuất khẩu sang thị trường Pháp của Công ty
Cổ phần Nam Việt giai đoạn 2010 – 2014 118 Bảng 2.22 Doanh thu xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp theo hình thức xuất khẩu giai đoạn 2010 – 2014 120 Bảng 2.23 Doanh thu xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp theo theo phương thức thanh toán giai đoạn 2010 – 2014 123 Bảng 2.24 Tỷ trọng xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp theo phương thức thanh toán giai đoạn 2010 – 2014 123 Bảng 2.25 Doanh thu xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp theo khách hàng giai đoạn 2010 – 2014 127 Bảng 2.26 tỷ trọng xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp theo khách hàng giai đoạn 2010 – 2014 128 Bảng 2.27 Các chỉ số kinh tế 136 Bảng 2.28 Tiêu thụ đồ gỗ nội thất ở Pháp phân theo sản xuất trong nước, nhập khẩu trong khối EU và ngoài khối EU, giai đoạn 2010 – 2014 139 Bảng 2.29 Tỷ trọng tiêu thụ đồ gỗ nội thất ở Pháp phân theo sản xuất trong nước, nhập khẩu trong khối EU và ngoài khối EU, giai đoạn 2010 – 2014 140 Bảng 2.30 Giá trị nhập khẩu đồ gỗ nội thất của Pháp phân theo các đối tác nhập khẩu chính 142 Bảng 2.31 Tỷ trọng nhập khẩu đồ gỗ nội thất của Pháp phân theo các đối tác nhập khẩu chính 142 Bảng 2.32 Các nhóm sản phẩm gỗ nội thất nhập khẩu được Pháp áp dụng mức thuế giá trị gia tăng 20% 148 Bảng 2.33 Cân bằng giữa số câu trả lời đồng ý và không đồng ý chi trả nhiều hơn cho các tính năng đặc biệt của sản phẩm nội thất 151 Bảng 2.34 Kim ngạch XNK giữa Việt Nam – Pháp giai đoạn 2010 – 2014 153 Bảng 3.1 Doanh thu xuất khẩu đồ gỗ nội thất dự kiến của Công ty trong giai đoạn 2015 –
2017 169
Trang 15Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng doanh thu của Công ty Cổ phần Nam Việt theo lĩnh vực kinh doanh 56 Biểu đồ 2.3 Tỷ trọng doanh thu đồ gỗ nội thất của Công ty theo cơ cấu giai đoạn 2010 –
2014 58 Biểu đồ 2.4 Tỷ trọng xuất khẩu đồ gỗ nội thất của công ty Cổ phần Nam Việt vào các thị trường Pháp, Úc, Hoa Kỳ, Anh giai đoạn 2010 – 2014 60 Biểu đồ 2.5 Tỷ trọng Doanh thu xuất khẩu đồ gỗ nội thất theo mặt hàng của Công ty Cổ phần Nam Việt giai đoạn 2010 – 2014 62 Biểu đồ 2.6 Mức biến động tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu theo sự biến động của
số lượng và giá trị trên mỗi sản phẩm đồ gỗ nội thất sang thị trường Pháp của Công ty Cổ phần Nam Việt giai đoạn 2010-2014 114 Biểu đồ 2.7 Tỷ trọng các mặt hàng đồ gỗ nội thất xuất khẩu sang thị trường Pháp của Công
ty Cổ phần Nam Việt giai đoạn 2010 – 2014 119 Biểu đồ 2.8 Doanh thu xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp theo hình thức xuất khẩu giai đoạn 2010 – 2014 121 Biểu đồ 2.9 Tỷ trọng xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp theo phương thức thanh toán giai đoạn 2010 – 2014 124 Biểu đồ 2.10 Cán cân thương mại Việt Nam – Pháp giai đoạn 2010 – 2014 153
Trang 16Sơ đồ 2.2 Qui trình lập phương án kinh doanh ở Công ty Cổ phần Nam Việt 88
Sơ đồ 2.3 Qui trình chuẩn bị hàng hóa xuất khẩu ở Công ty Cổ phần Nam Việt 99
Sơ đồ 2.4 Quy trình sản xuất đồ gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt 100
DANH SÁCH HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Giao diện trong tab Statistics 69 Hình 2.2 Danh sách hàng hóa hiện ra khi nhấp vào Find my product code 70 Hình 2.3 Giao diện sau khi chọn mã HS 71 Hình 2.4 Công ty thu thập số liệu thống kê về tình hình nhập khẩu đồ gỗ nội thất của Pháp từ các đối tác trên thế giới trên cổng thông tin Export Helpdesk 72 Hình 2.5 Giao diện trang web Europages 77 Hình 2.6 Giao diện website của Công ty Dun & Bradstreet 78 Hình 2.7 Ông Võ Thành Nhân (bên tay phải), Trưởng phòng Nghiên cứu và phát triển Công
ty Cổ phần Nam Việt đang giới thiệu sản phẩm với khách hàng tham gia hội chợ Maison & Objet
2014 85 Hình 3.1 Hình minh họa cho trang thương mại Trade Port 178
Trang 17CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Toàn cầu hóa tạo điều kiện cho các quốc gia giao thương với nhau.Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, mỗi quốc gia đều có lợi thế tuyệt đối và nếu mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm với lợi thế tuyệt đối của mình
và tiến hành mậu dịch quốc tế với quốc gia khác thì cả hai quốc gia sẽ cùng có lợi
Kế thừa và phát triển lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, David Ricardo đã phát triển
lý thuyết lợi thế so sánh Thuyết này nhấn mạnh rằng: Những nước bị kém lợi thế tương đối so với các nước khác trong sản xuất mợi sản phẩm thì vẫn có thể và vẫn
có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước
có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại Việt Nam tuy không có lợi thế so sánh về khoa học công nghệ nhưng lại có lợi thế so sánh về nguồn lao động Do đó Việt Nam cũng vẫn có lợi khi tập trung sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm gắn với lợi thế so sánh đó Ngành Sản xuất và xuất khẩu sản phẩm gỗ là một trong những ngành tận dụng tốt lợi thế so sánh đó Tuy mới phát triển không lâu nhưng ngành sản xuất và xuất khẩu sản phẩm gỗ đã có thể đứng ngang tầm với các ngành nghề truyền thống như dệt may, da giày Việt Nam trở thành nước xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất ASEAN từ năm 2013, đứng thứ hai tại châu Á
và thứ 6 trên thế giới Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang các thị trường trong tháng 12/2014 đạt trị giá 609,64 triệu USD1, tăng 13,4% so với tháng 11/2014; đưa tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong năm 2014 lên 6,23
