CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1Khái niệm tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp 1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính ra đờ
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA TÀI CHÍNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tài liệu tham khảo được trích dẫn rõ ràng, có nguồn gốc trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế đơn vị thực tập
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Đỗ Thị Thu Hằng
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, cơ chế thị trường ngày càng phát triển cùng với sự hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại thuận lợi to lớn cho các doanh nghiệp, nhưng đồng thời cũng tạo ra không ít khó khăn thách thức cản trở sự phát triển, thậm chí đe dọa đến sự sống còn của các doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp đều phải chọn cho mình những biện pháp để khắc phục khó khăn và vượt qua thử thách Có những doanh nghiệp đã thành công và phát triển vượt bậc, tuy nhiên cũng có rất nhiều doanh nghiệp không thể vượt qua được sự khắc nghiệt của cơ chế thị trường và dẫn tới phá sản
Do đó, để tồn tại và phát triển trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp nói chung
và Công ty cổ phần Tokuma Việt Nam phải củng cố tình hình tài chính của mình bằng cách không ngừng nâng cao trình độ quản trị tài chính thông qua công tác phân tích tài chính Phân tích tài chính thành công không chỉ giúp nâng cao kỹ năng phân tích, năng lực quản trị tài chính mà còn góp phần vào việc phát triển nền kinh tế
Xuất phát từ những nhận thức đó cùng với thực tiễn quá trình thực tập tại Công ty cổ phần Tokuma Việt Nam, em quyết định chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại công ty cổ phần Tokuma Việt Nam” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp và
sự cần thiết phải nâng cao chất lượng công tác tài chính của doanh nghiệp
Phân tích và tìm hiểu thực trạng công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần Tokuma Việt Nam, từ đó tìm ra các tồn tại và nguyên nhân
Trang 5 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phân tich tài chính tại công ty cổ phần Tokuma Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là hoạt động phân tích tài chính của công ty cổ phần Tokuma Việt Nam Chuyên đề tập trung đi sâu phân tích cách thức tổ chức, phương pháp phân tích và các thông tin sử dụng trong quá trình phân tích tài chính của doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động phân tích tài chính của công ty cổ phần Tokuma Việt Nam
- Về thời gian: Giai đoạn 2012-2014
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
Phương pháp thống kê
Phương pháp so sánh
5. Kết cấu đề tài
Tên đề tài: “Nâng cao chất lượng công tác phân tích tài chính doanh
nghiệp tại công ty cổ phần Tokuma Việt Nam ”.
Ngoài lời mở đầu, phần kết thúc, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, phần nội dung của chuyên đề gồm 3 chương lớn:
Trang 6Chương 1: Lý luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại công ty
cổ phần Tokuma Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại công ty cổ phần Tokuma Việt Nam.
Trang 7CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1Khái niệm tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính ra đời gắn liền với sự ra đời của tiền tệ và sự hình thành Nhà nước nên tài chính được xem là phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Nó phát sinh trong quá trình phân phối, tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế Trong quá trình phát triển, tài chính tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau: tài chính Nhà nước, tài chính doanh nghiệp, tài chính trung gian… Các bộ phận tài chính này trong một quốc gia kết hợp lại tạo nên hệ thống tài chính quốc gia; trong đó: tài chính Nhà nước là bộ phân chủ đạo còn tài chính doanh nghiệp là bộ phân cơ sở cấu thành nên hệ thống tài chính của quốc gia đó
Vậy, tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối
để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích khoa học để đánh giá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp cho các đối tượng quan tâm nắm được thực trạng tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp, dự đoán được chính xác các chỉ tiêu tài chính trong tương lai cũng như rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải, qua đó đề ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ
Trang 81.2Chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp.
