1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)

213 750 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 15,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển tại các đô thị lớn như thành phố Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây có thể dễ dàng nhận thấy qua sự mở rộng của ranh giới hành chính được, tốc độ gia tăn

Trang 1

TRƯƠNG TRUNG KIÊN

SỰ THAM GIA CỦA THIẾT KẾ ĐÔ THỊ TRONG QUY TRÌNH QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ

TẠI VIỆT NAM (LẤY TP HỒ CHÍ MINH LÀM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KIẾN TRÚC

TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2010

Trang 2

TRƯƠNG TRUNG KIÊN

SỰ THAM GIA CỦA THIẾT KẾ ĐÔ THỊ TRONG QUY TRÌNH QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ

TẠI VIỆT NAM (LẤY TP HỒ CHÍ MINH LÀM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU)

Chuyên ngành : Quy hoạch đô thị và nông thôn

Mã số : 62.58.05.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KIẾN TRÚC

Người hướng dẫn khoa học :

PGS.TS KTS.NGUYỄN TRỌNG HÒA

TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2010

Trang 3

dịch vụ NXB : Nhà xuất bản

TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

TKĐT : Thiết kế đô thị

QH : Quy hoạch

QHCTXDĐT: Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị

QCQLKTĐT: Quy chế quản lý kiến trúc đô thị

XD : Xây Dựng

MB : Mặt bằng

GIS : Geographic Information System - Hệ thống thông

tin địa lý BRT : Bus Rapid Transit -Hệ thống xe bus nhanh

LRT : Light Rail Transit - Đường sắt nhẹ (mặt đất)

Trang 4

trúc

Sd 3.2 Sự tham gia của TKĐT trong hệ thống pháp lý hiện hành và theo đề xuất của luận án

Trang 5

H 1-2 Paris tree-lined boulervard

H 1-3 Phác thảo của Camilo Sitte TP Verona Piazza Erbe

H 1-4 Phác thảo của Camilo Sitte TP Vicenza Piazza del Sigrony

H 1-5 Phác thảo của Camilo Sitte TP Venice (I) Piazza San Marco, (II)

Piazzetta

H 1-6 Phác thảo của Th Hoftman TP Rome Khu vực lân cận St Peter

H 1-7 Kích thước các quản trường Phục hưng

H 1-8 Thành phố vườn của Howard - Nguyên tắc phát triển

H 1-9 Thành phố vườn của Howard - Cấu trúc và quy mô

H 1-10 Thành phố vườn thế kỷ 21- Cấu trúc và thành phần cơ bản

H 1-11 Thành phố công nghiệp của Tony Garnier - Trường tiểu học

H 1-12 Thành phố công nghiệp của Tony Garnier - Trường tiểu học

H 1-13 Thành phố công nghiệp của Tony Garnier - Khu ở

H 1-14 Thành phố công nghiệp của Tony Garnie

H 1-15 Đơn vị ở láng giềng của Clarence Perry

H 1-16 Phương án quy hoạch của Le Corbusier - Thành phố hiện đại

H 1-17 Phương án quy hoạch của Le Corbusier - đường phố với khoảng lùi

H 1-18 Đặc trưng TP Mỹ, sự đa dạng trong lưới ô vuông, trung tâm Savana

H 1-19 Đặc trưng TP Mỹ, việc bổ sung các yếu tố như đường sắt làm thay

đổi lưới ô vuông, thành phố Milwaukee

H 1-20 Đặc trưng TP Mỹ, sự biến dạng của lưới ô vuông tạo không gian đô

thị bớt đơn điệu - Wiscosin Avenue - thành phố Milwaukee

H 1-21 Đặc trưng TP châu Âu, với quảng trường trục chính và hẻm phố

H 1-22 Đặc trưng TP châu Âu, TP Guocester, Anh lưới đường vuông góc

Roman cổ xưa đã bị mềm hóa

H 1-23 Dự án La Defence, Paris

H 1-24 Dự án La Defence, Paris

Trang 6

H 1-27 MB điều chỉnh QH chung TP HCM đến năm 2020

H 1-28 Hệ thống hạ tầng bị quá tải, xuống cấp

H 1-29 MB giao thông TP HCM đến năm 2020

H 1-30 MB tổng thể - Khu ĐT Nam Sài Gòn

H 1-31 Đại lộ Nguyễn Văn Linh - Khu ĐT Nam Sài Gòn

H 1-32 MB tổng thể - Khu ĐT Phú Mỹ Hưng - Nam Sài Gòn

H 1-33 Khu nhà ở Sky Garden - Khu ĐT Phú Mỹ Hưng - Nam Sài Gòn

H 1-34 Hiện trạng bán đảo Thủ Thiêm năm 2010

H 1-35 MB tổng thể trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm

H 1-36 Công trình dọc trục đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Nguyễn Văn Trỗi

H 1-37 Công trình dọc trục đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Nguyễn Văn Trỗi

H 1-38 TKĐT trục đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Nguyễn Văn Trỗi

H 1-39 Cách nhìn truyền thống (a) và cách nhìn hiện nay (b) của lĩnh vực

TKĐT trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác của John Lang

H 2-1 MB tổng thể khu trung tâm San Diego

H 2-2 Tòan cảnh khu trung tâm San Diego

H 2-3 Phân vùng đặc trưng khu trung tâm San Diego

H 2-4 Dự án đô thị khu trung tâm San Diego Sân vận động Petco - Trung

tâm Hội Nghị

H 2-5 Chương trình cây nghệ thuật dọc cảng San Diego

H 2-6 Mô hình hướng dẫn TKĐT khu đô thị mới Thủ Thiêm

H 2-7 Quá trình thi tuyển “Ý tưởng TKĐT khu trung tâm hiện hữu thành

Trang 7

H 4-2 Khu bờ Tây sông SG Tạo không gian mở - Kết nối bờ sông

H 4-3 Khu bờ Tây sông SG Bổ sung không gian công cộng

H 4-4 Khu bờ Tây sông SG tạo lập mạng lưới giao thông khu vực

H 4-5 Khu bờ Tây sông SG Định hướng phát triển không gian

H 4-6 Khu bờ Tây sông SG Bảo tồn các công trình có giá trị

H 4-7 Khu bờ Tây sông SG Phân khu (5 khu)

H 4-8 Tân Cảng Đánh giá hiện trạng

H 4-9 Tân Cảng Giải pháp tổ chức không gian

H 4-10 Nam Thị Nghè Đánh giá hiện trạng

H 4-11 Nam Thị Nghè Giải pháp tổ chức không gian

H 4-12 Ba Son Đánh giá hiện trạng

H 4-13 Ba Son Giải pháp tổ chức không gian

H 4-14 Công viên Bến Bạch Đằng Đánh giá hiện trạng

H 4-15 Công viên Bến Bạch Đằng Giải pháp tổ chức không gian

H 4-16 Cảng Q4 Đánh giá hiện trạng

H 4-17: Hình ảnh hiện trạng ô phố

H 4-18: Phân nhóm các công trình

H 4-19: Áp dụng quy định đối với dạng nhà liên kế

H 4-20: Áp dụng quy định đối với công trình bảo tồn

H 4-21: Áp dụng quy định đối với các khu đất có diện tích lớn

H 4-22: Điều chỉnh chiều cao các công trình

Trang 8

B 1.2: Bảng tổng hợp các văn bản dưới Luật XD và các nội dung quy định về TKĐT tại các văn bản này

B 1.3: Bảng tổng hợp các văn bản dưới Luật QH và các nội dung quy định về TKĐT tại các văn bản này

B 2.1: Bảng tổng hợp kết quả khảo sát ý kiến chuyên gia về TKĐT

B 3.1: Bảng so sánh sự tham gia của TKĐT trong hệ thống QH tại Việt Nam theo luật QH và theo đề xuất của luận án

B 3.2: Bảng tổng hợp các thành phần hồ sơ TKĐT - đồ án TKĐT tổng thể

B 3.3: Bảng tổng hợp các thành phần hồ sơ TKĐT - đồ án TKĐT chi tiết

Trang 9

- Tham gia đề tài NCKH trọng điểm của Bộ Xây Dựng do PGS.TS.KTS Nguyễn Trọng Hòa chủ trì: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp Quy hoạch, xây dựng và nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống giao thông đô thị Khắc phục sự ùn tắc giao thông tại thành phố

Hồ Chí Minh”

- Tham gia đề tài NCKH cấp Sở do Ths.KTS.Nguyễn Thị Thanh Hằng chủ trì: “Định hướng quy hoạch chỉnh trang các khu nhà ở liên kế thấp tầng xây dựng theo dự án trước năm 1975 tại TP.HCM trong giai đoạn phát triển đô thị đến năm 2020”

- Đồng chủ trì đề tài NCKH cấp Bộ: “Nghiên cứu xây dựng khung quy định - quy chế quản lý kiến trúc - cảnh quan đô thị tại TP.HCM”

* Các nghiên cứu khác về thiết kế đô thị :

- Tham gia soạn thảo Quy định quản lý kiến trúc nhà liên kế tại khu trung tâm hiện hữu tại TP.HCM