tỷ USD2, tăng 12,0% so với năm 2013 Mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu của
1 Tổng cục hải quan, 2014, Thống kê thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm năm 2014
2 Tổng cục hải quan, 2014, Thống kê thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm năm 2014
Trang 18năm 2014 kim ngạch đã đạt 6,23 tỷ USD Việt Nam đã xuất khẩu gỗ và sản phẩm sang khoảng 40 thị trường trên thế giới, những thị trường xuất khẩu chính đóng góp lớn vào tăng trưởng kim ngạch trong năm 2014 gồm: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Trung Quốc, Anh, Đức, Pháp, Đài Loan… Nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ gia tăng cả trong và ngoài nước những năm qua cũng là cơ hội cho ngành chế biến đồ gỗ trong nước phát triển Với quy mô thị trường đồ gỗ thế giới đang ở mức cao, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn ở mức khiêm tốn Thấy được tiềm năng phát triển của ngành sản xuất và xuất khẩu sản phẩm gỗ, Công ty Cổ phần Nam Việt (NAVIFICO) đã đầu tư phát triển ngành nghề này Trong những năm gần đây Công ty đã mở rộng nhà xưởng để nâng cao năng lực sản xuất và dây chuyền công nghệ hiện đại cho việc cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm gỗ nội thất của mình Bước đầu đã đạt được những thành công nhất định, sản phẩm gỗ nội thất của công ty đã có mặt trên các thị trường lớn và khó tính như Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Nhật Bản, New Zealand,… Tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm
gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt năm 2014 đạt 4,027,484.18 USD3, tăng đến 60.8% so với năm 2013(năm 2013 chỉ đạt 2,504,589.02 USD).Trong đó Pháp là thị trường lớn và quan trọng, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất của công ty sang thị trường Pháp luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất của công ty Trong tương lai khi Hiệp định Đối tác Tự nguyện
về Thực thi lâm luật, Quản trị và Thương mại lâm sản (gọi tắt là VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và EU và Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam – EU được kí kết sẽ mang lại nhiều cơ hội để thâm nhập sâu hơn vào thị trường các nước trong liên minh Châu Âu trong đó có Pháp cho các công ty chế biến gỗ Việt Nam nói chung
và công ty Cổ phần Nam Việt nói riêng VPA/FLEGT đảm bảo gỗ và các sản phẩm
gỗ xuất khẩu từ Việt Nam sang các nước thành viên EU có nguồn gốc hợp pháp
3 Phòng Kế hoạch kinh doanh Công ty Cổ phần Nam việt
Trang 19phẩm gỗ của Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường EU Gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam được cấp phép FLEGT sẽ không phải tiến hành trách nhiệm giải trình khai báo nguồn gốc gỗ theo Quy chế gỗ của EU (Qui chế EUTR 995) có hiệu lực từ tháng 3/2013 Các quốc gia kí kết Hiệp định đối tác tự nguyện (VPA) về FLEGT sẽ
có thể xuất khẩu một cách hiệu quả vào thị trường EU mà không bị kiểm tra hoặc không phải đáp ứng thêm các yêu cầu khác về tính hợp pháp Ngoài ra, Công ty sẽ
có cơ hội có được thị phần lớn hơn, bán được với giá cao hơn và có được các thị trường ngách mới do người dân EU rất tin tưởng tiêu dùng các sản phẩm đã được cấp chứng chỉ Tuy nhiên cơ hội luôn đi cùng với thách thức, các hiệp định này cũng đem lại những thách thức không nhỏ cho công ty FLEGT yêu cầu gỗ và các sản phẩm gỗ phải có nguồn gốc hợp pháp Trong khi đó, gỗ nguyên liệu của Công
ty lại được nhập từ nhiều quốc gia trên thế giới và phần lớn chưa có chứng chỉ nguồn gốc hợp pháp Hơn nữa, nếu lựa chọn gỗ nhập khẩu thay đổi sang những thị trường gỗ có chứng nhận nguồn gốc, xuất xứ của gỗ sẽ có thể làm giá gỗ nguyên liệu tăng cao Đồng thời trong giai đoạn hội nhập sâu này, các sản phẩm gỗ của nước ta nói chung và của công ty nói riêng sẽ phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ sản phẩm của nhiều nước phát triển về gỗ trên thế giới Và công ty sẽ tiếp tục phải đối mặt với rào cản không nhỏ là chi phí sản xuất gỗ vẫn cao Công ty Cổ phần Nam Việt cần có những biện pháp thích hợp nắm bắt lấy cơ hội đồng thời vượt qua thách thức trên để nâng cao kim ngạch xuất khẩu của mình vào thị trường Pháp (một thị trường quan trọng trong các thị trường của liên minh EU), thâm nhập sâu
hơn vào thị trường này Đó là lí do tác giả chọn đề tài: “Thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp” Với
mong muốn có thể góp một phần nhỏ nào đó để giúp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của công ty trong tương lai
Trang 20- Phân tích kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất sang Pháp của công ty theo mặt hàng , giá cả - chất lượng, kênh phân phối, phương thức xuất khẩu,…
- Nghiên cứu tình hình thị trường Pháp để thấy rõ nhu cầu, thị hiếu, giá cả - chất lượng, đặc điểm kênh phân phối, sự cạnh tranh của sản phẩm gỗ nội thất trên thị trường này
- Dự báo cơ hội và thách thức khi xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất của công ty sang thị trường Pháp
- Đánh giá thành tựu và tồn tại trong hoạt động xuất khẩu của công ty nói chung và hoạt động xuất khẩu sang thị trường Pháp nói riêng
- Cuối cùng dựa vào các kết quả phân tích, dự báo, đánh giá trên để đưa ra định hướng xuất khẩu của công ty nói chung và định hướng xuất khẩu sang thị trường Pháp nói riêng trong thời gian tới Từ đó có cơ sở đề xuất giải pháp và hơn thế nữa là nội dung và biện pháp thực hiện các giải pháp
