Cùng với những thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế - xã hội là sự phát triển về văn hóa của các bộ tộc Lào, không ngừng được đổi mới, hoàn thiện và có những đóng góp đáng kể vào s
Trang 1FONGSAMOUTH PHOUVINH
QUẢN LÝ VĂN HÓA
Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 62.31.70.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS NGUYỄN XUÂN TẾ
TS TRẦN NGỌC KHÁNH
TP HỒ CHÍ MINH – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2QUẢN LÝ VĂN HÓA
Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 62.31.70.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 3Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và minh chứng đưa ra trong luận án là hoàn toàn trung thực và không sao chép từ
bất kỳ một công trình nào
Ngày tháng năm 2013
Tác giả
Pongsamouth Phouvinh
Trang 4Ở CHDCND LÀO 12
1.1 Cơ sở lý luận về văn hóa và quản lý văn hóa 12
1.1.1 Khái niệm văn hóa 12
1.1.2 Khái niệm quản lý văn hóa 16
1.2 Hệ tọa độ văn hóa quốc gia Lào 20
1.2.1 Văn hóa quốc gia Lào nhìn từ thời gian 20
1.2.1.1 Văn hóa bản địa cổ truyền của các bộ tộc Lào 21
1.2.1.2 Văn hóa thời kỳ vương quốc Lào Lạn Xạng 22
1.2.1.3 Văn hóa thời kỳ hiện đại 25
1.2.2 Văn hóa quốc gia Lào nhìn từ không gian 28
1.2.2.1 Không gian địa lý lãnh thổ 28
1.2.2.2 Không gian văn hóa bản địa 30
1.2.2.3 Không gian giao lưu và tiếp biến văn hóa 32
1.2.3 Văn hóa quốc gia Lào nhìn từ chủ thể 37
1.2.3.1 Người Lào 37
1.2.3.2 Thang giá trị văn hóa của người Lào 41
1.2.3.3 Một số đặc trưng văn hóa của người Lào 42
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VĂN HÓA Ở CHDCND LÀO VÀ THAM CHIẾU KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM 55
2.1 Khái quát về quản lý văn hóa ở CHDCND Lào 55
2.1.1 Chủ trương quản lý văn hóa ở CHDCND Lào 58
2.1.2 Chính sách quản lý văn hóa của CHDCND Lào 60
2.1.3 Bộ máy quản lý văn hóa ở CHDCND Lào 61
2.1.3.1 Bộ máy quản lý hành chính Nhà nước CHDCND Lào 61
2.1.3.2 Các cơ quan chuyên môn theo ngành dọc (Sở) của các Bộ, cơ quan ngang Bộ đóng ở địa phương 61
2.1.3.3 Quản lý Nhà nước đối với công tác quản lý văn hóa 71
2.1.4 Đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa 74
Trang 52.2.2.1 Lĩnh vực xuất bản phẩm và phát hành sách 79
2.2.2.2 Lĩnh vực điện ảnh 82
2.2.3 Quản lý sự nghiệp mỹ thuật, ga-lơ-ry, mỹ nghệ phẩm 82
2.2.4 Quản lý kinh doanh trò chơi điện tử, karaôkê 83
2.2.5 Quản lý dịch vụ quảng cáo 84
2.2.6 Quản lý giao lưu, quảng bá và hội nhập văn hóa 85
2.2.7 Công tác xã hội hóa văn hóa ở CHDCND Lào 87
2.3 Phân tích SWOT về quản lý văn hóa ở CHDCND Lào 92
2.3.1 Điểm mạnh 92
2.3.2 Điểm yếu 94
2.3.3 Cơ hội thuận lợi 95
2.3.4 Nguy cơ thách thức 96
2.4 Kinh nghiệm quản lý văn hóa của Việt Nam và bài học kinh nghiệm đối với CHDCND Lào 100
2.4.1 Những đặc điểm tương đồng giữa văn hóa Lào và văn hóa Việt Nam 100
2.4.2 Điểm khác biệt giữa văn hóa Lào và văn hóa Việt Nam 102
2.4.3 Công tác quản lý của Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa 104 2.4.4 Những bài học kinh nghiệm cho công việc quản lý văn hóa ở CHDCND Lào 106
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO QUẢN LÝ VĂN HÓA Ở CHDCND LÀO 111
3.1 Phương hướng xây dựng và phát triển văn hóa quốc gia Lào 111
3.1.1 Định hướng quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa ở CHDCND Lào 112
3.1.2 Nhiệm vụ cụ thể 117
3.2 Những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao quản lý văn hóa ở CHDCND Lào 120
Trang 6trường quản lý văn hóa theo hướng Nhà nước pháp quyền 123
3.2.3 Hoàn thiện, điều chỉnh và bổ sung những văn bản pháp luật đã ban hành 125
3.2.4 Xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật mới 127
3.2.5 Tăng cường quản lý các hoạt động dịch vụ và kinh doanh văn hóa phẩm 129
3.2.6 Đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển văn hóa 135
3.2.7 Xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng ở cơ sở 137
3.2.8 Phát triển văn hóa đồng bộ với sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế-chính trị-xã hội 141
Kết luận 159
Tài liệu tham khảo 151
Danh mục công trình của tác giá đã công bố 162
PHỤ LỤC 163
Trang 71 ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á
2 BCT: Bộ Chính trị
3 CHDCND Lào: Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
4 ĐNÁ: Đông Nam Á
5 Đảng NDCM Lào: Đảng Nhân dân cách mạng Lào
6 HĐND: Hội đồng Nhân dân