- Tham gia soạn thảo Quy định quản lý kiến trúc nhà biệt thự và biệt thự biến đổi tại TP.HCM

- Tham gia soạn thảo Quy chế quản lý kiến trúc 4 ô phố trước dinh Thống Nhất – TP HCM

Trang 10

LỜI CAM ĐOAN:

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Trương Trung Kiên

i

Trang 11

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 8

1.1 TKĐT trong quá trình lịch sử xây dựng đô thị và bối cảnh xây dựng phát triển đô thị từ cuối thế kỷ XVIII - tiền đề về mặt lý luận của TKĐT hiện đại 8

1.1.1 TKĐT trong quá trình lịch sử xây dựng đô thị 8

1.1.2 Sự chuyển biến của các đô thị Âu Mỹ từ cuối thế kỷ XVIII và các vấn đề của đô thị trong quá trình hiện đại hóa 9

1.1.3 Các vấn đề QHĐT phải đối mặt trong quá trình hiện đại hóa của các đô thị - tiền đề hình thành các lý luận TKĐT hiện đại 14

1.2 Các khái niệm về TKĐT 19

1.3 Quy trình TKĐT 26

1.3.1 Hướng tiếp cận 27

1.3.2 Quy trình thiết kế 30

1.3.2.1 Quy trình chủ quan 30

1.3.2.2 Quy trình khái quát 32

1.3.2.3 Quy trình tiến triển 33

1.3.2.4 Quy trình đứt đoạn 33

1.3.2.5 Quy trình đa nguyên 33

1.3.2.6 Quy trình lý trí 34

1.4 Sự tham gia TKĐT vào hệ thống QH tại một số khu vực trên thế giới 34

1.4.1.TKĐT ở Mỹ 35

1.4.2.TKĐT ở Châu Âu 38

1.4.3.TKĐT ở Châu Á 43

1.5 Sự tham gia của TKĐT trong hệ thống QH tại Việt Nam (từ năm 2003-2010) 47

1.5.1 Hệ thống các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị tại Việt Nam 47 1.5.2 Tổng hợp nội dung và hồ sơ TKĐT trong hệ thống QHXDĐT

ii

Trang 12

1.5.2.3 Theo Thông tư 15/2005/TT-BXD 50

1.5.2.4 Theo Quyết định 04/2008/QĐ-BXD 50

1.5.3 Tổng hợp nội dung và hồ sơ TKĐT trong hệ thống QH theo luật QH 53

1.5.3.1 Luật QH đô thị 30/2009/QH12 53

1.5.3.2 Nghị định 37/2010/NĐ-CP 55

1.5.3.1 Nghị định 38/2010/NĐ-CP 55

1.5.3.1 Thông tư 10/2010/TT-BXD 55

1.6 Sự tham gia của TKĐT trong hoạt động QHĐT tại TP HCM 57

1.6.1 Quá trình phát triển đô thị của TP.HCM 57

1.6.1.1 Giai đoạn trước năm 1975 57

1.6.1.2 Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1985 57

1.6.1.3 Giai đoạn từ năm 1986 đến nay 57

1.6.2 Một số đồ án thực tế có nội dung TKĐT đã thực hiện tại TPHCM 62

1.7 Tổng quan đề tài 65

1.7.1 Các nghiên cứu về TKĐT ở nước ngoài 65

1.7.2 Các nghiên cứu trong nước 73

1.8 Tổng hợp và xác định mục tiêu nghiên cứu 75

CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 82

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 82

2.2 Các phương pháp sử dụng 83

2.4 Nội dung và trình tự nghiên cứu 84

2.3.1 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu thực hiện cho bước 1 85

2.3.2 Nội dung nghiên cứu và kết quả bước 2 98

2.3.3 Nội dung nghiên cứu và kết quả bước 3 104

iii

Trang 13

2.3.7 Bàn luận và kiểm chứng 108

CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 109

3.1 Đề xuất quy trình TKĐT trong hệ thống QH hiện nay và các điều chỉnh trong nội dung hướng dẫn về TKĐT trong các văn bản pháp lý hiện hành 109

3.1.1 Về quy trình thực hiện 109

3.1.2 Đề xuất các nội dung bổ sung vào các văn bản pháp lý quy định về TKĐT trong hệ thống văn bản pháp lý hiện hành 115

3.1.2.1 Đối với đồ án QH chung 119

3.1.2.2 Đối với đồ án QH phân khu 120

3.1.2.3 Đối với đồ án QH chi tiết 120

3.1.2.4 Đồ án TKĐT riêng 120

3.1.2.5 Đối với QCQLKTĐT 120

3.2 Hồ sơ thể hiện và sản phẩm TKĐT 116

3.2.1 Thành phần hồ sơ của đồ án TKĐT 109

3.2.2 Sản phẩm TKĐT 111

3.2.2 Lựa chọn sản phẩm TKĐT phù hợp theo điều kiện đồ án 112

3.2.4 Xây dựng sản phẩm trong điều kiện đặc thù cho TP.HCM 120

CHƯƠNG 4 : BÀN LUẬN 126

4.1 Xem xét sự tham gia của TKĐT trong quy trình QH thông qua việc thực hiện đồ án QH chung TP và đồ án QHCT 1/2000 (QHPK) khu trung tâm TP mở rộng tại TP HCM 126

4.2 Thành phần hồ sơ TKĐT - Áp dụng cho đồ án triển khai TKĐT khu Bờ tây sông Sài Gòn 134

4.3 Xây dựng hướng dẫn thiết kế cho khu vực thông qua các quy định quản lý kiến trúc - Áp dụng cho ô phố Đại lộ Đông Tây, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phó Đức Chính, Nguyễn Công Trứ 143

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 145

iv

Trang 14

v

2 Kiến Nghị 149

2.1 Điều chỉnh các văn bản dưới luật liên quan đến TKĐT 149

2.2 Pháp lý hóa các công cụ và sản phẩm TKĐT 149

2.3 Xây dựng đơn giá thực hiện các sản phẩm TKĐT 149

2.4 Thực hiện TKĐT một cách có ưu tiên, áp dụng các sản phẩm phù hợp 149

3 Các nội dung đề xuất nghiên cứu bổ sung 150

Trang 15

PHẦN MỞ ĐẦU

Cùng với những bước tiến vượt bậc của cả nước với nền kinh tế trong giai đoạn hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng XHCN và tiến trình hội nhập quốc tế, các đô thị Việt Nam cũng đang trong giai đoạn phát triển hết sức nhanh chóng và mạnh mẽ Sự phát triển tại các đô thị lớn như thành phố

Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây có thể dễ dàng nhận thấy qua sự mở rộng của ranh giới hành chính được, tốc độ gia tăng nhanh chóng của dân sốvà số lượng, quy mô các công trình xây dựng

Đứng trước tình hình đó, công tác QH đô thị tạiViệt Nam đang phải đối mặt giải quyết các vấn đề đa dạng, phức tạp hơn nhiều so với thời kỳ bao cấp trước đây Tại TP HCM, công tác QH gặp phải rất nhiều khó khăn cũng như chưa đáp ứng được hết các yêu cầu của hoạt động xây dựng phát triển đô thị Bên cạnh những thành tựu có thể dễ dàng nhìn thấy được, vẫn còn tồn tại rất nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết Một trong các vấn đề đó là bộ mặt đô thị, mặc dù có nhiều công trình mới được xây dựng nhưng việc hình thành được các không gian đô thị đẹp, đồng bộ vẫn còn hạn chế, các không gian công cộng phục vụ hiệu quả cho người dân đô thị chưa nhiều, các kiến trúc, không gian đặc trưng của đô thị bị mai một, môi trường sống trong đô thị bị xuống cấp, v.v các vấn đề trên của TP.HCM nói riêng và các đô thị Việt Nam nói chung cần có những giải pháp mang tính tổng hợp và khoa học mới có thể giải quyết một cách toàn diện, hợp lý

Qua kinh nghiệm phát triển đô thị ngày nay ở các quốc gia, khu vực tiên tiến trên thế giới, có thể thấy chuyên ngành TKĐT đã tham gia vào tiến trình

QH, xây dựng đô thị ở nhiều quy mô, cấp độ khác nhau và trở nên một hoạt động không thể thiếu giúp định hướng, kiểm soát quá trình phát triển không gian đô thị, tác động vào các hoạt động skinh tế, xã hội, giúp giải quyết hài

Trang 16

hòa mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người và không gian đô thị trong quá trình phát triển

Tại Việt Nam, từ những năm đầu của thế kỷ XXI, cùng với sự tiếp thu nhanh chóng các kiến thức mới, các kinh nghiệm trên thế giới trong lĩnh vực quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị, chuyên ngành TKĐT đã được giới thiệu và bàn luận trong giới chuyên môn

Khởi đầu là một số ấn phẩm về TKĐT nước ngoài được dịch sang tiếng Việt, Năm 2000, cuốn TKĐT có minh họa của Kim Quảng Quân là ấn phẩm nói về TKĐT đầu tiên được dịch ra tiếng Việt Trong cuốn sách này, Kim Quảng Quân đã tổng hợp các nội dung về TKĐT của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới và các hình vẽ minh họa nhằm giới thiệu một cách tổng quát về TKĐT Cuốn sách này đã nhanh chóng được giới chuyên môn đón nhận và tham khảo rộng rãi