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất của Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin và hoàn thiện đề tài, trong đó tập trung vào một số phương pháp sau:
Chương 1: Phương pháp tiếp cận thông tin lịch sử và logic nhằm hệ thống
hóa cơ sở lý thuyết về hoạt động xuất khẩu và từ các lý thuyết này sẽ là nền tảng hỗ trợ cho các phân tích tình hình thực tế tại công ty trong chương 2
Trang 21trình phát triển của Công ty
- Phương pháp thống kê mô tả và so sánh - đối chiếu số liệu: thu thập
nguồn dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp từ các quan sát thực tế và thông qua các cơ
sở dữ liệu về tình hình sản xuất, xuất khẩu của công ty của ngành hàng và của các thị trường từ các trang thông tin có uy tín như Tổng cục thống kê, Tổng cục hải quan và các báo cáo có liên quan trong nội bộ công ty… từ đó tiến hành các phân tích định lượng bằng phương pháp thống kê mô tả để phân tích, so sánh đối chiếu
số liệu và tiến hành các giải thích, đánh giá về tình hình xuất khẩu đồ gỗ nội thất sang thị trường Pháp của Công ty Cổ phần Nam Việt
- Phương pháp tư duy biện chứng: được sử dụng trong cả chương 2 và
chương 3 nhằm tìm ra nguyên nhân của sự việc để lập luận, giải thích cho sự biến động của các số liệu thu thập được thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng
- Phương pháp chuyên gia: được sử dụng trong chương 2 nhằm thu thập
thông tin từ kinh nghiệm của những người làm việc lâu năm trong công ty và có tầm nhìn trong việc nhận biết các cơ hội, thách thức hiện tại như các trưởng phòng bộ phận kinh doanh; bộ phận xuất nhập khẩu; bộ phận kế hoạch, tài chính… và một số đối tượng khác
Chương 3: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả dữ liệu thứ cấp của công
ty để biết được định hướng và mục tiêu của Công ty trong thời gian tới Đồng thời
kết hợp phương pháp tư duy biện chứng: từ các tư duy về tình hình thực tại, các
cơ hội, thách thức, các đánh giá sơ bộ để đưa ra các giải pháp cho công ty trước các thực trạng được phân tích trong chương 2 cùng với các thành tựu, tồn tại, cơ hội và thách thức đã phân tích ở chương 2 để đưa ra những giải pháp phù hợp để thúc đẩy xuất khẩu
5 BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất
Trang 22 Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ nội thất của
Công ty Cổ phần Nam Việt sang thị trường Pháp
Trang 23Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Một số khái niệm về xuất khẩu
Theo Đoàn Thị Hồng Vân và Kim Ngọc Đat (2011, trang 27): “ Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo qui định của pháp luật”
Tóm lại, xuất khẩu là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ ra khỏi lãnh thổ một quốc gia hoặc vào một khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ quốc gia đó trên cơ
sở dùng tiền tệ là phương thức thanh toán và tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc cả hai quốc gia nhằm đem lại lợi ích và lợi nhuận cho các quốc gia tham gia
1.2 Các hình thức xuất khẩu
Theo xu hướng phát triển chung của nền kinh tế, ngày nay hoạt động xuất khẩu ngày càng được diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau để đáp ứng những nhu cầu mới nảy sinh; sử dụng hiệu quả lợi thế của từng quốc gia, doanh nghiệp Với mỗi hình thức cụ thể sẽ luôn chứa đựng những điểm mạnh, điểm yếu riêng vì thế trước khi tiến hành hoạt động xuất khẩu cần cân nhắc về hình thức nào nên được ưu tiên sử dụng cho phù hợp với tình hình hiện tại của doanh nghiệp, quốc gia Những nghiên cứu, tìm hiểu về các hình thức kinh doanh ngoại thương, kinh doanh xuất khẩu (Võ Thanh Thu, 2005; Vũ Hữu Tửu, 2007; Nguyễn Thị Hường
và Tạ Lợi, 2009; Võ Thanh Thu, 2011) cho thấy có các hình thức xuất khẩu chủ yếu sau:
1.2.1 Xuất khẩu trực tiếp
Theo Võ Thanh Thu (2011, trang 215): “Xuất khẩu trực tiếp là hình thức giao dịch, trong đó người bán (người sản xuất, người cung cấp) và người mua quan hệ
Trang 24trực tiếp với nhau (bằng cách gặp mặt, qua thư từ, điện tín) để bàn bạc thỏa thuận về hàng hóa, giá cả và các điều kiện giao dịch khác.”
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu trực tiếp
- Cho phép người xuất khẩu nắm bắt được nhu cầu của thị trường về số lượng, chất lượng, giá cả để người bán thỏa mãn tốt nhu cầu của thị trường
- Giúp cho người bán không bị chia sẻ lợi nhuận
- Giúp xây dựng chiến lược marketing quốc tế phù hợp
(Võ Thanh Thu, 2011, trang 215)
Nhược điểm của hình thức xuất khẩu trực tiếp
- Chi phí tiếp thị thị trường nước ngoài cao cho nên những doanh nghiệp có quy mô nhỏ vốn ít thì nên xuất khẩu ủy thác có lợi hơn
- Kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp đòi hỏi có những cán bộ nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu giỏi: giỏi về giao dịch đàm phán, am hiểu và có kinh nghiệm buôn bán quốc tế đặc biệt là nghiệp vụ thanh toán quốc tế thông thạo, có như vậy mới đảm bảo kinh doanh xuất khẩu trực tiếp có hiệu quả Đây vừa là yêu cầu để đảm bảo hoạt động kinh doanh xuất khẩu trực tiếp, vừa thể hiện điểm yếu của đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam khi tiếp cận với thị trường thế giới
(Võ Thanh Thu, 2011, trang 215)
1.2.2 Xuất khẩu qua trung gian Theo Võ Thanh Thu (2011, trang 216): “Xuất khẩu qua trung gian là hình thức
mua bán quốc tế được thực hiện nhờ vào sự giúp đỡ của trung gian thứ ba Người
thứ ba này được hưởng một khoản tiền nhất định.”