12 UBHC: Ủy ban hành chính
13 WTO: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào có nền văn hóa và văn minh phát triển lâu đời Cùng với những thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế - xã hội là sự phát triển về văn hóa của các bộ tộc Lào, không ngừng được đổi mới, hoàn thiện và có những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần hình thành nền văn hóa quốc gia Lào phong phú, đa dạng
Nghiên cứu nền văn hóa CHDCND Lào, một trong những yếu tố hết sức quan trọng và cần thiết là tìm hiểu hoạt động quản lý văn hóa của quốc gia Lào So với khu vực và thế giới, chúng ta có thể nhận thấy giữa nền văn hóa Lào và các nước khu vực, in đậm bản sắc phong tục tập quán có tính đặc thù, nhưng cũng có không ít những nét tương đồng Bên cạnh quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa - những yếu tố ngoại sinh trong quá trình phát triển nền văn hóa quốc gia Lào - thì chủng tộc, ngôn ngữ và các hoạt động kinh tế, sinh hoạt văn hóa là những yếu tố nội sinh của các bộ tộc sinh sống trên lãnh thổ quốc gia Lào
Thực tế đặt ra là tồn tại những mối liên hệ gì giữa việc xây dựng và phát triển văn hóa các bộ tộc Lào với việc kế thừa và hoàn thiện công tác tổ chức
và quản lý văn hóa của Nhà nước Lào? Bởi lẽ, hoạt động văn hóa chi phối và liên quan đến mọi hoạt động của đất nước như: kinh tế, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, chính trị, quân sự, ngoại giao, v.v
Nhà nước CHDCND Lào đã và đang mở rộng giao lưu và hội nhập quốc tế Thực hiện đường lối đổi mới, phát triển đất nước, việc giao lưu, hợp tác theo xu hướng kinh tế thị trường hiện nay khác rất nhiều so với bản chất của văn hóa truyền thống
Trang 9Trên thực tế, trong hoạt động quản lý văn hóa ở CHDCND Lào đối với
cá nhân, tập thể xã hội tồn tại không ít những điểm yếu kém, bất cập nơi này, nơi khác, cấp này cấp khác Vì thế, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước CHDCND Lào đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để thực hiện bảo tồn và phát triển văn hóa các bộ tộc Lào Chiến lược quản lý và phát triển văn hóa được Đại hội Đảng Nhân dân cách mạng (NDCM) Lào năm 1990 (khóa V) vạch ra và Hội nghị Ban chấp hành Trung Ương Đảng (NDCM) Lào lần thứ 9 (khóa V) năm 1994 tiếp tục triển khai, trong đó thể hiện những định hướng quan trọng, mang tính thống nhất về chiến lược nhằm nâng cao hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc ở CHDCND Lào
Trong quá trình phát triển, nhà nước luôn hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước và quản lý xã hội nhằm đạt hiệu quả cao nhất Hoạt động của xã hội ngày một gia tăng cùng với thời gian và công tác quản lý cũng không ngừng được cải tiến Trong hoạt động xã hội có hoạt động quản lý văn hóa Văn hóa
là toàn bộ sản phẩm vật chất và tinh thần của con người nhằm phục vụ sự phát triển của bản thân con người Xã hội càng phát triển, sự giao lưu văn hóa càng diễn ra mạnh mẽ Sự giao lưu văn hóa ngày càng làm phong phú văn hóa của mỗi tộc người, mặt khác cũng đặt ra hàng loạt vấn đề cần được quan tâm giải quyết thích đáng Vì lẽ đó, vấn đề quản lý văn hóa cần được quan tâm, nhất là
ở những nước đang phát triển CHDCND Lào là một nước đang phát triển, nên trong quá trình quản lý văn hóa cũng có rất nhiều vấn đề đặt ra khi hội nhập và phát triển
Kế thừa những thành tựu trước đây và xét trên các phương diện lý luận
và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “Quản lý văn hóa ở Cộng hòa
dân chủ nhân dân Lào” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ Luận án hoàn
thành sẽ góp phần thúc đẩy việc xây dựng cơ chế chính sách phát triển kinh tế
Trang 10- xã hội và văn hóa nói chung, đồng thời nâng cao vai trò của mỗi cá nhân và tập thể trong quản lý văn hóa đang diễn ra sôi động ở CHDCND Lào
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, CHDCND Lào sử dụng nhiều công cụ thực hiện công tác quản lý lĩnh vực văn hóa Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung Ương Đảng (NDCM) Lào lần thứ 9 (khóa V) năm 1994 đề ra chủ trương quan trọng, thể hiện tư duy mới trong hoạt động quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, với trách nhiệm nhằm tập trung nâng cao quản lý văn hóa ở CHDCND Lào theo hướng đa ngành, đa chủ thể; và đặt mục tiêu xây dựng và
phát triển nền văn hóa Lào theo khẩu hiệu: Dân tộc, Quần chúng và Tiên tiến
Triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Nhà nước CHDCND Lào thể hiện quyết tâm nâng cao vai trò của mình khi xây dựng nền văn hóa theo khẩu hiệu nói trên, đặc biệt là về tư tưởng, đạo đức và đời sống văn hóa lành mạnh trong toàn xã hội, mà trước hết là hệ thống chính trị bao gồm các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể nhân dân
Nghiên cứu về lịch sử văn hóa của CHNDND Lào, đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu Lào và nước ngoài quan tâm về vấn đề này Có thể kể ra một
số công trình cơ bản sau: Lịch sử văn học Lào do TS Boxengkham Vôngđala, Maha Silavông thực hiện; Văn hoá Đông Nam Á của Nguyễn Tấn Đắc; Thể
chế chính trị các nước ASEAN của Nguyễn Xuân Tế, Những sự kiện lịch sử Lào của Nguyễn Văn Vinh; Việt Nam – Đông Nam Á: ngôn ngữ và văn hóa
của Phạm Đức Dương, v.v cùng với những tài liệu nghiên cứu về Phật giáo ở Lào của một số nhà nghiên cứu phương Tây như Henry Deydier, George Cœdès Ở các công trình trên, những thành tựu cơ bản của văn hóa Lào đã được giới thiệu, song vấn đề quản lý văn hóa quốc gia Lào chưa được đề cập nghiên cứu hệ thống Hơn nữa, thực tiễn quá trình quản lý văn hóa ở
Trang 11CHDCND Lào cũng luôn đặt ra những vấn đề phải đổi mới và nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, giải quyết
Từ thực tiễn quản lý văn hóa ở CHDCND Lào, đồng thời, kế thừa thành quả các công trình nghiên cứu trên là cơ sở, tài liệu, thông tin quý báu để
chúng tôi có điều kiện triển khai nghiên cứu đề tài: Quản lý văn hóa ở
CHDCND Lào một cách chuyên sâu và có hệ thống
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án:
Mục đích của luận án là nghiên cứu và trình bày vấn đề quản lý văn hóa
ở CHDCND Lào một cách có hệ thống, góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn trong quản lý văn hóa; nêu ra những đặc điểm, điều kiện tác động liên quan đến sự phát triển văn hóa của Nhà nước; đồng thời đề xuất và kiến nghị những giải pháp xây dựng chính sách văn hóa ở CHDCND Lào
Nhiệm vụ của luận án:
Để đạt mục đích trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ vai trò của Đảng, Nhà nước và mối quan hệ với toàn bộ xã hội trong quản lý văn hóa Lào hiện nay
- Tìm hiểu những kinh nghiệm thực tiễn của các nước có nền kinh tế -
xã hội phát triển, đặc biệt là so sánh, tìm hiểu kinh nghiệm quản lý văn hóa của Việt Nam; trên cơ sở đó, chúng tôi vận dụng những kết quả nghiên cứu vào việc phân tích, đánh giá thực trạng và thực tiễn quản lý văn hóa ở CHDCND Lào
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý văn hóa ở CHDCND Lào
Trong từng giai đoạn phát triển của đất nước và các bộ tộc Lào, đặc biệt sau khi đất nước được độc lập tự do (năm 1975), vấn đề quản lý kinh tế - xã hội luôn gắn bó với hai hệ thống tư tưởng: thứ nhất là hệ thống tư tưởng tôn
Trang 12giáo gồm Phật giáo và tín ngưỡng bản địa; thứ hai là hệ thống tư tưởng của Đảng NDCM Lào dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước CHDCND Lào có nhiều chính sách và hệ thống pháp luật để phát triển kinh tế - xã hội nói chung, để quản lý
và phát triển văn hóa nói riêng Luận án tập trung đề cập và nghiên cứu một
số lĩnh vực chủ yếu trong quản lý Nhà nước và hệ thống pháp luật liên quan đến quản lý văn hóa ở CHDCND Lào hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung Ương Đảng (NDCM) lần thứ 9 (khóa V) của Đảng NDCM Lào viết: “Bên cạnh những thành tựu và đổi mới tích cực, chúng ta còn nhận thấy rất rõ những bất cập, thiếu sót trong lĩnh vực văn hóa; tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống thực dụng, lai căng, nhất là trong giới trẻ rất đáng lo ngại; ý thức tôn trọng pháp luật, truyền thống tốt đẹp của quốc gia chưa được giáo dục thường xuyên và đúng mức Chất lượng hoạt động văn hóa còn thấp, có khuynh hướng chạy theo thị hiếu tầm thường, còn
ít tác phẩm hay, giá trị tư tưởng nghệ thuật không cao, đấu tranh phê bình những khuynh hướng tư tưởng lệch lạc còn yếu [TL11, 8]
Do đó, đối tượng nghiên cứu của luận án là nghiên cứu có hệ thống về quản lý văn hóa gắn với yêu cầu đổi mới hoạt động văn hóa theo quan điểm của Đảng; xuất phát từ tình hình cụ thể của đất nước để đề xuất những giải pháp quản lý nhằm nâng cao hoạt động quản lý văn hóa ở CHDCND Lào
Phạm vi nghiên cứu
