41 Bảng 3.3: Chỉ số đa dạng sinh học của quần xã khuê tảo bám trên nền trầm tích tại bốn kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa ở rừng ngập mặn châu thổ.... 46 Bảng 3.4: Chỉ số đa dạng sinh học
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THỊ GIA HẰNG
ĐA DẠNG KHUÊ TẢO Ở RỪNG NGẬP MẶN
CẦN GIỜ VÀ VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Tp Hồ Chí Minh - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THỊ GIA HẰNG
ĐA DẠNG KHUÊ TẢO Ở RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ VÀ
VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số chuyên ngành: 62 42 60 01
Phản biện 1: TS Trịnh Trường Giang Phản biện 2: GS TS Nguyễn Ngọc Lâm Phản biện 3: PGS TS Vũ Ngọc Út Phản biện độc lập 1: PGS TS Vũ Ngọc Út Phản biện độc lập 2: TS Đào Thanh Sơn
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS NGUYỄN THANH TÙNG
2 TS LÊ XUÂN THUYÊN
Tp Hồ Chí Minh - 2014
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục chữ viết tắt iii
Danh mục bảng iv
Danh mục hình ảnh, đồ thị v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan rừng ngập mặn 3
1.1.1 Định nghĩa rừng ngập mặn 3
1.1.2 Sự phân bố và tình trạng rừng ngập mặn trên thế giới và Châu Á 4
1.1.3 Sự phân bố và tình hình rừng ngập mặn ở Việt Nam 4
1.2 Tổng quan về khuê tảo 6
1.2.1 Sơ lược nghiên cứu về khuê tảo 6
1.2.2 Vai trò của khuê tảo trong hệ sinh thái thủy sinh 8
1.2.2.1 Khuê tảo là sinh vật sơ cấp trong chuỗi thức ăn 8
1.2.2.2 Môi trường sống và nhu cầu dinh dưỡng của khuê tảo 10
1.2.2.3 Khuê tảo chỉ thị môi trường 11
1.2.3 Sơ lược nghiên cứu về khuê tảo ở rừng ngập mặn trên thế giới 12 1.2.3.1 Đặc điểm sinh thái của khuê tảo ở rừng ngập mặn 12
1.2.3.2 Khuê tảo làm sinh vật chỉ thị trong hệ sinh thái ngập mặn 14 1.2.3.3 Đa dạng sinh học, sinh khối và mật độ của khuê tảo trong rừng ngập mặn 15
1.2.4 Sơ lược nghiên cứu về khuê tảo ở Việt Nam 17
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… … 21
2.1 Vị trí và đặc điểm của các khu vực nghiên cứu 21
2.1.1 Rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh 21
Trang 42.1.2 Rừng ngập mặn cù lao Dung, tỉnh Sóc Trăng 24
2.1.3 Rừng ngập mặn ở cửa Bồ Đề và Ông Trang, tỉnh Cà Mau 24
2.2 Phương pháp thu và phân tích mẫu 25
2.2.1 Vị trí và phương pháp thu mẫu khuê tảo 25
2.2.1.1 Vị trí thu mẫu 25
2.2.1.2 Phương pháp thu mẫu khuê tảo 29
2.2.2 Phương pháp xử lý mẫu khuê tảo 31
2.2.3 Phương pháp định danh và đếm mảnh vỏ khuê tảo 32
2.2.3.1 Phương pháp định danh 32
2.2.3.2 Phương pháp đếm mảnh vỏ 33
2.2.4 Chỉ số đa dạng sinh học, mật độ mảnh vỏ, phương pháp thống kê và xử lý số liệu 35
2.2.4.1 Chỉ số đa dạng sinh học khuê tảo 35
2.2.4.2 Mật độ mảnh vỏ và tần suất xuất hiện tương đối của khuê tảo 37
2.2.4.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 Đa dạng quần xã khuê tảo bám trên nền trầm tích 40
3.1.1 Rừng ngập mặn cửa sông 40
3.1.2 Rừng ngập mặn châu thổ 45
3.1.3 Rừng ngập mặn ven biển 50
3.1.3.1 Rừng ngập mặn bị xói lở (cửa Bồ Đề) 50
3.1.3.2 Rừng ngập mặn đang bồi tụ (cửa Ông Trang) 56
3.1.4 So sánh đa dạng quần xã khuê tảo bám trên nền trầm tích tại ba kiểu rừng ngập mặn ven bờ 61
3.2 Đa dạng quần xã khuê tảo bám trên bốn kiểu giá thể tự nhiên 69
3.3 Ảnh hưởng của các yếu tố lý-hóa tính trên nền trầm tích đa dạng của quần xã khuê tảo bám 75
Trang 5CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
4.1 Kết luận 90
4.2 Kiến nghị 91
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC Phụ lục 1: Danh lục taxa khuê tảo bám trên các giá thể tự nhiên (trầm tích, rễ cây, thân cây, lá rụng) ở bốn khu vực nghiên cứu ix
Phụ lục 2: Bảng hình ảnh khuê tảo bám trên các giá thể tự nhiên tại rừng ngập mặn Cần Giờ và ven biển đồng bằng sông Cửu Long xxxiv
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thanh Tùng và TS Lê Xuân Thuyên tại Bộ môn Sinh thái-Sinh học tiến hóa, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên-Đại học Quốc gia Tp.HCM Những phần trích dẫn trong luận án là những kiến thức đã được công nhận và xuất bản
Tháng 05 năm 2014
Nguyễn Thị Gia Hằng
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, tôi chân thành cảm ơn:
Thầy Nguyễn Thanh Tùng và Thầy Lê Xuân Thuyên đã hết lòng tận tụy chỉ dạy và hướng dẫn
TS Oscar E Romero, Viện nghiên cứu Khoa học Trái đất, trường Đại học Granada, Tây Ban Nha đã hết lòng chỉ dạy cho tôi xử lý, phân tích và định danh mẫu khuê tảo
TS Trần Triết đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ toàn bộ kinh phí thực địa
Chủ nhiệm dự án đề tài "Động thái của vành đai rừng ngập mặn vùng cửa
sông Sài Gòn-Đồng Nai và ven biển Đông đồng bằng sông Cửu Long" đã cho
phép sử dụng số liệu của đề tài
Chương trình học bổng ERASMUS-MUNDUS đã tạo cơ hội học tập tại Đại học Granada, Tây Ban Nha
PGS TS Viên Ngọc Nam đã tận tình hướng dẫn các phép toán và phần mềm thống kê
Thầy, Cô tại Bộ môn Sinh thái-Sinh học tiến hóa, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM đã cung cấp kiến thức quý báu cho tôi hoàn thành luận án này trong suốt thời gian qua
Tháng 05 năm 2014
Nguyễn Thị Gia Hằng
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
HST Hệ sinh thái
KDTSQ Khu Dự trữ sinh quyển
LSD Least Significant Difference (Sự khác biệt quan trọng nhỏ nhất) RNM Rừng ngập mặn
Tp HCM Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Tỷ lệ phần trăm của ba lớp khuê tảo bám trên nền trầm
tích tại bốn khu rừng ngập mặn 40 Bảng 3.2: Chỉ số đa dạng sinh học của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích giữa ba kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa ở rừng ngập mặn cửa sông 41 Bảng 3.3: Chỉ số đa dạng sinh học của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích tại bốn kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa ở rừng ngập mặn châu thổ 46 Bảng 3.4: Chỉ số đa dạng sinh học của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích tại ba kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa ở rừng ngập mặn ven biển bị xói lở (cửa Bồ Đề) 51 Bảng 3.5: Chỉ số đa dạng sinh học của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích tại bảy kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa ở rừng ngập mặn ven biển đang bồi tụ (cửa Ông Trang) 56 Bảng 3.6: Tỷ lệ phần trăm chỉ số loài hiếm (Rare Index) tại bốn khu
vực nghiên cứu 62 Bảng 3.7: Tỷ lệ phần trăm của ba lớp khuê tảo bám trên bốn kiểu giá
thể tự nhiên 70 Bảng 3.8: Các chỉ số đa dạng sinh học của quần xã khuê tảo bám trên
bốn kiểu giá thể tự nhiên 71
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 1.1: Bản đồ phân chia khu vực rừng ngập mặn của Việt Nam 5 Hình 1.2: Loài Azpeitia tabularia (Grunow) Fryxell and Sims 1986 7 Hình 1.3: Loài Caloneis permagna (Bailey) Cleve 1894 7 Hình 1.4: Vai trò của tảo trong lưới thức ăn ở rừng ngập mặn 9 Hình 2.1: Khu vực nghiên cứu ở rừng ngập mặn ven biển Nam Bộ 21 Hình 2.2: Khu vực cây rừng bị gãy đổ do bão Durian ở rừng ngập
