Sự phân bố, đánh giá mức độ nhiễm và những lòai cây ký chủ của BCCHD……… Thành phần thiên địch của BCCHD trong tự nhiên.……… Thành phần và mức độ xuất hiện của nhóm bắt mồi ăn thịt…… Lòai
Trang 1HỒ VĂN CHIẾN
QUẢN LÝ BỌ CÁNH CỨNG HẠI DỪA
Brontispa longissima (Gestro, 1885)
BẰNG BIỆN PHÁP PHÓNG THÍCH
ONG KÝ SINH NHẬP NỘI
Asecodes hispinarum Boucek
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Cần Thơ-2009
Trang 2HỒ VĂN CHIẾN
QUẢN LÝ BỌ CÁNH CỨNG HẠI DỪA
Brontispa longissima (Gestro, 1885)
BẰNG BIỆN PHÁP PHÓNG THÍCH
ONG KÝ SINH NHẬP NỘI
Asecodes hispinarum Boucek
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 62.62.10.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học
1 PGS TS Trần Văn Hai
2 TS Trần Tấn Việt
Cần Thơ-2009
i
Trang 3CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc _
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các
số liệu, hình ảnh và kết quả nghiên cứu trong luận án nầy là trung thực và chưa từng được sử dụng để công bố hay bảo vệ bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án nầy
đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án nầy đều được ghi rõ địa chỉ và nguồn gốc
Tác giả luận án
NCS Hồ Văn Chiến
ii
Trang 4Để hoàn thành luận văn nầy, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận
tình của quý thầy và xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- PGs.TS Trần Văn Hai, Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp
và Công nghệ sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ
- TS Trần Tấn Việt, Trưởng khoa Nông học, kiêm Trưởng Bộ môn Bảo vệ thực vật, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Cần Thơ, Ban Chủ nhiệm Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo sau Đại học, Bộ môn Bảo vệ thực vật; đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện luận văn
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi nhận được giúp đỡ quí báo của Bà TS Pat Matteson, nguyên đại diện Văn phòng “FAO” Việt Nam, TS Wilco Liebregts, nguyên Cố vấn kỹ thuật “FAO” của Dự án TCP/VIE/2905 (A) về “Quản lý dịch hại tổng hợp đối với bọ cánh cứng hại
dừa (Brontispa longissima Gestro) tại Việt Nam”, TS Moni Escalada,
chuyên gia Xã hội học (IRRI)
Đặc biệt trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, chúng tôi luôn được Lãnh đạo Cục Bảo vệ thực vật và Trung tâm bảo vệ thực vật – phía Nam động viên giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ
Xin tỏ lòng biết ơn Chi cục Bảo vệ thực vật các tỉnh, thành phía Nam
đã giúp đỡ tôi trong công tác điều tra những dữ liệu cần thiết có liên quan
để tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và những bạn bè thân thiết đã hết lòng động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn nầy
Tiền Giang, ngày tháng năm 2009 Tác giả luận văn
Hồ Văn Chiến
iii
Trang 5quan trọng nhất gây hại cho nhiều vườn dừa Loài nầy đã được phát hiện đầu tiên tại thị xã Sa Đéc vào tháng 4 năm 1999, đã lan rộng rất nhanh và đến tháng 7 năm
2002 có khoảng 6,7 triệu cây dừa bị nhiễm
Do vậy, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ra Quyết định số: 2040/BNN-BVTV ngày 30/7/2002 mở đợt ra quân phòng trị bằng thuốc hóa học lấy kinh phí từ nguồn ngân sách của tỉnh nhằm ngăn chặn sự bộc phát và giảm được sự phát tán lây lan gây thiệt hại Tuy nhiên, việc phòng trị bằng thuốc hóa học chỉ sau vài ba tháng thì lại bị tái nhiễm trở lại Năm 2003, với sự hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và “FAO” đã ký kết dự án rất quan trọng với mục đích phòng trừ bọ cánh
cứng hại dừa bằng biện pháp sinh học thông qua việc nhập ong ký sinh Asecodes hispinarum Boucek (Hymenoptera: Eulophidae) từ Tây Samoa về Việt Nam with
“FAO” protocols
Luận án nầy nghiên cứu về các chủ đề chính như sau:
Đối với ký chủ B longissima (Gestro), điều tra đánh giá sự xuất hiện ở các
tỉnh phía Nam vẽ bản đồ phân bố và sự lây lan bằng phần mềm “GIS” và
“Mapinfo” ở thời điểm trước và sau khi phóng thích ong ký sinh vào các vườn dừa trong tự nhiên Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về hình thái và sinh học cho thấy thành trùng có chiều dài khoảng 9,65 ± 0,47mm và có thể sống từ 146-198 ngày Thành trùng cái đẻ từ 68-114 trứng, trứng có dạng hình “ellip” và có màu nâu Ấu trùng có màu trắng nhạt trãi qua 5 tuổi rồi qua giai đọan nhộng Vòng đời
bọ cánh cứng hại dừa B longissima biến động từ 147-254 ngày Nuôi 5 cặp cá thể
ban đầu (No.) có tốc độ phát triển quần thể ở vào thời điểm 45 và 90 ngày với tổng
số cá thể (N) là 171 và 266 con, với hệ số phát triển quần thể “r” là 0,382 và 0,296, theo thứ tự (T = 260C - 300C, H = 72% - 81%)
Đối với ký sinh (A hispinarum Boucek), trước khi phóng thích đã điều tra
thiên địch trong tự nhiên của các vườn dừa ở 10 tỉnh của phía Nam kết quả cho
thấy có 3 loài thiên địch có tiềm năng là 2 loài nấm gây bệnh (Metarhizium anisopliae, Beauveria bassiana) và 1 loài vi khuẩn gây bệnh (chưa định danh được loài), trong đó nấm M anisopliae có tỷ lệ ký sinh cao nhất là 11,90%
Nghiên cứu về các đặc tính hình thái và sinh học của ong ký sinh A hispinarum cho thấy chúng có ba giai đoạn: trứng, ấu trùng và nhộng sống bên
trong cơ thể của “mummy”; còn thành trùng thì sống bên ngoài Các giai đoạn
iv
Trang 6điểm 42 ngày sau khi phóng thích 5 cặp là 21.767 con, có hệ số gia tăng quần thể
“r” là 0,1829 (T = 280C - 300C, H = 74 - 82%)
Nghiên cứu về ký sinh và ký chủ được phóng thích trong các lồng vải cho thấy ong cái có khả năng ký sinh ấu trùng của ký chủ từ tuổi 1 đến giai đoạn nhộng Vào thời điểm 30 ngày sau khi phóng thích tỷ lệ ký sinh trung bình cao nhất ở tuổi 4 và tuổi 5 là 88,14% và 85,47%, lần lượt theo thứ tự Phóng thích ong
ký sinh trong điều kiện tự nhiên theo điều kiện canh tác chuyên canh hay xen canh của các vườn dừa, sử dụng máy định vị “GPS“ ” để đo đạt thì kết quả sau một tháng ”
phóng thích ong ký sinh có thể phát tán xa điểm gốc phóng thích khoảng 1km ở điều kiện canh tác chuyên canh và khoảng 4km ở điều kiện canh tác xen canh
Đối với sự phục hồi của cây dừa, sau một năm từ khi phóng thích ong ký sinh, tỷ lệ phục hồi trung bình của các cây dừa bị nhiễm là 50,11%, thuộc khu vực các tỉnh phía Nam
Về kết quả điều tra “Kiến thức-Thái độ-Thực hành” trước và sau thực hiện
đề tài của 615 nông dân trồng dừa ở 6 tỉnh cho thấy: Nông dân đã sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ bọ cánh cứng hại dừa 1 lần và 2 lần đã giảm từ 36,9% xuống 3,1% và từ 35,8% xuống 0,8%, theo thứ tự Kiến thức hiểu biết về ong ký sinh để phòng trị bọ cánh cứng hại dừa thì tăng từ 0,2% lên 47,3%
Ước tính tỷ số lợi nhuận của dự án là 1:91,92 Như vậy, từ 1 đô-la đầu tư của dự án để quản lý bọ cánh cứng hại dừa bằng biện pháp sinh học sẽ lợi 91,92
đô-la trong giai đoạn là 5 năm Quản lý BCCHD, B longissima bằng biện pháp
phòng trừ sinh học cổ điển có một vai trò hết sức quan trọng đối với Việt Nam trong thời gian dài bởi vì đạt được lợi ích kinh tế dài hạn và biện pháp phòng trừ nầy rất thân thiện với môi trường
v
Trang 7of coconut plantations The pest was found for the first time at the Sa Dec town of Dong Thap province in April, 1999 and has expanded rapidly; in July, 2002 the coconut hispine beetle there were around 6.7 million coconut trees with infestations
Therfore, Ministry of Agriculture and Rural Development (MARD) had a Decision No 2040/BNN-BVTV date July 30, 2002 on a massive campaign whereby the use of chemical pesticides is subsidized by local government in an attempt to control the pest outbreak and reduce its rate of spread and damage However, the use of pesticide application and there are reinfestations around 2-3 months after that In 2003, the project collaborate between Vietnamese Government and “FAO” is very important one and primarily aimed at establishing classical biological control of coconut hispine beetle with imported parasitoids,
Asecodes hispinarum Boucek (Hymenoptera: Eulophidae), from Western Samoa
into Vietnam with FAO protocols
The thesis is to study on the main subjects as following:
For the host B longissima (Gestro), the historical profile was evaluted on