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng XHCN, Đảng và Nhà nước CHDCND Lào đã sử dụng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau để quản lý văn hóa có hiệu quả, trong đó quan trọng nhất là các chính sách và pháp luật Kể từ ngày thành lập nước CHDCND Lào (ngày
Trang 1312 tháng 2 năm 1975), cũng như từ khi tiến hành công cuộc đổi mới (1986) đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa Nhằm đổi mới cơ chế quản lý văn hóa một cách
có hiệu quả, Đảng và Nhà nước CHDCND Lào đã xúc tiến nhiều hoạt động
để phát triển lĩnh vực này
Luận án tập trung đề cập và nghiên cứu một số lĩnh vực chủ yếu về đường lối, chính sách và pháp luật về văn hóa; đề xuất những biện pháp nhằm tăng cường nâng cao chức năng quản lý văn hóa ở CHDCND Lào Ngoài ra, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi tham khảo kinh nghiệm của một số nước khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu luận án, chúng tôi đã nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu, sách chuyên khảo về quản lý văn hóa ở trong nước và nước ngoài, hình thành cơ sở lý luận cho đề tài Chúng tôi sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử làm nền tảng lý luận để nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp luận này, chúng tôi đã quán triệt vận dụng đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước CHDCND Lào về quản lý văn hóa Các phương pháp
cụ thể được triển khai trong luận án là:
Phương pháp so sánh, phân tích tư liệu
Phương pháp khảo sát
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm thực tiễn
Luận án được tiếp cận dưới góc độ văn hóa học
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Về lý luận, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần nâng cao hiệu
quả quản lý văn hóa của CHDCND Lào, hoàn thiện thể chế đơn giản hóa thủ
Trang 14tục hành chính trong quản lý văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho quản lý các hoạt động văn hóa
- Về thực tiễn, luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước, cơ quan nghiên cứu và đào tạo văn hóa ở CHDCND Lào và một số nước trong khu vực có những điểm tương đồng trong quá trình phát
triển
7 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu hệ thống về chính sách, pháp luật trong lĩnh vực văn hóa để nâng cao hiệu quả quản lý văn hóa ở CHDCND
Lào Luận án có một số điểm mới sau:
- Phân tích tính tất yếu khách quan của sự tồn tại chính sách và pháp luật về quản lý văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở CHDCND Lào
- Phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng chính sách và pháp luật về văn hóa ở CHDCND Lào; rút ra những kinh nghiệm từ tình hình thực
tế và xác định phương hướng giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả quản lý văn hóa ở CHDCND Lào
8 Cấu trúc luận án
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án được cấu trúc gồm 3 chương như sau:
kinh nghiệm của Việt Nam
Chương 3: Quản lý văn hóa ở CHDCND Lào thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại, hóa đất nước
Trang 15PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA
Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
1.1 Cơ sở lý luận về văn hóa và quản lý văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Trong khoa học xã hội và nhân văn, khái niệm “văn hoá” mang nhiều ý nghĩa khác nhau, vì văn hoá là một hiện tượng đa dạng của quá trình phát triển lịch sử Nó vừa mang ý nghĩa văn minh của thời đại, vừa là yếu tố bản sắc của dân tộc và tính đa dạng của các vùng miền khác nhau
Theo các nhà nghiên cứu văn hóa kinh điển, thuật ngữ văn hóa bắt nguồn từ châu Âu với từ “Culture” của Pháp, Anh và “Kultur” của Đức… Hai
từ này lại được khái quát từ gốc tiếng La tinh là “cultura”, nghĩa gốc là trồng trọt, dùng để chỉ sự chăm sóc đất đai canh tác [TV14, 16] Nhưng trong thời cận hiện đại, ở phương Tây, khái niệm văn hoá đã được sử dụng phổ biến chuyển nghĩa trong câu “philosophia cultura animi est”, nghĩa là từ “cultura”
có nghĩa gốc là trồng trọt được dùng theo hai nghĩa: “cultura agri”, tức là trồng trọt ngoài đồng ruộng và “cultura animi”, tức là “trồng trọt tinh thần con người”
Do nhu cầu phản ánh các hoạt động xã hội, khái niệm “văn hóa” đã được mở rộng trên nhiều lĩnh vực của đời sống, trong đó văn hóa gắn liền với giáo dục, đào tạo con người để con người có được những phẩm chất tốt đẹp, cần thiết cho cộng đồng và xã hội