mặn cửa sông (Cần Giờ) 23 Hình 2.3: Vị trí thu mẫu khuê tảo tại bốn kiểu sinh cảnh ở rừng ngập
mặn châu thổ (cù lao Dung) 26 Hình 2.4: Vị trí thu mẫu khuê tảo tại ba kiểu sinh cảnh ở rừng ngập
mặn cửa ven biển bị xói lở (cửa Bồ Đề) 27 Hình 2.5: Vị trí thu mẫu khuê tảo tại bảy kiểu sinh cảnh ở rừng ngập
mặn cửa đang bồi tụ (cửa Ông Trang) 28 Hình 2.6: Sơ đồ minh họa đếm mảnh vỏ khuê tảo 33 Hình 2.7: Sơ đồ minh họa kích thước mảnh vỏ của từng giống loài
khuê tảo được đếm 34 Hình 3.1: Đường cong tích lũy loài ưu thế (K - Dominance) của quần
xã khuê tảo bám trên nền trầm tích tại ba kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa (mùa khô, mùa mưa) ở rừng ngập mặn cửa sông 42 Hình 3.2: Chỉ số Caswell V(N.D.) của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích ở rừng ngập mặn cửa sông… 43 Hình 3.3: Mật độ mảnh vỏ trung bình của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích tại ba kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa (mùa khô, mùa mưa) ở rừng ngập mặn cửa sông 44 Hình 3.4: Đường cong tích lũy loài ưu thế (K-Dominance) của quần
xã khuê tảo bám trên nền trầm tích tại bốn kiểu sinh cảnh
Trang 11và giữa hai mùa (mùa khô, mùa mưa) ở rừng ngập mặn châu thổ 47 Hình 3.5: Chỉ số Caswell V(N.D.) của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích ở rừng ngập mặn châu thổ 48 Hình 3.6: Mật độ mảnh vỏ trung bình của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích tại bốn kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa (mùa khô, mùa mưa) ở rừng ngập mặn châu thổ 49 Hình 3.7: Đường cong tích lũy loài ưu thế (K-Dominance) của quần
xã khuê tảo bám trên nền trầm tích tại ba kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa (mùa khô, mùa mưa) ở rừng ngập mặn ven biển bị xói lở (cửa Bồ Đề) 52 Hình 3.8: Chỉ số Caswell [V(N.D.)] của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích ở rừng ngập mặn ven biển bị xói lở (cửa Bồ Đề) 53 Hình 3.9: Mật độ mảnh vỏ trung bình của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích giữa ba kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa (mùa khô, mùa mưa) ở rừng ngập mặn ven biển bị xói lở (cửa
Bồ Đề) 54 Hình 3.10: Đường cong tích lũy loài ưu thế (K-Dominance) của quần
xã khuê tảo bám trên nền trầm tích tại bảy kiểu sinh cảnh
và giữa hai mùa (mùa khô, mùa mưa) tại rừng ngập mặn ven biển đang bồi tụ (cửa Ông Trang) 58 Hình 3.11: Chỉ số Caswell [V(N.D.)] của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích ở rừng ngập mặn ven biển đang bồi tụ (cửa Ông Trang) 59 Hình 3.12: Mật độ mảnh vỏ trung bình của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích tại bảy kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa (mùa khô, mùa mưa) ở rừng ngập mặn ven biển đang bồi tụ (cửa Ông Trang) 60
Trang 12Hình 3.13: Đường cong tích lũy loài ưu thế (K-Dominance) của quần
xã khuê tảo bám trên nền trầm tích ở bốn khu vực nghiên cứu 63 Hình 3.14: Mật độ mảnh vỏ trung bình của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích tại bãi triều ở ba khu vực nghiên cứu 64 Hình 3.15: Giá trị trung bình của tần suất xuất hiện tương đối của các
loài khuê tảo bám ưu thế nhất trên bốn kiểu giá thể tự nhiên 72 Hình 3.16: Sơ đồ MDS về quan hệ của quần xã khuê tảo bám trên bốn
kiểu giá thể tự nhiên……… 73 Hình 3.17: Sơ đồ phân nhóm (MDS) của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích tại ba kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa (mùa khô, mùa mưa) ở rừng ngập mặn cửa sông 76 Hình 3.18: Sơ đồ phân nhóm (MDS) của quần xã loài khuê tảo bám
trên nền trầm tích tại bốn kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa (mùa khô, mùa mưa) ở rừng ngập mặn châu thổ 77 Hình 3.19: Sơ đồ phân nhóm (MDS) của quần xã loài khuê tảo bám
trên nền trầm tích tại ba kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa (mùa khô, mùa mưa) ở rừng ngập mặn ven biển bị xói lở (cửa Bồ Đề) 78 Hình 3.20: Sơ đồ phân nhóm (MDS) của quần xã khuê tảo bám trên
nền trầm tích tại bảy kiểu sinh cảnh và giữa hai mùa (mùa khô, mùa mưa) ở rừng ngập mặn ven biển đang bồi tụ (cửa Ông Trang) 79 Hình 3.21: Sơ đồ PCA về mối quan hệ giữa các chỉ số đa dạng sinh
học và mật độ mảnh vỏ của khuê tảo bám với các yếu tố lý-hóa tính trong tầng đất bề mặt tại bốn khu vực nghiên cứu……… 80 Hình 3.22: Sơ đồ PCA về mối liên hệ giữa các chỉ số đa dạng sinh học
Trang 13và mật độ mảnh vỏ của khuê tảo bám với các yếu tố lý-hóa tính trong tầng đất bề mặt ở rừng ngập mặn châu thổ và ven biển……… 82
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
Rừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái đất ngập nước ven biển chiếm ưu thế ở bờ biển nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới Rừng ngập mặn đóng vai trò sinh thái quan trọng như hình thành đất, ổn định bờ biển, lọc nước, môi trường sống cho nhiều sinh vật biển và sản sinh ra một lượng lớn các mảnh vụn Rừng ngập mặn góp phần bảo vệ các vùng ven biển, chống bão, là vườn ươm và nơi trú ẩn cho nhiều sinh vật biển; trong đó có giá trị thương mại và nhiều loài đang bị đe dọa hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng (Odum và Heald, 1975; Marda và
cs., 1997) Rừng ngập mặn giữ nhiều vai trò quan trọng về kinh tế xã hội cũng
như môi trường trong đời sống con người Diện tích RNM trên thế giới nói chung
và tại Việt Nam nói riêng đang giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân
(Odum và Heald, 1975; Marda và cs., 1997; Upadhyah và cs., 2002); trong khi
những hiểu biết về chúng một cách có hệ thống vẫn còn chưa được đầy đủ
Trong quần xã sinh vật RNM, khuê tảo (tảo silic / diatoms) là ngành có số lượng loài phong phú nhất trong các nhóm phiêu sinh thực vật (hay còn gọi là thực vật phù du) và có phổ môi trường sống rất rộng Mảnh vỏ của khuê tảo được lưu giữ trong nền trầm tích và có thể ghi nhận, phản ánh được lịch sử của môi trường Vì thế, khuê tảo được coi là một công cụ hữu hiệu trong nghiên cứu cổ sinh thái (Stoermervà Smol, 2010) Khuê tảo có vòng đời sinh sản ngắn và đáp ứng nhanh chóng với sự thay đổi của môi trường (Rott, 1991) Đời sống của khuê tảo giúp “cảnh báo” sớm nhất khi môi trường ngày càng bị ô nhiễm và “thông báo” cho thấy đời sống của chúng đã được khôi phục thành công khi môi trường được cải thiện Vì vậy trong cùng một nhóm sinh vật, khuê tảo thường được chọn làm đối tượng nghiên cứu trong thời gian dài (Stoermervà Smol, 2010)
Khuê tảo, là sinh vật sơ cấp, đóng vai trò như là nguồn cung cấp năng suất
sơ cấp cho các nhóm sinh vật khác trong chuỗi thức ăn ở RNM Nghiên cứu về
đa dạng quần xã khuê tảo bám trên các kiểu giá thể tự nhiên nhằm đánh giá vai
Trang 15trò của khuê tảo trong hệ sinh thái RNM Sự thay đổi khí hậu toàn cầu làm cho môi trường sinh thái nói chung và RNM nói riêng bị thay đổi; do đó, nghiên cứu này có thể cung cấp kiến thức cần thiết cho việc sử dụng bền vững và quản lý hợp lý của RNM Đề tài nghiên cứu này được thực hiện trên quần xã khuê tảo