occurrence timing and locations by the distribution and extension maps were drawn by “GIS” and “Mapinfo” software, at timing of before and after release parasitoids into natural coconut plantations Laboratory studies on morphology and biology showed that adults are around 9.65 ± 0.47mm long and can live from 146-198 days Adult females lay from 68-114 eggs with brown elliptical eggs Thelarvae are whitish colour and undergo five instars and pupae The life cycle of B longissima is around 147-254 days The speed of population development after 45 and 90 days of number in final population (N) were 171 and 266 individuals per 5 pairs (N0), respectively The growth rate “r” of population for 45 and 90 days are 0.382 and 0.296, respectively (T = 260C - 300C, H = 72% - 81%)
For the parasitoid (A hispinarum), surveyed the local natural enemies in
field conditions in 10 provinces of southern parts, before at the time of parasitoid releasing The results showed that there were three potential natural enemies with
2 species of entopathogenic fungi (Metarhizium anisopliae, Beauveria bassiana)
and one species of entopathgenic bacterium (its species was not identified yet)
with the highest percent parasitism was 11.90% of M anisopliae
vi
Trang 8T = 280C-300C, H = 74-82% and at T = 300C-340C, H = 62-68%, the average of
life cycle for A hispinarum were 18.74±1.32 days and 17.90±1.17 days, respectively The speed of population development of Asecodes hispinarum at 42
days after releasing was 21,767 individuals per 5 pairs The growth rate “r” of population for 42 days is 0.1829 (T = 280C - 300C, H = 74-82%)
The research on host and parasitoid were released in cloth cages showed that the female parasitoid was able to attack the 1st instar larval to pupal stage of the host The parasitism rate was highest for the 4rd and 5th instar, with the averages of 88.14% and 85.47%, respectively, after 30 days of the release Surveys by ‘GPS’ have shown that the dispersal rate of the parasitoid from the release sites is around 1 to 4 km per month for mono and inter-cropping coconut plantations, respectively
Evaluation on effectiveness of parasitoid after releasing in the southern parts of Vietnam, results showed that after one year of releasing in field conditions, there was an average of 50.11% of the coconut palm trees recovered
In order to pre/post-test of baseline survey “Knowledge-Attitute-Practice” in
six provinces about 615 coconut growers’ interview The results showed that percentages of pesticide applications decreased from 36.9% down to 3.1% and 35.8% down to 0.8% for one and two times, respectively The coconut growers are known well the parasitoid for leaf hispine coconut control from 0.2% up to 47.3%%
For the project, estimated Benefit Cost Ratio (BCR) was 1:91.92, which implies that for every dollar invested in biocontrol there are $91.92 returned as
benefits during a 5-year period The classical biological control of B.longissima
should play important role in control this pest for Vietnam for the longer term because of its benefit in economic terms and its environment-friendliness
vii
Trang 9Lời cam đoan………
Lời cảm ơn……… ……… ……….………
Tóm lược……… ………
Summary……….……
Mục lục………
Các chữ viết tắt……….…………
Danh mục các bảng……….………
Danh mục các hình………
MỞ ĐẦU………
ii iii iv vi viii xii xiv xvi 1 1 2 2.1 2.2 3 3.1 3.2 4 5 5.1 5.2 1.1 1.1.1 1.1.2 1.1.3 1.1.4 1.1.5 Tính cấp thiết của đề tài………
Mục đích và yêu cầu của đề tài………
Mục đích………
Yêu cầu………
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiển của đề tài…………
Ý nghĩa khoa học………
Ý nhĩa thực tiển
Những đóng góp của luận án
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu………
Phạm vi nghiên cứu………
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU………
Bọ cánh cứng hại dừa Brontispa longissima Gestro, 1885………
Sự xuất hiện và phân bố bọ cánh cứng hại dừa trên thế giới và trong nước
Các loài cây ký chủ của bọ cánh cứng hại dừa Brontispa longissima ………
Đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của BCCHD……
Cách gây hại và thiệt hại về kinh tế của BCCHD………
Những biện pháp phòng trừ BCCHD, ngoài biện pháp sinh học
1
2
2
3
3
3
4
4
5
5
5
6
6
6
11
12
13
15
viii
Trang 101.2.3
1.3
2.1
2.1.1
2.1.2
2.2
2.2.1
2.2.2
2.2.2.1
2.2.2.2
2.2.3
2.2.3.1
2.2.3.2
2.2.3.3
2.2.3.4
2.2.3.5
Các loài thiên địch ăn thịt khác………
Những phát triển và ứng dụng về “Quản lý dịch hại tổng hợp” (IPM) và phòng trừ sinh học………
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………
Vật liệu ………
Địa điểm và thời gian thực hiện ………
Vật liệu nghiên cứu………
Phương pháp nghiên cứu………
Phân tích yếu tố liên quan và chọn địa điểm, vùng nghiên cứu………
Đối với BCCHD, điều tra sự phân bố và đánh giá mức độ nhiễm
Điều tra về thành phần bắt mồi ăn thịt, ký sinh và tỷ lệ ký sinh trên BCCHD trong tự nhiên, trước khi phóng thích OKS.……
Nghiên cứu vòng đời, các đặc điểm về sinh học, hình thái học và hệ số gia tăng quần thể………
Đối với OKS nhập nội (Asecodes hispinarum), nghiên cứu về khả năng ký sinh chuyên tính, hình thái, sinh học và mức độ gia tăng quần thể………
Nghiên cứu về tính hấp dẫn bởi hóa chất thông tin để OKS định hướng tim đến ký chủ……….………
Nghiên cứu về phương pháp nhân nuôi OKS và phóng thích
Nghiên cứu khả năng thích nghi của OKS ở điều kiện lồng vải đặt trong vườn………
Nghiên cứu khả năng phát tán của OKS ở điều kiện tự nhiên của vườn dừa, thời điểm phóng thích vào tháng 8/2003………
Điều tra theo dõi tỷ lệ ký sinh qua các tuổi phát dục của BCCHD sau phóng thích OKS 10 ngày và điều tra định kỳ hàng tháng liên tục trong một năm sau khi phóng thích tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang………
22
24
36
36
36
36
37
37
37
38
39
40
44
45
46
47
48
ix
Trang 112.2.6
2.2.7
3.1
3.1.1
3.1.2
3.1.2.1
3.1.2.2
3.1.2.3
3.2
3.2.1
3.2.2
3.3
3.3.1
3.3.2
3.3.3
3.3.4
3.3.5
3.3.6
3.4
3.5
3.6
Điều tra về “Kiến thức - Thái độ - Thực tiễn” “KAP” …
Xử lý số liệu………
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN………
Hiện trạng gây hại của BCCHD tại các tỉnh phía Nam……
Sự phân bố, đánh giá mức độ nhiễm và những lòai cây ký chủ của BCCHD………
Thành phần thiên địch của BCCHD trong tự nhiên.………
Thành phần và mức độ xuất hiện của nhóm bắt mồi ăn thịt……
Lòai côn trùng khác, đã phát hiện chưa xác định được vai trò của chúng………
Thành phần ký sinh và tỷ lệ ký sinh trên BCCHD trong tự nhiên………
Đặc tính sinh học, hình thái học, biến động về thời gian phát dục, gia tăng quần thể và gây hại của BCCHD………
Đặc tính sinh học, hình thái học, biến động về thời gian phát dục, gia tăng quần thể của BCCHD………
Khảo sát sự gây hại của BBCCHD trong tự nhiên …………
Khả năng ký sinh chuyên tính, hình thái, sinh học và mức độ gia tăng quần thể của OKS nhập nội Asecodes hispinarum…
Khả năng ký sinh chuyên tính của OKS………
Đặc điểm sinh học, hình thái và thời gian của các pha phát dục của OKS A hispinarum……… ………
Mức độ gia tăng quần thể của OKS A hispinarum…………
Thử tính hấp dẫn bởi hóa chất thông tin của OKS…
Về sự thích nghi của OKS ở điều kiện lồng vải…………
Khả năng phát tán của ong ký sinh ở điều kiện trong tự nhiên sau một tháng phóng thích………
Qui trình nhân nuôi, phóng thích OKS và tập huấn chuyển giao Điều tra đánh giá về tỷ lệ ký sinh, mức độ phục hồi của cây dừa………
Điều tra đánh giá về hiệu quả của việc phóng thích OKS để quản lý BCCHD tại 6 tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL………
50
52
53
53
53
61
61
63
63
66
66
75
78
78
79
90
91
94
96
100
104
117
x
Trang 12QUY TRÌNH NHÂN NUÔI ONG KÝ SINH
ASECODES HISPINARUM
MÃ HÓA “CODEBOOK” CÁC DỮ LIỆU ĐIỀU TRA
“KAP” TỪ NHỮNG NÔNG DÂN TRỒNG DỪA KẾT QUẢ THỬ T-TEST SỐ LIỆU ĐIỀU TRA “KAP”
TRƯỚC VÀ SAU THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KẾT QUẢ THỐNG KÊ CÁC DỮ LIỆU TRUNG BÌNH
VÀ ĐỘ LỆCH CHUẨN
NHỮNG VĂN BẢN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN TÓM TẮT CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH ĐÁNH GIÁ VỀ
BCCHD VÀ NHẬP OKS Asecodes hispinarum TỪ
SAMOA VỀ VIỆT NAM
xi
Trang 13APPPC Asia and Pacific Plant Protection Commission (Hiệp
hội Bảo vệ thực vật Châu Á-Thái Bình Dương) (thuộc FAO)
BCCHD Bọ cánh cứng hại dừa
BCR Benefit Cost Ratio (Tỷ số lợi nhuận)
BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BVTV Bảo vệ thực vật
CBA Cost Benefit Analysis (Phân tích giá trị lợi nhuận)
CABI International Center for Agriculture and Biosciences
(tên thường gọi là “Commonweath Agricultural Bureaux International”: Trung tâm Khoa học sinh học