Ngày nay phân tích tài chính đã trở thành một nội dung được các nhà quản lý quan tâm và khai thác một cách triệt để nhằm phát huy tối đa tính hữu ích của công cụ này Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp và mục đích nghiên cứu
mà phân tích tài chính có những chức năng mang tính chất đặc thù khác nhau Tựu chung lại, phân tích tài chính có những chức năng cơ bản sau:
1.2.1 Đảm bảo vốn cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Có thể nói vốn là điều kiện không thể thiếu cho sự tồn tại và vận hành của bất
cứ doanh nghiệp nào Do đó, phân tích tài chính chính cần phải tính toán được nhu cầu vốn, cách thức lựa chọn và huy động vốn với những ước lượng chi phí cụ thể nhằm tối thiểu hoá chi phí mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra Đặc biệt, huy động vốn thành công còn phải kết hợp với việc sử dụng vốn hiệu quả, vì vậy phân tích tài chính còn phải vạch ra phương hướng quản lý vốn tối ưu
1.2.2 Đánh giá, giám sát nhằm đảm bảo kết quả hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả
cao
Các luồng tiền chuyển dịch giá trị, các luồng vận động của nguồn lực tài chính trong doanh nghiệp vận động như thế nào, các nhân tố tác động đến sự chu chuyển cũng như những ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào, có phù hợp với mục tiêu kinh doanh đã đề ra hay không,
có phù hợp với cơ chế chính sách hiện hành không,…là những vấn đề mà phân tích tài chính phải làm rõ Chính những kết quả được cung cấp bởi phân tích tài chính sẽ là cơ sở để các nhà quản lý nhân thức được những thành tựu cũng như hạn chế của các quan hệ tài chính, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời
để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách liên tục
Trang 91.2.3 Điều chỉnh
Sự thực là hệ thống các quan hệ tài chính của doanh nghiệp không phải luôn tồn tại dưới một hình thức truyền thống mà có thể biến hoá dưới nhiều hình thái khác nhau tại các thời điểm và các giai đoạn khác nhau của nền kinh tế Các quan hệ tài chính này sẽ ổn định nếu doanh nghiệp biết duy trì sự kết hợp giữa các nhân tố của chúng một cách hài hoà Do đó, muốn quản trị tài chính một cách hiệu quả cần phải hiểu rõ được nội dung, hình thức cũng như bản chất của các mối quan hệ tài chính phát sinh
1.2.4 Dự báo
Bên cạnh những chức năng trên, phân tích tài chính còn giúp doanh nghiệp dự báo được tình hình tài chính trong tương lai Bất kì một doanh nghiệp nào trong quá trình hoạt động đều đặt ra những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn trong tương lai, do đó, nhờ những dự báo tài chính trên, doanh nghiệp có thể điều chỉnh mục tiêu sao cho phù hợp nhất Tuy nhiên, những dự báo tài chính này không phải là những dự báo chung chung mà phải được chi tiết hoá bằng những con số để doanh nghiệp có chiến lược điều chỉnh từng khoản cụ thể.1.3 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, phân tích TCDN là mối quan tâm của nhiều nhóm người Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp
1.3.1 Đối với các nhà quản trị tài chính
Phân tích TCDN của các nhà quản trị tài chính hướng đến việc thực hiện có hiệu quả các quyết định quản trị tài chính: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ, quyết định phân chia lợi tức là cơ sở quan trọng cho các hoạch định tài
Trang 10chính trong tương lai của doanh nghiệp, dự báo và có biện pháp hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh.
Do thông tin đầy đủ và hiểu rõ về các hoạt động của doanh nghiệp nên các nhà phân tích TCDN có nhiều lợi thế để có thể phân tích tài chính tốt nhất Nhằm đạt được các mục tiêu trên, việc phân tích TCDN đối với các nhà quản trị tài chính thường được nhìn nhận một cách toàn diện, thường xuyên, gắn với từng quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó xác định rõ mặt mạnh, điểm ếu của doanh nghiệp
1.3.2 Đối với các nhà đầu tư.
Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và sự rủi ro Vì thế mà họ cần thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanh nghiệp Các nhà đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động công tác quản lý Những điều đó tạo ra sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư
1.3.3 Đối với các nhà cho vay.
Mối quan tâm của họ hướng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp Qua việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, họ đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh để từ đó có thể so sánh được và biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp
1.3.4 Đối với cơ quan nhà nước và người làm công.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước, qua việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, sẽ đánh giá được năng lực lãnh đạo của ban giám đốc, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước nữa hay không
Trang 11Bên cạnh các chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư người lao động có nhu cầu thông tin cơ bản giống họ bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ.
1.4Phương pháp chủ yếu trong phân tích tài chính doanh nghiệp.
Để tiến hành quá trình phân tích tài chính, các nhà phân tích phải sử dụng kết hợp rất nhiều phương pháp phân tích khác nhau, có thể là phương pháp so sánh, phương pháp phân tổ, phương pháp tỷ số, phương pháp Dupont, phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới kết quả kinh tế, nhưng chủ yếu các nhà phân tích sử dụng một số biện pháp cơ bản như: Phương pháp so sánh, phương pháp tỷ số và phương pháp tài chính Dupont
Đánh giá tốc độ, xu hướng phát triển của hiện tượng và kết quả kinh
tế thông qua việc so sánh giữa kết quả kỳ này với kỳ trước
Đánh giá mức độ tiên tiến hay lạc hậu của đơn vị bằng cách so sánh giữa kết quả của bộ phận với kết quả trung bình của tổng thể hoặc so sánh giữa kết quả của các đơn vị có cùng quy mô hoạt động, trong cùng lĩnh vực hoạt động
Tuy nhiên cần chú ý khi thực hiện phép so sánh, để đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn, hai số lieu đưa ra so sánh phải đảm bảo các điều kiện có thể
so sánh được:
Trang 12+ Cùng nội dung kinh tế
Phương pháp tỷ số là phương pháp sử dụng các tỷ số để phân tích và đây cũng