bám ở RNM phía Nam, Việt Nam nhằm tìm hiểu "Đa dạng sinh học của quần xã
khuê tảo bám trên các giá thể tự nhiên và ảnh hưởng của các điều kiện lý-hóa tính trên nền trầm tích lên quần xã và phân bố của khuê tảo bám"
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Kết quả của đề tài sẽ là nguồn
tài liệu bổ sung thêm vào danh lục các loài khuê tảo ở Việt Nam Đặc biệt là khuê tảo có đời sống bám trên các kiểu giá thể tự nhiên khác nhau ở RNM Nam
Bộ Bên cạnh đó, kết quả của đề tài sẽ đóng góp hiểu biết về đa dạng sinh học và
sự phân bố của khuê tảo bám ở RNM
Điểm mới và tính ứng dụng của đề tài: Đây là nghiên cứu đầu tiên đánh
giá đa dạng và sự phân bố của quần xã khuê tảo bám trên các giá thể tự nhiên tại RNM trong mối liên hệ với các điều kiện lý hóa môi trường ven biển miền Nam, Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1.1 Định nghĩa rừng ngập mặn
Thuật ngữ "rừng ngập mặn" hay "quần xã ngập mặn", "hệ sinh thái ngập mặn", "đầm lầy ngập mặn" là các thuật ngữ đã được các chuyên gia và các nhà
khoa học thảo luận trong nhiều năm (Tomlinson, 1986) "Rừng ngập mặn" là
thuật ngữ chỉ những cây thân gỗ và cây bụi phát triển ở vùng gian triều hay bãi triều (intertidal) thuộc vùng xích đạo nhiệt đới và cận nhiệt đới (Hamilton và Snedaker, 1984). Nhóm thực vật này liên kết với các nhóm sinh vật khác tạo nên
“quần xã rừng ngập mặn” (mangrove forest community) hay còn gọi là
“mangal” Để tránh sự nhầm lẫn về thuật ngữ, Macnae (1968) đề nghị nên sử dụng từ “mangal” chỉ thị cho "quần xã rừng ngập mặn" ("mangrove forest
community" hay "mangrove ecosystem") bao gồm thực vật, động vật, vi khuẩn,
nấm, v.v trong khi từ “mangrove” dùng để biểu thị cho loài thực vật Ở Việt Nam, “rừng ngập mặn” còn được gọi là rừng Sú Vẹt, rừng Sát hay rừng Đước
(thông tin của Ban Quản lý rừng phòng hộ môi trường Tp HCM, 2002)
Nói một cách khái quát, RNM là tập hợp những cây thân gỗ và cây bụi có thể phát triển trong môi trường ngập mặn khi triều dâng cũng như khi triều rút (FAO, 1994) Do đó, hệ thống rễ của chúng thường xuyên bị ngập trong nước mặn, cho dù nguồn nước mặn này có thể được pha loãng với dòng nước ngọt từ sông đổ vào (FAO, 1994) Rừng ngập mặn phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng từ thủy triều đưa vào rừng, cũng như lượng bùn lắng từ thượng nguồn đưa xuống hạ nguồn Góp phần làm cho RNM có lượng phù sa rất lớn, đồng nghĩa với việc nơi đây có hàm lượng chất hữu cơ cao, giúp cây RNM phát triển tốt (FAO, 1994)
Trang 171.1.2 Sự phân bố và tình trạng rừng ngập mặn trên thế giới và Châu Á
Rừng ngập mặn phân bố trong giới hạn từ vĩ tuyến 32o Bắc và 38o Nam (Tomlinson, 1986) Châu Á, 25 quốc gia có RNM, có diện tích lớn nhất trong các châu lục (FAO, 2007) Năm 2005, diện tích RNM Châu Á khoảng 5,8 triệu hecta, chiếm 38% trong tổng diện tích RNM trên thế giới Châu Á được xem là châu lục
có tỷ lệ phần trăm diện tích RNM cao nhất trên toàn thế giới, nhưng cũng không tránh khỏi hiện tượng diện tích RNM đang bị suy giảm (FAO, 2007)
Tính đến năm 2005, khoảng 1.900 triệu hecta RNM (tương đương 25%) bị tàn phá trong suốt 25 năm Rừng ngập mặn bị tàn phá nhiều nhất ở Indonesia, Pakistan, Việt Nam, Malaysia và Ấn Độ với hơn 1.700 triệu hecta (khoảng 90%) Việt Nam là một trong những quốc gia có diện tích RNM được phục hồi đáng kể sau chiến tranh Từ năm 1995 đến 2005, tổng diện tích khoảng 14.000 ha cây RNM đã được trồng lại trong 10 năm (FAO, 2007)
1.1.3 Sự phân bố và tình hình rừng ngập mặn ở Việt Nam
Điều kiện môi trường ở Việt Nam thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của RNM, nhất là vùng ven biển đồng bằng Nam Bộ Năm 1943, Maurand
đã đánh giá diện tích RNM khoảng 400.000 ha Năm 1972, Lâm Bỉnh Lợi và Nguyễn Văn Thôn đã thống kê diện tích RNM ở Việt Nam chỉ còn lại khoảng 250.000 ha Trong đó, diện tích RNM ở Nam Bộ là 210.000 ha (bao gồm: rừng Sát ~ 40.000 ha; RNM ở bán đảo Cà Mau ~ 150.000 ha và các khu vực khác ~ 20.000 ha); RNM ở miền Trung và Bắc Bộ là 40.000 ha
Rừng ngập mặn ở Việt Nam được chia thành 4 khu vực chính theo nghiên
cứu của Phan Nguyên Hồng và Hoàng Thị Sản (1993): khu vực 1: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn; khu vực 2: Ven biển đồng bằng Bắc
Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến Lạch Trường; khu vực 3: Ven biển Trung Bộ, từ mũi Lạch Trường đến đến mũi Vũng Tàu và khu vực 4: Ven biển Nam Bộ, từ mũi
Vũng Tàu đến Hà Tiên (Hình 1.1)
Trang 18Hình 1.1: Bản đồ phân chia khu vực rừng ngập mặn của Việt Nam (Nguồn: Phan
và lượng mưa ở đây rất thích hợp cho sự phát triển của thực vật ngập mặn
- Từ cửa sông Soài Rạp đến Trần Đề Đất được bồi dần bởi hệ thống sông Mêkông Hàng năm, sông Mêkông mang lại khoảng 555 tỉ m3 nước đổ ra biển Đông cùng với lượng phù sa giàu lượng nitơ và các khoáng chất Lượng phù sa nhanh chóng được tích lũy, tạo nên những hòn đảo bên trong những cửa sông Quá trình bán nhật triều trong ngày không đều từ biển Đông đẩy vào (biên độ
Trang 19triều từ 3,5 m - 4 m) đã tác động lên những vùng bao quanh hệ thống cửa sông Mêkông Hơn nữa, chế độ triều trong mùa khô trùng với chế độ triều của mùa xuân (tháng 12 đến tháng 4) nên nguồn nước mặn cũng vì thế mà xâm lấn xa vào đất liền
- Từ cửa Mỹ Thạch đến cửa sông Bẩy Háp (phía Đông Nam của bán đảo Cà Mau); đây là một vùng đất mới và chưa phát triển, nằm giữa biển Đông và vịnh Thái Lan Nền đất này phát triển theo hướng Tây Nam, trong khi nền đất theo hướng Đông Bắc bị xói mòn mạnh từ cửa sông Gành Hào tới Rạch Tàu
- Từ cửa sông Bẩy Háp đến mũi Hà Tiên thuộc bờ biển phía Tây của châu thổ Địa hình của vùng này thấp nhưng có một dãi đất cao nằm dọc bờ biển, cùng với chế độ triều không đều, cho dù biên độ triều thấp
1.2.1 Sơ lƣợc nghiên cứu về khuê tảo
Khuê tảo là sinh vật đơn bào, có kích thước rất nhỏ (2 µm - 200 µm), thỉnh thoảng một vài giống loài khuê tảo còn có kích thước lớn hơn Đôi khi một vài loài có đường kính từ 2 mm đến 4 mm vì bị tác động bởi các yếu tố môi
trường (Round và cs., 1990; Graham và Wilcox, 2000) Khuê tảo có hơn 285 giống (Round và cs., 1990) và từ 10.000 - 12.000 loài đã được phân loại (Norton
và cs., 1996) Một vài chuyên gia tin rằng còn rất nhiều loài khuê tảo vẫn chưa
được mô tả và họ cho rằng số lượng loài khuê tảo có thể lên đến hàng triệu loài
(Norton và cs., 1996) Trong các nhóm tảo, khuê tảo và tảo Lục được xem là hai
nhóm tảo có độ đa dạng loài cao nhất trong quần xã thực vật phù du (Graham và Wilcox, 2000)
Năm 1703 là năm khởi đầu cho việc nghiên cứu khuê tảo trên thế giới Các nghiên cứu dần được triển khai sâu rộng tiếp theo vào thế kỷ XIX Các nhà nghiên cứu khuê tảo đã có những công trình nghiên cứu kinh điển như Agardh (1824), Kützing (1833-1834; 1844), Brébisson (1838), Ehrenberg (1838), Rabenhorst (1853), Ralfs (1861), Smith (1872), Cleve (1894-1895), Hustedt (1914; 1927-1966), v.v Các công trình nghiên cứu này phân loại khuê tảo dựa