và Nông nghiệp thế giới) (ở Anh Quốc)
CBKT Cán bộ kỹ thuật
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu long
EPPO The European and Mediterranean Plant Protection
Organization (Tổ chức Bảo vệ thực vật vùng Địa Trung Hải và Châu Âu)
H% Percentage of Humidity (Phần trăm độ ẩm không khí)
IRRI International Rice Reseasrch Institute (Viện Nghiên
cứu Lúa gạo Quốc tế)
KAP Knowledge-Attitute-Practices (Kiến thức - Thái độ -
NHM Natural History Museum (Viện Bảo tàng lịch sử tự
nhiên) (ở Luân Đôn)
xii
Trang 14PRA Pest Risk Analysis (Phân tích nguy cơ dịch hại)
T Time (Thời điểm phóng thích, thời gian)
T 0 C Temperature Celsius (Nhiệt độ bách phân)
Trang 15Thành phần thiên địch của BCCHD (B.longissima)………
Các nước khu vực Châu Á tham gia vào chương trình “IPM”,
các dữ liệu về năm bắt đầu huấn luyện, số nông dân được huấn
luyện và nông dân trở thành huấn luyện viên………
Tổng số cây dừa trồng, tổng số cây dừa bị nhiễm, tỷ lệ dừa bị
nhiễm và cấp (C1-C12) gây hại bởi BCCHD (B longissima) tại
20 tỉnh/thành phía Nam (tháng 7/2003)
Các loài cây ký chủ của BCCHD và mức độ gây hại …………
Tần suất xuất hiện của các loài bắt mồi ăn thịt BCCHD ở 10
tỉnh, thời điểm điều tra vào tháng 5-6/2003, trước khi phóng
thích OKS
Số cá thể quan sát ở các giai đoạn phát dục trên BCCHD và tỷ lệ
ký sinh của 3 loài: (1) nấm Metarhizium anisopliae, (2) nấm
Bauveria bassiana (3) vi khuẩn gây bệnh………
Thời gian nở của trứng BCCHD………
Số cá thể quan sát và kích thước (chiều rộng X chiều dài) ở các
Khả năng ký sinh chuyên tính trên ấu trùng của 5 loài côn trùng:
Bọ gai hại lúa, ong mật, kiến vàng, bọ rùa và sâu ăn tạp Thời
điểm thí nghiệm tháng 7-8/2003, tại Tiền Giang………
Kích thước trung bình (chiều dài X chiều rộng) ở các pha phát
dục của quần thể OKS………
Thời gian phát dục trung bình qua các pha, khả năng đẻ trứng và
ký sinh của OKS Asecodes hispinarum………
Số cá thể quan sát, kích thước trung bình (chiều rộng X chiều
dài) của OKS A hispinarum ở các pha phát dục
923
26
5357
62
6568717275
78818289
xiv
Trang 16Định hướng phát tán của OKS giữa nghiệm thức ấu trùng
BCCHD tuổi 4 và lá dừa chúng đang ăn so với chỉ có chứa ấu
trùng tuổi 4
Hiệu quả ký sinh của ong A hispinarum lên các giai đoạn sinh
trưởng của BCCHD, trong lồng vải ở 3 thời điểm 15, 30 và 45
NSPT
Định vị các tọa độ và đo các khoảng cách phát tán của OKS tại
4 huyện, thuộc tỉnh Tiền Giang………
Tỷ lệ ký sinh của OKS trên các pha phát dục của BCCHD tại
huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, thời gian từ tháng 7/2004
đến tháng 6/2005
Tỷ lệ phục hồi (%) của cây dừa bị hại bởi BCCHD ở tỉnh Tiền
Giang, tháng 5 và tháng 12 năm 2005………
Tình hình gây hại của bọ cánh cứng trên cây dừa ở các huyện
thuộc tỉnh Tiền Giang (từ tháng 5/2003 -12/2005) trước và sau
6 tháng phóng thích ong ký sinh A hispinarum ………
Thời gian phóng thích OKS, kinh phí đầu tư, tần suất xuất hiện
và tỷ lệ cây dừa bị nhiễm BCCHD được phục hồi (điều tra vào
tháng 5/2005 và tháng 12/2005)………
Điều tra đánh giá về hiệu quả của việc phóng thích OKS để
quản lý BCCHD tại 6 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long…
92
93
9498
104111
112
114117
xv
Trang 17Bọ cánh cứng trên cây dừa nước Nypa fruticans ở Việt Nam loài
Plesispa reichei Chapuis (Tran Tan Viet, 2005) [112]…………
Tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến quần thể của dịch hại và
thiên địch Nguồn: DeBach, 1964 [38]………
Biến động quần thể dịch hại trước và sau khi phóng thích ký sinh
với “ngưỡng kinh tế” (Smith và van den Bosch, 1967) [98]……
Sự biến động quần thể giữa ký sinh và ký chủ: ổn định và bán ổn
định, May (1973) [77]………
Sự biến động quần thể giữa ký sinh và ký chủ: Không ổn định và
ổn định với yếu tố con người tác động qua phóng thích ký sinh
Không có thuốc hoá học, kiểu biến động quần thể giữa ký sinh và
ký chủ theo hướng có lợi………
Sử dụng thuốc hoá học làm giảm mật số ký chủ, không tiêu diệt
ký sinh………
Thuốc hoá học tiêu diệt ký sinh và làm quần thể ký chủ hạ xuống
thấp tạm thời thì sẽ gây ra sự tái phát………
Thí nghiệm về khả năng ký sinh chuyên tính của OKS lên bọ gai
Hệ thống thùng lớn, 2 hộp nhỏ và 2 ống thông ở 2 bên của thí
nghiệm về định hướng phát tán của OKS, thời gian thực hiện
tháng 9/2004 tại Tiền Giang………
Bố trí thí nghiệm, khả năng thích nghi của OKS ở điều kiện lồng
vải, với 3 nghiệm thức và 4 lần nhắc lại, tại Tiền Giang…………
Sự phân bố và mức độ nhiễm của BCCHD ở các tỉnh phía Nam,
tháng 7 năm 1999………
Sự phân bố và mức độ nhiễm của BCCHD ở các tỉnh phía Nam,
tháng 7 năm 2003………
1012283031
3132333434
3541
45475556
xvi
Trang 18Bản đồ phân bố mức độ gây hại của BCCHD ở tỉnh Tiền Giang,
tháng 3/2004, sau chiến dịch phòng trừ bằng thuốc hóa học……
Bản đồ phân bố mức độ gây hại của BCCHD ở tỉnh Tiền Giang,
vào tháng 6/2004 (sau 3 tháng thực hiện chiến dịch thuốc hóa
học)………
Kỳ nhông (1) (Tiền Giang), bọ đuôi kiềm Chesiloches variegatus
(2) (Bến Tre), Chelisoches morio (3) (Trà Vinh) và Kiến vàng
(4) (Bến Tre) cũng là thiên địch của BCCHD trong tự nhiên……
Thành trùng BCCHD bị nhện nhỏ (Acaridae) đeo bám trên thân
với mật số cao (1) và với mật số thấp (2)………
Nhộng (1) và trưởng thành (2) BCCHD bị ký sinh gây bệnh bởi vi
khuẩn, nấm xanh ký sinh trưởng thành BCCHD (3) và phát triển
trên đọt dừa (4) (Hình: Chụp tại Tiền Giang tháng 6/2003)……
Trứng của BCCHD (trái) và ấu trùng đang nở ra từ trứng (phải)…
Số lượng trứng đẻ trong mỗi ổ của BCCHD………
Kích thước (đơn vị thước đo = 1mm) của thành trùng BCCHD
(1) với tư thế chuẩn bị bay (2) vào chiều mát………
Hình dạng trưởng thành cái và đực ở mặt bụng (trái) và mặt lưng
(phải) của BCCHD con cái và con đực theo thứ tự………
Vòng đời của BCCHD B longissima với sự hiện hiện của ong ký
sinh trên ấu trùng của ký chủ ở tuổi 4………
Cây dừa bị nhiễm nặng BCCHD và không cho trái tại huyện Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang (1) (4/2001), hàng dừa bị nhiễm nặng
BCCHD và bị chết ở huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh (2) (6/2002)
Triệu chứng gây hại của BCCHD ở đọt lá non chưa bung ra (1),
cách phát hiện chúng (2), triệu chứng gây hại khi lá đã bung ra,
cây không cho trái (3) (Tiền Giang, tháng 4/2003) và gây hại
trên dừa còn nhỏ trong vườn ươm (Bình Thuận, tháng 6/2003)…
Thí nghiệm khả năng ký sinh chuyên tính lên ấu trùng bọ gai, ở 3
lần nhắc lại có phóng thích ong ký sinh, trưởng thành đã vũ hóa
100%
59
60
6263
646768737374
76
77
79
xvii
Trang 19Hình dạng nhộng Ong ký sinh A hispinarum ở vào 10, 12 và 15
ngày sau khi ký sinh ………
Hình dạng râu đầu, đốt chân và mạch cánh của ong ký sinh cái…
OKS trưởng thành A.hispinarum con cái có máng đẻ trứng (mũi
tên)………
Hình dạng của ong ký sinh A hispinarum cái (trái) và ong đực
(phải)………
Hình dạng cánh trái (1) cánh phải (2) chân sau bên trái (3) và cặp
râu đầu (4) của ong ký sinh A hispinarum………
Sự thay đổi màu sắc của ấu trùng BCCHD bị ký sinh ở vào các
thời điểm 3, 5, 6, 7, 10 và 18 ngày sau ký sinh (từ trái sang phải)
Màu sắc của chúng chuyển từ màu vàng sang vàng nâu rồi đến
nâu đen và cuối cùng có màu đen………
Ong ký sinh A hispinarum đang đẻ trứng lên ấu trùng BCCHD
Vị trí đẻ trứng của ong ký sinh lên ấu trùng BCCHD ở bất cứ nơi
nào trên thân………
Vòng đời của ong ký sinh A hispinarum………
Bố trí thí nghiệm trong lồng vải và theo dõi điều tra đánh giá……
Định vị theo (GPS) tại các điểm phóng thích và điểm phát hiện sự
phát tán của ong ký sinh sau 1 tháng, định vị tọa độ điểm P2 ở
huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang………
Mức độ phát tán của ong ký sinh A hispinarum trong tự nhiên…
Sử dụng máy đo định vị (GPS) để đo khoảng cách phát tán (từ
điểm phóng thích A đến điểm phát tán B)………
Phương pháp phóng thích ong ký sinh bằng hộp nhựa được thay
thế bằng túi lưới “ny-lon”………
Sơ đồ phòng nuôi BCCHD và nhân sinh khối ong tại Trung tâm
Bảo vệ thực vật phía Nam, xã Long Định, huyện Châu Thành,
tỉnh Tiền Giang………
Phương pháp phóng thích Ong ký sinh (huyện Chơ Gạo, Tiền
Giang)………
8384848586
87
878896
9799100101
102103
xviii
Trang 20Tỷ lệ ký sinh trên ấu trùng tuổi 4 và ký sinh quần thể BCCHD tại
huyện Châu Thành, Tiền Giang từ tháng 7/2004 đến tháng
6/2005………
Tỷ lệ cây dừa bị nhiễm BCCHD từ tháng 5/2003-12/2005, trước
và sau phóng thích OKS của tỉnh Tiền Giang………