Cũng theo Võ Thanh Thu (2011), có hai hình thức xuất khẩu qua trung gian phổ biến:
Hình thức xuất khẩu qua đại lý (Agent)
Trang 25Là một người hay một công ty ủy thác cho người khác, công ty khác thực hiện việc mua bán hoặc dịch vụ phục vụ cho việc mua bán như quảng cáo, vận tải và bảo hiểm Quan hệ giữa người ủy thác với người đại lý thể hiện trên hợp đồng đại lý
Có nhiều hình thức để phân loại đại lý:
- Phân loại theo phạm vi quyền hạn được đại lý ủy thác: có 3 loại:
+ Đại lý toàn quyền (Universal Agent) là hình thức mà người đại lý được phép thay mặt người ủy thác làm mọi công việc mà người ủy thác làm
+ Tổng đại lý (General Agent): người đại lý chỉ được phép thay mặt người ủy thác thực hiện một số các công việc nhất định như kí hợp đồng mua bán v.v
+ Đại lý đặc biệt (Special Agent): người đại lý chỉ thực hiện một số công việc hạn chế mà nội dung của công việc do người ủy thác quyết định; ví dụ ủy thác mua một khối lượng hàng với chất lượng và giá cả xác định
- Phân loại theo nội dung quan hệ giữa người đại lý với người ủy thác:
+ Đại lý ủy thác (đại lý thụ ủy) là hình thức mà người đại lý được chỉ định để hành động thay cho người ủy thác, với danh nghĩa và chi phí của người ủy thác Thù lao cho người đại lý thường là một khoản tiền hay tỷ lệ % giá trị lô hàng thực hiện
+ Đại lý hoa hồng (Commission Agent) là người được ủy thác tiến hành hoạt động với danh nghĩa của mình, nhưng với chi phí của người ủy thác, thù lao của người đại lý hoa hồng là một khoản tiền hoa hồng tùy theo khối lượng và tính chất của công việc được ủy thác
+ Đại lý kinh tiêu (Merchant Agent) là người ủy thác hoạt động với danh nghĩa và chi phí của mình; thù lao của người này là khoản chênh lệch giữa giá bán
và giá mua
Nghĩa vụ của đại lý, trong đó nêu rõ: mức tiêu thụ (hoặc mức thu mua) tối thiểu, định kỳ báo cáo và nội dung báo cáo tình hình của đại lý, những nghĩa vụ nhận thêm như quảng cáo, đảm bảo thanh toán, …
Trang 26Nghĩa vụ của người ủy thác như: thường xuyên cung cấp hàng, thông báo tình hình và cung cấp thông tin để đại lý có thể chào bán, thanh toán chi phí và thù lao đại lý, …
Hình thức xuất khẩu qua môi giới – người môi giới (Broken)
Theo điều 150, Luật thương mại (2005), môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới
Ngoài ra còn có hình thức xuất khẩu ủy thác
Hình thức xuất khẩu ủy thác
Theo điều 155, Luật Thương mại (2005), ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác và nhận thù lao ủy thác
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu qua trung gian:
- Người trung gian thường là người am hiểu thị trường thâm nhập, pháp luật
và tập quán buôn bán của địa phương, họ có khả năng đẩy mạnh buôn bán và tránh bớt rủi ro cho người ủy thác
- Những người trung gian, nhất là các đại lý thường có cơ sở vật chất nhất định, do đó khi sử dụng họ, người ủy thác tiết kiệm được chi phí đầu tư trực tiếp ra nước tiêu thụ hàng
- Nhờ dịch vụ của trung gian trong việc lựa chọn phân loại, đóng gói, người
ủy thác có thể giảm bớt chi phí vận tải
(Võ Thanh Thu, 2011, trang 217 - 218)
Nhược điểm của hình thức xuất khẩu qua trung gian:
- Công ty xuất khẩu qua trung gian mất sự liên hệ trực tiếp với khách hàng
- Vốn bị bên nhận đại lý chiếm dụng
- Công ty phải đáp ứng những yêu sách của đại lý và môi giới
Trang 27- Lợi nhuận bị chia sẻ
(Võ Thanh Thu, 2011, trang 218)
1.2.3 Buôn bán đối lưu
Buôn bán đối lưu (Counter – Trade) hay còn gọi là hình thức xuất nhập khẩu liên kết là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi với nhau, có giá trị tương đương Ở đây mục đích của xuất khẩu không phải nhằm thu ngoại tệ, mà thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương (Võ Thanh Thu, 2011)
Theo Võ Thanh Thu (2011), các hình thức buôn bán đối lưu chủ yếu:
Trao đổi bù trừ (Compensation)
Trong nghiệp vụ bù trừ (compensation) hai bên trao đổi hàng hóa với nhau trên cơ sở ghi giá trị hàng giao, đến cuối kỳ hạn, hai bên mới so sánh, đối chiếu giữa giá trị hàng giao với giá trị hàng nhận Nếu sau khi bù trừ tiền hàng như thế mà còn
số dư thì số tiền đó được gữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ về những khoản chi tiêu của bên chủ nợ tại nước bị nợ
Có nhiều loại trao đổi bù trừ như:
Mua đối ứng (counter-purchase): hai bên kí kết với nhau hai hợp đồng mua hàng của nhau, cân bằng tống số tiền của từng hợp đồng Hợp đồng mua thanh toán bằng hợp đồng bán
Bù trừ liên kết xuất khẩu với nhập khẩu bằng một hợp đồng, xuất liên kết với nhập Hợp đồng này thực chất là hợp đồng đổi hàng
Bù trừ trước (Pre-compensation) một bên giao hàng trước Sau một thời gian bên kia giao đối ứng
Trang 28 Nghiệp vụ mua lại (buying back): một bên cung cấp thiết bị toàn bộ hoặc sáng chế, hoặc bí quyết kĩ thuật sản xuất (know-how) cho bên kia và cam kết mua lại sản phẩm do thiết bị hoặc know-how làm ra
- Cân bằng về cở sở giá cả: Cùng tính cao hơn hoặc thấp hơn giá cả quốc tế
- Cân bằng về tổng giá trị hàng giao cho nhau
1.2.4 Xuất khẩu thông qua hội chợ và triển lãm
Theo điều 129, Luật Thương mại (2005), hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một đại điểm nhất định để thương nhân trình bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ
Trình tự tiến hành tham gia hội chợ triển lãm ở nước ngoài
Khi nhận được lời mời của Ban tổ chức hội chợ (hoặc triễn lãm) của nước ngoài, Phòng thương mại và Công nghiệp hoặc Trung tâm Phát triển Ngoại thương nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tổ chức
- Mục đích, ý nghĩa, vai trò hội chợ hoặc triển lãm
- Tính chất, vị trí, thời gian và thời hạn triển lãm
- Điều kiện và thể thức trưng bày các vật triển lãm, giá tiền thuê mặt bằng
- Nghiên cứu uy tín của triển lãm mà doanh nghiệp dự kiến tham gia
Tiếp đó, Phòng Thương mại Công nghiệp hoặc Trung tâm Phát triển Ngoại thương báo cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoặc các tổ chức kinh tế có thể tham dự
để họ dự thảo kế hoạc tham gia hội chợ hoặc triển lãm Các thông tin cần thông báo
Trang 29cho các doanh nghiệp là: Mục đích, ý nghĩa, uy tín của triển lãm; quy mô và thời gian tiến hành triển lãm; chi phí thuê mặt bằng; có hay không sự hỗ trợ cho các doanh nghiệp khi thực hiện triển lãm và thủ tục xuất khẩu và nhập khẩu hàng triển lãm; khả năng có thể bán hàng tại hội chợ và các loại phí có liên quan
1.2.5 Hình thức gia công
“Gia công hàng xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu Trong đó, người đặt gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thanh phẩm theo mẫu và định mức cho trước Người nhận gia công trong nước
tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách Toàn bộ sản phẩm làm
ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia công để nhận tiền công.” (Đoàn Thị Hồng Vân và Kim Ngọc Đạt, 2011, trang 365)
Ưu điểm của hình thức gia công xuất khẩu:
Thị trường tiêu thụ sẵn có, không phải bỏ chi phí cho hoạt động bán sản phẩm xuất khẩu
- Vốn đầu tư cho sản xuất ít
- Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
- Học hỏi kinh nghiệm sản xuất, tạo mẫu mã bao bì
(Võ Thanh Thu, 2011, trang 223)
Nhược điểm của hình thức gia công xuất khẩu:
- Tính bị động cao: vì toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp nhận gia công phụ thuộc vào bên phía đặt gia công: phụ thuộc về thị trường, giá bán sản phẩm, giá đặt gia công, nguyên vật liệu, mẫu mã, nhãn hiệu sản phẩm… cho nên với những doanh nghiệp sản xuất lớn, chất lượng sản phẩm tốt với hình thức gia công doanh nghiệp khó có điều kiện phát triển mạnh ra thị trường thế giới
- Nhiều trường hợp bên phía nước ngoài lợi dụng hình thức gia công để bán máy móc cho bên phía Việt Nam, sau một thời gian không có thị trường đặt gia công nữa, máy móc không được sử dụng gây lãng phí
Trang 30- Nhiều trường hợp bên đặt gia công đưa máy móc trang thiết bị cũ, lạc hậu về công nghệ sang Việt Nam dẫn tới công nhân làm việc nặng nhọc, môi trường bị ô nhiễm
- Năng lực tiếp thị kém, nhiều doanh nghiệp bên phía nước ngoài lợi dụng hình thức gia công để đưa các nhãn hiệu hàng hóa chưa đăng ký hoặc nhãn hiệu giả vào Việt Nam
- Quản lý định mức gia công và thanh lý các hợp đồng gia công không tốt sẽ là chỗ hỡ để đưa hàng hóa trốn thuế vào Việt Nam, gây khó khăn cho sản xuất và kinh doanh nội địa
- Tình hình cạnh tranh trong gia công ở khu vực và nội địa ngày càng gay gắt làm cho giá gia công ngày càng sụt giảm, hậu quả: hiệu quả kinh doanh gia công thấp, thu nhập của công nhân gia công ngày càng giảm sút
(Võ Thanh Thu, 2011, trang 223-224)
1.2.6 Hình thức tái xuất khẩu
Tái xuất khẩu là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang các nước khác, những hàng hóa đã mua ở nước ngoài nhưng chưa được qua chế biến ở nước tái xuất
Mục đích của thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua rẻ hàng hóa ở nước này bán đắt hàng hóa ở nước khác và thu số ngoại tệ lớn hơn số vốn bỏ ra ban đầu Giao dịch này luôn luôn thu hút ba nước tham gia: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu
(Võ Thanh Thu, 2011)
Theo Võ Thanh Thu (2011) có hai hình thức tái xuất khẩu:
Hình thức kinh doanh chuyển khẩu
Theo Luật Thương mại ban hành ngày 14/06/2005 thì hình thức kinh doanh chuyển khẩu được hiểu như sau: Chuyển khẩu là mua hàng hóa của một nước (nước
Trang 31xuất khẩu để bán cho một nước khác (nước nhập khẩu) mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu từ Việt Nam
Hình thức chuyển khẩu bao gồm các dạng sau:
- Hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua Việt Nam
- Hàng hóa được vận chuyển đến Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam mà đi luôn tới nước nhập khẩu
- Hàng hóa được vận chuyển tới Việt Nam tạm thời đưa vào kho ngoại quan rồi mới vận chuyển tới nước nhập khẩu, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam
- Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại hải quan, khu vực trung chuyển hàng hóa tại các cảng Việt Nam, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam
Hình thức kinh doanh “tạm nhập, tái xuất”:
Theo Điều 29 của Luật Thương mại Việt Nam được Quốc hội thông qua tháng 06/2005 và theo Điều 12 của Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 thì hình thức tạm nhập, tái xuất khẩu hàng hóa được hiểu là việc hàng hóa được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam, được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam
Theo điều 12 của Nghị định 12/2006/NĐ-CP thời gian tạm nhập cho đến khi tái xuất khẩu khỏi Việt Nam không quá 120 ngày kể từ khi hoàn thành xong thủ tục hải quan tạm nhập Nếu cần kéo dài phải làm đơn gia hạn gởi đến Cục Hải quan tỉnh (Thành phố) Tối đa 2 lần gian hạn, mỗi lần kéo dài không quá 30 ngày
Người kinh doanh tái xuất thường ký một hợp đồng nhập khẩu và một hợp đồng xuất khẩu Hai hợp đồng này về cơ bản không khác những hợp đồng xuất nhập khẩu thông thường, song chúng có liên quan mật thiết với nhau Chúng thường phù hợp với nhau về hàng hóa, bao bì, ký mã hiệu, nhiều khi cả về thời gian giao
Trang 32hàng và các chứng từ hàng hóa Việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu phải tạo cơ sở đầy đủ và chắc chắn cho việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu
1.3 Quy trình tổ chức kinh doanh xuất khẩu
Theo Đoàn Thị Hồng Vân và Kim Ngọc Đạt (2011, trang 31), quản trị xuất nhập khẩu là quản trị toàn bộ chuỗi hoạt động của mỗi thương vụ, gồm ba khâu chính:
Nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng, giao dịch, đàm phán hợp đồng xuất nhập khẩu;
Soạn thảo, ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu;
Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu
Từ ba khâu chính trên, có thể chia qui trình tổ chức kinh doanh xuất khẩu theo các khâu sau:
1.3.1 Nghiên cứu thị trường và tìm kiếm đối tác
1.3.1.1 Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường quốc tế là việc thu thập, ghi chép, hệ thống hóa và phân tích các dữ kiện về thị trường quốc tế (Trần Thị Ngọc Trang và cộng sự, 2006) Nghiên cứu thị trường quốc tế là một sự so sánh, phân tích thông tin để rút ra những kết luận về xu hướng của hoạt động trong thị trường thế giới theo từng ngành hàng, nhóm hàng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Trần Thị Ngọc Trang và cộng sự, 2006)
Tóm lại nghiên cứu thị trường quốc tế giúp cho doanh nghiệp đánh giá được qui mô và tiềm năng của thị trường xuất khẩu từ đó làm căn cứ lựa chọn thị trường xuất khẩu mục tiêu Đồng thời nhân dạng những cơ hội và thách thức trên thị trường quốc tế để đánh giá khả năng thâm nhập thị trường của bản thân doanh nghiệp mình
Theo Trần Thị Ngọc Trang và cộng sự (2006), nội dung nghiên cứu thị trường quốc tế bao gồm:
Phân tích tầm quan trọng và mức độ tác động của các yếu tố môi trường
Trang 33Doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến những thông tin liên quan đến kinh
tế, chính trị, luật pháp, văn hóa và sự năng động về công nghệ của các thị trường tiềm năng Việc phân tích các yếu tố môi trường giúp doanh nghiệp đánh giá những
cơ hội và thách thức có thể có từ thị trường Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các giải pháp chiến lược và nghiệp vụ về marketing cho phép tranh thủ được các cơ hội và giảm thiểu được các rủi ro
Phân tích mức độ tác động của các yếu tố môi trường là điều kiện tiên quyết cho các quyết định mang tính chiến lược như: việc lựa chọn thị trường để thâm nhập, phương thức thâm nhập như thế nào và định vị qui trình sản xuất ở đâu
Phân tích đánh giá qui mô thị trường
Phân tích đánh giá qui mô thị trường nhằm xác định dung lượng thị trường (hay còn gọi là tiềm năng thị trường) và tiềm năng bán hàng của công ty (bao gồm việc dự đoán sản lượng bán cho một sản phẩm)
Phân tích tiềm năng thị trường tức là phân tích nhu cầu, đặc điểm tâm lý, thị hiếu cuả khách hàng, các biến số về dân số học, về hành vi, phong cách sống, về văn hoá,
Phân tích khả năng bán hàng của doanh nghiệp là nhằm xác định xem khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, giá cả, phân phối và hoạt động chiêu thị đạt được như thế nào so với các đối thủ cạnh tranh
Phân tích cạnh tranh
Phân tích để hiểu được tính chất cạnh tranh và đối thủ cạnh tranh là điều kiện cực kỳ quan trọng cho các chiến lược cạnh tranh được thực hiện hiệu quả Doanh nghiệp cần xác định được: ai là đối thủ cạnh tranh của mình?, chiến lược cạnh tranh của họ là gì?, mục tiêu của họ là gì?, những điểm mạnh và điểm yếu của họ, cách thức của họ phản ứng ra sao?
Theo Đoàn Thị Hồng Vân và Kim Ngọc Đạt (2011, trang 233), các phương pháp chủ yếu để nghiên cứu thị trường nước ngoài bao gồm:
Trang 34 Nghiên cứu tại bàn (desk research): đây là cách nghiên cứu phổ biến,
tương đối dễ thực hiện, chi phí ít nhưng cho kết quả có độ chính xác không thật cao Nguồn để thu thập tài liệu:
Các nguồn nội bộ: Đầu tiên, cần tìm thông tin ngay trong cơ quan của
mình, ngay trong tủ sách thương mại của cơ quan
Những nguồn thông tin từ các tổ chức, cơ quan:
Nguồn thông tin lấy qua mạng Internet: Đây là nguồn thông tin cực kỳ
quan trọng Ngày nay Internet được coi là một kho tàng thông tin khổng lồ nằm
ngay dưới ngón tay click của người sử dụng
Thu thập thông tin là một việc rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn là phải xử
lý, đánh giá được độ chính xác của thông tin Nếu có thể, tất cả các nguồn tin cần kiểm tra chéo qua các nguồn độc lập khác để đảm bảo chính xác
Nghiên cứu tại chỗ (field research):
Nghiên cứu trực tiếp tại thị trường Phương pháp này phức tạp, tốn kém nhưng cho kết quả nhanh, chính xác
Trước khi bắt đầu nghiên cứu tại chỗ cần làm tốt công tác chuẩn bị như:
Quyết định những mục tiêu nghiên cứu
Quyết định đối tượng nghiên cứu và địa chỉ của họ