Trang 20trên việc mô tả về hình thái và đặt ra hệ thống phân loại khuê tảo dựa trên cấu tạo, hình dạng của tế bào và lục lạp Trong khi các nghiên cứu về sau, tiêu biểu
như nghiên cứu của Round và cs (1990) đã dựa theo những mô tả trên cùng với
việc bổ sung, chỉnh sửa, đã đưa ra một hệ thống phân loại khuê tảo chính xác hơn Cùng với sự phát triển của kính hiển vi giúp làm rõ hơn về hình thái và cấu trúc hoa văn (hay chạm trổ) trên tế bào mảnh vỏ khuê tảo hay hình thức phân chia mảnh vỏ
Khuê tảo có một đặc điểm riêng biệt mà các nhóm tảo hay các nhóm sinh vật khác không tìm thấy, đó là vách tế bào của chúng được cấu tạo từ silica (hydrated silicon dioxide) Khi mảnh vỏ của khuê tảo được tích tụ trong nền trầm tích theo thời gian đã làm cho hàm lượng silic trong trầm tích ngày càng tăng, góp phần hình thành khoáng chất diatomite trong nền trầm tích (Graham và Wilcox, 2000) Khoáng chất này vốn được khai thác sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp Khuê tảo gồm hai nhóm chính: khuê tảo có cấu trúc vân tỏa tia hay
còn gọi khuê tảo trung tâm (Centric diatom) (Hình 1.2); khuê tảo có vân tỏa kiểu lông chim hay còn gọi là khuê tảo lông chim (Pennate diatom) (Hình 1.3)
Hình 1.2: Loài Azpeitia tabularia
(Grunow) Fryxell and Sims 1986
Hình 1.3: Loài Caloneis permagna
(Bailey) Cleve 1894
Trang 211.2.2 Vai trò của khuê tảo trong hệ sinh thái thủy sinh
1.2.2.1 Khuê tảo là sinh vật sơ cấp trong chuỗi thức ăn
Khuê tảo là sinh vật đơn bào có nhân và là sinh vật quang dưỡng ở biển, chúng cung cấp gần ¼ sinh khối sơ cấp của cả địa cầu Khuê tảo là sinh vật sơ cấp, đóng vai trò quan trọng cho chuỗi thức ăn trong thủy vực, cung cấp nguồn năng suất sơ cấp trên toàn cầu (Graham và Wilcox 2000; Stoermer và Smol, 2010) (Hình 1.4), góp phần vào quá trình oxy hóa khử trong môi trường thủy sinh (Stoermer và Smol, 2010) và là mối liên kết trong chu trình sinh địa hóa
(Newbold và cs., 1981; Kim và cs., 1990; Mulholland, 1996) Sự quang hợp của
tảo nói chung và khuê tảo có đời sống bám nói riêng cung cấp nguồn oxy cho những sinh vật hiếu khí trong HST và cố định nguồn carbon, cung cấp cho những sinh vật thứ cấp
Khuê tảo chiếm ưu thế nhất trong quần xã thực vật phù du (Rajkumar và
cs., 2009; Võ Hành và Phan Tuấn Lượm, 2010), đóng vai trò quan trọng cho các
hoạt động của RNM Robertson và Blaber (1992) đã cho thấy thực vật phù du đóng góp từ 20% - 50% tổng sản phẩm sơ cấp trong RNM Trong đó, khuê tảo được đánh giá là góp hơn 45% tổng sản phẩm sơ cấp cho đại dương (Round và
cs., 1990) Ở sông, sự quang hợp của khuê tảo sống bám đã cung cấp phần lớn
nguồn carbon hữu cơ cho chuỗi thức ăn (Lamberti và Hauer, 1996) Các loài khuê tảo sống ở vùng gian triều như bãi cát, bãi bùn, nền trầm tích của RNM, đầm muối và những vùng lân cận, chúng đóng góp cho sản phẩm sơ cấp từ 27 -
234 mgC/ m2/ năm (Kromkamp và Forster, 2003)
Trang 22Hình 1.4: Vai trò của tảo trong lưới thức ăn ở rừng ngập mặn (Nguồn:
http://www.mesa.edu.au/mangroves/mangroves04.asp)
Các công trình nghiên cứu trước đây cho thấy số lượng và sinh khối của quần xã thực vật phù du trong đại dương chiếm từ 1% - 2% tổng hàm lượng
carbon trên toàn cầu (Newbold và cs., 1981; Kim và cs., 1990; Mulholland,
1996) Sinh khối carbon của thực vật phù du chiếm từ 30 - 50 x 1015 g carbon,
tương đương với 40% tổng số carbon toàn cầu (Falkowski và cs., 1994; Sakshaug
và cs., 1997) Đây là một trong những quá trình cơ bản hình thành mối liên kết
chính trong chuỗi dinh dưỡng của sinh vật biển trên Trái đất (Wozniakvà Dera, 2000) Quần xã các loài khuê tảo cung cấp khoảng 40% - 50% tổng sản phẩm sơ
cấp cho HST đại dương (Round và cs., 1990) Khuê tảo, đóng vai trò rất quan
trọng cho quá trình luân chuyển carbon từ không khí xuống biển, là đối tượng được quan tâm nghiên cứu nhiều, đặc biệt trong lĩnh vực sinh lý–sinh thái (FAO, 1994; Smetacek, 1998)
Trang 231.2.2.2 Môi trường sống và nhu cầu dinh dưỡng của khuê tảo
Các yếu tố môi trường vô sinh và hữu sinh đều ảnh hưởng lên quá trình sinh trưởng và phát triển của khuê tảo Sự gia tăng nhiệt độ ảnh hưởng đến sự trao đổi chất bởi sự gia tăng tỉ lệ hô hấp và quang hợp cực đại (Baileyvà James, 2000) Khuê tảo phát triển mạnh khi nhiệt độ tăng tới một giới hạn cực đại, nhưng sự phát triển của khuê tảo bị giảm đột ngột khi nhiệt độ tăng đột ngột hay vượt giới hạn cho phép Nghiên cứu của Eppley (1972), Goldman và Carpenter (1974) cho thấy khi nhiệt độ tăng cao hơn 40oC, sự phát triển của khuê tảo bị giảm
Quá trình tăng trưởng của khuê tảo biến đổi không chỉ liên quan đến nhiệt
độ mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như: độ mặn, hàm lượng dinh dưỡng tác động đến mối tương quan giữa nhiệt độ và quá trình tăng trưởng(Hart và cs.,
1991) Nếu nồng độ muối (/ độ mặn) quá cao sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển và tăng trưởng của một số loài khuê tảo Tuy cũng có một số ít loài khuê tảo sống trong môi trường nước ngọt có khả năng nhạy cảm và chịu đựng với nồng độ
muối cao như: Achnanthes parvula, Diploneis boldtiana, D fusca, Navicula
gregaria hay Tryblionella acuminata Các loài khuê tảo này có thể thay đổi cơ
chế bên trong tế bào để thích nghi với môi trường bị xâm mặn (Clunie và James, 2002) Phần lớn các loài khuê tảo nước ngọt không thể sống và phát triển nếu nồng độ muối vượt quá 1000 mg/ lít Nếu nồng độ muối tăng, độ phong phú và
độ giàu của khuê tảo giảm (Baileyvà James, 2000)
Khuê tảo còn có thể hấp thu nguồn nitơ hữu cơ hòa tan dưới dạng nitrate (NO3-) và ammonium (NH4+) (Harris, 1986) Trong một vài vùng đất khô cằn, hàm lượng nitơ là một trong những yếu tố giới hạn sự phát triển của khuê tảo (Harris, 1986) Khuê tảo hấp thụ phosphor dưới dạng phosphate (PO43-) và được tích trữ với số lượng lớn làm tăng quá trình sinh trưởng (Terry, 1982) Phosphate cũng là một trong những thành phần giới hạn sự phát triển của khuê tảo nhưng lại cần cho quá trình phân chia tế bào (Tomlinson, 1986)
Trang 24Khuê tảo hấp thu nguồn silic dưới dạng acid ortho-silicate [Si(OH)4] để cung cấp cho sự tăng trưởng của mảnh vỏ (Nelson và Dortch, 1996) và là thành phần chính trong sự phân chia tế bào(Brzezinski, 1992) Sự gia tăng tỷ tệ hàm lượng nitơ và silic (N:Si) hòa tan là một trong những yếu tố giúp phân biệt giữa nhóm tảo có silic hay không có silic (Nelson và Dortch, 1996)
1.2.2.3 Khuê tảo chỉ thị cho môi trường
Khuê tảo có khả năng thích ứng với môi trường bị thay đổi hay bị ô nhiễm
do các tác động bên ngoài (Wetzel, 1983) Khuê tảo được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như: pH, độ mặn, hệ số oxy hóa khử, đặc biệt là nồng độ của các nhóm Ca2+, Mg2+, Na+, P tổng và các hợp chất mùn (Halse, 1996; Dickman, 2005; Simkhada, 2006); cũng như tác động của động lực môi trường lên đời sống của khuê tảo bám như chế độ thủy triều, sóng biển (Pinckney và Zongmark, 1991; Hsiao, 1992; Souza và Pineda, 2001) Năm 1998, Zong và Horton đã đặt ra một mô hình thống kê thể hiện mối tương quan giữa khuê tảo với sự thay đổi của chế độ mực triều