Diễn biến nhiệt độ bình quân qua các tháng trong 3 năm
(2003-2005) tại tỉnh Tiền Giang………
Diễn biến ẩm độ bình quân qua các tháng từ năm 2003-2005 của
tỉnh Tiền Giang………
Diễn biễn lượng mưa qua các tháng trong 3 năm (2003-2005) tại
tỉnh Tiền Giang………
Vườn dừa đã phục hồi và cây dừa khó phục hồi (trái); cây dừa đã
phục hồi sau 6 tháng phóng thích OKS (Hình: Cai Lậy, Tiền
Giang, tháng 11/2004)………
Sự phục hồi của cây dừa qua kết quả điều tra vào tháng 5/2005…
Sự phục hồi của cây dừa qua kết quả điều tra vào tháng 12/2005
Biện pháp canh tác dừa, sử dụng phân bón và thu hoạch dừa để
bán của nông dân trồng dừa của 6 tỉnh điều tra………
Các chỉ tiêu hiểu biết về BCCHD, OKS, dừa phục hồi và cách sử
dụng thuốc hóa học của nông dân trồng dừa tại 6 tỉnh điều tra…
105107108109110
113115116121122
xix
Trang 21MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ở Việt Nam, diện tích trồng dừa (Cocos nucifera L.) khoảng 155.800ha tập
trung ở Đồng Bằng Sông Cửu Long và một số tỉnh ven biển miền Trung; sản lượng dừa đạt khoảng 892.000 Tấn/năm (Nguyễn Sinh Cúc, 2003) [15] Về côn trùng gây hại cho dừa trước và sau thu hoạch có đến 737 loài, trong đó có 165 loài trước thu hoạch (Đặng Xuân Nghiêm, 1991) [4]
Tháng 4 năm 1999, phát hiện Bọ cánh cứng hại dừa (BCCHD) Brontispa longissima (Gestro, 1885) (Coleoptera : Chrysomelidae) xuất hiện và gây hại trên cây dừa (Cocos nucifera) tại thị xã Sa Đéc thuộc tỉnh Đồng Tháp (Hồ Văn Chiến,
2001) [6] Đến tháng 7 năm 2000 đã có 18/21 tỉnh, thành đã phát hiện thấy có loài côn trùng nầy gây hại trên cây dừa với tổng số cây dừa bị gây hại là 167.628 cây,
Cau kiểng các loại và Thiên Tuế (Cycas pectinata) là 4.225 cây Tháng 8 năm 2001
loài côn trùng nầy đã xuất hiện ở 21/21 tỉnh/thành của các tỉnh phía Nam Tổng số
có 1.417.141 cây dừa bị gây hại Cho đến tháng 7/2002 từ Quảng Nam đến Cà Mau
có khoảng 6,7 triệu cây dừa và 14.000 cây cau kiểng các loại bị BCCHD tấn công
Trong nội dung phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn đến năm 2010 của Bộ Nông Nghiệp & PTNT (9/2001) [2] về cây dừa sẽ đẩy mạnh thâm canh vườn dừa hiện có, duy trì diện tích trồng dừa khoảng 125.000 đến 130.000 ha ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long
Cây dừa và các nghề có liên quan đến dừa vẫn đóng một vai trò kinh tế rất quan trọng, vì ngoài việc thu nhập trực tiếp từ sản lượng dừa, cây dừa còn cho nhiều sản phẩm khác như: dầu dừa, thủ công mỹ nghệ từ thân và gáo dừa, xơ dừa, than hoạt tính, kẹo dừa, thạch và nước dừa đóng hộp….đã tạo được sự ổn định về công
ăn và việc làm cho khá nhiều lao động trong nông thôn
Vì những yêu cầu bức xúc như đã nêu trên, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có công văn số 2040/BNN-BVTV ngày 30/7/2002 về việc phát động “Tháng phòng trừ
bọ cánh cứng hại cây dừa” trong phạm vi 30 tỉnh, thành thuộc miền Trung và miền Nam [1]
Sau chiến dịch tổng số cây dừa đã được phòng trừ là 4.154.764 cây trên 9.359.403 cây bị nhiễm Tổng kinh phí các địa phương đã chi là 3.990.390.000 đồng
Trang 22Tuy nhiên, ở các tỉnh phía Nam qua mùa khô năm 2003 những cây dừa đã được phòng trừ lại bị tái nhiễm cũng như sự lây nhiễm lan rộng nhiều hơn và nhiều nông dân đã sử dụng thuốc hóa học để phòng trị trở lại, đến tháng 7 năm 2003 tổng
số cây dừa bị nhiễm là 7.844.320 cây
Do không thành công về biện pháp sử dụng thuốc hoá học, Chính Phủ Việt Nam đã ký một dự án hợp tác nghiên cứu về “Quản lý tổng hợp bọ cánh cứng hại
dừa (Brontispa longissima Gestro, 1885) tại Việt Nam” với FAO có mã số là
TCP/VIE/2905 (A) Với định hướng của dự án là dùng biện pháp đấu tranh sinh học
cổ điển, do vậy các chuyên gia của dự án đã đề nghị sẽ nhập và phóng thích 4 loài
ong ký sinh như sau: Tetrasticus brontispae Ferriere, Asecodes sp., Chrysonotomyia
sp và Helerocoptidae sp Tuy nhiên, trong quá trình đi tìm nguồn thiên địch thì các chuyên gia của dự án đã quyết định nhập ong ký sinh (Asecodes hispinarum
Boucek) từ quần đảo Samoa về Việt Nam trước tiên (Trần Tấn Việt, 2003) [23]
Đề tài “Quản lý bọ cánh cứng hại dừa Brontispa longissima (Gestro) bằng biện pháp phóng thích ong ký sinh nhập nội Asecodes hispinarum
Boucek” tại các tỉnh phía Nam là rất cần thiết để tiến hành các nghiên cứu khoa học
cơ bản về BCCHD và ong ký sinh nhập nội Đánh giá được các yếu tố tương tác giữa chúng và những điều kiện môi trường có liên quan, hiệu quả kỹ thuật trong việc phóng thích loài ong ký sinh này, kiềm hãm được quần thể BCCHD ở mức thấp nhất, không gây thiệt hại về mặt kinh tế Đề tài sẽ đáp ứng được nhu cầu thực
tế của những người nông dân trồng dừa bảo vệ được năng suất, sản lượng và tăng thu nhập từ dừa ở những địa phương trồng dừa tập trung cũng như những nơi trồng dừa không tập trung và những cây thuộc họ cau dừa làm cảnh quan, tránh hiện tượng ô nhiễm môi trường và sức khỏe cộng đồng
2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
Trang 232.2 YÊU CẦU
- Đánh giá mức độ gây hại và diện phân bố của bọ cánh cứng hại dừa ở các tỉnh thuộc khu vực phía Nam (vẽ bản đồ phân bố sử dụng phần mềm Mapinfo và GIS)
- Tìm hiểu về đặc tính hình thái, sinh học và khả năng phát triển quần thể của
BCCHD (Brontispa longissima (Gestro)) và OKS nhập nội (Asecodes hispinarum
Boucek), cũng như khả năng phát tán, mức độ ký sinh và sự thích nghi của OKS nhập nội trong điều kiện tự nhiên sau khi phóng thích
- Hoàn thiện phương pháp nhân nuôi và phóng thích OKS nhập nội, tập huấn
và chuyển giao cho cán bộ Chi cục Bảo vệ thực vật các tỉnh cùng nhân nuôi và phóng thích trên diện rộng
- Điều tra, đánh giá về hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế trong việc phòng
trừ BCCHD bằng biện pháp phóng thích OKS nhập nội (Asecodes hispinarum
tự phát tán trong tự nhiên một cách dễ dàng
- Cung cấp những dẫn liệu về hình thái học và sinh học của BCCHD
(Brontispa longissima Gestro, 1885) và của OKS nhập nội (Asecodes hispinarum
Boucek), sự tương tác giữa vật chủ và ký sinh sau khi phóng thích ký sinh trong
điều kiện tự nhiên nhằm hạ được mật số BCCHD ở dưới ngưỡng gây hại Đối với
dự án của “FAO” TCP/VIE/2905 (A) thì không có đi sâu vào phần nghiên cứu mà chỉ nhập OKS, nhân nuôi và phóng thích Do vậy, những kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ cũng như việc nâng cao hiệu quả phòng trừ
BCCHD bằng OKS nhập nội tại các tỉnh/thành phía Nam
Trang 243.2 Ý NGHĨA THỰC TIỂN
- Cung cấp dẫn liệu làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá mức độ gây hại và
sự phân bố của BCCHD nhằm đưa ra biện pháp phòng trừ là cần thiết và đạt hiệu quả về kỹ thuật cũng như hiệu quả về kinh tế, yếu tố môi trường và xã hội trên phạm vi rộng
- Nâng cao sự hiểu biết cho cán bộ bảo vệ thực vật và nông dân trồng dừa về những kết quả nghiên cứu của loài dịch hại mới xuất hiện trên cây dừa cũng như OKS nhập nội thông qua biện pháp phòng trừ sinh học bằng cách nhân nuôi và phóng thích trên diện rộng
- Góp phần xây dựng chiến lực phòng trừ bằng sinh học đối với BCCHD nói riêng và đối tượng dịch hại mới xuất hiện trên cây trồng khác nói chung
4 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
- Những nghiên cứu cơ sở khoa học về các đặc tính hình thái và sinh học của
BCCHD Brontispa longissima (Gestro) và OKS Asecodes hispinarum Boucek hỗ trợ tốt cho dự án “Quản lý tổng hợp bọ cánh cứng hại dừa (Brontispa longissima
Gestro, 1885) tại Việt Nam” giữa Chính phủ Việt Nam và “FAO” có mã số là TCP/VIE/2905 (A) nhanh chóng đạt hiệu quả hơn Là những dẫn liệu khoa học cho công tác tập huấn và giảng dạy, là tài liệu tham khảo tốt
- Về phương pháp luận đã đóng góp và bổ sung khá hoàn chỉnh giữa lý luận
và thực tiễn trong việc ứng dụng phòng trừ sinh học cổ điển đối với côn trùng mới
là BCCHD đã thành công trên diện rộng ở các tỉnh phía Nam, nâng cao trình độ nhận thức cho cán bộ kỹ thuật và nông dân trong phòng trừ dịch hại bằng biện pháp sinh học
- Phương pháp nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu cũng như qui trình
nhân nuôi, phóng thích OKS (Asecodes hispinarum) để phòng trừ BCCHD đạt hiệu
quả cao, không tác hại đến sự đa dạng về sinh học đã được ứng dụng rộng rãi ở 21 tỉnh/thành phía Nam có BCCHD xuất hiện và gây hại