là một phương pháp truyền thống được áp dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp Đó là các chỉ số được thiết lập bởi chỉ tiêu này với các chỉ tiêu khác Trong phân tích TCDN, một tỷ lệ sử dụng cần gắn với một ý nghĩa kinh
tế cụ thể Muốn vậy thì các yếu tố cấu thành nên nó phải thể hiện mối quan hệ
có ý nghĩa, ví dụ như mối quan hệ giữa lợi nhuận với daonh thu tiêu thụ, giữa tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp với tổng tài sản…
Những nội dung cần tiến hành khi sử dụng phương pháp phân tích tỷ số tài chính hoàn chỉnh là: Xác định đúng công thức đo lường chỉ tiêu phân tích; Xác định đúng số liệu từ các báo cáo tài chính để lắp vào công thức tính; Giải thích ý nghĩa của tỷ số vừa tính toán; Đánh giá tỷ số vừa tính(cao, thấp hay phù hợp); Rút ra kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp; Phân tích các nhân tố ảnh hưởng; Nêu các khuyến nghị và cuối cùng là viết báo cáo phân tích
Trang 13Theo nguyên tắc, phương pháp này đòi hỏi cần xác định các ngưỡng, các tỷ số tham chiếu Để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp cần so sánh các
tỷ số của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu Như vậy, phương pháp này luôn được sử dụng với các phương pháp phân tích tài chính khác Khi phân tích, các nhà quản trị tài chính thường kết hợp
1.4.3 Phương pháp tài chính Dupont
Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) và mức sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) thành tích số của một chuỗi các tỷ số có liên quan phản ánh mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố với nhau Nhờ cách phân tích này, các nhà quản trị tài chính sẽ phân tích được ảnh hưởng của các tỷ số
đó đến tỷ số tổng hợp, sẽ nhận biết được nguyên nhân dẫn đến các biểu hiện tốt, xấu của doanh nghiệp, từ đó có thể có cái nhìn cụ thể và ra quyết định xem nên cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách nào
Phương pháp này sử dụng các công thức như:
(1)ROA = LNST/ TS = LNST/DT x DT/TS
= ROS x AUTrong đó:
+ ROA: Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản
+ ROS: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu
+ AU: Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
+ LNST: Lợi nhuận sau thuế
+ DT: Doanh thu
+ TS: Tài sản
Trang 14+ H nợ bình quân = Nợ phải trả / Tổng nguồn vốn.
Đây là phương pháp mang nét đặc trưng riêng so với các phương pháp trên bởi chính ưu điểm của nó là giúp các nhà quản trị tài chính biết được nguyên nhân chính dẫn đến sự tăng giảm của ROE và ROA
+ Phạm vi phân tích có thể là toàn đơn vị hoặc một sô đơn vị được chọn làm điểm để phân tích, tùy yêu cầu và thực tiễn quản lý mà xác định nội dung và phạm vi phân tích thích hợp
Trang 15+ Thời gian ấn định trong kế hoạch phân tích bao gồm cả thời gian chuẩn bị
và thời gian tiến hành phân tích
+ Trong kế hoạch phân tích cần phân công trách nhiệm cho các bộ phận trực tiếp thực hiện và bộ phận phục vụ công tác phân tích, cũng như các hình thức hội nghị phân tích nhằm thu thập nhiều ý kiến, đánh giá đúng thực trạng và phát hiện đầy đủ tiềm năng giúp doanh nghiệp phấn đấu đạt kết quả cao trong kinh doanh
1.5.2 Thu thập và xử lý thông tin
1.5.2.1 Thông tin tài chính
a) Thông tin phản ánh trong bản báo cáo tài chính
Các báo cáo tài chính có nhiệm vụ cung cấp cho người sử dụng những thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định kinh doanh, liên quan đến việc phân phối và sử dụng các nguồn lực của đơn vị cũng như trong việc tính toán các chỉ tiêu tài chính khác Và công việc phân tích tài chính dựa vào các báo cáo tài chính đó được gọi là xử lý các báo cáo kế toán Thông thường cơ cấu của một bảng báo cáo tài chính bao gồm bốn bảng nhỏ: Bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả kinh doanh, bảng lưu chuyển tiền tệ và cuối cùng là bảng thuyết minh báo cáo tài chính Nội dung của các bảng báo cáo này như sau:
Thứ nhất là bảng cân đối kế toán (CĐKT): Là một báo cáo tài chính mô tả
tình trạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Đây là một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan
hệ sở hữu, quan hệ kinh tế và quan hệ quản lý với doanh nghiệp bởi lẽ nó phản ánh tổng quát tình hình tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp tại thời điểm phân tích dưới hình thái tiền tệ, được xem như là một bức chụp nhanh vị thế tài chính của doanh nghiệp Việc phân tích bảng CĐKT sẽ cho cái nhìn
Trang 16tổng quát về tình hình tăng giảm, cơ cấu và hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp Bảng CĐKT của doanh nghiệp bao gồm hai phần lớn: Phần tài sản và Phần nguồn vốn
Thứ hai là bảng báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD) Khác với bảng
CĐKT, BCKQKD phản ánh kết quả hoạt động sản xuất – kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kì nhất định Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng
về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp
Nội dung của một bảng BCKQKD thường bao gồm các khoản mục chung và
cụ thể về doanh thu, chi phí và lợi nhuận Qua bảng BCKQKD nhà phân tích tài chính có thể tính toán các chỉ số lợi nhuận trên tổng doanh thu và vốn là bao nhiêu, từ đó tính được tốc độ tăng trưởng của kì này so với các kì trước
Thứ ba là bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) BCLCTT là một
trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà mỗi doanh nghiệp đều phải cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh nghiệp Bảng BCLCTT được lập và phản ánh luồng tiền vào ra, số dư tại thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ kinh doanh, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp Có thể nói, đây là bảng có giá trị
và ý nghĩa đối với tất cả các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp vì nó phản ánh khả năng quản lý dòng tiền, khả năng tạo tiền, tình hình thu chi bằng tiền và những rủi ro tiềm ẩn của doanh nghiệp Thông thường mỗi bảng BCLCTT bao gồm ba phần: lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động bất thường
Cuối cùng là bảng thuyết minh báo cáo tài chính (TMBCTC) Bảng này
được lập nhằm cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh chưa