Tiếp theo các bài báo của các nhà chuyên môn đang trên các tạp chí chuyên ngành Các hội thảo, hội nghị, các khóa tập huấn đã góp phần đưa TKĐT trở thành một thuật ngữ được đề cập thường xuyên trong hoạt động chuyên môn và quen thuộc đối với đại bộ phận quần chúng nhân dân qua các kênh thông tin đại chúng

Các minh chứng rõ ràng về sự đóng góp hiệu quả của hoạt động TKĐT trong quá trình xây dựng và phát triển đô thị trên thế giới đã tạo được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo nhà nước cũng như Bộ Xây dựng, vào năm 2000,

Bộ Xây dựng giao cho Viện QH Đô Thị - Nông thôn thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu ứng dụng TKĐT vào trong quy trình QH” Vào tháng 09/2002, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 112/2002/QĐ-TTg ngày 03/09/2002 phê duyệt định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm

2020 Trong nội dung phần “Các nhiệm vụ chủ yếu” xác định một trong các

Trang 17

nhiệm vụ chủ yếu đến năm 2020 là “Tiếp tục đổi mới công tác QH xây dựng

và hình thành chuyên ngành TKĐT” Tuy chỉ là một nội dung rất ngắn gọn trong quyết định nhưng cũng đã thể hiện được sự quan tâm của Chính phủ đối với lĩnh vực mới mẻ này đồng thời khẳng định tầm quan trọng của TKĐT trong việc định hướng kiến trúc Việt Nam đến năm 2020

Vào đầu năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị đầu tiên về

TKĐT (số: 09/2003/CT-TTg ngày 07/04/2003) trong đó nêu rõ:

…Trong những năm qua, công tác QH xây dựng và phát triển kiến trúc đô thị ở nước ta đã có tiến bộ … Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trật tự kiến trúc đô thị vẫn chưa được thiết lập; kiến trúc phát triển khá đa dạng nhưng mang nặng tính tự phát và chưa hình thành bản sắc Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do công tác TKĐT chưa được coi trọng Cũng tại chỉ thị này, Thủ Tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Xây dựng, Bộ

Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc triển khai công tác TKĐT tại các thành phố trên cả nước

Với việc pháp lý hóa nội dung TKĐT trong Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 do Chính Phủ ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 (tại điều 3 mục 15) và tiếp sau đó là các văn bản dưới Luật như Nghị Định 08/2005/NĐ-

CP ngày 24/01/2005, Thông tư 15/2005/TT-BXD ngày 19/08/2005 của Bộ Xây Dựng, Thông tư 07/2008/TT-BXD ngày 07/04/2008, TKĐT không còn đơn thuần là những kiến thức, kinh nghiệm được góp nhặt từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam mà đã được chính thức được pháp lý hóa để đưa vào áp dụng trong các hoạt động xây dựng phát triển đô thị mà cụ thể là hệ thống các

đồ án quy hoạch

Trang 18

Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn khi triển khai áp dụng vào thực tế, tuy nhiên về mặt học thuật, đến thời điểm này, TKĐT đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc trong giới chuyên môn, các trường đại học đã bắt đầu đưa môn TKĐT vào chương trình giảng dạy, các hội thảo, hội nghị chuyên đề về TKĐT cũng liên tiếp được tổ chức ở các cấp bộ ngành, địa phương, cả trong nước và quốc tế [5][9][12]

Tuy đã được quy định tại nhiều văn bản pháp quy các cấp như Luật, Nghị định, Thông tư, từ năm 2003 đến nay, việc đưa TKĐT tham gia vào quy trình QHXDĐT tại TP Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều các hạn chế

Các hạn chế này thể hiện rất rõ qua một thực tế là mặc dù các hoạt động TKĐT đã liên tục được triển khai tại TP HCM, tuy nhiên cho đến cuối năm

2010, qua việc đánh giá kết quả các đồ án QHCT đã được thực hiện trên địa bàn TP, các nội dung TKĐT của các đồ án QH chi tiết thì đều bị né tránh, không được thực hiện Các đồ án TKĐT hầu hết đều gặp lúng túng trong quá trình thực hiện, phê duyệt Một số ít được phê duyệt thì kết quả đưa vào áp dụng trong thực tế rất khó khăn, thiếu tính khả thi về mặt đầu tư, không có các công cụ cần thiết để quản lý trong quá trình thực thi

Qua công tác tổng kết thực tế cũng như đúc kết ý kiến của các nhà chuyên môn trong các hội nghị, hội thảo chuyên đề liên quan đến TKĐT, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên, trong đó có số nguyên nhân như sau:

- Cho đến nay, TKĐT vẫn còn là nội dung hết sức mới mẻ tại Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng, do đó, sự tham gia của TKĐT trong quá trình quy hoạch chưa được phân định rõ ràng, tiến trình thực hiện được quy định trong các văn bản pháp quy còn chồng chéo, chưa khớp nối chặt chẽ với các thành phần khác trong quy trình làm QH và quản lý phát triển xây dựng đô

Trang 19

thị Các sản phẩm, hồ sơ về KTĐT chưa được quy định rõ ràng dẫn đến các khó khăn trong quá trình thực hiện, thẩm định và phê duyệt

- Các nội dung TKĐT tại Việt Nam hiện nay được quy định chủ yếu tập trung vào việc xác định không gian kiến trúc cảnh quan đô thị, giải quyết vấn

đề thẩm mỹ của không gian đô thị, chưa có các công cụ nhằm đảm bảo sự cân đối quyền lợi giữa cá nhân và công cộng để tạo ra nguồn lực đầu tư phát triển xây dựng đô thị theo định hướng quy hoạch đề ra, do đó các đồ án đã được thực hiện áp dụng không đạt được kết quả như mong muốn

- Kết quả của các dạng đồ án TKĐT là các bức tranh cố định của không gian đô thị trong tương lai do đó khi đưa vào áp dụng trở nên không khả thi trước sự thay đổi của các yếu tố kinh tế, xã hội diễn ra trong quá trình phát triển

Để góp phần giải quyết các vấn đề nêu trên, đề tài luận án đề xuất nghiên cứu “Sự tham gia của TKĐT trong quy trình QHXD đô thị, lấy địa bàn TPHCM làm khu vực nghiên cứu” với các mục tiêu đặt ra bao gồm:

- Xác định vị trí, nội dung tham gia của TKĐT trong quy trình QHXD

ĐT hiện hành

- Xác định các sản phẩm, thành phần hồ sơ của các đồ án TKĐT

Thông qua các mục tiêu trên, luận án sẽ giúp làm rõ trước hết là sự gắn kết của TKĐT vào quy trình QH trong bối cảnh đặc thù của Việt Nam hiện nay, giúp loại bỏ các bước trùng lặp, chồng chéo, gây khó khăn cho quá trình

áp dụng trong thực tế hiện nay

Thứ hai, kết quả nghiên cứu xác định sản phẩm, thể hiện qua các thành phần hồ sơ cần thiết phù hợp cho các dạng đồ án TKĐT nhằm góp phần giải quyết các nội dung mà hiện nay các đồ án TKĐT còn hạn chế như đảm bảo

Trang 20

tính khả thi, tạo động lực đầu tư, cung cấp các công cụ quản lý trong quá trình thực thi của các đồ án TKĐT

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm các lý thuyết về TKĐT, hoạt động TKĐT ở một trường hợp đô thị điển hình, các kinh nghiệm của một số

đồ án TKĐT nước ngoài và trong nước, Với các đối tượng nghiên cứu nêu trên, các phương pháp nghiên cứu phù hợp được sử dụng như khảo cứu, thống

kê, phỏng vấn,… nhằm rút ra kết quả nghiên cứu tin cậy và chính xác

Giới hạn nghiên cứu của đề tài tập trung vào các đối tượng của TKĐT,

sự tham gia của TKĐT vào hệ thống QH và thành phần hồ sơ, sản phẩm thể hiện các kết quả của đồ án TKĐT

Giá trị của đề tài về mặt lý thuyết là thông qua các nội dung phân tích, so sánh, kết quả nghiên cứu trong luận án góp phần làm rõ vai trò, vị trí của TKĐT trong hệ thống QHXD ĐT mang tính đặc thù trong quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay Qua đó góp phầ điều chỉnh quy trình Quy hoạch xây dựng trở nên chặt chẽ, mạch lạc và hiệu quả hơn Đây là nội dung cấp bách và cần thiết trong bối cảnh quy trình QHXDĐT tại Việt nam còn nhiều bước trùng lặp, chồng chéo và nhận thức về TKĐT vẫn còn hết sức phân tán và đa dạng Về mặt lý thuyết, các nội dung nghiên cứu cũng là bước tổng hợp ban đầu về mặt lý thuyết cho các nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực này Kết quả nghiên cứu này của luận án có thể được sử dụng trong việc giảng dạy chuyên môn trong các trong các lĩnh vực QH, Kiến trúc, TKĐT, Quản lý đô thị,…