Sinh vật luôn luôn có sự hiện diện theo không gian và thời gian ở các thời điểm khác nhau và nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường Trong đó, khuê tảo
có khả năng đáp ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường (Rott, 1991) Khuê tảo được tìm thấy trên các kiểu "giá thể tự nhiên" như trên bề mặt của mùn (hay
bùn) (epipelic), cát (episammic), đá (epilithic); thực vật thủy sinh (epiphytic), rễ cây bị ngập nước (epidendric); hay sống bám trên nền đáy của HST thủy sinh (Porter và cs., 1993; Stoermer và Smol, 2010) Thậm chí khuê tảo còn tìm thấy
trên các kiểu "giá thể nhân tạo" như túi nhựa, chai lọ nhựa hay thủy tinh, phiến kính (lame), gạch, v.v ở các con sông, suối có dòng chảy chậm (Stoermer và Smol, 2010)
Trong các nhóm sinh vật, khuê tảo có thể phản ánh lại các kiểu thay đổi của môi trường thay vì cần phải sử dụng những phương pháp hóa học để phân tích, xác định (Wu, 1999) Vì vậy trong cùng một nhóm sinh vật, khuê tảo
Trang 25thường được chọn làm đối tượng nghiên cứu giúp mô phỏng (/ tái hiện) lại môi trường trước đây và đánh giá môi trường trong thời gian dài (Amoros và van Urk, 1989; Smolvà Cumming, 2000; Stevenson và Pan, 2010; Stevenson và cs.,
2010)
1.2.3 Sơ lƣợc nghiên cứu về khuê tảo ở rừng ngập mặn trên thế giới
1.2.3.1 Đặc điểm sinh thái của khuê tảo ở rừng ngập mặn
Trên thế giới đã có một vài nghiên cứu về khuê tảo ở RNM như Wah và Wee (1988) tìm thấy 72 loài khuê tảo thuộc 25 giống, trong đó có những giống
khuê tảo thường gặp như Navicula, Diploneis và Nitzschia trong RNM ở Singapore và phía nam bán đảo Malaysia Saifullah và cs (1997) đã tìm thấy 21
loài tảo phát triển trên rễ chống (hay còn gọi là rễ nạng) của cây Mấm quăn (hay
Mấm biển) [Avicennia marina (Forsk.) Vierk] ở RNM Balochistan, Pakistan
Hầu hết những loài tảo này thường xuất hiện ở khe rãnh, giữa các rễ cây nhằm tránh bị phơi ra ánh sáng và bị ngâm trong nước trong thời gian thủy triều lên
Sylvestre và cs (2004) đã nghiên cứu về sự phân bố của khuê tảo bám
hiện đang sống trên nền trầm tích từ sinh cảnh bãi bùn đến sinh cảnh có hệ thực vật trong RNM ở cửa sông Kaw (Guiana, Pháp) Kết quả cho thấy có 3 nhóm quần xã khuê tảo liên quan đến sự ổn định nền trầm tích và có mối tương quan với độ mặn nhiều hơn là liên quan đến sự thay đổi theo mùa trong năm Trong môi trường bãi bùn, quần xã khuê tảo bám sống trong môi trường nước mặn
chiếm ưu thế nhất như loài Coscinodiscus centralis, Cyclotella stylorum,
Thalassionema nitzschioides; ba loài tảo này được mang tới từ đại dương Sự
xuất hiện của những loài khuê tảo nước mặn này cho thấy có sự xâm nhập sâu của nước biển từ đại dương vào cửa sông Quần xã khuê tảo trên bề mặt nền bùn tại vùng gian triều đặc trưng với những loài khuê tảo sống bám Các loài khuê tảo
này hầu hết đều thuộc giống Gyrosigma; đại diện cho nhóm tảo có khả năng di
chuyển nhanh bên trong nền trầm tích Đây là giống khuê tảo sống bám bản địa
có thể được quan tâm như là sinh vật chỉ thị cho quá trình ổn định nền trầm tích Trong nền trầm tích có hệ thực vật, quần xã khuê tảo đa dạng hơn so với nền
Trang 26trầm tích ở bãi bùn và chiếm ưu thế bởi những loài thuộc giống Nitzschia và
Navicula
Chen và cs (2005) đã nghiên cứu về sinh khối, thành phần loài và đa dạng
của khuê tảo sống bám trong nền trầm tích tại bãi bùn của quần xã cây Trang
Kandelia candel (L.) Druce và những sinh cảnh có hệ thực vật khác nhau trong
RNM ở Vịnh Houyu Nhóm tác giả đã định danh được 103 loài và thứ loài khuê tảo sống bám Trong đó, có 84 loài khuê tảo sống bám trong nền trầm tích được tìm thấy trong các sinh cảnh có thực vật - với 3 loài khuê tảo chiếm ưu thế như
Gyrosigma scalproides, Nitzschia cocconeiformis và N fasciculate; và 75 loài
khuê tảo sống bám trong nền trầm tích được tìm thấy trong sinh cảnh không có
thực vật - với 2 loài chiếm ưu thế như loài G scalproides và N obtusa var
scalpelliformis
Siquerios-Beltrones và cs (2005) đã định danh được 171 loài khuê tảo
sống bám; trong đó, có 16 loài mới phát hiện trên rễ chống của cây Đước đỏ
(Rhizophora mangle) trong hai mùa (thu, xuân) được ghi nhận ở bờ biển Tây của
bán đảo Baja California, Mexico Kết quả đánh giá cho thấy các chỉ số đa dạng sinh học như Shannon-Wiener và Simpson cao
Siquerios-Beltrones và López-Fuerte (2006) cũng đã định danh được 86 loài khuê tảo Ghi nhận được 59 loài khuê tảo mới phát hiện cho vùng Bahía Magdalena; và 12 loài khuê tảo mới cho vùng bán đảo Baja California trên rễ
chống của cây Đước đỏ (Rhizophora mangle) tại Bahía Magdalena, Baja
California Sur, Mexico Trước đây, những loài khuê tảo này đã được ghi nhận như những loài hiếm trên các giá thể khác thì nay chúng được xem là những loài thường gặp, hay chiếm ưu thế trong nhóm thực vật phù du sống bám trên rễ chống của cây Đước khi mà càng có nhiều nghiên cứu tập trung về chúng
Ở Bangladesh cũng đã có nghiên cứu về khuê tảo phù du trong RNM, đó
là nghiên cứu của Aziz và Rahman (2011) Kết quả đã tìm được 14 loài khuê tảo phù du từ RNM Sandarban mà từ trước nay chưa được ghi nhận như:
Trang 27Amphiprora alata Kützing, Chaetoceros pendulus Karsten, C socialis Lauder, Cyclotella comta (Ehrenberg) Kützing, Lioloma delicatula (Cupp) Hasle, Navicula brekkaensis Petersen fa., Nitzschia inconspicua Grunow fa., N romana
Grunow, Surirella fastuosa var recedens (Schmidt) Cleve, Thalassionema
nitzschioides (Grunow) Meresch, Thalassiosira rotula Meunier, T weisflogii
Grunow Bên cạnh đó, có một loài Chaetoceros sp và một giống thuộc nhóm
khuê tảo trung tâm chưa xác định được loài
1.2.3.2 Khuê tảo làm sinh vật chỉ thị trong hệ sinh thái ngập mặn
Siqueiros-Beltrones và Sanchez-Castrjon (1999) đã ghi nhận được 230 loài khuê tảo sống bám trên nền trầm tích (chủ yếu là lớp bùn mịn và cát) ở HST ngập mặn Trong đó có 109 loài khuê tảo mới phát hiện ở bờ biển bán đảo Baja California thuộc vùng đầm phá cận nhiệt đới ở Mexico Trong quần xã khuê tảo
này, các loài khuê tảo thường gặp như Achnanthes lanceolata var genuina f
diminuta, A hauckiana var elliptica, Amphora acutiuscula, Navicula ammophila
var intermedia, N cryptocephala var perminuta, N salinarum, Nitzschia
lanceolata var minima, N punctata, N socialis var perminuta, Opephora pacifica, Staurosirella pinnata là những loài chỉ thị cho môi trường có hàm
lượng dinh dưỡng hữu cơ cao và nồng độ muối rất cao
Lai và Wang (2004) đã tìm mối tương quan giữa nhóm loài khuê tảo chiếm ưu thế sống bám với các yếu tố môi trường, nhằm giúp đánh giá chất lượng nước tại RNM Szu - Tsao ở Đài Loan Kết quả nghiên cứu đã tìm thấy 35 loài khuê tảo và chia thành 8 nhóm loài ưu thế với các yếu tố môi trường khác