- Kết quả phòng trừ tốt BCCHD đã nâng cao năng suất và sản lượng dừa, tạo niềm tin cho người tiêu dùng vì nâng cao giá trị sử dụng, không còn nghi ngờ là sản phẩm dừa có khả năng có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vì trái dừa phần lớn được
sử dụng trong diều kiện còn tươi Phục vụ được tốt cho các ngành nghề có liên quan đến sản phẩm dừa, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động dân cư nông thôn,
ổn định xã hội
Trang 255 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Hiện trạng những vườn dừa bị BCCHD (B longissima) xuất hiện, tấn công
và gây hại ở các tỉnh phía Nam
- Điều tra thành phần thiên địch của BCCHD trong tự nhiên
- BCCHD (Brontispa longissima), đối tượng dịch hại mới xuất hiện và gây
hại trên dừa
- Ong ký sinh nhập nội (A hispinarum) từ Samoa về Việt Nam
- Hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế về quản lý BCCHD bằng biện pháp phóng thích OKS nhập nội
5.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Sự phân bố và mức độ gây hại BCCHD ở các tỉnh phía Nam
- Nghiên cứu về hình thái, sinh học, mức độ gia tăng quần thể của cả hai đối tượng là BCCHD và OKS nhập nội, qui trình nhân nuôi sinh khối OKS
- Nghiên cứu phương pháp phóng thích, khả năng phát tán và tỷ lệ ký sinh của OKS trong điều kiện tự nhiên
- Điều tra tần suất xuất hiện của OKS và sự phục hồi của những cây dừa bị nhiễm BCCHD sau khi phóng thích ong ký sinh
- Điều tra “Kiến thức-Thái độ-Thực hành” của nông dân trước và sau khi kết thúc luận án
Trang 26CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 BỌ CÁNH CỨNG HẠI DỪA (BCCHD) Brontispa longissima Gestro, 1885
Theo tư liệu từ CABI, CD software (1998) [32], tên khoa học của BCCHD là
Brontispa longissima Gestro, 1885
Thuộc Bộ: Coleoptera, Họ: Chrysomelidae
Các tên khoa học khác:
Brontispa froggatti Sharp Brontispa castanea Lea Brontispa reicherti Uhmann Brontispa simmonsi Maulik Oxycephala longipennis Gestro Oxycephala longissima Gestro Brontispa longissima var javana Weise Brontispa longissima var selebensis Gestro
1.1.1 Sự xuất hiện và phân bố BCCHD trên thế giới và trong nước
Theo Rethinam và Singh (2005) [89] thì loài Brontispa longissima có nguồn
gốc từ quần đảo Aru thuộc tỉnh Maluku, rồi phát tán đến tỉnh Papua (Irian Jaya) Indonesia, sau đó chúng xuất hiện ở Papua New Guinea bao gồm cả Bismarck Archipelago và ở những nơi này thỉnh thoảng loài côn trùng này đã phát sinh thành dịch Loài côn trùng này cũng đã được báo cáo là xuất hiện ở quần đảo Solomon vào năm 1929 và ở Vanuatu vào năm 1937 (Risbec, 1942) [90] Ít năm sau đó thì nó
xuất hiện ở New Caledonia Theo Cohic (1961) [37] loài B longissima được ghi
nhận đầu tiên tại New Caledonia (Tahiti) và đã phát tán sang Polynesia Loài này cũng có xuất hiện ở đảo Samoa thuộc Mỹ và Anon (Long, 1974) [71]; ở phía Bắc nước Úc (Fenner, 1984) [45] và Đài Loan (Shiau, 1982) [95]
Theo Waterhouse và Norris (1987) [118], một số nơi có trồng dừa nhưng chưa phát hiện loài côn trùng này xuất hiện là quần đảo Cook, Fiji, Kiribati, Niue, Tokelau, Tonga và Tuvalu
Tại Hồng Kông, lần đầu tiên nhận thấy loài B longissima xuất hiện và gây
hại là vào năm 1988 trên 30 cây Cau mo nhỏ ở trong vườn ươm Nhưng mãi đến
Trang 27cuối năm 1991 mới thấy chúng xuất hiện và gây hại trên các cây dừa già hơn 30
năm tuổi (Lau, 1991) [65]
Trong những năm gần đây BCCHD đã phát tán đến Singapore, chúng gây hại
nặng ở Cộng Hòa Nauru, Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Maldives,
Myanmar và đảo Hải Nam (Trung Quốc) Các chuyên gia cũng đã phát hiện con
đường phát tán của BCCHD đi từ Ari Atol của Maldives đến Sri-Lanka và phía
Nam của Ấn Độ, vùng trồng dừa tập trung và quan trọng của thế giới (Rethinam và
Singh, 2005) [89] Phần lớn các nước nhập các loại cây như Cọ dầu, Cau mo nhỏ,
Cau vua, Chà là lùn từ Trung Quốc thì đều có loài này phân tán đi theo, thiết nghĩ
do nguồn bọ dừa từ vùng Shenzhen của tỉnh Quảng Đông (CABI, 1998) [32]
Vùng địa lý và bản đồ phân bố của loài B longissima ghi nhận dựa trên các
mẫu thu thập của Viện Bảo Tàng Lịch Sử Tự Nhiên (Luân Đôn, Anh Quốc), thời
gian và địa danh thu thập được chú thích rõ:
Danh sách các nước có loài B longissima (Gestro, 1885) xuất hiện
TẠI CHÂU Á
Các địa danh thuộc Trung Quốc:
- Hồng Kông: (Lau, 1991) [65]
- Đài Loan: (Shiau, 1982) [95]; (Chiu và Chen, 1985) [35]; (EPPO,1999) [40]
Các địa danh thuộc Indonesia:
- Irian Jaya: (Waterhouse và Norris, 1987) [118]; (EPPO, 1999) [40]
- Java: (Gressitt, 1960) [53]; (Mo, 1965) [79]; (Kalshoven, 1981) [63]; (EPPO,
1999) [40]
- Moluccas: (Gressitt, 1960) [53]; (EPPO, 1999) [40]
- Nusa Tenggara: (Kalshoven, 1981) [63]; (EPPO, 1999) [40]
- Sulawesi: (Woodroof, 1979) [121]; (Kalshoven, 1981) [63]; (EPPO, 1999) [40]
- Malaysia: (Kalshoven, 1981) [63]; (EPPO, 1999) [40]
- Singapore: (APPPC, 1987) [28]
CHÂU ĐẠI DƯƠNG
- Samoa thuộc Mỹ: (Long, 1974) [71]; (Waterhouse và Norris, 1987) [118]; (EPPO,
1999) [40]
- Úc: (EPPO, 1999) [40] (ghi chú 1)
Trang 28- Australian Northern Territory: (Annon, 1981a) [26]
- Queensland: (Gressitt, 1960) [53]; (Annon, 1981a) [26]; (EPPO, 1999) [40]
- French Polynesia: (Cohic, 1961) [37]; (EPPO, 1999) [40]
- New Caledonia: (Risbec, 1942) [90]; (Cochereau, 1969) [36]; EPPO, 1999) [40]
(ghi chú 2)
- Papua New Guinea: (Waterhouse và Norris, 1987) [118]; (EPPO, 1999) [40] (3)
- Samoa: (Annon, 1981b) [27]; (Stechmann và Semisi, 1984) [105]
- Quần đảo Solomon: (Risbec, 1942) [90]; (EPPO, 1999) [40]
- Vanuatu: (Risbec, 1942) [90]; (Gressitt, 1960) [53]; (Lever, 1969) [68]
- Wallis và Futuna Islands: (Waterhouse và Norris, 1987) [118]
Ghi chú:
(1) [EPPO PQR 1999-01] Northern Territory, Queensland, Moa Is (2) [EPPO PQR 1999-01] FAO: Noumea Peninsula (3) {EPPO PQR 1999-01] FAO: Bougainville, Manus, New Britain, New
Guinea, New- Ireland, Witu
Nguồn: CABI, 1998 [32]
Về việc phân bố của các loài BCCHD cũng rất đa dạng theo từng vùng, lãnh
thổ khác nhau như sau:
Chỉ riêng ở tại quần đảo Guam đã phát hiện có 3 loài bọ hại dừa khác nhau:
Brontispa mariana Spaeth, Brontispa palauensis (Esaki và Chujo) và Brontispa
chalybeipennis (Zacher), những loài nầy đều xuất hiện ở tại vùng Micronesia Về
địa lý của vùng Micronesia được chia ra làm nhiều huyện: loài B mariana thì có ở
Saipan, Tinian, Rota, Yap và quần đảo Truk; loài B palauensis thì xuất hiện ở quần
đảo Palau (trừ Ngaiangl và Angaur) và loài B chalybeipennis xuất hiện ở Ponape,
Kosrae và quần đảo Marshall Đối với các loài cây thuộc họ cau dừa thì ban đầu các
loài nầy tấn công trên dừa sau đó hai loài B palauensis và B chalybeipennis đã tấn
công lần lượt lên cây con của loài Pandanus sp và Exorrhiza ponapensis (Gressitt,
1955) [52]
Tại Java, miền Nam Sulawesi (phía Nam Celebes) loài B longissima chr var
selebensis Gestro đã thành dịch suốt trong những năm 1929 – 1936 ; cùng thời gian
nầy thì loài B longissima chr var javana cũng đã xảy ra tại Đông Java (Tjoa
Tjien-Mo,1963) [110]
Trang 29Bảng 1.1 Tên Quốc gia và thời gian xuất hiện của BCCHD B longissima (Gestro)
Địa danh Năm xuất hiện & ghi chú
Trung Quốc Đã được báo cáo ở vùng Shenzhen tỉnh Quảng Đông, phát tán đến Hồng Kông năm 1988, sau đó là đảo Hải Nam.* Malaysia Đã có báo cáo, chưa ghi nhận năm xuất hiện (Rethinam và Singh, 2005) [89] Maldives Đã được báo cáo năm 1999, phân bố tại Ari Atol*
Myanmar Đã được báo cáo năm 2004 (Rethinam và Singh, 2005) [89] Cambodia Đã được báo cáo năm 2001 (Rethinam và Singh, 2005) [89] Lào Đã được báo cáo năm 2001 (Rethinam và Singh, 2005) [89] Singapore Đã ghi nhận có xuất hiện (Rethinam và Singh, 2005) [89] Đài Loan Xuất hiện tại Pingtung năm 1975, phát tán đến miền Bắc và miền Đông đến Hualien và Haitung* Thái Lan Báo cáo năm 2000, gây thiệt hại nặng ở tỉnh Prachuap Khirikan (Rethinam và Singh, 2005) [89] Việt Nam Xuất hiện năm 1999 [6]
American Samoa Sự xuất hiện được ghi nhận năm 1974*
Úc Darwin ghi nhận xuất hiện ở phía Bắc Territory năm 1979, di chuyển về hướng Đông đến Cairns và Cook rồi di chuyển
về phía cực Nam đến Innisfail tiến đến Queensland*
French Polysesia Ghi nhận vào năm 1981*
New Caledonia Có báo cáo vào năm 1942, nhưng có thể chúng xuất hiện
trước năm có báo cáo*
New Hebrides Ghi nhận vào năm 1961*
Quần đảo Solomon Ghi nhận vào năm 1929*
Tahiti Ghi nhận vào năm 1961*
Vanuatu Ghi nhận vào năm 1937*
Wallis và Futuna Ghi nhận vào năm 1987*