Với các số liệu, nội dung nghiên cứu gắn kết với thực tế phát triển đô thị tại TP.HCM, kết quả nghiên cứu có thể dùng làm cơ sở đề xuất các quy định cho việc thực hiện các đồ án TKĐT tại TP.HCM, qua đó bổ sung các thành phần cần thiết vào các đồ án TKĐT hiện nay để góp phần giải quyết các

Trang 21

mặt hạn chế và vướng mắc trong quá trình triển khai TKĐT Trên cơ sở đó, thông qua những kinh nghiệm, bài học rút ra tại TP.HCM có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các đô thị khác trên cả nước Ngoài ra, trong thời gian này, Bộ Xây dựng đang tiến hành dự thảo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật QH, trong đó dự kiến sẽ bổ sung nhiều nội dung cụ thể về TKĐT, do đó, các kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể sử dụng để đóng góp trong quá trình dự thảo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật QH về nội dung TKĐT nhằm giúp các văn bản này khi triển khai trong thực tế phù hợp, hiệu

quả hơn

Trang 22

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1.1 TKĐT trong quá trình lịch sử xây dựng đô thị và bối cảnh xây dựng phát triển đô thị từ cuối thế kỷ XVIII - tiền đề về mặt lý luận của TKĐT hiện đại

1.1.1 TKĐT trong quá trình lịch sử xây dựng đô thị

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về thời điểm xuất hiện của thiết kế đô thị (TKĐT) Trả lời câu hỏi TKĐT xuất hiện từ thời điểm nào trong lịch sử loài người, có rất nhiều ý kiến khác nhau về khởi điểm của TKĐT Nếu xem xét TKĐT dưới góc độ là các hoạt động của con người liên quan đến việc xây dựng, sắp xếp nơi cư trú theo một trật tự nhất định và hình thành các không gian chung thì các hoạt động này đã có từ thời xa xưa, khi con người đã bắt đầu định cư và sống tập trung thành các khu vực Tuy vào các thời kỳ đầu tiên chưa thể gọi các điểm quần cư này là các đô thị nhưng việc bố trí sắp xếp của một điểm quần cư ở vượt ra ngoài quy mô, giới hạn của từng chỗ ở của một

cá nhân, một gia đình đã xuất hiện ngay từ thời kỳ xa xưa nhất của lịch sử loài người Khi có sự sắp xếp nhiều gia đình thành một tổ hợp quần cư, các không gian sử dụng chung và các nguyên tắc trật tự, tổ chức sắp xếp cũng từng bước xuất hiện Ý thức và hành động hình thành các không gian chung và tạo ra các nguyên tắc trật tự, tổ chức bố cục này có thể coi là khởi điểm sơ khai nhất của TKĐT

“…TKĐT ra đời từ buổi bình minh của đô thị cổ đại Nó làm nhiệm

vụ nhạc trưởng tạo thành bản đại hợp xướng của nghệ thuật tổ chức

đô thị, không gian, cảnh quan, phong cách kiến trúc, màu sắc, vật liệu Các đô thị cổ đại xinh xắn, nhỏ bé lặng lẽ phát triển qua các thời đại chỉ với công cụ của TKĐT để hình thành cấu trúc đô thị độc đáo mà không một đô thị hiện đại nào sánh kịp (Để TKĐT trở

Trang 23

thành công cụ quản lý đô thị - theo TS Phạm Hùng Cường - Đại học Xây dựng Hà Nội…)”

Với những thành tựu về mặt xây dựng đô thị có thể được nhận thấy trong suốt quá trình lịch sử hình thành các đô thị trên thế giới, nhiều ý kiến cho rằng việc xác định TKĐT có từ lúc nào nên dựa trên cơ sở các thành tựu trong việc xây dựng đô thị mà có thể gắn kết được với các hoạt động TKĐT Dưới góc độ này, Giáo sư Kim Quảng Quân, khẳng định: “Có xây đô thị thì

mỹ sau này đã được xem xét như các lý thuyết tiền thân cho TKĐT hiện đại Điều này cho thấy TKĐT không phải chỉ đến thế kỷ 19-20 mới được thực hiện, tuy nhiên các nghiên cứu về TKĐT hiện đại cũng chỉ ra rằng việc một

số nguyên tắc thẩm mỹ được sử dụng trong TKĐT có từ thời xa xưa không đồng nghĩa với quan niệm các khái niệm về TKĐT ngày nay đã có từ thời xa xưa đó Các tiền đề của TKĐT hiện đại chỉ được hoàn thiện một cách đầy đủ khi có những thay đổi sâu sắc về kỹ thuật, kinh tế, xã hội vào nửa sau của thế

kỷ XVIII ở các nước Âu Mỹ và dần dần lan tỏa ra toàn thế giới

1.1.2 Sự chuyển biến của các đô thị Âu Mỹ từ cuối thế kỷ XVIII và các vấn

đề của đô thị trong quá trình hiện đại hóa

Nguyên nhân của sự biến đổi sâu rộng tại các thành phố Âu Mỹ vào giai

Trang 24

đoạn cuối thế kỷ XVII chính là cuộc Cách mạng công nghiệp Nói cách khác, cuộc cách mạng công nghiệp chính là yếu tố cơ bản tạo ra động lực chuyển biến các thành phố thời kỳ phong kiến thành các thành phố hiện đại ngày nay Tiến bộ đầu tiên về kỹ thuật trong việc đưa máy hơi nước vào sử dụng trong các hoạt động sản xuất vào những năm 70 của thế kỷ XVIII đã mở ra thời kỳ hết sức quan trọng của lịch sử loài người, thời kỳ công nghiệp hóa Việc chuyển đổi từ phương thức sản xuất bằng lao động thủ công sang phương thức sản xuất bằng máy móc và sự tiến bộ trong các ngành như cơ khí, luyện kim đã dẫn đến sự gia tăng sản lượng trong các lĩnh vực sản xuất khác như nông nghiệp, dệt, chế biến, khai thác mỏ Hoạt động trao đổi hàng hóa, thương mại cũng phát triển mạnh nhờ các phương tiện giao thông cơ giới như

xe lửa, tàu thủy chạy bằng hơi nước trên các hệ thống đường sắt, kênh đào Các thành tựu kỹ thuật được áp dụng trong các lĩnh vực sản xuất, giao thông đã tác động làm cho các thành phố mở rộng một cách nhanh chóng Phục vụ cho các hoạt động công nghiệp và trao đổi hàng hóa Các hoạt động công nghiệp, đại công nghiệp ở các thành phố thu hút lực lượng lao động nhập cư làm cho quy mô dân số của các thành phố tăng lên nhanh chóng, số lượng các thành phố lớn ngày càng nhiều “…Cuối thế kỷ XVIII, thế giới tư bản Tây Âu có 15 thành phố trên 100.000 người Năm 1800, số thành phố có quy mô như vậy lên đến 19 và đến năm 1902 đã có tổng số 149 thành phố lớn.” [13] tr.166

Với sự đa dạng của các hoạt động sản xuất, vận chuyển và thương mại, các đô thị thời kỳ này có cấu trúc và thành phần phức tạp hơn các đô thị thời

kỳ trước, bao gồm các khu công nghiệp, kho tàng và các đầu mối giao thông phục vụ cho các hoạt động công nghiệp như ga đường sắt, bến tàu, v.v Tuy nhiên, bố cục các khu vực chức năng của đô thị vào giai đoạn này gần như phát triển một cách tự phát, “ trừ khu trung tâm ra còn đại đa số các thành

Trang 25

phần bố cục khác thường được bố trí hỗn loạn, không có quy luật về văn minh

đô thị mà chỉ phụ thuộc vào yếu tố lợi nhuận.” [13] tr 171 Mặc dù vậy, sự tập trung dân cư và hoạt động công nghiệp đã tạo ra tiền đề cho việc hình thành các thành phố hiện đại

Đến giữa thế kỷ thứ XIX, giai đoạn 2 của cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu nhờ vào sự tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật cũng như sự tích lũy kinh tế dựa trên nền tảng của giai đoạn đầu Các thành tựu về khoa học kỹ thuật, công nghệ tiếp tục được cải tiến như động cơ đốt trong được phát minh thay thế máy hơi nước vào cuối thế kỷ thứ XIX, việc ứng dụng năng lượng điện đã tạo ra những biến đổi mạnh mẽ tại các đô thị, khởi đầu từ Anh, sau đó lan rộng ra Châu Âu, Mỹ và dần dần lan tỏa ra toàn thế giới Những thay đổi của các đô thị từ giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 có thể được nhận thấy thông qua cấu trúc và bộ mặt đô thị Tốc độ xây dựng trong đô thị gia tăng nhanh chóng và nhà cao tầng bắt đầu xuất hiện