nhau: (1) nhóm Achnanthes spp bao gồm A brevipes và A exilis; (2) nhóm
Amphora spp như: A granulata, A holsatica, A normanii, A exigua và A strigosa; (3) nhóm Cocconeis spp có loài C placentula var euglypta và C scutellum; (4) Mastogloia exigua; (5) Haslea sp ; (6) nhóm Navicula spp có N angusta, N cryptocephala var veneta, N cincta và N margalithii; (7) Pleurosigma normanii và (8) Nitzschia longissima Trong đó, có một số nhóm và
loài khuê tảo chỉ thị cho môi trường có giá trị pH từ 7,4 - 9,0 như nhóm Amphora
Trang 28spp., Navicula spp và loài Pleurosigma normanii chúng được xem như là những
loài khuê tảo thích ứng nhất với khoảng pH này
Ở Indonesia, Horton và cs (2007) đã nghiên cứu về quần xã khuê tảo ở
hai RNM thuộc Sulawesi và sự thích ứng của chúng như những sinh vật chỉ thị mực nước biển trong môi trường nhiệt đới Quần xã khuê tảo chiếm ưu thế trong
môi trường nước lợ hay nồng độ muối trung bình (mesohalobous) như loài
Amphora coffeaeformis, A turgida, Achnanthes delicatula, Nitzschia sigma và Tryblionella balatonis Nhóm khuê tảo chiếm ưu thế trong môi trường nước ngọt
hay nồng độ muối thấp (oligohalobous) như: Amphora veneta, Diploneis ovalis
và Progonoia didiomatia Từ những vị trí nghiên cứu cho thấy những vùng này
thường bị chìm (hay bị ngâm) trong nước khi thủy triều lên trong thời gian dài; thường là vùng gian triều, là vị trí quan trọng liên quan đến độ phong phú của khuê tảo
Chen và cs (2010) đã nghiên cứu những kiểu mô hình liên quan đến vị trí
địa lý và mùa của quần xã khuê tảo sống bám ở RNM cận nhiệt đới [chủ yếu là
loài cây Trang Kandelia candel (L.) Druce] tại 4 con sông (sông Zhangjiang,
Jiulong, Houyu và Shenzhen) Nhóm tác giả đã tìm thấy 103 loài và thứ loài khuê tảo sống bám thuộc 40 giống Trong đó, có 3 loài khuê tảo chiếm ưu thế như
Achnanthes javanica var subcontricta, Luticola mutica và Nitzschia fasciculata
liên quan mật thiết với nồng độ muối và nguồn dinh dưỡng nitơ và phosphor Quần xã khuê tảo sống bám trên rễ cây sẽ là sinh vật chỉ thị tốt cho đánh giá chất lượng nước trong RNM López Fuerte và cs (2010) đã mô tả 520 loài khuê tảo
thuộc 104 giống ở RNM Rhizophora mangle tại phía Tây Bắc Mexico
1.2.3.3 Đa dạng sinh học, sinh khối và mật độ của khuê tảo trong rừng ngập mặn
Ở Ấn Độ, Rajkumar và cs (2009) đã nghiên cứu về đa dạng quần xã thực
vật phù du trong nước tại RNM Pichavaram thuộc bờ biển phía Đông Nam Nghiên cứu này đã định danh được 94 loài thực vật phù du; trong đó, khuê tảo
Trang 29chiếm ưu thế nhất Mật độ đa dạng của quần xã thực vật phù du từ 400 đến 321.000 tế bào/ L và toàn bộ sinh khối sơ cấp là 16,54 - 826,8 mgC/ m3/ giờ và 11,52 - 610,2 mgC/ m3/ giờ
Ở Trung Quốc, Xu và cs (2010) đã so sánh quần xã khuê tảo sống bám
trong nền trầm tích ở RNM và vùng ngập mặn có cây Sậy ở đảo Qi'ao, Zhuhai, tỉnh Guangdong Nhóm tác giả đã định danh được 113 loài thuộc 28 giống khuê tảo sống bám Trong đó, có 95 loài khuê tảo thuộc RNM và 42 loài khuê tảo thuộc vùng ngập mặn có cây Sậy Mật độ của khuê tảo sống bám từ 14,3 - 553,5
cá thể/ cm3 Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số đa dạng sinh học và chỉ số đồng đều có sự thay đổi rõ giữa các vùng khác nhau và theo mùa Tuy nhiên, độ
đa dạng khuê tảo trên nền trầm tích trong vùng RNM cao hơn trong vùng ngập mặn có đám cây Sậy ngập nước Trong đó khuê tảo sống bám thuộc nhóm khuê
tảo lông chim như giống Gyrosigma, Pleurosigma và Pinnularia chiếm ưu thế trong RNM Trong khi đó, nhóm khuê tảo trung tâm như giống Cyclotella và
Coscinodiscus chiếm ưu thế trong vùng ngập mặn có cây Sậy Bên cạnh đó,
nhóm tác giả cũng đã phân tích cho thấy quần xã khuê tảo sống bám bị ảnh hưởng bởi tính chất nền trầm tích nhiều hơn so với thay đổi theo mùa
Hendrarto và Nitisuparjo (2011) đã nghiên cứu về đa dạng sinh học của khuê tảo sống bám và sinh khối sơ cấp của quần xã khuê tảo sống bám ở RNM Rembang, Demak và Pemalang thuộc Central Java ở Indonesia Kết quả định
danh được 86 loài khuê tảo sống bám, trong đó có loài Amphora coffeaeformis,
Diploneis crabro, D smithi, Navicula elliptica, Pleurosigma sp., Stauropsis majuscula và Surirella gemma chiếm ưu thế Mật độ của khuê tảo sống bám từ
86.750 tới 189.626 mảnh vỏ/ m2 Độ phong phú của khuê tảo sống bám ở RNM Demak cao nhất và thấp nhất là ở RNM Pemalang Quần xã khuê tảo sống bám ở RNM Rembang tương đồng với RNM Pemalang hơn RNM Demak, nhưng chỉ số
đa dạng khuê tảo sống bám cao hơn ở những RNM có mật độ cây rừng thấp Sinh khối sơ cấp của quần xã khuê tảo sống bám từ 120 - 342 mgC/ m2/ giờ và không
có sự khác biệt rõ về mặt thống kê với độ phong phú (P > 0,05) Kết quả cũng đã
Trang 30cho thấy khi mật độ của cây rừng ngập mặn từ 8.000 - 10.000 cây/ ha, sinh khối
sơ cấp của quần xã khuê tảo là cao nhất
Ở Trung Quốc, Huang và cs (2012) đã nghiên cứu về quần xã thực vật
phù du và khả năng ảnh hưởng của chúng đến quá trình thanh lọc trong mô hình rừng - nuôi trồng thủy sản (Plantation-Aquaculture) tại ba kiểu sinh cảnh rừng
RNM như: rừng cây Vẹt dù Bruguiera gymnorrhiza; rừng cây Đước chằng
Rhizophora stylosa và rừng cây Sú Aegiceras corniculatum ở cửa sông Pearl Kết
quả cho thấy mật độ của quần xã thực vật phù du từ 10,5 x 105 đến 3744,3 x 105
cá thể/ L và có sự khác biệt rõ về mặt thống kế với hàm lượng Chlorophyll a (r = 0,697), oxy hòa tan (r = 0,302), hàm lượng chất hữu cơ hòa tan (r = 0,350) và tổng phosphor (r = 0,276) cũng như tỷ lệ hàm lượng dinh dưỡng (P* <0,01)
1.2.4 Sơ lƣợc nghiên cứu về khuê tảo ở Việt Nam
Ở miền Trung, Maurice Rose (1926) là người đầu tiên nghiên cứu thực vật phù du ở biển Việt Nam; trong danh lục có 13 giống, 20 loài khuê tảo biển ở vịnh Nha Trang Dawydoff (1936) đã khảo sát và lập danh lục các loài khuê tảo với 11 giống, 22 loài cũng ở vịnh Nha Trang Năm 1955, Ranson và Rose cũng đã đưa
ra danh lục thành phần loài khuê tảo ở Nha Trang - Cầu Đá với 14 giống, 20 loài Năm 1962, Hoàng Quốc Trương là người đầu tiên đã khảo sát, thu thập và mô tả được 153 loài khuê tảo phù du trong vịnh Nha Trang
Ở vịnh Bắc Bộ, qua báo cáo kết quả về khuê tảo phù du do sự hợp tác giữa các chuyên gia của Việt Nam và Trung Quốc vào những năm 1959 - 1962 và
1965 - 1966 đã định danh được 140 loài khuê tảo Ở ven biển từ Thuận An đến Phú Quốc, Shirota (1966) đã dựa trên những mẫu vật thu thập từ năm 1963 đến năm 1965, mô tả lại được 213 loài khuê tảo phù du Năm 1972, Trương Ngọc An
và Hàn Đức Lương đã ghi nhận được 110 loài khuê tảo phù du ở ven biển Nam Hải và ven bờ biển Quảng Ninh - Hải Phòng Năm 1978, cũng chính Trương Ngọc An đã cung cấp bảng danh lục gồm có 156 loài khuê tảo Đến năm 1982, Viện nghiên cứu biển Nha Trang đã tổ chức điều tra thành phần loài sinh vật phù
Trang 31du từ năm 1977 - 1980 và công bố 170 loài khuê tảo ở vùng biển Thuận Hải - Minh Hải (Trương Ngọc An, 1993)