Triết học Mác-xít tiếp cận văn hóa gắn với phương thức sản xuất xã hội,
cá nhân với cộng đồng, truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế, đặc biệt văn hóa được coi trọng trong vai trò của nhân dân lao động, coi văn hóa
Trang 16là những vấn đề biến đổi của bản thân con người, với tư cách là sự hình thành lịch sử hiện thực của con người
Như vậy, văn hóa là toàn bộ những gì con người tạo ra Văn hóa trở thành thế giới tự nhiên thứ hai của con người Ở đâu có con người, có quan hệ giữa con người với con người và với môi trường tự nhiên thì ở đó có văn hóa Văn hóa chỉ tất cả các khía cạnh biểu tượng và học thức của xã hội loài người Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [TV24, 431]
Năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa Văn hóa được đề cập đến trong các lĩnh vực: nhân loại học, dân tộc học, dân gian học, địa lý học, văn học, xã hội học…và ở mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó, khái niệm văn hóa cũng khác nhau
Nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor đã định nghĩa văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách
là một thành viên của xã hội
Ở phương Đông, khái niệm văn hóa được mở rộng vào đời sống tinh thần chỉ các phong tục, tập quán, lễ hội, sinh hoạt cộng đồng, nhân cách, sáng tác nghệ thuật, v.v So với cách nhìn của người Trung Quốc về “văn hóa” thì
văn có nghĩa là cái đẹp, do mầu sắc tạo ra, được biểu hiện trước hết trong lễ,
nhạc, cách cai trị, đặc biệt trong ngôn ngữ, cư xử lịch sự Nó biểu hiện thành một hệ thống quy tắc ứng xử cao đẹp của con người
Trang 17Xuất phát từ nghĩa gốc của từ cultura trong tiếng Latinh, GS Vũ Khiêu
cho rằng: “Văn hóa thể hiện trình độ được vun trồng của con người, của xã hội… Văn hóa là trạng thái của con người ngày càng tách khỏi giới động vật, ngày càng xóa bỏ đặc tính của động vật, để khẳng định những đặc tính của con người” [TV15, 8]
Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor trong bài phát biểu tại Lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa được tổ chức tại Pháp ngày 21/01/1988 cho rằng: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định riêng bản sắc của mình” [TV32, 23]
Có rất nhiều cách tiếp cận văn hóa theo những quan điểm khác nhau như cách tiếp cận sinh thái học, chức năng luận với các lý thuyết vị thuyết vị chủng, tương đối; trên hết là cách tiếp cận văn hóa theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Văn hóa là một khái niệm rất rộng có liên quan đến nhiều mặt hoạt động của đời sống xã hội Các quan niệm được dẫn ra ở trên và nhiều khái niệm tương tự khác nhau, đều có một điểm chung cần ghi nhận và có nghĩa là, nói đến văn hóa là nói đến con người, nói đến cái do con người sáng tạo ra Nói cách khác, văn hoá chính là tổng thể các giá trị do con người tạo ra, đó là toàn
bộ các giá trị vật chất và tinh thần mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ở trên Xét theo nguồn gốc, văn hóa chính là nhân hóa, là làm cho “thành người nhất” Vì vậy, văn hóa cũng là trình độ, năng lực hoạt động sống của con người và cũng là chính bản thân sự phát triển con người thành người nhất, cho
có tính người nhất, chính là nói đến những phẩm chất cao đẹp, mà tất cả các dân tộc, các cộng đồng không ngừng vươn tới
Trang 18Vậy, cái tính người nhất kia có nghĩa như thế nào? Đây là một vấn đề xã hội rất lớn, cần được lý giải bằng một nhân sinh quan sâu sắc và vấn đề này chính là liên quan đến những phẩm chất cao đẹp, mà tất cả các dân tộc, các cộng đồng không ngừng vươn tới Cái đó không có cái gì khác là sự thân thiện, chân thành và đúng mực trong quan hệ lao động và hưởng thụ giữa những con người cùng dựa vào nhau để chống chọi với thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt Thân thiện, Thành thực, Đúng mực trong quan hệ giữa người và người chính là Chân-Thiện-Mỹ Những cái đó không phải là một yêu cầu chủ quan, do cá nhân ai đặt ra, mà do chính cộng đồng buộc mỗi con người phải theo, nếu không muốn sống cô độc
Như vậy, văn hóa là tổng thể các ứng xử của con người một cách chân, thiện, mỹ với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình, được thể hiện cụ thể qua những gì do con người sáng tạo ra, dưới dạng vật thể và phi vật thể Mỗi dân tộc có sự lựa chọn cách thể hiện riêng, tạo nên các bản sắc phong phú, đa dạng nhưng dù hình thức biểu hiện có khác nhau đến đâu, giữa chúng vẫn có chung một giá trị là Chân-Thiện-Mỹ
Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” đã định nghĩa: ''Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi thường tự nhiên và xã hội của mình'' [TV42, 25]
Từ định nghĩa nêu trên có thể thấy có nhiều cách nhìn của nhân loại về các giá trị được gọi là văn hóa Trên cơ sở kế thừa các tư tưởng, quan điểm về văn hóa, chúng tôi cho rằng:
“Văn hóa là tổng thể những biểu hiện một cách phổ biến, thường xuyên, lâu dài, ổn đình và có hệ thống của cái bản chất bên trong Chân-Thiện-Mỹ của mỗi người, tập thể, cộng đồng quốc gia dân tộc, qua đó, có thể biết được
Trang 19chủ thể đã nghĩ về thiên nhiên, con người và chính mình, cũng như đối xử với chúng như thế nào bằng chính cuộc sống của họ”
Như vậy, văn hóa được quan niệm một cách hình tượng như một thiên nhiên thứ hai - thiên nhiên nhân tạo Cách nhìn nhận này được nhiều nhà khoa học chấp nhận, vì nó bao hàm hai nghĩa cơ bản: Thứ nhất, văn hóa là một thực thể tồn tại khách quan Với quan niệm này, văn hóa là đối tượng nghiên cứu của nhiều chuyên ngành khoa học Thứ hai, văn hóa là một lĩnh vực do con người sáng tạo nên, gồm hệ thống những giá trị hay hệ thống những biểu tượng thuộc về thế giới tinh thần của con người
1.1.2 Khái niệm quản lý văn hóa
Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt của con người trong quá trình lao động để đặt mục đích chung mà các bên tham gia cùng mong đợi sự chia
sẻ kết quả hay sản phẩm của quá trình đó Hoạt động quản lý sẽ không diễn ra nếu các bên tham gia hoạt động không cần thiết phải tổ chức một hoạt động chung Vũ Hào Quang trong cuốn Văn hóa quản lý doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay thì “quản lý được hiểu là quá trình tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đặt được mục tiêu nào đó ” [54, 26]
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua các phương pháp, phương tiện nhất định, theo những mục tiêu đã định sẵn Quản lý là một phạm trù xuất hiện trước khi có Nhà nước, với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn Quản lý ra đời từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một hoạt động lao động
Có nhiều cách tiếp cận trong quản lý như: theo lịch sử logic, theo phân tích và tổng hợp, tiếp cận mục tiêu, tiếp cận hệ thống…; và thuật ngữ quản lý được hiểu như sau:
Trang 20- Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung, nhằm thực hiện những mục tiêu
đã dự kiến
- Quản lý là lao động để điều khiển lao động
- Quản lý là hệ thống xã hội ở nhiều phương diện: quản lý hành chính, quản lý văn hóa, quản lý giáo dục…
- Quản lý là một tổ hợp phương pháp tạo nên sự vận hành của hệ thống nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra
- Quản lý là khoa học, vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hóa và làm việc với con người
- Quản lý là quá trình hình thành công việc, thông qua con người và làm việc với con người
- Quản lý là nghệ thuật Bởi lẽ nó là một hoạt động đặc biệt, đòi hỏi sự vận dụng khéo léo, tinh tế, thông minh, nhạy bén và linh hoạt từ những kinh nghiệm thực tiễn, những trí thức đã đúc kết được Qua đó, người quản lý áp dụng những kĩ năng ấy để tổ chức con người và phân công lao động
Như vậy, một cách khái quát nhất, có thể hiểu: quản lý là quá trình lập
kế hoạch, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo, kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người, nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra Hoạt động quản
lý chỉ phát huy được nhân tố con người và đạt được hiệu quả cao, khi nó tạo
ra được cái toàn thể từ nhiều cá nhân và tư liệu sản xuất của tổ chức, xã hội yêu cầu về tính toàn thể của tổ chức mang tính khách quan Nó đòi hỏi các nhà quản lý phải xác lập được mục tiêu rõ ràng và biết điều hành hệ thống của mình tới đích
Từ những quan niệm nêu trên về quản lý, có thể kết luận rằng: về cơ bản quản lý chủ yếu vẫn dựa vào cách tiếp cận hoạt động để phân tích nội dung khái niệm quản lý rất gần, nếu không muốn nói là phụ thuộc vào tâm lý
Trang 21học hành vi, tâm lý học hoạt động về quản lý Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận
sự đóng góp quan trọng của khoa học xã hội khi xem xét quản lý trong hệ thống xã hội, cấu trúc xã hội, tổ chức của xã hội và phân biệt khía cạnh kinh