Dự thảo một số câu hỏi
Chuẩn bị biểu mẫu
Trang 35 Sắp xếp các cuộc phỏng vấn
Và quan trọng hơn cả là chọn người có đủ khả năng để nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu có thể sử dụng các phương tiện như sau:
Các cuộc phỏng vấn cá nhân trực tiếp
Các cuộc phỏng vấn qua điện thoại
Các cuộc phỏng vấn qua thư từ
Kiểm tra kho hàng, cửa hàng…
Sau các cuộc phỏng vấn viết báo cáo, rồi tiến hành phân tích số liệu thu thập được, rút ra nhận xét, dự báo kết luận
Ngoài ra còn nhiều phương pháp khác như: bán thử, sử dụng chuyên gia người địa phương, gián điệp kinh tế…
Trong thực tế để đạt được kết quả cao, người ta thường sử dụng kết hợp các phương pháp trên
1.3.1.2 Lựa chọn thị trường xuất khẩu
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thị trường xuất khẩu giúp đơn vị kinh doanh lựa chọn thị trường, việc lựa chọn thị trường phải căn cứ vào những tiêu chuẩn mà các thị trường phải đáp ứng được:
Tiêu chuẩn chung:
- Về chính trị: có những chính thể này thuận lợi hơn những chính thể khác đối với hoạt động xuất khẩu, nghiên cứu cả những bất chắc chính trị và sự ổn định của chính thể
- Về địa lý: khoảng cách địa lý, khí hậu, tháp dân số
- Về kinh tế: những chỉ tiêu về tổng sản phẩm quốc nội (GDP), GDP bình quân đầu người, tỷ lệ tăng GDP
- Về kỹ thuật: những khu vực phát triển và triển vọng phát triển
- Tiêu chuẩn về quy chế thương mại và tiền tệ:
+ Biện pháp bảo hộ mậu dịch: thuế quan, các giấy phép và hạn ngạch + Tình hình tiền tệ: tỷ lệ lạm phát, sự diễn biến của tỷ giá hối đoái
- Tiêu chuẩn về thương mại:
Trang 36+ Phần của sản xuất nội địa
+ Sự hiện diện của hàng hoá Việt Nam trên các thị trường
+ Sự cạnh tranh quốc tế trên các thị trường lựa chọn
+ Những tiêu chuẩn này sau đó phải được cân nhắc, điều chỉnh tuỳ theo mức quan trọng của chúng đối với doanh nghiệp
(Trần Thị Ngọc Trang và cộng sự, 2006)
1.3.1.3 Tìm kiếm đối tác
Để có thể xuất khẩu được hàng hoá trong quá trình nghiên cứu thị trường nước ngoài các đơn vị kinh doanh phải tìm đựơc bạn hàng Lựa chọn thương nhân giao dịch cần dựa trên một số đặc điểm sau: tư cách pháp nhân, uy tín của bạn hàng trên thị trường, thời gian hoạt động kinh doanh, khả năng tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, mạng lưới phân phối tiêu thụ sản phẩm…
Trong việc lựa chọn thương nhân giao dịch tốt nhất là nên lựa chọn những đối tác trực tiếp, tránh những đối tác trung gian, trừ trường hợp doanh nghiệp muốn thâm nhập vào các thị trường mới mà mình chưa có kinh nghiệm
Được như vậy, doanh nghiệp xuất khẩu mới xuất khẩu được hàng và tránh được rủi ro trong kinh doanh quốc tế
( Theo Trần Thị Ngọc Trang và cộng sự, 2006)
1.3.2 Lập phương án kinh doanh
Trên cơ sở những kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trường nước ngoài và đánh giá đối tác, đơn vị kinh doanh lập phương án kinh doanh Phương án này là kế hoạch hoạt động của đơn vị nhằm đạt đến những mục tiêu xác định trong kinh doanh
Một phương án kinh doanh thường gồm những nội dung cơ bản sau: tình hình hàng hóa, thị trường và khách hàng, dự đoán hướng biến động của thị trường, xác định thời cơ mua bán, phương hướng thị trường và thương nhân, đặt mục tiêu (tối
đa và tối thiểu), biện pháp hành động cụ thể, sơ bộ đánh giá hiệu quả
Theo Nguyễn Thị Hường và Tạ Lợi (2009), qui trình để lập nên một phương
án kinh doanh bao gồm các bước sau:
Trang 37Bước 1: Đánh giá thị trường và khách hàng
Những số liệu nghiên cứu thị trường do tự điều tra hay thuê mua từ bên ngoài luôn được các nhà hoạch định phương án kinh doanh thẩm định theo các cách riêng của họ Nội dung được chú trọng nhất khi nghiên cứu ở bước đầu tiên là thị trường của sản phẩm hay mặt hàng kinh doanh có cơ hội thực sự hay không Thời điểm nào sẽ mở ra thị trường, dung lượng và phân đoạn thị trường như thế nào Các thị trường đó vận hành ra sao, biến động thị trường có ở mức độ hợp lý không Trên cơ
sở đó, phải đặt trọng tâm tới các khách hàng và nhóm khách hàng trong thị trường
đó Nghiên cứu khách hàng phải nêu rõ số lượng, thị hiếu tiêu dùng, hành vi và các giá trị văn hóa có liên quan
Bước 2: Lựa chọn mặt hàng, bạn hàng, thời cơ, điều kiện kinh doanh
Khi đã xác định được thị trường và khách hàng, nhà kinh doanh sẽ tiến hành lựa chọn mặt hàng cho phù hợp Thậm chí, phải cải tiến sản phẩm hoặc sử dụng sản phẩm thay thế cho phù hợp với thị trường mục tiêu Thị trường trong ngoại thương không nhất thiết tương đồng với thị trường lãnh thổ quốc gia mà có thể là thị trường khu vực hay địa phương Những nhóm khách hàng có sử dụng những sản phẩm tương đồng thường được xếp vào nhóm khách hàng mục tiêu
Nghiên cứu mặt hàng và sản phẩm cần phải nghiên cứu về tính năng, công dụng, chất lượng, chu kỳ sống và giá cả sản phẩm
Tính năng: Những sản phẩm bán ở các thị trường khác nhau sẽ có các tính năng khác nhau được tích hợp hay không tích hợp do thị hiếu của người tiêu dùng quyết định
Công dụng: Dựa vào các tính năng của sản phẩm nhưng gắn với các mục đích
sử dụng cụ thể
Chất lượng cần thiết ở mức độ phù hợp và nâng cao dần
Chu kỳ sống: Mỗi sản phẩm ở các mức chất lượng nhất định sẽ có chu kỳ sống riêng và một sản phẩm có nhiều chu kỳ sống khác nhau tại các thị trường khác nhau