Năm 1996, Đặng Thị Sy đã nghiên cứu về quần xã khuê tảo, cũng như mật độ và sinh khối của khuê tảo phân bố theo khuynh độ của độ mặn và theo mùa ở vùng cửa sông ven biển Việt Nam Khảo sát được 307 loài khuê tảo; trong
đó, có 70 loài và 28 thứ loài mới cho Việt Nam Đến năm 2003, Nguyễn Văn Tuyên đã nghiên cứu về đa dạng tảo trong thủy vực nội địa Việt Nam và tìm thấy
411 loài khuê tảo có trong các thủy vực này Võ Hành và Phan Tuấn Lượm (2010) đã công bố 101 loài thực vật phù du, trong đó khuê tảo chiếm ưu thế tại cửa Cung Hầu, sông Tiền, tỉnh Trà Vinh Gần đây nhất có một nghiên cứu khảo sát về hiện trạng chất lượng nước hồ chứa và thành phần thực vật phù du tại Núi Cốc, Thái Nguyên Trong đó, nhóm khuê tảo là một trong sáu nhóm tảo chiếm ưu
thế nhất tại hồ chứa này (Duong và cs., 2013)
Bên cạnh đó, cũng đã có một vài nghiên cứu về khuê tảo phù du trong môi trường nước ngọt như Amossé (1969) đã định danh được 342 loài khuê tảo ở Đông Dương, trong đó có 141 loài khuê tảo được tìm thấy ở Cảng Sài Gòn Nguyễn Thanh Tùng (1994) đã lập danh lục các loài rong nước ngọt; trong đó, có
36 loài khuê tảo ở vùng nước nóng Bình Châu và Cù My Tiếp đến năm 1997, tác giả đã ghi nhận được 37 loài khuê tảo ở Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên Nguyễn Thị Bích Lan (1999) đã lập một danh lục về quần xã thực vật phù du ở Cần Giờ với 244 loài khuê tảo
Bên cạnh các nghiên cứu về quần xã thực vật phù du cũng đã có vài công trình nghiên cứu về thành phần loài khuê tảo sống bám trên một số giá thể ở nước ngọt và nước lợ như: Ngô Văn Ngọc (1999) đã ghi nhận được 8 loài khuê tảo sống bám trên lame kính ở sông Bến Thượng, Tp HCM Nguyễn Mỹ Phi Long (2000) đã ghi nhận được 106 loài khuê tảo sống bám trên các giá thể tự nhiên ở sông Vàm Cỏ Tây Đến năm 2002, Mark Dubois và Trần Anh Tích Lan ghi nhận được 150 loài khuê tảo sống bám trên gạch xây dựng tại Vườn Quốc gia
Trang 32Tràm Chim (Đồng Tháp) Lương Quang Đốc (2007) đã nghiên cứu khuê tảo sống trên nền đáy mềm ở vùng đầm phá ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế và khảo sát được 137 giống loài khuê tảo
Các nghiên cứu nêu trên tập trung khảo sát về đa dạng quần xã loài khuê tảo bám trên các giá thể Đến năm 2006 đã có một nghiên cứu đầu tiên sử dụng khuê tảo làm sinh vật chỉ thị cho môi trường bị ô nhiễm từ nguồn nước thải sinh hoạt Đó là nghiên cứu của Dương Thị Thùy và các cộng sự; đã sử dụng khuê tảo bám trên giá thể lame kính như sinh vật chỉ thị đánh giá tình trạng ô nhiễm nguồn nước thải sinh hoạt tại Hà Nội đổ ra sông Nhuệ, sông Tô Lịch và sông Hồng
(Duong và cs., 2006) Kết quả cho thấy trong tổng số 291 loài khuê tảo, đã tìm
thấy một vài loài khuê tảo đặc hữu tại sông Hồng, Nhuệ và Tô Lịch Tại sông
Hồng có loài: Aulacoseira granulata, Achnanthidium minutissimum, Encyonema
minutum, Navicula recens và một số loài đặc trưng trong môi trường nước
ngọt-lợ như: Nitzschia kurzii, Seminavis strigosa, Entomoneis paludosa, Bacillaria
paradoxa Trong khi quần xã khuê tảo trong sông Tô Lịch có loài N ubonata, N palea và Eolimna minima và cả ba loài khuê tảo này đều chỉ thị cho môi trường
bị ô nhiễm chất hữu cơ nặng (nồng độ hay chất dinh dưỡng như: NH4+, PO43-, tổng hàm lượng carbon hữu cơ và vô cơ cao, nhu cầu oxy sinh học BOD, nhu cầu oxy hóa học COD, hàm lượng oxy thấp DO) Ở sông Nhuệ, có một nhóm loài
khuê tảo chỉ thị môi trường bị ô nhiễm chất hữu cơ trung bình, đó là: Aulacoseira
granulata, Gomphonema parvulum, Melosira varians, Nitzschia palea và N umbonata Mật độ khuê tảo từ 660 đến 30.000 tế bào/ cm2 Tiếp đến năm 2007, cũng chính tác giả này cùng với các cộng sự của mình đã tiếp tục nghiên cứu về việc sử dụng khuê tảo như sinh vật chỉ thị môi trường bị ô nhiễm kim loại nặng
(chì và kẽm) cũng tại ba con sông nêu trên (Duong và cs., 2007) Kết quả đã tìm thấy bốn loài đặc trưng chỉ thị cho môi trường bị ô nhiễm kim loại nặng: N
umbonata, N palea, C meneghiniana và E minina
Tuy nhiên, chỉ có 2 nghiên cứu về đa dạng loài khuê tảo bám trên các kiểu giá thể tự nhiên như: nền trầm tích, rễ cây và lá rụng ở RNM Đó là công trình
Trang 33của Nguyễn Thị Gia Hằng và cs (2009) đã ghi nhận được 358 loài khuê tảo trên
nền trầm tích và vật rụng tại KDTSQ rừng ngập mặn Cần Giờ Năm 2010, Lê Thị
Phương Hoa và cs đã nghiên cứu về khuê tảo trong nước tại RNM Giao Thủy
thuộc KDTSQ Châu thổ sông Hồng
Thông qua việc thống kê và ghi nhận các nghiên cứu về quần xã khuê tảo nêu trên; đề tài này tiếp tục nghiên cứu nhằm đóng góp những kiến thức về đa dạng sinh học của khuê tảo bám trên các giá thể tự nhiên trong RNM ven biển phía Nam, Việt Nam; cũng như sự phân bố và ảnh hưởng của các yếu tố lý-hóa tính trong nền trầm tích đất bề mặt lên quần xã khuê tảo bám theo không gian và
theo thời gian Các nội dung nghiên cứu được trình bày khái quát dưới đây:
- Khảo sát quần xã khuê tảo bám hiện diện trên các kiểu giá thể tự nhiên: bề mặt nền trầm tích, rễ cây, thân cây và lá rụng ở ba kiểu RNM ven bờ
- So sánh đa dạng sinh học khuê tảo và các loài khuê tảo bám chiếm ưu thế trên nền trầm tích theo không gian (giữa các kiểu sinh cảnh rừng và ba kiểu RNM ven bờ); và theo thời gian (mùa khô và mùa mưa)
- So sánh mật độ mảnh vỏ khuê tảo bám trên nền trầm tích cũng theo không gian và thời gian
- So sánh tần suất xuất hiện tương đối của các loài khuê tảo bám trên các kiểu giá thể khác nhau
- Tìm mối tương quan giữa quần xã khuê tảo bám và mật độ mảnh vỏ trên nền trầm tích với một vài yếu tố lý tính (nhiệt độ, pH, độ ẩm, độ mặn) và hóa tính (tỷ lệ khoáng hóa dinh dưỡng C/N và N/P)
Trang 34CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện tại bốn khu RNM ven biển thuộc đồng bằng Nam
Bộ bao gồm các kiểu: RNM cửa sông hình phễu (Funnel shaped estuary) - Cần Giờ, Tp.HCM; RNM cửa sông châu thổ (Delta estuary) - cù lao Dung, tỉnh Sóc Trăng và RNM ven biển (hay rìa châu thổ) - cửa Bồ Đề và cửa Ông Trang, tỉnh
Cà Mau (Hình 2.1)
Hình 2.1: Khu vực nghiên cứu ở rừng ngập mặn ven biển Nam Bộ
2.1.1 Rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh
Rừng ngập mặn Cần Giờ thuộc huyện Cần Giờ, Tp Hồ Chí Minh ở vị trí
10o32'22,89'' vĩ độ Bắc đến 106o53'18,01'' kinh độ Đông Nơi đây được bao quanh bởi hai con sông chính là sông Soài Rạp và Lòng Tàu Dòng chảy của sông Soài Rạp mạnh, nên sự bồi tụ và lắng đọng chiếm ưu thế tại cửa sông, là
Trang 35điểm tương tác của sông và biển Theo hướng sông Lòng Tàu - Gò Gia - Thị Vải, hiện tượng xói lở xảy ra do tương tác từ biển mạnh hơn Rừng ngập mặn Cần Giờ phát triển trên một đầm mặn mới do phù sa sông Sài Gòn - Đồng Nai mang đến
và lắng đọng tạo thành nền đất Chế độ thủy triều là bán nhật triều không đều Biên độ triều trung bình nằm trong khoảng từ 2,0 m đến 4,0 m (Ban quản lý rừng
phòng hộ môi trường Tp HCM, 2002; Đỗ Đình Sâm và cs., 2005)
Địa hình Cần Giờ không đồng nhất, nơi đây có thể được ví như một vùng vịnh ven biển, có lưu lượng nước từ sông đổ ra biển không lớn và lại ít phù sa; và