Trang 17có trong hệ thống báo cáo tài chính, đồng thời giải thích thêm một số chỉ tiêu
mà trong các bản báo cáo tài chính chưa được trình bày nhằm giúp cho người đọc phân tích các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính có một cái nhìn cụ thể và chi tiết hơn về sự thay đổi những khoản mục trong bảng CĐKT và BCKQKD Bảng này trình bày 7 chỉ tiêu để cụ thể hóa các chỉ tiêu trong bảng CĐKT Qua bảng TMBCTC, tình hình thanh toán các khoản phải thu và phải trả là một trong những chỉ tiêu phản ánh khá sát thực chất của hoạt động tài chính Nếu phân tích tài chính lành mạnh, doanh nghiệp có thể điều chỉnh các khoản phải thu để giảm hẳn các khoản phải trả, tránh tình trạng tranh chấp, nợ kéo dài ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Sử dụng bản TMBCTC sẽ tăng tính khách quan và phù hợp của các kết quả phân tích
b) Những thông tin hỗ trợ khác
Đó là những thông tin về chiến lược, sách lược kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kì, những thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn, tình hình và khả năng thanh toán Những thông tin này được các nhà quản lý giải trình qua các nghiệp vụ hạch toán thống kê, hạch toán nghiệp vụ…
1.5.2.2 Thông tin kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp
Đây là các thông tin về tình hình kinh tế chính trị, môi trường kinh tế pháp luật, cơ hội đầu tư và cơ hội về kinh tế kỹ thuật,…có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm Sự suy thoái hay tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, đến sự biến động của giá cả các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu
ra, từ đó có tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khi các tác động diễn ra theo chiều hướng thuận lợi, hoạt động sản xuất kinh doanh của
Trang 18doanh nghiệp được mở rộng, lợi nhuận tăng lên và do đó, kết quả kinh doanh trong năm là khả quan và ngược lại Chính vì vậy, muốn kết quả phân tích đảm bảo tính khách quan, các nhà phân tích phải kết hợp các thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
1.5.3 Xác định các biển hiện đặc trưng
Trên cơ sở nguồn thông tin thu thập được, tùy thuộc vào yêu cầu và nội dung phân tích,, nhà phân tích cần tính toán các tỷ số tài chính phù hợp, lập các bảng biểu theo từng nội dung đã đặt ra, so sánh với các chỉ số kỳ trước, các chỉ số của ngành, của các doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực Trên cơ sở
đó, đánh giá khái quát điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp, vạch ra những vấn đề trọng tâm cần được tập trung phân tích
1.5.4 Phân tích
Những nội dung cơ bản, những vấn đề được coi là quan trọng, có ảnh hưởng lớn tới tình hình tài chính của doanh nghiệp hiện tại và tương lai đều phải được tập trung phân tích cụ thể nhằm làm rõ các mối quan hệ, các yếu tố bên trong thể hiện bản chất của các hoạt động bằng việc:
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng, xem xét mối liên hệ giữa các nhân tố
- Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích
- Từ góc độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố, đánh giá các nguyên nhân thành công, nguyên nhân tồn tại
1.5 5 Tổng hợp và dự đoán
- Tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét, dự báo xu hướng phát triển
- Đề xuất các giải pháp tài chính cũng như các giải pháp khác nhăm thực hiện mục tiêu
1.6 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.6.1 Phân tích bảng cân đối kế toán
Trang 191.6.1.1 Quy mô và cơ cấu của tài sản
Quy mô, cơ cấu của tài sản sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất Quy mô tài sản thể hiện khả năng trang bị cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, từ đó thể hiện năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Tài sản của doanh nghiệp gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Mỗi doanh nghiệp có một quy mô, kết cấu tài sản khác nhau, tùy thuộc vào quy mô và đặc điểm loại hình doanh nghiệp
+ Đối với tiền mặt, phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu hàng ngày của mình mà doanh nghiệp cần phải dự trữ ở một mức thích hợp để có thể thanh toán các khoản nợ, vừa dự phòng cho những khoản phát sinh bất thường Tuy nhiên việc dự trữ quá nhiều sẽ đẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp, chi phí cao còn
dự trữ quá ít có thể dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán khi có những tình huống bất ngờ xảy ra trong kinh doanh vì thế doanh nghiệp cần phải tính toán mức dự trữ thích hợp
+ Đối với các khoản phải thu, doanh nghiệp nên có kế hoạch thu hồi cho từng khách hàng cụ thể, đặc biệt trước khi định cấp tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp nên tìm hiểu thông tin, mức độ tín nhiệm của khách hàng để giảm thiểu rủi ro mất vốn của doanh nghiệp
+ Đối với hàng tồn kho rất khó để khẳng định lượng hàng tồn kho bao nhiêu
là vừa đủ đối với một doanh nghiệp vì còn phải tùy vào đặc điểm kinh doanh, chiến lược kinh doanh và tầm nhìn xa của chủ doanh nghiệp
+ Đối với TSDH, đặc biệt là TSCĐ, là tài sản có giá trị lớn, doanh nghiệp cần tính toán để trang bị những thiết bị có công suất phù hợp, có kế hoạch trích khấu hao phù hợp, khai thác và tận dụng hết công suất của thiết bị
Trang 201.6.1.2 Quy mô và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp
Trong phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, người ta thường hay xem xét sự thay đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của một doanh nghiệp trong một thời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế toán
Có thể nói, việc lập bảng nguồn vốn và sử dụng vốn là cơ sở tiến hành phân tích tình hình tăng giảm nguồn vốn, việc sử dụng vốn, chỉ ra trọng điểm đầu
tư vốn và những nguồn vốn và những nguồn chủ yếu được sử dụng để tài trợ cho nguồn vốn của doanh nghiệp Từ đó có biện pháp khai thác tốt các nguồn vốn và nâng cao sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.6.2 Phân tích bảng báo cáo kết quả kinh doanh
Trang 21Nếu doanh nghiệp có doanh thu lớn, tốc độ tăng trưởng theo từng năm là dương và ổn định thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được cho là tốt và ngược lại.