Do sự cải thiện của mạng lưới giao thông và các phương tiện vận tải, việc vận chuyển vật liệu xây dựng trở nên dễ dàng, nhanh chóng và có thể thực hiện được với khối lượng lớn đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng, tiết kiệm thời gian và giảm giá thành các công trình Các tiến bộ trong công nghệ xây dựng giúp đẩy nhanh tiến độ thi công Sự ra đời của thang máy vào giữa thế kỷ XIX cùng với sự khan hiếm đất đai trong thành phố và đã làm thay đổi bộ mặt đô thị với việc xây dựng hàng loạt các công trình cao tầng tập trung trong khu trung tâm thành phố

Khu vực ngoại vi thành phố ngày càng mở rộng, đối với các thành phố công nghiệp của thế kỷ XIX, sự tập trung hoạt động công nghiệp và thương mại tại khu vực trung tâm thành phố đã tạo nên xu hướng giảm dân ở các khu vực nội thành và gia tăng dân số ở các vùng ngoại thị, kết quả hình thành nên

Trang 26

các khu vực ngoại vi rộng lớn xung quanh khu trung tâm Người sống trong thành phố tìm cách di chuyển đến những khu vực ngoại thị nhằm tìm kiếm nơi ở có không khí trong lành, thoải mái và thuận tiện hơn Marcionis, bàn về

sự di dân trong đô thị thời kỳ này:

… Mặt khác, tại hết thành phố này đến thành phố khác trong Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, thực sự là trong nhiều năm, các cư dân nội thành đã tìm kiếm sự giải thoát khỏi những gánh nặng của trung tâm thành phố về mặt xã hội, tài chính, môi trường - bằng cách di chuyển tới các vành đai ngoại vi liên tục được mở rộng [76]tr.xii Trung tâm đô thị càng phát triển, xu hướng người dân sống trong trung tâm muốn di chuyển ra các khu ngoại vi ngày càng tăng lên, “ các thống kê gần đây cho thấy 60% dân số NewYork, 48% số người sống ở Los Angeles và 43% dân số Boston sẽ di chuyển ra khỏi thành phố họ đang sinh sống nếu có thể” [83] Thành phố càng thu hút nhiều dân cư, các khu ở ngoại vi ngày càng phát triển và lan rộng

Khởi đầu của các khu ngoại vi chủ yếu là các khu nhà ở, từng bước để phục vụ dân cư sống ở ngoại thị, các công trình công cộng như trung tâm thương mại, trung tâm vui chơi giải trí cũng được hình thành rộng khắp trong khu vực ngoại vi phục vụ cho nhu cầu hằng ngày của cư dân Các khu dân cư với các trung tâm thương mại dịch vụ này hình thành những cộng đồng (community) thường có cấu trúc là các khu nhà ở gắn kết với trung tâm thương mại Vào giai đoạn giữa thế kỷ XIX tại Mỹ, số lượng các trung tâm

thương mại trong khu vực ngoại vi tăng lên theo cấp số nhân

…Các hoạt động bán lẻ đã nhanh chóng theo sau dòng chảy của dân

số đến các cộng đồng cư dân này, và các trung tâm thương mại ngày càng trở thành một phần của cuộc sống trong vùng ngoại vi đô

Trang 27

thị - đến năm 1946 chỉ có 8 trung tâm như vậy trên toàn nước Mỹ Đến năm 1960, số lượng vụt lên đến 3.800 và sau đó tăng gấp 3 lần đến 13.000 trung tâm thương mại vào năm 1970 [76] tr.227

Các cộng đồng hình thành quanh các trung tâm này không chỉ gia tăng chóng mặt về số lượng, đồng thời cũng có sự thay đổi mạnh mẽ về quy mô cũng như chất lượng Tại các cộng đồng bắt đầu xuất hiện các tiện nghi trước đây chỉ có trong nội thị như rạp chiếu phim, trung tâm vui chơi giải trí, khu thương mại bán lẻ Sự đa dạng này dẫn đến việc hình thành các cộng đồng có chức năng phức tạp hơn các khu “cộng đồng ngủ” (chỉ bao gồm nhà ở) trước đây

Thành phố ngày càng mở rộng với các khu vực ngoại vi rộng lớn làm tăng thêm khoảng cách đi lại của cư dân đô thị Phương tiện giao thông được

ưa chuộng sử dụng trong đô thị giai đoạn này chính là ô tô cá nhân Ô tô cá nhân được đưa vào sản xuất rộng rãi vào những năm 1920 tạo nên sự thay đổi lớn trong giao thông đô thị Hệ thống đường bộ trong đô thị đứng trước yêu cầu cải tạo, mở rộng nhanh chóng nhằm đáp ứng cho nhu cầu sử dụng xe ô tô Các hệ thống đường mới được xây dựng được bố trí theo các cấu trúc, mạng lưới mang nặng tính lý trí khác biệt hẳn với hệ thống đường mang tính chất tự nhiên của các thành phố thời kỳ trước Nhiều không gian công cộng như các rạp chiếu phim ngoài trời dành cho xe ô tô đã được tạo ra trong những năm

70 Các điểm dịch vụ dành cho người sử dụng xe ô tô mà không phải xuống

xe như máy rút tiền, quán ăn nhanh,… hiện giờ vẫn còn phổ biến ở khu vực Bắc Mỹ

Khi nhu cầu lưu thông bùng nổ, hệ thống đường cao tốc xuất hiện Các loại phương tiện giao thông khác như xe lửa, tàu thủy cũng được hiện đại hóa,

hệ thống bến bãi được cải thiện, hệ thống đường sắt kết nối sâu vào trung tâm

Trang 28

đô thị

Ngoài hệ thống giao thông, các hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại khác cũng được đưa vào sử dụng, Các tiến bộ khoa học về thông tin liên lạc cũng được đưa vào cuộc sống, các phương tiện thông tin như điện tín, điện thoại dần dần trở thành tiện nghi phổ biến Các hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác cũng từng bước được xây dựng như mạng lưới cấp nước, thoát nước, điện, hơi đốt, nước nóng, hệ thống chiếu sáng bằng ga, điện làm thay đổi bộ mặt đô thị và gia tăng các hoạt động ban đêm

Sự chuyển biến của các thành phố Âu Mỹ trong giai đoạn này có thể được nhận thấy rõ do tác động của sự tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật, công nghệ,

sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế Hàng loạt các biến đổi diễn ra về cấu trúc, bộ mặt đô thị cũng như các hoạt động kinh tế xã hội

1.1.3 Các vấn đề QHĐT phải đối mặt trong quá trình hiện đại hóa của các

đô thị - tiền đề hình thành các lý luận TKĐT hiện đại

Như đã nêu trên, ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo nên nhiều thay đổi sâu sắc đối với các đô thị Ngoài những mặt tích cực và thành quả mang lại, quá trình hiện đại hóa các đô thị cũng tạo ra hàng loạt các vấn

đề, thách thức cho các đô thị

Một trong các vấn đề nổi trội ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân đô thị trong quá trình phát triển là sự xuống cấp của môi trường Vào giai đoạn này, lợi ích kinh tế là yếu tố quan trọng nhất được cân nhắc trong việc hình thành các thành phố Các tiềm năng kinh tế là yếu tố chủ đạo thu hút sự chú ý của các chủ đầu tư trong việc phát triển thành phố Marcionis

nhấn mạnh: “lợi ích kinh tế rõ ràng là mục tiêu chính của sự phát triển đô thị

trong những năm đầu thế kỷ 19” [76] tr 67 Trong bối cảnh đó, các yếu tố về

môi trường, xã hội không được quan tâm đầy đủ Mặt khác, sự phát triển về

Trang 29

kinh tế thu hút số lượng lớn người lao động về thành phố và sự gia tăng các hoạt động sản xuất kinh doanh trong đô thị góp phần tạo ra sự xuống cấp của môi trường đô thị một cách nhanh chóng Hằng ngày, người dân đô thị phải chịu đựng sự ô nhiễm gây ra bởi khói, bụi, tiếng ồn từ đường phố, các nhà máy và các hoạt động khác, không khí trở nên ô nhiễm và nhiều khu vực không còn không khí trong lành

Cùng với sự xuống cấp của môi trường không gian xanh trong đô thị ngày càng ít đi Với hoạt động ngày càng nhiều, giá trị sử dụng đất đai gia tăng, các khu đất trống trong đô thị đều được đưa vào sử dụng cho việc sản xuất, kinh doanh, xây dựng do đó ngày càng khó khăn để tìm ra các không gian xanh, yên tĩnh để con người có thể nghỉ ngơi, thoát khỏi sự bận rộn, ồn

ào của cuộc sống trong thành phố

…Không gian mở trong đô thị nhanh chóng biến mất, bên cạnh đó

là ánh sáng, không khí trong lành, vẻ đẹp tự nhiên và cơ hội cho các hoạt động vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi mà những người với thu nhập vừa phải có thể hưởng thụ Bắt đầu có vẻ như cơn ác mộng của các thành phố đang dần thành hiện thực, rằng một ngày không xa chúng

ta sẽ lái xe dọc theo các bề mặt trát vữa của thành phố kéo dài hàng ngàn dặm [76] tr.3