tế - kỹ thuật với khía cạnh xã hội của quản lý
Trong phạm vi luận án, chúng tôi xem xét khái niệm quản lý như sau: Quản lý là một kiểu quan hệ giữa con người và xã hội trong đó có quá trình ra quyết định, tổ chức, chỉ đạo, khuyến khích, động viên, kiểm tra, giám sát, điều chỉnh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống xã hội con người Như vậy, quản lý là quá trình hình thành đúng mục tiêu, tôn chỉ đã định
Về mặt ý nghĩa, quản lý bao gồm quản lý nhà nước và quản lý xã hội Quản lý nhà nước là sự điều hành công việc theo hệ thống cơ quan công quyền Thực ra, quản lý nhà nước là quản lý ở cấp chiến lược, biểu thị ở việc định ra đường lối, chủ trương cho từng giai đoạn phát triển của đất nước Quản lý nhà nước cũng còn là chỉ đạo ở cấp chiến thuật, biểu thị ở việc đề ra chính sách, thể chế, để hiện thực hóa các đường lối, chủ trương của Đảng và được ghi trong các văn kiện Đại hội Đảng các cấp
Theo Huỳnh Quốc Thắng: Quản lý văn hoá là quản lý một hoạt động xã hội đã được xác định, gồm có: “sự tác động có định hướng từ các tổ chức quyền lực chính trị - xã hội đối với các quá trình hoạt động văn hoá và toàn
bộ đời sống văn hoá - xã hội thông qua các hình thức tổ chức, luật lệ và các biện pháp chuyên môn khác nhau; và quản lý văn hoá là việc chung mà đầu mối là lực lượng lãnh đạo, quản lý cao nhất của toàn bộ xã hội, đó là các cấp
ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể…” [TV38, 2]
Như vậy, quản lý văn hoá là hoạt động chủ quan của chủ thể xã hội với mục tiêu hay định hướng của tổ chức, đảm bảo cho hệ thống tồn tại đúng mục đích, đúng hệ thống pháp luật và bảo đảm sự phát triển hiệu quả, lâu dài
Trang 22Quản lý văn hóa là một phương diện của văn hóa và có quan hệ hữu cơ với văn hóa chính trị (văn hóa trong quản lý), gắn liền với hệ tư tưởng (ý thức đặt
ra mục tiêu của tổ chức) Đây cũng là một ứng dụng văn hóa vào quản lý mà tính văn hóa của nó là Chân-Thiện-Mỹ, trong đó quan trọng nhất là tính
“Thiện”, vì Thiện là sự biểu hiện thân thiện giữa người với con người; quản lý bao giờ cũng đi theo quyền lực, từ quyền lực dẫn đến con người dễ bị tha hóa
Do đó, văn hóa điều chỉnh cho hoạt động của những người nắm quyền lực phải thân thiện và bình đẳng hơn
Theo chúng tôi, xét theo công việc quản lý hiện nay, có thể chia quản lý văn hóa theo hai dạng: Quản lý nhà nước và quản lý xã hội Quản lý nhà nước
là sự điều hành công việc theo hệ thống cơ quan công quyền, tức là hoạt động hành chính, tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước, thấm sâu vào thành tố văn hóa trong quá trình quản lý của các cơ quan thực thị quyền lực nhà nước để quản lý, điều hành các lĩnh vực đời sống xã hội theo pháp luật Quản lý xã hội là sự quản lý được thực hiện bởi các đoàn thể hay các tổ chức xã hội Theo đó, Nhà nước là chủ thể chính, nhưng có thêm chủ thể mới
là Nhân dân, gồm các tập thể, tư nhân đứng ra tổ chức, điều hành các quá trình văn hóa Trong phạm vi luận án, chúng tôi chỉ nói về quản lý nhà nước (quản lý hành chính công và quản lý chuyên môn), mà không đề cập đến vấn
đề quản lý của các tổ chức xã hội ngoài Nhà nước
Theo tác giả Hoàng Vinh: “Quản lý hành chính công là hoạt động điều chỉnh có hệ thống cơ quan nhà nước, thông qua việc định ra các chỉ tiêu, kế hoạch hoạt động chuyên môn, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu
kế hoạch bằng các văn bản pháp quyền, v.v Còn quản lý chuyên môn – kỹ thuật (nghiệp vụ) bảo đảm thực hiện đúng các thể chế (quy chế, điều lệ) do ngành chuyên môn ấy đặt ra, nhằm đạt hiệu quả tối ưu đối với nền sản xuất xã hội” [TV50, 121]
Trang 23Theo tính chất công tác quản lý Nhà nước, quy mô và tầm cỡ bao quát của công việc, có thể phân chia hoạt động quản lý nhà nước thành ba cấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như sau:
Thứ nhất là cấp Trung ương (quản lý vĩ mô) có nhiệm vụ nghiên cứu
chủ trương, chính sách, xây dựng hệ thống chỉ tiêu, kế hoạch, hệ thống thể chế và những điều kiện khác đảm bảo thực hiện tốt nhất hệ thống chỉ tiêu kế hoạch đó
Thứ hai là cấp trung gian (cấp tỉnh và huyện) có nhiệm vụ nghiên cứu
tìm ra hệ thống các biện pháp vận dụng vào hoàn cảnh địa phương, nhằm hướng dẫn cho cấp dưới hoàn thành mọi chỉ tiêu kế hoạch do Trung ương đề
ra
Thứ ba là cấp cơ sở (bản, nhân dân) có nhiệm vụ tìm tòi các biện pháp,