1.6.2.2 Lợi nhuận
Lợi nhuận là kết quả cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí Do đó, bên cạnh việc xem xét doanh thu thì việc quản lý chi phí của doanh nghiệp cũng rất quan trọng bởi đó là một trong những yếu tố quyết định lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu công ty biết chú trọng vào những khoản chi phí quan trọng và cắt giảm những khoản chi phí không cần thiết thì khoản lợi nhuận nhận được sẽ nhiều hơn
Lợi nhuận cao chứng tỏ doanh nghiệp đã tạo ra được doanh thu lớn cùng với việc quản lý tốt các khoản chi phí Đó là cơ sở để tạo ra khoản lợi nhuận để lại cao, bổ sung đáng kể vào nguồn VCSH tạo nền tảng vững chắc cho công
ty phát triển lâu dài và tăng khả năng chống đỡ trước những rủi ro thị trường Ngược lại lợi nhuận thấp sẽ làm tăng rủi ro tài chính của doanh nghiệp và tăng sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào các chủ nợ
1.6.3 Phân tích các tỷ số tài chính
Trong phân tích tài chính, phương pháp phân tích tỷ số tài chính thường được phân thành bốn nhóm chính: Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán, nhóm tỷ số
về khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn, nhóm tỷ số về khả năng hoạt động
và nhóm tỷ số về khả năng sinh lãi Hầu hết, các nhà phân tích tài chính thường quan tâm đến sự lành mạnh của tình hình tài chính doanh nghiệp, khả
Trang 22năng chi trả các khoản nợ đến hạn hay không Nhưng tùy vào mục tiêu phân tích và ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp mà các nhà phân tích sẽ đi sâu vào các nhóm tỷ số khác nhau
1.6.3.1 Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là năng lực về tài chính doanh nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ trong niên hạn của doanh nghiệp Các khoản nợ của doanh nghiệp có thể là các khoản vay ngân hàng, phải trả người bán, người mua trả tiền trước, các khoản thuế chưa nộp ngân sách nha nước, các khoản lương chưa trả cán bộ nhân viên,
Khả năng thanh toán được đo lường thông qua các chỉ tiêu sau:
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Nếu hệ số khả năng thanh toán nhanh nhỏ hơn nhiều so với hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cho thấy tỷ trọng hàng tồn kho trong tài sản ngắn hạn rất lớn, tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn là tương đối thấp
Nhiều trường hợp, tuy doanh nghiệp có hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và hệ số khả năng thanh toán nhanh cao nhưng vẫn không có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn do các khoản phải thu chưa thu hồi được, hàng tồn kho chưa chuyển hóa được thành tiền Bởi vậy muốn biết khả năng thanh toán ngay cần sử dụng chỉ tiêu sau:
Hệ số khả năng thanh toán ngay
Hệ số khả năng thanh toán ngay =
Trang 23Thông thường, các hệ số trên cao cho thấy khả năng thanh toán của doanh nghiệp tương đối tốt nhưng cũng thể hiện doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào các tài sản ngắn hạn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn Vậy các hệ số này nên ở mức nào thì phù hợp và đảm bảo an toàn nhất Nhìn chung, hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn nên ở mức bằng 2, hế số khả năng thanh toán nhanh nên ở mức bằng 1 và hệ số khả năng thanh toán ngay ở mức 0.5 là hợp lý Tuy nhiên trong thực tế hệ số này cao hay thấp còn tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất ngành nghề kinh doanh, cơ cấu và chất lượng của tài sản ngắn hạn, vòng quay của các loại tài sản ngắn hạn trong mỗi loại hình doanh nghiệp Do vậy,cách để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp đúng đắn nhất là so sánh với hệ số trung bình của ngành để đưa ra những nhận xét khách quan và chính xác.