Không chỉ môi trường tự nhiên của thành phố bị đe dọa mà vào giai đoạn này, môi trường cảnh quan của các thành phố cũng bị thay đổi Với mật độ dày đặc các công trình với cấu trúc bê tông, sắt, kính, trung tâm thành phố bị thay đổi thành những khu rừng bê tông Các công trình với sự phát triển của công nghệ xây dựng ngày càng trở nên khổng lồ Trong các công trình này, con người cảm thấy đơn độc, phụ thuộc vào các phương tiện như thang máy, điều hòa nhiệt độ, ánh sáng nhân tạo, “…các công trình đánh mất tỷ lệ con

Trang 30

người, chúng được xây dựng để thể hiện sự giàu có và quyền thế của chủ đầu

tư hơn là đóng góp vào không gian đô thị…” [71] tr 54 Trong đô thị xuất hiện ngày càng nhiều các công trình không thân thiện với không gian xung quanh như các tòa nhà đậu xe, các công trình đóng kín với bên ngoài Việc phá hủy các thành phố cũ để mở rộng, xây dựng đường xá và các công trình quy mô lớn làm thay đổi ghê gớm diện mạo của đô thị, nhiều khu vực mất đi

tỷ lệ con người của các đường phố

Ở quy mô lớn, cấu trúc đô thị ngày càng dàn trải, cấu trúc đô thị bị rối loạn Việc liên tục mở rộng đô thị theo kiểu vết dầu loang nhằm đáp ứng nhu cầu đất đai cho sản xuất công nghiệp và các khu ở bám xung quanh làm cho cấu trúc đô thị bị rối loạn Khu ở xen lẫn khu công nghiệp, các khu chức năng nối tiếp nhau hình thành không theo một cấu trúc rõ ràng Các tuyến đường cao tốc chia cắt đô thị thành những khu vực biệt lập làm cho đô thị vận hành một cách khó khăn

Sự xuống cấp về môi trường cũng như những biến đổi về kinh tế dẫn đến các phản ứng gây thiệt hại cho chính sự phát triển của đô thị, điển hình là phong trào từ bỏ đô thị dẫn đến sự suy sụp, hủy hoại các khu vực trung tâm thành phố Ý tưởng về việc thoát ra khỏi trung tâm đô thị không chỉ là xu hướng của dân cư đô thị thời kỳ này mà còn ảnh hưởng đến các lý luận về quy hoạch, từ đó tạo ra phong trào gọi là “trào lưu từ bỏ đô thị” (Anti-Urban paradigm) Về vấn đề này, Madanipour nêu rõ:

…Đa số cho rằng có một xu hướng từ bỏ đô thị giữa những người Anh và Bắc Mỹ, nơi sự mở rộng của đô thị trong thế kỷ qua bị ngự trị bởi sự phát triển của các khu vực ngoại thị Mặc dù học thuyết đô thị và vi đô thị đã được quảng bá bởi các nhà chuyên môn và học giả thì học thuyết “từ bỏ đô thị” và sản phẩm nổi tiếng nhất của nó,

Trang 31

học thuyết “ngoại vi đô thị” đã tồn tại, hình thành xu hướng rộng lớn và được ủng hộ bởi giới trung lưu…Kết quả của nó, đa số cư dân của Anh và Mỹ hiện nay sống trong những khu vực được coi là khu vực ngoại vi [75] tr 196

Với đa số cư dân đô thị di chuyển ra các khu vực bên ngoài, trung tâm

đô thị chỉ còn tập trung các hoạt động sản xuất, kinh doanh dần dần trở nên xuống cấp thành các khu vực không có hoạt động vào ban đêm Việc giảm thiểu dân số tại khu trung tâm và các hậu quả của nó dẫn đến sự suy sụp, hủy hoại của các khu trung tâm thành phố, đặc biệt là ở Mỹ vào những năm 60 của thế kỷ XX

Trước quy mô dân số ngày càng tăng và xu hướng di chuyển ra vùng ngoại vi, thành phố ngày càng trải rộng dần đến nhu cầu đi lại tăng vọt, nhất

là vào các giờ cao điểm tạo nên những vấn đề nan giải về giao thông Thành phố không còn là môi trường thuận tiện cho ô tô cá nhân để di chuyển, các đường phố trở nên chật hẹp, đông đúc, đầy dẫy các tuyến đường một chiều và đèn tín hiệu Việc đỗ xe cũng trở nên rất khó khăn

Về các vấn đề tạo nên do sự phát triển và phổ biến của ô tô cá nhân vào thời kỳ này, Liebs nói:

…Thành phố và khu vực lân cận, được thiết kế để đưa con người đến với nhau và tạo cho họ cuộc sống tốt hơn, đang nhanh chóng tiến đến sự mù quáng và hủy hoại Xe ô tô cũng không mang lại điều gì tốt đẹp hơn Được thiết kế để vận chuyển con người từ nơi này đến nơi khác một cách nhanh chóng, dễ dàng và với giá phải chăng nhưng lại bị mắc kẹt trong sự bao trùm của môi trường đô thị lạc hậu… Người Mỹ đã thay đổi suy nghĩ để sống trong các thành phố và di chuyển bằng xe ô tô Tuy nhiên sự cố gắng để đô thị hóa

Trang 32

và cơ giới hóa cùng một lúc này đã trở nên ngày càng ít thành công

Sự kết hợp này đã hủy hoại cả lợi ích của các thành phố và lợi thế của ô tô cá nhân” [70] tr 7

Các vấn đề xã hội cần phải giải quyết cũng xuất hiện, cụ thể như sự phân cực trong các khu vực khác nhau của đô thị Trong đô thị xuất hiện các khu vực hết sức sang trọng đối lập với những khu hết sức tồi tàn Các khu vực sang trọng thường là khu vực trung tâm thương mại, dịch vụ của thành phố, nơi tập trung các ngân hàng, văn phòng, cửa hiệu Ngoài ra còn có các khu ở của các chủ tư bản giàu có Tương phản với các khu vực này là các khu nhà máy, bến tàu, nhà ở công nhân và các khu “ổ chuột”, nơi tập trung người lao động nghèo sống trong điều kiện vệ sinh, môi trường kém và an ninh, tiện ích

xã hội không được bảo đảm

Thêm vào đó, giao tiếp xã hội trực tiếp của người dân đô thị trở nên hạn chế Sự phát triển về phương tiện giao thông giúp con người di chuyển với tốc

độ cao hơn nhưng trở nên ngày càng biệt lập Khi di chuyển trong các phương tiện giao thông cơ giới, con người có rất ít cơ hội để kết nối hoặc hòa nhập vào các hoạt động xã hội Không gian công cộng ngày càng ít cùng với sự phát triển của các loại thiết bị thông tin liên lạc như điện thoại, internet cũng thay đổi hoàn toàn cách thức giao tiếp trong các đô thị Hàng loạt các giá trị truyền thống cũng không còn phù hợp với cuộc sống đô thị hiện đại

Các vấn đề nêu trên là hệ quả của quá trình hiện đại hóa và phát triển đô thị một cách nhanh chóng bắt đầu từ nửa cuối TK XVIII Đứng trước các vấn

đề này, nhiều cơ sở lý luận cùng như giải pháp thực tiễn đã được nghiên cứu nhằm bổ sung cho lĩnh vực QHĐT

Tiếp tục trong quá trình phát triển đô thị, các cơ sở lý luận, thực tiễn được bổ sung, hoàn thiện dần dần hình thành một chuyên ngành riêng biệt,

Trang 33

các mục tiêu, tư tưởng cũng liên tục được cập nhật để giài quyết các vần đề mang tính thời sự Giai đoạn đầu tiên có thể thấy mối quan tâm của TKĐT chủ yếu tập trung vào các khía cạnh kỹ thuật nhằm giải quyết các vấn đề thẩm

mỹ, môi trường đô thị Qua quá trình phát triển, các yếu tố khác liên tục được

bổ sung như yếu tố con người trong đô thị, đặc trưng đô thị, văn hóa đô thị, phát triển bền vững,… dẫn đến sự liên quan của các chuyên ngành kinh tế, xã hội,… Tính chất đa ngành này thể hiện sự khác biệt rõ rệt giữa TKĐT hiện đại và các hoạt động TKĐT trước đây, tạm gọi là TKĐT cổ điển TKĐT hiện đại không chỉ đơn thuần là các nguyên tắc thẩm mỹ về tổ chức không gian đô thị trong QHĐT mà là một lĩnh vực liên quan đến nhiều ngành, được tiếp cận một cách toàn diện, tác động đến không chỉ cái đẹp thực thể của đô thị mà còn góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường và văn hóa, tạo nên

đô thị tốt đẹp hơn trong bối cảnh phát triển ngày càng đa dạng và nhiều thách thức

Cho đến nay, các đô thị liên tục phải đối mặt với những thách thức mới của thế kỷ XXI Trong bối cảnh thời đại thông tin và hội nhập toàn cầu, sau giai đoạn bùng nổ, các đô thị Âu Mỹ hiện nay đang phải đối mặt với các vấn

đề mang tính chất hết sức thời sự như sự cạnh tranh toàn cầu, phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, v.v Ngoài các vấn đề của quá trình phát triển, nhiều