có tới hàng chục con sông lớn nhỏ, cùng với hàng trăm con lạch nhỏ nối liền tất
cả các con sông này với nhau thành một mạng lưới sông-lạch chằng chịt Nguồn cung cấp nước của các hệ thống này lại chính từ biển Các cửa sông ở đây có dạng hình phễu (Ban quản lý rừng phòng hộ môi trường Tp HCM, 2002)
Nước biển chiếm ưu thế hơn trong mối tương tác sông-biển vào khoảng tháng 4 Nước mặn xâm nhập sâu hơn vào trong vùng đất liền; do đó, độ mặn của nước trong rừng được nâng cao hơn Ngược lại, vào thời gian từ tháng 9 đến tháng 10, khi các sông giữ vai trò ưu thế trong lực tương tác sông-biển, lúc đó nước ngọt từ sông đẩy lùi nước mặn ra biển làm hạ bớt độ mặn của nước trong khu vực (Ban quản lý rừng phòng hộ môi trường Tp HCM, 2002; Đỗ Đình Sâm
và cs., 2005)
Trang 36Hình 2.2: Khu vực cây rừng bị gãy đổ do bão Durian ở rừng ngập mặn cửa sông
(Cần Giờ) Chú thích: (A) hình ảnh minh họa ba kiểu sinh cảnh; (B) bản đồ phác
thảo vị trí các ô thu mẫu tại ba kiểu sinh cảnh rừng (Nguồn: Đề tài "Động thái
của vành đai rừng ngập mặn vùng cửa sông Sài Gòn-Đồng Nai và ven biển Đông đồng bằng sông Cửu Long", 2012)
Trang 37Cơn bão Durian (6/12/2006) đã quét qua RNM tiểu khu 17 Cần Giờ đã làm gãy đổ hơn 28 hecta cây rừng Vị trí gãy đổ nằm trong tọa độ địa lý từ
10o23'02,81'' vĩ độ Bắc-106o52'57,87'' kinh độ Đông đến 10o52'57,87'' vĩ độ
Bắc-106o53'19,07'' kinh độ Đông (Hình 2.2 A) Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu với diện tích chỉ khoảng 10 hecta ở khoảnh 8, lô E10 Địa hình của khu vực nghiên cứu nơi đây tương đối thoải nên vào những thời điểm triều cao, nước có thể dâng ngập hầu hết khu vực nghiên cứu này Mực nước bắt đầu gây ngập tại khu vực cây rừng bị gãy đổ khoảng 2,5 m; khi nước dâng đến quá độ cao này thì trừ một số vị trí nhô cao nhất ra thì hầu hết khu vực gãy đổ đều nằm dưới mực nước (Trần Triết và Lê Xuân Thuyên, 2012)
2.1.2 Rừng ngập mặn cù lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
Cù lao Dung (Sóc Trăng) ở tọa độ từ 9o30'35,53'' vĩ độ Bắc-106o
13'44,40'' kinh độ Đông đến 9o34'38,02'' vĩ độ Bắc-106o17'31,74'' kinh độ Đông Rừng ngập mặn ở đây nằm trong hệ thống RNM ven biển ĐBSCL Đây là cù lao lớn nhất sông Hậu, nằm sát biển Đông, bốn mặt được bao quanh bởi sông nước (Hình 2.1) Chế độ thủy triều nơi đây thuộc chế độ bán nhật triều với biên độ
triều từ 2,0 m đến 3,0 m (Đỗ Đình Sâm và cs., 2005; Lê Xuân Hồng và Lê Thị
Kim Thoa, 2007)
Nơi đây, sông đóng vai trò chủ yếu tạo ra các bãi bồi vùng triều cửa sông
có dạng châu thổ rất đặc trưng Sóng, dòng chảy ven bờ và thủy triều đã góp phần hình thành các bãi triều ven biển ĐBSCL Rừng ngập mặn cù lao Dung chịu
tác động bởi động lực sông là chủ yếu (Đỗ Đình Sâm và cs., 2005)
2.1.3 Rừng ngập mặn ở cửa Bồ Đề và cửa Ông Trang, tỉnh Cà Mau
Rừng ngập mặn ở cửa Bồ Đề và cửa Ông Trang thuộc tỉnh Cà Mau Trong
đó, RNM cửa Bồ Đề (tọa độ từ 8o45'24,27'' vĩ độ Bắc đến 105o12'51,51'' vĩ độ Đông) nằm ở bờ biển phía Đông; trong khi RNM cửa Ông Trang (8o42'15,96'' vĩ
độ Bắc đến 104o50'07,57'' vĩ độ Đông) nằm ở bờ biển phía Tây (Hình 2.1) Nơi đây có các con sông đổ ra biển như sông Bẩy Háp dài 58 km, rộng trung bình
Trang 38200 m nối liền bờ biển phía Đông và bờ biển phía Tây, cùng với sông Cửa Lớn nối hai cửa Bồ Đề và Ông Trang
Bãi triều ở RNM phía Đông (cửa Bồ đề) thường xuyên bị ngập trong nước
và xói lở nghiêm trọng theo thời gian (Hình 2.4) Rừng ngập mặn ở cửa Bồ Đề chịu tác động bởi động lực biển là chủ yếu và chế độ triều là bán nhật triều Hệ
thực vật tại vị trí lấy mẫu chỉ còn sự hiện diện rải rác của vài cây Giá Excoecaria
sp (Hình 2.4 C)
Ngược lại, RNM phía Tây (cửa Ông Trang) có địa hình khá bằng phẳng,
do vị trí nằm cuối đường vận chuyển các dòng phù sa ven bờ từ các cửa sông Cửu Long đổ ra biển; độ cao so với mặt biển chênh lệch từ 1,5 m đến 2,0 m (Lê Xuân Hồng và Lê Thị Kim Thoa, 2007) Nơi đây lại chịu tác động của hai dòng hải lưu ở biển Đông và vịnh Thái Lan phối hợp nên tốc độ lắng đọng phù sa ở mũi Cà Mau diễn ra rất nhanh Chế độ thủy triều nơi đây là sự kết hợp giữa chế
độ nhật triều và bán nhật triều Bên cạnh đó, vị trí thu mẫu trong nghiên cứu này thuộc Cồn Trong (Hình 2.5), được che chắn bởi Cồn Ngoài nên hệ thực vật tại đây ít bị ảnh hưởng do sóng biển, cũng như nhận được nhiều nguồn dinh dưỡng đưa vào từ sông Bẩy Háp và từ Vịnh Thái Lan đổ về
2.2.1 Vị trí và phương pháp thu mẫu khuê tảo
2.2.1.1 Vị trí thu mẫu
Tại mỗi khu vực nghiên cứu đã nêu, mẫu khuê tảo bám được thu trong các
ô mẫu được bố trí theo các đường cắt đi qua các kiểu sinh cảnh đặc trưng trong RNM như:
(a) Tại khu vực cây rừng bị gãy đổ do bão Durian gây ra (RNM Cần Giờ)
đã được thiết lập 43 ô mẫu với kích thước 20 m x 20 m theo bốn đường cắt (A,
B, C và D) qua ba kiểu sinh cảnh: sinh cảnh có cây rừng bị gãy đổ; sinh cảnh
chuyển tiếp là khu vực giao giữa sinh cảnh có cây rừng bị gãy đổ với sinh cảnh
còn cây rừng trưởng thành; sinh cảnh rừng nguyên trạng là vị trí có cây rừng
Trang 39ngập mặn trưởng thành hiện diện [thành phần loài thực vật tại đây chủ yếu là cây
Đước đôi (Rhizophora apiculata)] (tham khảo báo cáo "Động thái vành đai
RNM", 2012) Trong nghiên cứu này đã chọn 18 ô mẫu trong 43 ô mẫu làm vị trí
nghiên cứu chính, cũng qua ba kiểu sinh cảnh: sinh cảnh có cây rừng bị gãy đổ tại các ô A01, A03, B04, B07, B10, C07, C09, D04, D07, D10; sinh cảnh chuyển
tiếp: ô A05, C04, C10; sinh cảnh rừng nguyên trạng: ô B01, B13, C01, D01,
D12 (Hình 2.2)
(b) Ở RNM cù lao Dung, mẫu khuê tảo bám trên các giá thể cũng được thu theo đường cắt tại bốn kiểu sinh cảnh: bãi bùn (ký hiệu S1 - S4); bãi bùn có cây con (ký hiệu S5 - S8); rừng cây Bần (ký hiệu S9 - S12); rừng hỗn giao giữa rừng cây Bần-Dừa nước (ký hiệu S13 - S16) (Hình 2.3)
Hình 2.3: Vị trí thu mẫu khuê tảo bám trên các giá thể tại bốn kiểu sinh cảnh ở
rừng ngập mặn châu thổ (cù lao Dung) Chú thích: (A) vị trí thu mẫu tại sinh
cảnh hỗn giao giữa rừng cây Bần-Dừa nước; (B) vị trí thu mẫu tại ba kiểu sinh cảnh: bãi bùn, bãi bùn có cây con và rừng cây Bần; (C) hình ảnh minh họa bốn
Trang 40kiểu sinh cảnh theo cao độ địa hình; tỷ lệ cao độ địa hình từ 70 cm đến 140 cm và
tỷ lệ chiều dài của đường cắt là 950 m (Nguồn cao độ địa hình: Trần Triết và Lê
Xuân Thuyên, 2012)
Tương tự, ở RNM cửa Bồ Đề cũng thiết lập các ô mẫu (10 m x 10 m) tại
ba kiểu sinh cảnh: sinh cảnh trống (bãi bùn không có cây con và thường bị ngập úng trong nước) (Hình 2.4 A); sinh cảnh bãi bùn chỉ còn lại những gốc cây chết (bãi bùn này chỉ bị ngập khi thủy triều lên rất cao) (Hình 2.4 B); sinh cảnh rừng
(chủ yếu là cây Giá) (Hình 2.4 C)
Hình 2.4: Vị trí thu mẫu khuê tảo bám trên các kiểu giá thể tại ba kiểu sinh cảnh
ở rừng ngập mặn ven biển bị xói lở (cửa Bồ Đề) Chú thích: (A) sinh cảnh bãi
bùn trống (bãi bùn thường xuyên bị ngập nước); (B) sinh cảnh bãi bùn có gốc cây chết; (C) sinh cảnh rừng cây Giá; (D) hình ảnh minh họa ba kiểu sinh cảnh theo