Trang 38Giá cả: Thu thập thông tin qua nhiều kênh khác nhau để phân tích giá cả sản phẩm Chọn lọc và phân tích rõ xu thế giá cả quốc tế và giá bán tại các thị trường mục tiêu trong việc xuất hay nhập hàng hóa trong ngoại thương Xác định được các mức giá ở đó doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh hay hủy bỏ phương án kinh doanh Lựa chọn không lợi nhuận kinh doanh và các phương án thay thế
Từ đó, các nhà hoạch định phương án kinh doanh tập trung vào việc lựa chọn thời cơ kinh doanh và các điều kiện cần thiết để tiến hành kinh doanh sản phẩm hay mặt hàng đó Thời cơ kinh doanh được coi như là điểm đột phá khi tận dụng cơ hội kinh doanh Hơn nữa, trong phương án kinh doanh đề cập đến những điều kiện cần thiết để tiến hành kinh doanh như về nhân sự, vốn, kênh phân phối,…
Bước 3: Đặt ra mục tiêu kinh doanh
Tìm kiếm lợi nhuận trong kinh doanh thường là mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp Tuy nhiên, trong ngắn hạn nhiều phương án kinh doanh đặt ra những mục tiêu cụ thể hơn như: thị trường, giành khách hàng, cạnh tranh hay thăm dò đối thủ,….Mục tiêu kinh doanh là cái đích cho thương vụ đó hướng đến Mục tiêu của phương án kinh doanh về ngắn hạn và dài hạn có thể khác nhau nhưng về bản chất phải đảm bảo tính hiệu quả kinh tế Mục tiêu kinh doanh thông thường được thể hiện cơ bản về mặt định tính và định lượng một cách rõ ràng
Bước 4: Đề ra các biện pháp thực hiện
Với mục tiêu kinh doanh rõ ràng và phân công công tác chuẩn bị kinh doanh
cụ thể, các phương án kinh doanh sẽ đề cập một cách chi tiết hơn về các biện pháp thực hiện trong kinh doanh Từng nội dung cụ thể về vốn sẽ được hoạch định rõ cơ cấu vay vốn hay góp vốn, thiết bị cũ hay mới, nhân sự và lao động cũ hay tuyển bổ sung v.v…Những giải pháp đó được nêu ra cụ thể nhằm phục vụ cho việc tính toán các chi phí, các chỉ tiêu kinh tế một cách đầy đủ và chính xác Các biện pháp tổ chức thực hiện sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ động hơn trong cách phối hợp bố trí nhân sự và trang thiết bị trong kinh doanh bởi vì một doanh nghiệp kinh doanh ngoại thương thường thực hiện nhiều thương vụ kinh doanh khác nhau trong cùng
Trang 39một thời điểm Vì vậy, các biện pháp thực hiện đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện phương án kinh doanh ngoại thương
Bước 5: Phân tích các chỉ tiêu cơ bản trong phương án kinh doanh
Nội dung kinh tế luôn được coi là nội dung quan trọng nhất của một phương
án kinh doanh Do đó, việc phân tích các chỉ tiêu cơ bản trong kinh doanh luôn được giải trình rất kỹ Trước hết, để tính được các chỉ tiêu lợi nhuận, một phương
án kinh doanh cần xác định được hai nội dung cơ bản là tổng doanh thu và tổng chi phí Phần nội dung về doanh thu phải tính toán các chi tiết các chỉ tiêu và định lượng rõ theo một đơn vị tiền tệ thống nhất Phần doanh thu liên quan đến doanh thu trước thuế giá trị gia tăng và sau thuế giá trị gia tăng nên cần phân biệt rõ cách tính và thu thuế các loại thuế này Thông thường, phương án kinh doanh sẽ tính doanh thu trước thuế giá trị gia tăng để phân tích chỉ tiêu lợi nhuận Phần nội dung chi phí thường phức tạp hơn nên cần phải tính toán rất cẩn thận Một số khoản chi phí khó định lượng sẽ được dự tính trước nhằm đảm bảo tính đúng và tính đủ chi phí Các khoản mục chi phí phản ánh khá chặt chẽ các nghiệp vụ kinh tế kèm theo như nghiệp vụ thuê tầu, mua bảo hiểm, thuê kho,v.v…Vì vậy, bên cạnh việc tính toán các hạng mục chi phí là việc luận giải các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến khoản chi phí đó trong phương án kinh doanh Sau khi tính toán được doanh thu
và tập hợp đầy đủ chi phí, phương án kinh doanh sẽ tính chỉ tiêu lợi nhuận theo công thức sau: TP = TR-TC
Trong đó: TP là tổng lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp; TR là tổng doanh thu và TC là tổng chi phí
Ngoài ra, phương án kinh doanh còn tính được các chỉ tiêu lợi nhuận còn lại sau thuế thu nhập doanh nghiệp, chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận, tỷ suất doanh lợi, v.v…dựa trên chỉ tiêu tổng lợi nhuận
1.3.3 Đàm phán và kí hợp đồng
1.3.3.1 Đàm phán
Theo Đoàn Thị Hồng Vân Và Kim Ngọc Đạt (2011, trang 260), hai hình thức chính của đàm phán là:
Trang 40 Đàm phán bằng thư: là một trong những cách đàm phán đơn giản và dễ
Đàm phán bằng cách gặp mặt trực tiếp: người mua và người bán trực
tiếp gặp gỡ để đàm phán.Tập trung đàm phán các điều khoản (cụm điều khoản) sau: +Tên hàng, quy cách phẩm chất, số lượng, bao bì, ký mã hiệu
+ Giá cả
+ Thời hạn và địa điểm giao hàng, điều kiện giao nhận
+ Điều kiện thanh toán
+ Điều kiện bảo hành
+ Điều kiện phạt
+ Điều kiện bảo hiểm
+ Điều kiện khiếu nại, trọng tài
+ Điều kiện bất khả kháng
1.3.3.2 Ký kết hợp đồng
Đàm phán thành công, các bên sẽ tiến hành ký kết hợp đồng
Khi soạn thảo, ký kết hợp đồng cần lưu ý những điểm sau:
1 Cần thỏa thuận thống nhất với nhau tất cả những điều khoản cần thiết trước khi ký kết hợp đồng
2 Cần đề cập đến cơ sở pháp lý và mọi vấn đề liên quan, tránh phải dùng tập quán thương mại địa phương để giải quyết những tranh chấp phát sinh sau này
3 Hợp đồng không được có những điều khoản trái với luật hiện hành