đô thị đang phải đối mặt với các vấn đề hết sức mới mẻ như sự sụt giảm dân

số, mất nguồn lực cạnh tranh, sự già đi của dân số đô thị, v.v các lý luận về TKĐT lại tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung thêm nhằm góp phần giải quyết các vấn đề thời sự này

1.2 Các khái niệm về TKĐT

TKĐT là một chuyên ngành có liên quan đến rất nhiều các lĩnh vực khác nhau như kiến trúc, quy hoạch, cảnh quan, bất động sản, tâm lý học, kinh tế

Trang 34

đô thị, v.v… Do sự da dạng của các lĩnh vực liên quan, hiện nay, trên thế giới

có rất nhiều các khái niệm khác nhau về TKĐT Phổ biến nhất là các định nghĩa về TKĐT thông qua góc độ của hoạt động tạo lập không gian đô thị

Một số định nghĩa theo hướng này từ Urban Design Group (UDG - Anh):

Peter Webber định nghĩa TKĐT là “tiến trình đúc ra hình thể đô thị qua thời gian”

Jerry Spencer giải thích là “tạo lập không gian của hoạt động công cộng”

Theo Carmona, Health, Oc và Tiesdell đó là “tiến trình tạo lập không gian tốt hơn cho con người so với cách khác có thể tạo ra”

Một số định nghĩa khác xác định TKĐT thông qua các giá trị, đối tượng của hoạt động TKĐT tạo ra hoặc tác động tới như sau:

Doug Paterson từ Urban Design Group (UDG - Anh) định nghĩa TKĐT

là “kết hợp Civitas và Urbs: tạo lập các giá trị và ý tưởng của nơi chốn văn minh vào cấu trúc của một thành phố…”

Peter Buchanan định nghĩa “Thiết kế đô thị là cách thức nhằm tái tạo một số tính chất nhất định (tính chất mà chúng ta cảm nhận thấy cũng như nhìn thấy) mà chúng ta liên tưởng tới các thành phố truyền thống: cảm giác của sự trật tự, nơi chốn, sự liên tục, sự sâu sắc trong cảm nhận, sự hoàn hảo

và hòa nhập Thiết kế đô thị nằm ở đâu đó giữa những nét chấm phá trừu tượng của quy hoạch và sự chính xác chắc chắn của kiến trúc ”

Hội Quy hoạch đô thị Trung Quốc quan niệm: “TKĐT là thiết kế quy hoạch đối với môi trường đô thị Trong quá trình quy hoạch đô thị, TKĐT là thiết kế quy hoạch về bố trí tính chất, công năng, bố cục đối với tổng thể, cục

bộ và chi tiết của đô thị, đồng thời còn là thiết kế quy hoạch về nghệ thuật mỹ

Trang 35

học cảnh quan đối với môi trường hình thể không gian đô thị”

Theo Cuthbert 2003, tr12,181:

TKĐT là nghệ thuật thiết kế thành phố một cách 3 chiều với quy mô lớn hơn một công trình riêng lẻ TKĐT liên kết quy hoạch - kiến trúc và kiến trúc cảnh quan với nhau, trong giới hạn lấp đầy các khoảng trống còn tồn tại giữa các lĩnh vực trên TKĐT là thành phần của quy hoạch đô thị liên quan đến thẩm mỹ trong đó xác định trật tự và hình thể của thành phố (forum) TKĐT

là thiết kế sự sắp xếp không gian tổng thể của các hoạt động và vật thể trên một khu vực mở rộng, nơi mà khách hàng là số nhiều, chương trình chưa được xác định, sự kiểm soát chưa được thực hiện hoàn toàn và không có giai đoạn hoàn thiện

Một xu hướng khác sử dụng giới hạn của các lĩnh vực liên quan nhằm định nghĩa TKĐT, cụ thể như sau:

Theo báo cáo về TKĐT do Bộ Giao thông, Môi trường và Vùng của Anh năm 2001:

“…Có lẽ sẽ dễ dàng hơn để xác định những gì không phải là TKĐT hơn

là nói TKĐT là gì - TKĐT không phải là ngành kiến trúc, ngành công trình hay cầu đường, kiến trúc cảnh quan, khảo sát, quy hoạch thị trấn - TKĐT các hoạt động vừa nhiều hơn, vừa ít hơn các hoạt động chuyên ngành đã được thiết lập một cách lâu dài nêu trên”, đồng thời đưa ra định nghĩa trong đó bao trùm các nội dung mà TKĐT bao phủ là:

“Sự liên kết giữa các công trình khác nhau, sự liên kết giữa đường phố công trình, quảng trường, công viên, mặt nước và các không gian khác mà tạo nên khu vực công cộng; sự liên hệ của một phần của làng, thị trấn hay thành phố với các phần khác; mẫu hình của sự chuyển đổi và các hoạt động được thiết lập từ đó; tóm lại, mối quan hệ phức tạp giữa tất cả các yếu tố của không

Trang 36

gian xây dựng và không gian không xây dựng”

Báo cáo kết thúc nhấn mạnh “sự giải thích đáng nhớ của Jonathan Barnett’s về TKĐT là “Thiết kế thành phố mà không thiết kế công trình” (DETR, 2001, tr.1)

Hay theo John Lang (Urban design - typology of procedure and products, 2005, tr.394) “…Tuy nhiên, kết luận của tôi là TKĐT vừa có sự chồng lấp lên các lĩnh vực khác vừa phát triển các khía cạnh chuyên biệt của

nó Sự quan hệ với các lĩnh vực truyền thống ngày nay nhìn giống như hình (40b), nó đã trở thành thứ mà lẽ ra nó không bao giờ nên trở thành - một lĩnh vực riêng

39 (a) 39 (b)

Hình 39: Cách nhìn truyền thống (a) và cách nhìn hiện nay (b) của lĩnh vực

TKĐT trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác của John Lang

Một số định nghĩa mang tính tổng hợp, là sự kết hợp của các định nghĩa nêu trên, một ví dụ cụ thể như:

Theo Madanipour, 1996 (research in urban design):

Sự kết hợp giữa kiến trúc, quy hoạch và các chuyên ngành liên quan

Trang 37

Thiết kế ba chiều của nơi chốn cho con người và sự chăm sóc và quản lý của

họ Một sự kết nối sống động, đem lại cấu trúc và thực tế hóa các mặt bằng tổng thể 2 chiều và khung quy hoạch trước khi thiết kế kiến trúc và kỹ thuật

có thể thực hiện Việc thiết kế khu vực xây dựng với mức độ chi tiết, bao gồm việc nhóm các công trình cho các mục đích khác nhau, hệ thống giao thông và phục vụ liên hệ kết nối đến các nhóm công trình và không gian và cảnh quan

đô thị giữa chúng với nhau Là hoạt động sáng tạo mà từ đó hình thể và đặc tính của môi trường đô thị được thực hiện dưới mức độ chi tiết

Ngoài một số các ví dụ nêu trên, còn rất nhiều các định nghĩa khác về TKĐT Bên cạnh các khái niệm về TKĐT còn có các khái niệm khác đang được sử dụng rất gần và thậm chí có phần trùng lắp với khái niệm TKĐT Đầu tiên là khái niệm Thiết kế không gian đô thị:

Một hoạt động thường hay được coi là TKĐT chính là thiết kế không gian đô thị Lý do của nhận thức này vì thiết kế không gian đô thị là một công đoạn hết sức phố biến và xuất hiện tại hầu hết các dự án TKĐT Nhưng trên thực tế, thiết kế không gian đô thị chỉ là một phần của hoạt động TKĐT Có thể nhận thấy rõ điều này nếu xem xét sâu hơn về hoạt động thiết kế không gian đô thị, qua đó có thể xác định:

Thiết kế không gian đô thị là sắp xếp các yếu tố thực thể đô thị và các hoạt động, nhận thức của con người đối với giới hạn không gian giữa các yếu

tố này nhằm định hình một không gian đô thị có các tính chất đã định

Trang 38

quảng trường; cộng đồng, khu vực đặc trưng

Không gian đô thị: được hiểu là không gian ba chiều bao gồm các đối tượng thực thể trong đô thị, khoảng không giữa các đối tượng này và đặc biệt

là các hoạt động của con người diễn ra trong các không gian đó

Một khái niệm khác cũng hay bị dùng lẫn với TKĐT, nhất là ở châu Âu

đó là Thiết kế cảnh quan Ở các nước châu Âu, khái niệm thiết kế cảnh quan được nhìn nhận ở quy mô lớn là cảnh quan đô thị trong đó bao gồm tất cả các yếu tố liên quan, khái niệm này trong một số giai đoạn có ý nghĩa tương tự như khái niệm TKĐT Tuy nhiên, ở Mỹ, khái niệm này được hiểu theo hướng thiết kế sân vườn, cây xanh cho các công trình và không gian công cộng của

đô thị

Ngoài ra còn có thuật ngữ được coi là tiền thân của TKĐT đó là Thiết kế dân sự Thuật ngữ này được dùng phổ biến ở Anh trước khi Viện đại học Liverpool xác lập khóa học cơ bản về thiết kế dân sự năm 1909 Nhiều chuyên gia cũng cho rằng đây là khởi đầu của TKĐT như là một chuyên ngành về mặt học thuật Cuberth [52] đã hệ thống hóa các thật ngữ liên quan đến TKĐT như sau:

“Có 3 nhóm từ được sử dụng dưới nhiều mức độ khác nhau để mô tả việc thiết kế thành phố:

- Civic Design : Thiết kế dân sự

- Urban Design : TKĐT

- City Design : Thiết kế thành phố

- Environmental Design: Thiết kế môi trường (có thể hiểu đây là môi trường thực thể của đô thị)

Thiết kế dân sự (Civic design) là thuật ngữ nói về kiến trúc thời kỳ hiện

Trang 39

đại Khi các dự án đô thị lớn được tiến hành cho chính quyền do vậy ý nghĩa

“dân sự” được hiểu một cách trực tiếp là các dự án liên quan đến chính quyền, Tuy nhiên, đến những năm 1970 khái niệm này trở nên lạc hậu do sự liên quan giữa chính quyền và các dự án đô thị ngày càng cách biệt.”