Nguồn: *Bản đồ phân bố BCCHD được bổ sung và cập nhật của CABI
(1998) No 227 [32] Sau năm 1998 là của Rethinam và Singh, 2005 [89]
Trang 30Ở bảng (1.1), qua tổng hợp từ hai nguồn tư liệu của CABI (1998) No 227
[32] và của Rethinam và Singh, 2005 [89] thì BCCHD (B longissima) có thời gian
xuất hiện sớm nhất từ những năm 1937 ở Vanuatu, năm 1942 ở New Caledonia Khi BCCHD được phát hiện ở Việt Nam vào năm 1999 thì từ năm 2000 đến 2004 loài côn trùng nầy đã phát tán và lây lan nhanh tại các nước như Thái Lan (2000), Cộng Hoà Nauru, Lào, Cambodia (2001), Myanma (2004) Từ đó, cho thấy rằng
BCCHD (B longissima) tuy xuất hiện khá lâu và nhiều nước đã có kinh nghiệm
phòng trị loài côn trùng nầy nhưng nếu có điều kiện thì chúng cũng có khả năng phát tán, lây lan nhanh và gây hại nặng ở những vùng/địa danh mà chúng mới xâm nhập
Hình 1.1 Bản đồ phân bố BCCHD ở Châu Á và Thái Bình Dương (Wilco và Keith
2004) [120]
Mặc dù BCCHD ít di chuyển, khả năng tự di chuyển không xa và chỉ di chuyển vào ban đêm Tuy nhiên, theo Cochereau, (1969) [36] thì ở quần đảo Samoa thuộc Mỹ BCCHD có sự di chuyển rất rõ và qua kết quả nghiên cứu cũng biết được địa điểm và nguồn gốc xuất hiện ban đầu cũng như con đường lây lan của BCCHD tại quần đảo này
Tại đảo Java, Indonesia BCCHD đã xuất hiện khá lâu đời (1936) và ong ký
sinh chính là Tetrastichus brontispae (Lever, 19936) [67] Tuy nhiên, loài ong ký
Trang 31sinh nầy cũng chỉ xuất hiện có một số vùng và chúng vẫn không xuất hiện ở một số vùng khác Tjoa Tjien-Mo,(1963) [110]
Ở Việt Nam, thì BCCHD đã thấy xuất hiện tại thị xã Sa Đéc thuộc tỉnh Đồng Tháp vào tháng 4/1999 với khoảng 10% số cây bị gây hại (Hồ Văn Chiến, 2001) [6] Sau đó phát tán ở 30 tỉnh (thành) phía Nam và các tỉnh ở miền Trung như: Khánh Hoà, Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam Đến năm 2005, nhiều tỉnh ở miền Bắc Việt Nam cũng đã thấy loài côn trùng nầy xuất xuất hiện tấn công trên dừa, một
số loài cau kiểng, và Thiên tuế (Cycas pectinata) Đến tháng 6 năm 2002 loài côn
trùng này đã xuất hiện và gây hại ở 21/21 tỉnh/thành của các tỉnh phía Nam
1.1.2 Các loài cây ký chủ của BCCHD B longissima
Côn trùng B.longissima có rất nhiều cây ký chủ bao gồm các cây thuộc họ Cau (Arecaceae) Tại Papua New Guinea, thì các cây ký chủ gồm có Dừa (Cocos nucifera), Cọ (Corypha lecomtei), Cau ăn trái (Areca catechu), Cau chúa (Roystonea regia), Cọ dầu (Elaesis guineensis) Ở phía Bắc Úc, các cây ký chủ bao gồm: Cau ăn trái (Areca catechu), Cau “nicob” (Bentinckia nicobarica), Cau mộc (Carpentaria acuminata) và Cau đuôi cá (Caryota mitis) Tại Hồng Kông thì ký chủ
là Cau ngà (Phytel epha), Cau mo nhỏ (Washingtonia robusta), Cau vua (Archontophoenix alexandrae), Chà là lùn (Phoenix roebelenii) (Lau, 1991) [65], Dừa nước (Nypa fruticans), Thiên tuế (Cycas pectinata) tại Việt nam (Tran Tan
Viet, 2005) [112]
Tại các tỉnh phía Nam, BCCHD có nhiều loại cây là ký chủ của chúng gồm những cây thuộc họ Cau dừa và Thiên tuế, trong đó cây dừa vẫn là cây ký chủ chính BCCHD tấn công trên cây dừa ở mọi lứa tuổi, thường tập trung và gây hại nặng cho những cây từ 2-5 năm tuổi Bộ phận cây bị hại là phần lá dừa non, chưa
mở ra (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) [17]
Theo Rethinam và Singh (2005) [89], BCCHD còn xuất hiện và tấn công trên
các loài thuộc họ Cau như: Metroxylon sagu, Wodyetia bifurcata, Elaeis guineensis, Bentinckia nicobarrica, Carpentaria acuminata; tại Úc đã ghi nhận có 27 loài cây
thuộc bản địa và những cây thuộc loại cau kiểng đã du nhập từ nước ngoài vào mà không được kiểm dịch nghiêm nhặt cũng bị BCCHD tấn công
Tại Việt Nam theo Tran Tan Viet (2005) [112], về loài BCCHD xuất hiện ở các tỉnh phía Nam thì có 2 loài, phân bố theo 2 loại cây trồng khác nhau : Trên dừa
là loài B longissima còn trên dừa nước (Nypa fruticans) là loài Plesispa reichei
Chapuis (coconut hispid)
Trang 32Hình 1.2 Bọ cánh cứng trên cây dừa nước Nypa fruticans ở Việt Nam loài Plesispa
reichei Chapuis (Tran Tan Viet, 2005) [112]
1.1.3 Đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của BCCHD
Theo Waterhouse và Norris (1987) [118] về sinh học cuả côn trùng
B.longissima (Gestro) qua các báo cáo của Maulik (1938) [76], O’Connor (1940)
[83], Froggatt và O’Connor (1941) [47], Franssen và Mo (1952) [46], (Tjoa, 1963) [110], Smee (1965) [97], (Lever, 1969) [68], Kalshoven (1981) [63] và Maddison
(1983) [75], tóm tắt về sinh học và hình thái học cuả B longissima dựa trên các kết
quả nghiên cứu như sau:
Trứng có màu nâu và dẹp, được đẻ thành từng ổ có từ 1-4 trứng nằm liền
nhau trên cùng một đường thẳng và được gắn trên rãnh nhỏ do côn trùng trưởng thành cái cạp theo mặt cuả lá Các ổ trứng được thấy có ở cả hai vị trí bên trong và bên ngoài của lá đơn, lúc lá kép chưa bung ra (lá non còn hình mũi giáo) Khi đẻ xong trưởng thành cái dùng chất dịch tiết ra để phủ trứng lại Trứng có chiều dài trung bình khoảng 1,4 mm và rộng khoảng 0,5 mm Sau khi đẻ khoảng 5 ngày thì trứng nở
Ấu trùng mới nở cạp biểu bì cuả lá để ăn (cạp bên trong lá đơn nếu trứng được đẻ ở bên trong lá và cạp bên ngoài nếu trứng đẻ ở bên ngoài lá đơn) Ấu trùng mới nở có chiều dài trung bình khoảng 2 mm, ấu trùng tuổi lớn hơn có chiều dài cơ thể từ 8-10 mm, giai đoạn ấu trùng trãi qua từ 5 đến 6 tuổi Ấu trùng ít linh hoạt và
sợ ánh sáng Giai đoạn cuả ấu trùng kéo dài từ 30-40 ngày, giai đoạn kế tiếp là tiền nhộng khoảng 3 ngày rồi đi vào giai đoạn nhộng khoảng 6 ngày Nhộng được dán vào bề mặt của lá chưa được bung ra Thời gian phát triển từ trứng đến trưởng thành
từ 5-7 tuần lễ
Trang 33Trưởng thành cuả B longissima cũng sợ ánh sáng và chúng thường bay để di
chuyển tốt vào ban đêm thành trùng cũng cạp biểu bì của lá để ăn khi lá chưa mở bung ra Nhìn chung, thành trùng đực nhỏ hơn thành trùng cái, có chiều dài trung bình 7,5-10 mm và rộng khoảng 1,5-2 mm Thành trùng có thơì gian sống sót khoảng 220 ngày; do vậy số lượng tiêu thụ thức ăn của chúng cũng rất lớn, nhưng đặc biệt là giai đoạn ấu trùng Giai đoạn tiền đẻ trứng từ 1-2 tháng và khi đẻ, trưởng thành cái có thể đẻ từ 100 trứng trở lên Có khoảng 3 thế hệ chồng lên nhau trong một năm
Theo Maddison (1983) [75] khả năng bay xa cuả loài côn trùng nầy không được khoẻ, do vậy vùng lây nhiễm mới rất chậm; ngoại trừ do các hoạt động cuả con người (sự di chuyển cây trồng đã bị nhiễm từ vùng nầy sang vùng khác)
Kết quả nghiên cứu về mức độ gia tăng quần thể của BCCHD theo sự biến thiên của nhiệt độ từ 160C đến 320C, cho thấy rằng BCCHD phát triển và sinh trưởng tốt ở điều kiện nhiệt độ từ 24-280C Trên một thế hệ có tỷ lệ sống sót cao nhất là 92,5% ở điều kiện nhiệt độ là 280C, có hệ số gia tăng quần thể là r=0,0260 (Yihai, 2005) [123]
Nghiên cứu về sự qua Đông của côn trùng B.longissima ở các điều kiện nhiệt
độ lạnh trung bình của phòng khác nhau tuần tự là: 9,8, 4,3, 3,9, 4,9, 5,0, 4,2, 9,0, -5,5, và -5,90C cho các giai đoạn phát triển tương ứng là: trứng, ấu trùng tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4, tuổi 5, nhộng, trưởng thành đực và trưởng thành cái Kết quả cho thấy điểm nhiệt độ đóng băng ở các giai đoạn phát triển tương ứng là: -5,5, -1,3, -0,3, -1,3, -1,1, -0,8, -5,4, -2,4 và -2,70C, sức chịu đựng ở nhiệt độ thấp nhất là giai đoạn trứng và nhộng Nhiệt độ tự nhiên của mùa Đông ở Quảng Đông, Trung Quốc
-cho thấy rằng tất cả các giai đoạn phát triển của côn trùng B.longissima đã có thể
sống sót được nhưng tốt nhất là ở giai đoạn nhộng và trưởng thành (Guang, 2006)
[55]
1.1.4 Cách gây hại và thiệt hại về kinh tế của BCCHD
Theo O’Connor (1940) [83] thành trùng và ấu trùng của BCCHD cạp diệp lục lá trên bề mặt lá, tạo ra những sọc điển hình có màu nâu Thành trùng sẽ có sức
ăn nhiều hơn vì chúng có thời gian sống rất dài Tuy nhiên, theo Tothill (1929) [111] cho rằng sức ăn cuả ấu trùng nhiều hơn thành trùng Theo Waterhouse và Norris (1987) [118] ở những cây dừa bị BCCHD tấn công trong thời gian dài, lá bị suy yếu, dễ bị nhiễm bệnh, lá khô và cây bị chết
Trang 34Trong mùa khô là thời gian thích hợp để cho côn trùng Brontispa longissima
hại dừa phát triển mật số một cách dễ dàng và gây hại nặng, tại khu vực Tây Java khi mưa nhiều và mưa liên tục thì cũng không thấy có sự gây hại của BCCHD mặc
dù loài côn trùng nầy vẫn xuất hiện tại khu vực đó (Kalshoven, 1981) [63]