1.6.3.2 Nhóm tỷ số về năng lực hoạt động của tài sản
Vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền trung bình
Vòng quay các khoản phải thu =
Vòng quay khoản phải thu đo lường mức độ đầu tư vào các khoản phải thu để duy trì mức doanh số bán hàng cần thiết cho doanh nghiệp, qua đó đánh giá hiệu quả của một chính sách tín dụng của doanh nghiệp Thông thường, vòng quay các khoản phải thu cao thể hiện doanh nghiệp đang quản lý các khoản phải thu hiệu quả, vốn đầu tư cho các khoản phải thu ít hơn
Một chỉ tiêu ngược với vòng quay khoản phải thu là kỳ thu tiền trung bình Chỉ số này được tính như sau:
Kỳ thu tiền trung bình =
Kỳ thu tiền trung bình cho biết khoảng thời gian trung bình từ khi doanh nghiệp xuất hàng đến khi doanh nghiệp thu tiền về Chỉ tiêu này càng nhỏ thì tốc độ thu hồi các khoản phải thu của doanh nghiệp càng nhanh
Trang 24 Vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho =
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho =
Các hệ số này được sử dụng để đánh giá hiệu quả quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp Nếu vòng quay hàng tồn kho kỳ này giảm so với kỳ trước cho thấy thời gian hàng tồn kho còn tồn lại trong kho dài hơn, hay hàng tồn kho luân chuyển chậm, vốn ứ đọng nhiều hơn kéo theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp tăng Tuy nhiên, trong một số trường hợp, vòng quay hàng tồn kho giảm là kết quả của việc tăng dự trữ hàng tồn kho do nhu cầu mùa vụ hay xu hướng giá tăng Do đó, để đánh giá đúng bản chất của chỉ tiêu này, cần xem xét đến tác động của các nhân tố giá vốn hàng bán và hàng tồn kho
Hệ số năng lực hoạt động của tài sản dài hạn
+ Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
Chỉ tiêu này nói lên cứ một đồng tài sản cố định đưa vào hoạt động sản xuất trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần cho doanh nghiệp Hệ số này càng cao chứng tỏ khả năng quản trị TSCĐ của doanh nghiệp tốt một doanh nghiệp có hiệu suất sử dụng TSCĐ thấp hoặc giảm so với năm trước thường được đánh giá là công tác quản lý TCSĐ chưa tốt Tuy nhiên mức độ
và xu hướng của hệ số này chịu ảnh hưởng của những nhân tố đặc trưng như: vòng đời của doanh nghiệp, chu kỳ sống của sản phẩm, mức độ hiện đại hay lạc hậu của công nghệ, phương pháp khấu hao TSCĐ… Bởi vậy khi phân tích cần xem xét một cách thận trọng những nhân tố tác động đó
+ Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Trang 25Chỉ tiêu này đo lường tổng quát về năng lực hoạt động của toàn bộ tài sản trong doanh nghiệp, thể hiện qua mối quan hệ giữa tổng doanh thu và thu nhập khác trong doanh nghiệp với tổng tài sản hiện có của doanh nghiệp
Hệ số này càng cao thường được đánh giá hiệu quả HĐKD càng lớn, có nghĩa
là cần ít tài sản hơn để duy trì mức độ của hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp đề ra Hơn nữa, mặc dù những hệ số này không đánh giá trực tiếp khả năng sinh lời hay khả năng thanh khoản nhưng nó là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ số phản ánh tình hình kinh doanh và năng lực tài chính của doanh nghiệp
1.6.3.3 Nhóm tỷ số về khả năng sinh lời
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu (ROS)
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu thể hiện cứ một trăm đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ có bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này được xác định như sau:
ROS = x 100%
Thông thường, doanh nghiệp có chỉ tiêu lợi nhuận doanh thu cao thể hiện doanh nghiệp quản lý tốt chi phí trong hoạt động kinh doanh và ngược lại
Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản phản ánh cứ một trăm đồng tài sản hiện có trong doanh nghiệp mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này được xác định theo công thức:
ROA =
Tỷ số ROA càng cao càng tốt vì công ty kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng tài sản đầu tư có hạn ROA của các doanh nghiệp khác nhau thì khác nhau phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành nghề kinh doanh Do đó để đánh
Trang 26giá chính xác phải so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành trong cùng thời
kỳ và so sánh với trung bình ngành
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu phản ánh cứ một trăm đồng VCSH đem đầu
tư mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận ROE được xác định như sau:
ROE =
Các tỷ suất trên phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên phương diện hiệu quả sử dụng vốn Các tỷ số này cao hay thấp chứng tỏ năng lực quản lý và sử dụng các nguồn tài chính của doanh nghiệp cao hay thấp
Từ đó có thể đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp
1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính vốn đã phức tạp lại chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, bao gồm cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan Những nhân tố đó là: Quy trình phân tích, phương pháp phân tích, thông tin sử dụng cho quá trình phân tích, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người phân tích và cả tính chính xác của hệ thống trung bình ngành Cụ thể như sau:
1.7.1 Nhân tố chủ quan
1.7.1.1 Quy trình tổ chức phân tích
Đây là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả phân tích tài chính của doanh nghiệp bởi lẽ nếu không xây dựng được một kế hoạch phân tích khoa học và trình tự sắp xếp các công việc không hợp lý sẽ dẫn đến vướng mắc khi tiến hành phân tích và chậm tiến độ hoàn thành công việc Bất cứ một quy trình phân tích tài chính nào đều có ba giai đoạn, phải tiến hành đầy đủ và chu đáo từ khâu đầu tiên sẽ giúp cho doanh nghiệp có những kết quả chính xác hơn Đặc biệt, ngày nay việc sử dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại phục vụ cho
Trang 27công việc phân tích tài chính đã cho kết quả phân tích rất khả quan mà lại tiết kiệm được chi phí Mặc dù vậy, nhà quản trị tài chính phải có trách nhiệm phân chia công việc cụ thể trong nhóm phân tích để mỗi cá nhân chuyên trách một phần khác nhau, đảm bảo hoàn thành quá trình phân tích đúng thời hạn
1.7.1.2 Phương pháp phân tích
Phân tích tài chính có rất nhiều phương pháp có thể sử dụng nhưng chọn lựa phương pháp nào thì các nhà quản lý tài chính phải tính toán kỹ lưỡng sao cho phương pháp sử dụng là thích hợp nhất Nếu như chỉ dùng một phương pháp phân tích thì kết quả phân tích không khách quan, do đó cần phải sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích và đặc biệt là không được bỏ sót phương pháp tài chính Dupont Tuy nhiên cũng phải biết giới hạn số lượng phương pháp áp dụng trong phân tích, không nên sử dụng quá nhiều phương pháp mà phải căn
cứ vào mục tiêu phân tích để tìm ra những phương pháp phù hợp
1.7.1.3 Thông tin sử dụng trong phân tích
Đây là yếu tố rất quan trọng vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng kết quả phân tích Một khi thông tin sử dụng không chính xác thì những kết quả phân tích cũng chỉ là những kết quả không có thực và nó không phản ánh một cách trung thực tình hình tài chính của doanh nghiệp Những nguồn thông tin bên trong doanh nghiệp cần phải đảm bảo luôn luôn đúng, còn những thông tin bên ngoài doanh nghiệp về ngành nghề, chu kì kinh tế có thể lấy những giá trị gần chính xác vì đó là những nguồn thông tin không dễ xác minh được
1.7.1.4 Trình độ chuyên môn của người phân tích
Từ các nguồn thông tin khác nhau, các cán bộ phân tích thu thập tài liệu và tổng hợp lên các bảng, biểu và dùng khả năng chuyên môn của mình để phân
Trang 28tích, biến những con số trở nên “biết nói” Không chỉ thế, từ tình hình tài chính của doanh nghiệp, các cán bộ phân tích còn phải vạch ra những điểm mạnh, yếu của doanh nghiệp để có định hướng khắc phục và cải thiện Do tính chất phức tạp và khó khăn của công tác phân tích tài chính mà đòi hỏi các cán bộ phân tích phải có trình độ chuyên môn cao.
1.7.2 Nhân tố khách quan
Phân tích tài chính sẽ trở nên đầy đủ và có ý nghĩa hơn nếu sự tồn tại của hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành Bởi lẽ, đây là cơ sở tham chiếu rất quan trọng khi phân tích Khi so sánh các chỉ tiêu tài chính với các chỉ tiêu tương ứng của trung bình ngành sẽ cho người phân tích những kết luận tốt, xấu về doanh nghiệp Cụ thể hơn, từ việc so sánh này mà các nhà quản trị tài chính biết được vị thế tài chính của doanh nghiệp mình trong ngành kinh doanh, từ đó
có biện pháp nâng cao vị thế của mình, sẵn sàng vượt qua những đối thủ cạnh tranh khác
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TOKUMA VIỆT NAM.
2.1Tổng quát về công ty
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công Ty Cổ Tokuma Việt Nam được thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0104628328 ngày 14 tháng 05 năm 2010 do Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư TP Hà Nội cấp Vốn điều lệ công ty Cổ phần Tokuma Việt Nam theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: 1.950.000.000 đ (một tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng chẵn)
Trang 29- Tên tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN TOKUMA VIỆT NAM
- Tên tiếng Anh: VIET NAM TOKUMA JOINT STOCK COMPANY
- Trụ sở chính: Số 2/28- Ngõ 185- Phố Minh Khai- Phường Minh Khai- Quận Hai Bà Trưng- Hà Nội
- Trụ sở giao dịch: Số 91- Đường 40m- Khu tái định cư Long Biên- Phường Long Biên- Quận Long Biên- Hà Nội
Các mặt hàng kinh doanh chính của công ty bao gồm:
Mặt hàng nhôm thanh, nhôm tấm xây dựng
Trang 30 Mặt hàng kính xây dựng & kính nghệ thuật
Mặt hàng trần các loại
Mặt hàng Tấm lợp Polycacbonate
Mặt hàng tấm phức hợp nhôm nhựa
Mặt hàng cửa thép an toàn & cửa thép chống cháy
2.1.3 Tổ chức hoạt động của công ty