Vào thời điểm này, thuật ngữ TKĐT (Urban design) cũng đã bắt đầu được sử dụng bởi các nhà chuyên môn Thuật ngữ này mang tính tổng quát hơn và tránh được sự ngộ nhận về việc chức năng dự án phải gắn với các nội dung như quyền công dân, chính quyền, quản lý đô thị ẩn chứa trong từ “dân sự”

Thiết kế thành phố là khái niệm thường thấy trong các ấn bản của một trong các nhà lý luận được ca ngợi nhiều nhất trong lĩnh vực TKĐT Kevin Lynch, ông nhận thấy khó khăn trong việc sử dụng cả 2 khái niệm TKĐT và thiết kế dân sự Lynch đề nghị sử dụng thuật ngữ “Thiết kế thành phố” Theo ông thuật ngữ này có tính định hướng rõ ràng hơn Về khái niệm “Thiết kế thành phố”, Lynch nói:

Thiết kế thành phố hay thiết kế môi trường làm việc với mẫu dạng không gian và nhịp điệu của hoạt động con người và đối tượng thực thể của chúng, cân nhắc đến cả các ảnh hưởng về kinh tế xã hội

và tâm lý, Các khái niệm và kỹ thuật để thao túng các mẫu dạng phức tạp này vẫn đang trong quá trình hình thành, việc thao túng các mẫu dạng này nhằm mục tiêu gì chưa được nêu rõ, mối liên hệ giữa các mẫu dạng chưa được nhận biết một cách rõ ràng, Mặc dù vậy,

rõ ràng dạng thức đô thị là một trong những yếu tố quan trọng của môi trường sống con người Và chúng ta phải thiết kế chúng [45] tr

483

Lynch luôn giữ vững khái niệm “Thiết kế thành phố” trong suốt cuộc đời

Trang 40

nghiên cứu của mình Trong các tác phẩm, Lynch thường đúc kết thuật ngữ TKĐT thành “Thiết kế thành phố” hoặc thậm chí là “Thiết kế môi trường” Tuy nhiên khái niệm “Thiết kế môi trường” ngày nay dễ bị lẫn lộn với khái niệm thiết kế phát triển bền vững

Qua một số ví dụ nêu trên nêu trên, có thể nhận thấy có rất nhiều cách để định nghĩa về TKĐT Tuy nhiên, qua các ví dụ nêu trên có thể nhận thấy việc rút ra một định nghĩa tổng hợp và ngắn gọn nhưng đầy đủ về TKĐT là điều khó có thể thực hiện Mặc dù vậy, một cái nhìn tổng quát qua các định nghĩa trên cho thấy được các đối tượng mà thiết kế đô thị tác động đến Ở đây, hoạt động TKĐT bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến nhiều lĩnh vực, không chỉ đơn thuần là thiết kế theo nghĩa “vẽ” ra các hình ảnh về không gian

đô thị mà còn bao gồm việc hiện thực hóa các mục tiêu đặt ra đối với không gian đô thị đó nhằm đem lại lợi ích cho con người trong đô thị

Tất cả các hoạt động như đánh giá, tổng hợp các số liệu về kinh tế xã hội, đầu tư phát triển dự án, thương thảo sự hợp tác tài chính giữa các đối tác

tư nhân và công cộng, xây dựng các quy định về bảo tồn, v.v…đều được coi

là hoạt động của thiết kế đô thị Nếu hiểu TKĐT theo cách này, sẽ có thể dễ dàng nhận thấy nội hàm của từ “Thiết kế” trong cụm từ TKĐT không chỉ bao hàm nghĩa “vẽ” mà thực chất là các hành động liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác nhau

Trong quá trình phát triển đô thị, hoạt động TKĐT luôn tiếp tục, các cơ

sở lý luận và sẽ luôn được bổ sung tương ứng với các thay đổi về kỹ thuật, kinh tế, xã hội để tạo ra môi trường thực thể và xã hội đáp ứng nhu cầu của con người Không chỉ dừng lại ở đó, các hoạt động TKĐT còn tạo ra bản sắc của đô thị, hình thành văn hóa của từng đô thị

1.3 Quy trình TKĐT

Ngày đăng: 27/02/2016, 16:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Paris tree-lined boulervard. Nguồn:  Internet (spdules.com) - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 1.2 Paris tree-lined boulervard. Nguồn: Internet (spdules.com) (Trang 176)
Hình 1-24: Dự án La Defence, Paris. Nguồn Internet (skyscraper.com) - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 1 24: Dự án La Defence, Paris. Nguồn Internet (skyscraper.com) (Trang 190)
Hình 1.29: MB giao thông  TP . HCM đến năm 2020. Nguồn: Trung tâm thông tin - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 1.29 MB giao thông TP . HCM đến năm 2020. Nguồn: Trung tâm thông tin (Trang 193)
Hình 1.33: Khu nhà ở Sky Garden - Khu ĐT Phú Mỹ Hưng - Nam Sài Gòn. - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 1.33 Khu nhà ở Sky Garden - Khu ĐT Phú Mỹ Hưng - Nam Sài Gòn (Trang 195)
Hình 1.35: MB tổng thể trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm. Nguồn: Trung tâm thông - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 1.35 MB tổng thể trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm. Nguồn: Trung tâm thông (Trang 196)
Hình 1.38: TKĐT trục đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Nguyễn Văn Trỗi. Nguồn: - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 1.38 TKĐT trục đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Nguyễn Văn Trỗi. Nguồn: (Trang 197)
Hình 2.2: Tòan cảnh khu trung tâm San Diego. Nguồn: Internet ( Sandiego.gov). - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 2.2 Tòan cảnh khu trung tâm San Diego. Nguồn: Internet ( Sandiego.gov) (Trang 198)
Hình 2.6: Mô hình hướng dẫn TKĐT khu đô thị mới Thủ Thiêm.  Nguồn: Ban quản - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 2.6 Mô hình hướng dẫn TKĐT khu đô thị mới Thủ Thiêm. Nguồn: Ban quản (Trang 200)
Hình 2.8: Phạm vi nghiên cứu cuộc thi “ Ý tưởng TKĐT khu  trung tâm hiện - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 2.8 Phạm vi nghiên cứu cuộc thi “ Ý tưởng TKĐT khu trung tâm hiện (Trang 201)
Hình 3.1: Horton Plaza,  San Diego. Nguồn: Tác giả - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 3.1 Horton Plaza, San Diego. Nguồn: Tác giả (Trang 202)
Hình 4.2: Khu bờ Tây sông SG. Tạo không gian mở - Kết nối bờ sông. Nguồn - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 4.2 Khu bờ Tây sông SG. Tạo không gian mở - Kết nối bờ sông. Nguồn (Trang 203)
Hình 4.6: Khu bờ Tây sông SG. Bảo tồn các công trình có giá trị. Nguồn - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 4.6 Khu bờ Tây sông SG. Bảo tồn các công trình có giá trị. Nguồn (Trang 205)
Hình 4.8: Tân Cảng. Đánh giá hiện trạng. Nguồn Nikken Sekkei - Sở QHKT - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 4.8 Tân Cảng. Đánh giá hiện trạng. Nguồn Nikken Sekkei - Sở QHKT (Trang 206)
Hình 4.10: Nam Thị Nghè, Đánh giá hiện trạng. Nguồn Nikken Sekkei - Sở - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 4.10 Nam Thị Nghè, Đánh giá hiện trạng. Nguồn Nikken Sekkei - Sở (Trang 207)
Hình 4.12: Ba Son. Đánh giá hiện trạng. Nguồn Nikken Sekkei - Sở QHKT - Sự tham gia của thiết kế đô thị trong quy trình quy hoạch xây dựng đô thị tại việt nam (lấy thành phố hồ chí minh làm địa bàn nghiên cứu)
Hình 4.12 Ba Son. Đánh giá hiện trạng. Nguồn Nikken Sekkei - Sở QHKT (Trang 208)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w