Côn trùng Brontispa longissima gây hại trên cây dừa ở tất cả các giai đoạn
tuổi, nhưng chúng gây hại nặng cho những vườn dừa từ khi mới giâm cho đến 4-5 năm sau khi trồng, đặc biệt là ở những vùng bị khô hạn Những cây dừa thiếu sự chăm sóc thường thì bị loại côn trùng nầy tấn công nặng hơn những cây có sự chăm sóc và phát triển bình thường (Froggatt và O’Connor, 1941; Maddison, 1983) [47]; [75]
Các vườn Dừa ở tại miền Nam Sulawesi, Indonesia, ở điều kiện thiếu chăm sóc và đất nghèo dinh dưỡng thì bị loài côn trùng nầy tấn công nhiều hơn Tất cả
vùng Đông Nam Sulawesi Dừa bị B longissima tấn công trầm trọng vào năm 1929
B longissima cũng thường kết hợp với một số loại côn trùng cánh cứng khác như
loài Đuông dừa và Vòi voi tấn công làm hàng loạt cây bị chết và những cây bị gây hại nhẹ còn lại thì không cho trái trong nhiều năm Tại đây, loài dịch hại nầy đã xảy
ra liên tục trong nhiều năm; mãi đến năm 1935-1937 tình hình mới được cải thiện là
do trồng lại các cây phát triển khoẻ thay cho những cây già cỗi, cải thiện giống
kháng với côn trùng ăn lá, thì những năm sau đó B longissima chỉ tấn công gây hại
khoảng 10-15% cây mới so với những giống cây bản địa thì nặng hơn Sự ảnh
hưởng và mức gây hại cuả B longissima càng nhiều năm nếu người trồng dừa duy
trì và để mặc vườn dừa cuả họ trong nhiều năm mà không chăm sóc khi dịch xảy ra (Kalshoven, 1981) [63]
Tại miền Bắc Sulawesi, sự thiệt hại chính cuả B longissima xảy ra ở cây chỉ 2-3 năm tuổi, chưa mang trái Diễn biến số lượng cuả B longissima ít hơn trên
những cây từ 5-10 năm tuổi (Kalshoven, 1981) [63]
Khi cây bị côn trùng B longissima gây hại thì nắng là yếu tố chính làm cho
cây bị thiệt hại nặng hơn và nếu ánh nắng nhẹ và lá bị thiệt hại ít thì tại nách lá sẽ cho được trái Sản lượng trái sẽ bị giảm một cách có ý nghĩa khi cây bị chết khô từ
8 tàu lá trở lên Ở phía Nam Sulawesi khi dịch xảy ra và kéo dài nhiều năm thì hiện tượng trái bị rụng hàng loạt xảy ra, các lá mới hình thành thì nhỏ và không phát triển; toàn bộ cây xơ xác và cây có thể chết sau đó Ở Java, đặc biệt là khu vực gần Blitar có khoảng 55.000 cây bị thiệt hại chỉ ở 3 huyện trong suốt muà khô năm
1940 Côn trùng này cũng trở thành dịch ở diện rộng khi điều kiện không khí quá khô (Mo, 1965) [79]
Trang 35Tại Bali, B longissima đã xuất hiện khá lâu nhưng sự gây hại ít có ý nghĩa Năm 1936, tại đảo Adonaria phía Đông cuả Flores, Indonesia là mục tiêu cuả B longissima tấn công; B longissima đã di trú đến Flores và chỉ có mấy năm sau đó
thì chúng gây ra thiệt hại nặng cho vùng thung lũng này mặc dù ở trong điều kiện khí hậu ẩm Tuy không có cây bị chết xảy ra nhưng mất mát về năng suất lớn vào
cuối năm 1939 B longissima là dịch hại quan trọng trên những cây dừa mới trồng
tại đảo Solomon; ước tính sự thiệt hại khoảng 65.000 Bảng Anh chỉ riêng tại Bang Lever trong vòng 10 năm (Tothill, 1929) [111]; (Brown và Green, 1958) [31]
1.1.5 Những biện pháp phòng trừ BCCHD, ngoài biện pháp sinh học
Biện pháp canh tác
Biện pháp phẩu thuật để phòng trừ đã được thử nghiệm tại quần đảo Solomon; nó bao gồm cắt tàu lá ngọn đem tiêu hủy là nơi ẩn náo cuả BCCHD (Brown và Green, 1958) [31] Công việc này phải tiến hành cùng một lúc và ở diện rộng nhằm tránh sự lây lan cuả những cây lân cận; biện pháp này được lập lại một cách hợp lý thì cũng rất hữu hiệu Những cây dừa khoảng 3-6 năm tuổi phải chịu mất một lá trong 6 tháng, nhưng những cây trẻ hơn làm công việc này sẽ bị giảm sức sinh trưởng rất lớn Tuy nhiên, biện pháp này rất tốn kém vì những cây có tuổi
già hơn cũng phải xử lý thì mật số cuả B longissima mới giảm được (Tothill, 1929)
[111]
Dùng cơ giới để cắt bỏ lá đọt bị nhiễm thì cũng khó khăn và ít hữu hiệu Ngoài ra, việc có bón phân cho cây dừa làm lá đọt rút ngắn thời gian nở bung ra hay nói cách khác sự phát triển của lá nhanh hơn không tạo nơi cư trú thì nhận thấy mật
số của Bọ cánh cứng hại dừa cũng bị giảm một cách đáng kể (Kalshoven, 1981) [63]
Biện pháp hoá học
Vào những năm đầu thế kỷ 20, một số nước có BCCHD xuất hiện hóa chất được sử dụng phòng trừ hàng năm là “arsenic chì” pha với dung dịch “bordeaux” hoặc dùng thuốc lá cộng với sà phồng, nhưng kết quả rất thấp (Pagden và Lever, 1935) [84] Hơn nữa, “arsenic chì” gây độc nặng cho lá dừa (Lever, 1933) [66] Những năm sau đó những cây dừa bị nhiễm bởi loài côn trùng này được phun xịt dung dịch Dieldrin ở nồng độ 0,15% hoặc Chlordan ở nồng độ 0,16% (Lever, 1936) [67] Thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ BCCHD chỉ được khuyến cáo sử dụng ở vườn ươm hay những cây dừa nhỏ còn trên những cây dừa cao thì phải sử dụng biện pháp phòng trừ sinh học (Stapley, 1973) [101] (Stapley, 1980a) [102]
Trang 36Dùng hoá học để xử lý thì phải phun xịt đến được những khe giữa các lá đơn
cuả tàu đọt và phải lưu tồn xuyên suốt trong năm vì B longissima sinh sản liên tục
và có nhiều thế hệ trong một năm Thành trùng sau khi đẻ thì 1 tuần sau ấu trùng sẽ xuất hiện, và nếu cây được xử lý mà thuốc không lưu tồn thì mật số ấu trùng gia tăng và gây thiệt hại trầm trọng (Brown và Green, 1958) [31]
Trong điều kiện phun thuốc định kỳ 10 ngày 1 lần sẽ hữu hiệu hơn 3 tuần 1 lần Sự phun thuốc thường xuyên với liều lượng cao cần phải phân ra liều lượng hợp lý, nếu không sẽ gây ra ngộ độc sinh lý; phương pháp xử dụng hoá học phải dùng liều lượng thấp và giá thành phải rẽ mới có thể chấp nhận được (Brown và Green, 1958) [31]
Các gốc hoá học được khuyến cáo xử lý như: nicotine sulphate, carbaryl, lindan (Maddison, 1983) [75]; (Smee, 1965) [97]; (Stapley, 1972, 1980a) [100], [102]; (Wu và Tao, 1976) [122] Phun xịt định kỳ hàng tháng bằng permethrin trên dừa con cũng được thực hiện ở Tây Samoa (Hollingsworth, 1986) [57]; (Peters, 1984) [88]
Tại Úc, theo Jones và Elliot (1986) [61] cũng khuyến cáo phun bằng Carbaryl khi tàu ngọn chưa nở bung và phun lặp lại khi tàu lá non mới hình thành
Thuốc hoá học cũng bị côn trùng B longissima kháng đã được dẫn chứng
bởi Georghiou và Lagunes-Tejeda (1991) [49]
Ở Việt Nam, hầu hết các loại thuốc trừ sâu đều có thể phòng trị BCCHD Tuy nhiên, cây dừa là loại cây cao khó leo trèo cũng như việc phun xịt, hơn nữa phần lớn cây dừa được trồng quanh khu vực dân cư, chuồng trại chăn nuôi gia súc
và ao tôm cá, vấn đề phòng trị bằng thuốc hoá học gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng là vấn đề hết sức lưu ý và được đặt lên hàng đầu Trong năm 2001, Cty Vipesco đã cho ra đời thuốc Vicarp 95 BHN để đặt vào kẹt lá dừa phòng trị loài côn trùng này rất hữu hiệu và dễ dàng sử dụng; có hiệu lực kéo dài Tuy nhiên, bao giấy
thắm dễ bị rách, bể trong mùa mưa làm thuốc chảy xuống ao gây ngộ độc cho cá
(Hồ Văn Chiến, 2001) [6]
Trồng giống dừa kháng với BCCHD
Những giống dừa ở tại quần đảo Solomon được xem như là những giống
nhiễm với B longissima, những giống nhiễm góp phần làm tăng thêm quần thể
BCCHD ở một số vùng, dừa Rennell là một giống được chọn từ đảo Rennell thuộc
quần đảo Solomon thì rất hiếm thấy côn trùng B longissima tấn công; trong khi đó
những giống từ Malaysia như giống FMS (Federated Malay States) và giống dừa
Trang 37Lửa lùn và giống dừa Vàng thì bị nhiễm rất cao Một số giống dừa từ Bờ biển ngà
và Fiji thì có sức kháng cao (Stapley, 1980a, 1981) [102], [103] Có 6 giống dừa được thử nghiệm tại Tây Samoa thì có 5 giống rất nhiễm và giống dừa lùn xanh hoàn toàn kháng (FAO, 1983) [43]
1.2 THÀNH PHẦN THIÊN ĐỊCH CỦA BCCHD
1.2.1 Vi sinh vật ký sinh
Ấu trùng của B longissima cũng đã tìm thấy bị vi khuẩn tấn công gây bệnh (Froggatt và O’Connor, 1941) [47] Ngoài ra, chúng cũng bị nấm Metarhizium anisopliae tấn công tại Papua New Guinea và gây chết khoảng 15-20% cho cả thành
trùng và nhộng tại Samoa thuộc Mỹ (Waterhouse và Norris, 1987) [118]
Thí nghiệm sinh học trong tự nhiên để phòng trị bọ dừa tại khu vực Pingtung (Đài Loan) vào năm 1986 và 1987 cho kết quả rằng loài côn trùng này không thể
phát triển sau 3 lần sử dụng M anisopliae-1 M anisopliae được đưa vào sử dụng
dưới dạng hạt nhỏ hoặc huyền phù (Waterhouse và Norris, 1987) [118]; (Liu, 1989; 1994) [70], [69]
Phân lập các chủng nấm Metarhizium nguồn địa phương từ các bọ hại dừa B longissima bị nhiễm: dòng phân lập được xác định thuộc “chủng” M anisopliae var anisopliae (MA-1) Tuy nhiên chủng (MA-1) lại rất mẫn cảm với thuốc trừ