Công ty CP Tokuma Việt Nam được tổ chức và điều hành theo mô hình công ty
Cổ phần Cơ cấu tổ chức của Công ty được xây dựng như sau:
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức công ty CP Tokuma Việt Nam
Phòng hành
Đội thi công
Trang 312.2 Thực trạng công tác phân tích TCDN của công ty
2.2.1 Tổ chức công tác phân tích
Về tổ chức phân công phân tích, từ khi thành lập đến nay, công việc phân tích tài chính do cán bộ trực thuộc phòng Tài chính- Kế toán của doanh nghiệp đảm nhận, đi kèm với sự hỗ trợ, kiểm tra giám sát của Giám đốc điều hành Việc trực tiếp tiến hành phân tích, kiểm tra công tác phân tích TCDN đưa lên từ phòng Tài chính- kế toán sẽ giúp Giám đốc điều hành nắm giữ rất nhiều thông tin về tình hình sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho việc hoạch định những chính sách sát với thực trạng tài chính của công ty mình và hoàn toàn có đủ cơ sở giải quyết những vướng mắc trong các cuộc họp ban lãnh đạo công ty
Tuy nhiên, do tính phức tạp của quy trình phân tích tài chính và trách nhiệm của Giám đốc điều hành là tương đối nặng nề nên việc giao cho Giám đốc điều hành kiêm nhiệm công việc này sẽ làm tăng áp lực công việc cần phải giải quyết Hơn nữa, do Giám đốc không được đào tạo chuyên nghiệp trong phân tích nên chất lượng công tác phân tích cũng sẽ không đảm bảo lúc nào cũng cho kết quả đúng và hiệu quả Cán bộ phân tích tuy được đào tạo và rèn luyện chính quy về tài chính doanh nghiệp mà cụ thể là phân tích tài chính nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm, đồng thời không có những nghị quyết rõ ràng của cấp trên hướng dẫn thực hiện, do đó kết quả phân tích sẽ không phản ánh đầy đủ tình hình tài chính của doanh nghiệp mà chỉ nói lên những mặt cơ bản về thực trạng tài chính
Cũng giống như hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ khác, công tác phân tích tài chính của công ty chưa được quan tâm một cách thích đáng
Trang 32Công ty chưa chú tâm vào việc xây dựng một quy trình phân tích đầy đủ các bước cần thiết, chưa áp dụng các phương pháp phân tích hiệu quả nhưng phức tạp như phương pháp Dupont, mà chỉ dừng lại ở việc xác định những thông tin cần phân tích chủ yếu trong các bản báo cáo tài chính hàng năm, sử dụng một số phương pháp phân tích truyền thống và đưa ra kết quả.
Về thời gian phân tích, việc phân tích chỉ được tiến hành đầu mỗi năm khi
có báo cáo tài chính của năm cũ
Như vậy, việc xác định quy trình phân tích cụ thể ngay từ đầu là một công việc rất quan trọng và nó có tác động trực tiếp đến kết quả phân tích Nếu quá trình phân tích quá giản đơn sẽ không đưa ra những nhận xét mang tính toàn diện và không vạch ra được những vướng mắc rất nhỏ mà có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt đông kinh doanh của doanh nghiệp Hơn nữa, việc không lên
kế hoạch phân tích cụ thể và chi tiết sẽ gây khó khăn cho việc phân bổ thời gian nghiên cứu, không thể linh hoạt, nhất là khi số lượng công việc của Giám đốc điều hành quá nhiều
2.2.2 Thông tin sử dụng trong phân tích
Các thông tin trên các báo cáo tài chính hàng năm là nguồn thông tin cơ bản
và chủ chốt để công ty tiến hành phân tích tình hình tài chính, chủ yếu là các thông tin trên bảng CĐKT, bảng BCKQKD, bảng TMBCTC Các thông tin trên bảng LCTT không được sử dụng, do đó những ý nghĩa của việc nghiên cứu bảng LCTT không được lĩnh hội Công việc quản lý tiền mặt là một công việc rất khó khăn và rất quan trọng nên việc bỏ qua phân tích bảng LCTT là một sơ suất của Ban lãnh đạo công ty
Những nguồn tài liệu khác công ty cũng sử dụng nhưng chỉ mang tính chất tham khảo, chứ không trực tiếp đưa vào quá trình phân tích Do đó, kết quả phân tích không phản ánh mọi mặt của tình hình tài chính Mặt khác, các
Trang 33thông tin cán bộ phân tích sử dụng được cung cấp trực tiếp bởi các Kế toán viên cung cấp từ phòng Kế toán tài chính, không qua một bộ phận trung gian nào kiểm tra, do đó, không khỏi tránh khỏi những thiếu sót trong nguồn thông tin cán bộ phân tích sử dụng.
Sau đây là hai bảng thông tin mà công ty chủ yếu sử dụng trong phân tích:
Bảng 2.1 Bảng báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2012-2014
Đơn vị: Đồng Việt Nam
13.Chi phí thuế thu nhập
-14 Lợi nhuận sau thuế thu
nhập doanh nghiệp (207.269.473) (29.596.921) (308.436.340)
Nguồn: Công ty cổ phần Tokuma Việt Nam
Trang 34Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán của các năm 2012 đến 2014
Đơn vị: Đồng Việt Nam
-3. Giao dịch mua bán lại trái
-4. Tài sản ngắn hạn khác 44.350.102 44.174.984 42.113.001
B. Tài sản dài hạn 283.781.621 249.825.870 169.285.496
I. Tài sản cố định 225.681.437 138.011.362 56.249.999
Trang 351. Nguyên giá 702.902.318 702.902.318 702.902.318
2. Giá trị hao mòn lũy kế (477.220.881) 564.890.956) (646.652.319)
3. Chi phí xây dựng cơ bản
-4. Thuế và các khoản phải trả