nấm gốc Carbamate như Benzimidazole Sau đó người ta đã xử lý chủng nấm này với tia cực tím và hoá chất gây đột biến (using ultraviolet and chemical mutation treatment) đã tạo ra được chủng nấm kháng được với Benomyl đặt tên là MA-126,
có tính độc giống như dòng phân lập của bố mẹ (MA-1) (Waterhouse và Norris,
1987 [118]; Liu, 1989 [70]; Liu, 1994) [69]
Một số thí nghiệm xử lý bằng nấm M anisopliae để phòng trừ BCCHD tại
tỉnh Bến Tre vào năm 2000 tỏ ra có hiệu lực rất khá cao trong điều kiện tự nhiên
(Phạm Thị Thùy, 2001) [21] Theo Nguyễn Thị Lộc (2001) [16] nấm M anisopliae
phòng trừ có hiệu quả cao trên một số loài côn trùng trên lúa và loài nấm nầy cũng
có hiệu quả cao trong việc phòng trừ BCCHD trong tự nhiên với tỷ lệ gây chết là 80,7%, 83,1% và 86,4% vào các thời điểm 7 ngày, 10 ngày và 14 ngày sau khi xử
lý, theo thứ tự
Theo Trần Văn Hai (2003) [24], thì kết quả khảo sát tại các vườn dừa thuộc khu vực thành phố Cần Thơ từ tháng 8/2003 đến tháng 11/2003 cũng cho thấy BCCHD trong tự nhiên có thể bị chết bởi: nấm ký sinh và vi khuẩn ký sinh Ngoài ra, BCCHD cũng bị chết nhưng chưa xác định rõ được tác nhân Trong đó tỷ lệ bị chết do nấm
Trang 38ký sinh là phổ biến nhất Kết quả quan sát các mẫu bọ dừa thu thập ngoài đồng từ tháng 8/2003 đến tháng 11/2003 như sau:
+ Nấm ký sinh: Tỷ lệ BCCHD bị ký sinh bởi nấm khá phổ biến qua các lần thu mẫu ngoài đồng cũng như qua việc thu thập mẫu mang về phòng thí nghiệm khảo sát Tỷ lệ BCCHD bị nhóm nấm ký sinh trong tự nhiên trung bình là 12,9%
trong đó do nấm M anisopliae có tỷ lệ ký sinh trung bình là 4,1% trên cả ấu trùng
và thành trùng, do nấm Beauveria bassiana có tỷ lệ ký sinh trung bình là 8,8%
+ Vi khuẩn ký sinh: Qua các lần thu mẫu ngoài đồng cũng như thu thập mẫu mang về phòng thí nghiệm quan sát cũng ghi nhận được rằng trong tự nhiên ấu trùng BCCHD cũng bị vi khuẩn ký sinh gây bệnh với tỷ lệ là 2,9% đặc biệt là vào mùa mưa, với triệu chứng bị ký sinh là cơ thể ấu trùng bọ dừa bị mềm nhũn, chảy nước, có mùi tanh, lúc đầu thì màu nâu đỏ sau đó chuyển sang màu đen xậm Cơ thể
Đối với ong ký sinh Tetrastichus brontispae, có vấn đề hết sức quan trọng
cần được lưu ý đã được ghi nhận tại Java là hiện tượng “ký chủ kháng ký sinh”
Hiện tượng này xảy ra tại miền Nam Sulawesi, BCCHD với chủng Brontispa longissima chr var selebensis Gestro đã gây ra trận dịch kéo dài và gây hại rất lớn
trong suốt những năm từ 1929-1936 Nơi đây cũng đã tiến hành phòng trị chúng
bằng cách phóng thích OKS T brontispae được mang về từ Bogor (phía Tây Java)
(Awibowo, 1935) [30]; Franssen và Mo, 1952) [46] Cùng với thời điểm này, tại
miền Đông Java bọ hại dừa với chủng B longissima chr var javana cũng đã gây
thiệt hại rất nặng, và ở điều kiện môi trường tự nhiên thì không tìm thấy được loài
OKS T brontispae vì thế Awibowo đã tiến hành phóng thích loài ong ký sinh nầy
nhiều lần trong khoảng thời gian từ năm 1932 – 1937 Nhưng kết quả là việc nhân nuôi OKS trong phòng không thành công và một thời gian dài sau đó những vườn
Trang 39dừa đã được phóng thích OKS này cũng không thấy có sự phục hồi Tương tự, trong
suốt năm 1954 ong ký sinh T brontispae được mang về từ Bogor về để phóng thích
ở miền Trung Java cũng không thành công Sau khi tiến hành nhiều thí nghiệm
người ta đã nhận thấy rằng OKS T brontispae có tấn công ký chủ bằng cách đẻ rất
nhiều trứng lên ký chủ nhưng sau khi ấu trùng của ký sinh nở thì 3-4 ngày sau ký chủ bị chết, vì thế OKS không thể hoàn thành được vòng đời của chúng Với những vấn đề nêu trên người ta đã kết luận rằng có một “chủng” CCHD đã kháng được với
ong ký sinh T Brontispae Đặc biệt là ở những nơi mà trước đó loài OKS này đã
không thiết lập được quần thể trong tự nhiên như ở Đông và Trung Java, trong đó một yếu tố khác góp phần không kém quan trọng là thời tiết không ổn định (Tjoa Tjien-Mo,1963) [110]
Tại quần đảo Solomon bước đầu thử nghiệm T brontispae được du nhập từ
Java và Sulawesi về nhân nuôi và phóng thích nhưng đã không thành công (Lever,
1936) [67] Sau đó, người ta đã tiến hành thử nghiệm lại loài T brontispae và Trichogrammatoidea nana vào những năm 1930 thì lại cho kết quả khá khả quan, nhưng vẫn không đạt được như mong muốn (Johns, 1941) [62] T brontispae cũng
lại được thử nghiệm vào năm 1968 và đã được phóng thích tại nhóm đảo Russell, và
nó đã được ứng dụng rộng rãi sau đó nhờ vào kết quả làm giảm tỷ lệ cây bị nhiễm BCCHD từ 95% xuống còn 5% trên giống dừa mới trồng có tên “Federal Malay States” (FMS), một giống nhiễm đối với BCCHD Đặc biệt cho kết quả tốt hơn khi việc phóng thích này được kết hợp với một vài lần xử lý thuốc hoá học khi cần thiết (MacFarlane, 1981) [74]; Stapley, (1971) [99] (1972) [100], (1980a) [102]
Ở Polynesia thuộc Pháp, Tetrastichus brontispae được phóng thích lần đầu
vào năm 1962 để áp dụng vào biện pháp phòng trừ sinh học và đã thành công trong nhiều năm sau đó; mức độ ký sinh bình quân lên đến 38%, trên một số đồn điền
người ta đã tìm thấy tỷ lệ nhộng BCCHD bị OKS Tetrastichus brontispae có thể đạt
đến 100% (Stapley, 1971) [99]
Tại đảo Tubuai và đảo Rangiroa việc nhân nuôi và phóng thích với số lượng
lớn ong T brontispae đã được bắt đầu vào tháng 7 năm 1984; kết quả rất hữu hiệu
và dừa đã được phục hồi lại một cách nhanh chóng sau khi bị B longissima tấn công và gây hại vào những năm 1981-1983 (Gourves và Samuelson, 1979) [51]
Ở New Caledonia T brontispae được giới thiệu du nhập từ Saipan thuộc phía
Bắc của quần đảo Mariana vào năm 1963; loài ký sinh này chẳng mấy chốc có tác dụng rõ và tỷ lệ ký sinh lên đến 24% Tuy nhiên, do có sự kết hợp với nấm ký sinh
Trang 40và bọ đưôi kiềm, nên chưa thuyết phục cao về loài ký sinh này phòng trừ hữu hiệu
đối với BCCHD (Cochereau, 1969) [36]
Tại Tây Samoa T brontispae cũng được ứng dụng thu thập từ New
Caledonia vào năm 1981, với một chiến dịch nhân nuôi, phóng thích rất rộng (FAO,
1981) [42] Trong năm 1981 và 1982, một chủng T brontispae từ quần đảo
Solomon (nguồn gốc từ Tahiti) cũng đã được nhân thả như chủng từ Papua New Guinea năm 1983 Những diện tích dừa ở đây bị gây hại nặng trong năm 1981, ngay
cả những cây dừa 50-70 năm tuổi đã bị thiệt hại hàng loạt; tất cả các tàu lá ở phần trung tâm của đọt đều có màu nâu, dĩ nhiên là không có lá đọt; sau đó chúng đã
được phục hồi vào cuối năm 1982 Tuy nhiên, B longissima đã từ từ di chuyển đến
khu vực mới là Upolu và Savai’i, phía Tây Samoa, và đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho 2 vùng này (Volgele, 1989) [115]
Ngoài T brontispae, năm 1984 ấu trùng của Brontispa cũng đã được tìm thấy
bị ký sinh bởi một loài khác là Chrysonotomyia sp ở đảo Savai’i Cùng với thời điểm này tại Papua New Guinea cũng đang bị loài B longissima tấn công nhưng
người ta đã không tìm thấy có sự hiện diện của loài ký sinh này Vì thế có lẽ
Chrysonotomyia sp là loài ở địa phương Ngoài ra tại nơi này cũng có một loài ký sinh khác ký sinh lên ấu trùng Brontispa thuộc họ “Eulophidae”, khi bị ký sinh thì
bụng của ấu trùng có những sọc màu trắng và màu đen xen lẫn nhau Tuy nhiên loài
ký sinh này ít phổ biến hơn loài Chrysonotomyia sp Kết quả điều tra tại một số vườn dừa cho thấy loài Chrysonotomyia sp đã có khả năng ký sinh đến 96% ấu
trùng tuổi 4 trong điều kiện tự nhiên (Waterhouse và Norris, 1987) [118] Theo Hollingsworth (1988) [58], vào năm 1985 phát hiện thấy có 4 vườn dừa ở Tây
Samoa với loài B longissima bị chết do Chrysonotomyia sp ký sinh ở ấu trùng
tuổi 4 với tỷ lệ lên đến 75%
Năm 1987, Volgele (1989) [115] đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố gây chết
của 120 quần thể khác nhau của B longissima tại Tây Samoa, đã nhận thấy ong Asecodes sp là loài ký sinh trội nhất trong tự nhiên, tỷ lệ ký sinh chiếm đến 37% số mẫu T brontispae ký sinh tương đối thấp chỉ có 3% số mẫu, nên không được xem
là yếu tố quan trọng góp phần vào việc làm chết tự nhiên của B longissima Qua điều tra đánh giá sự thiệt hại trên diện rộng, với 37.000 cây dừa được phòng trị B longissima bằng ong ký sinh Asecodes hispinarum thì sự mất năng suất không có ý
nghĩa so với sản lượng mất mát được tính toán ban đầu khá cao là 50-70% Về chỉ
số hiệu quả kinh tế (BCR) của chương trình là 1:3,9 trong suốt giai đoạn từ