nhằm tổ chức thực hiện vượt mức kế hoạch do cấp trên giao
Về chức năng, hoạt động quản lý bao gồm một số công việc như sau:
- Lập kế hoạch (thiết kế): Công việc này gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu, chương trình và phương pháp thực hiện Để có kế hoạch hoàn chỉnh, cần nắm chắc một số bước: nghiên cứu chiều hướng phát triển của tổ chức; xác định mục tiêu; xây dựng các điều kiện cho công tác thiết kế; quyết định xây dựng các thể chế của đơn vị, nhằm duy trì các kế hoạch đã được xác định, để đạt mục tiêu đề ra
- Công tác tổ chức và nhân sự: Đây là công cụ để thực hiện chức năng quản lý, liên quan với việc xây dựng, liệt kê và tập hợp những hoạt động cần
có để đạt mục tiêu của cơ quan, để nhà quản lý điều hành đạt hiệu quả tối ưu Công tác nhân sự là công việc hết sức quan trọng, nó bảo đảm cho tổ chức vận hành tốt
- Điều hành: Công việc này gắn liền với việc hướng dẫn và thúc đẩy cán
bộ cấp dưới hoạt động Chủ thể quản lý phải làm cho cấp dưới đặt sự tin cậy
Trang 24vào mình, cần khích lệ họ nâng cao lòng tự hào về truyền thống lịch sử của cơ quan, đơn vị mình Cần làm cho thuộc cấp nắm vững cơ cấu tổ chức của cơ quan, đơn vị mình và sự liên đới tương quan giữa các bộ phận trong cơ quan
ấy, chỉ định rõ nhiệm vụ và thẩm quyền của mỗi bộ phận trong cơ quan đó
- Kiểm tra, giám sát: Công tác này có nhiệm vụ phát hiện ra các hiện tượng lệch chuẩn, để kịp thời điều chỉnh, làm cho mọi hoạt động vận hành đúng quỹ đạo, hướng tới mục tiêu Nhà quản lý cần nhạy cảm với những thông tin phản hồi, có kế hoạch xử lý thích hợp, để bộ máy thường xuyên vận hành thông suốt, đạt hiệu quả tối ưu
- Phối hợp: Với công việc này nhà quản lý cần có cái nhìn toàn diện, khéo kết hợp các quan hệ ngang-dọc, trên-dưới, tạo điều kiện tốt nhất cho bộ máy vận hành
Như vậy, xét về lý luận và thực tiễn, sự vận động quản lý văn hóa được xây dựng trên cơ sở văn hóa chính trị và văn hóa quản lý của Nhà nước Hai khía cạnh này đều có điểm chung trong ứng xử là đề cao lợi ích quốc gia – dân tộc, đề cao pháp luật và đạo đức
Văn hóa không phải là yếu tố độc lập với quản lý, mà luôn có mối quan
hệ chặt chẽ với quản lý Trong hoạt động quản lý đó là quá trình quản lý tác động vào con người và xem như hệ thống phương pháp văn hóa dựa vào sự cảm hóa con người, chinh phục con người, đề cao luật pháp, đề cao đạo đức… Như vậy, từ cách nhìn chung nhất, có thể hiểu: quản lý là quá trình lập
kế hoạch, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo, kiểm tra công việc và nỗ lực của con người nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Hoạt động quản lý chỉ phát huy được nhân tố con người và đạt được hiệu quả cao, khi nó tạo ra được cái toàn thể từ nhiều cá nhân và tư liệu sản xuất của tổ chức, xã hội yêu cầu về tính toàn thể của tổ chức mang tính khách
Trang 25quan Nó đòi hỏi các nhà quản lý phải xác lập được mục tiêu rõ ràng và biết điều hành hệ thống của mình tới mục đích
1.2 Hệ tọa độ văn hóa quốc gia Lào
Giống như một điểm trong không gian, vị trí của một nền văn hóa trong
xã hội phải được xác định bởi một hệ tọa độ gồm ba chiều: Thời gian văn hóa, Không gian văn hóa và Chủ thể văn hóa
Văn hóa CHDCND Lào, với tư cách văn hóa của một cộng đồng dân tộc
đã hình thành từ bao giờ và hình thành như thế nào? Đây còn đang là vấn đề phức tạp với nhiều kiến giải khác nhau Khác với các nước trong khu vực và thế giới, văn hóa của dân tộc Lào được lựa chọn theo tính thống nhất trong đa dạng Đó là sự thống nhất trên cơ sở hạt nhân đa tộc người, đa chủ thể và phong phú các sắc thái văn hóa tộc người Nguồn gốc của nền văn hóa này đương nhiên gắn liền với quá trình hình thành và bảo vệ Tổ quốc Lào từ xa xưa và được kế thừa đến nay
1.2.1 Văn hoá quốc gia Lào nhìn từ thời gian
Theo các tài liệu khảo cổ học, sử học, dân tộc học, ngôn ngữ học…, trước thời vương quốc Lào Lạn Xạng xuất hiện, CHDCND Lào đã có một nền văn hóa khá cao, một nền văn minh nông nghiệp rực rỡ và sự xuất hiện của vương quốc Lào Lạn Xạng là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài của nền văn hóa dân tộc Lào
Theo tiến trình phát triển, văn hóa Lào chia thành năm giai đoạn: văn hóa tiền sử; văn hóa Khún Lo - Khún Bô Lôm; văn hóa Lào Lạn Xạng; văn hóa vương quốc Lào và văn hóa hiện đại Năm giai đoạn này tạo thành ba lớp văn hóa đan xen nhau, gồm: lớp văn hóa bản địa cổ truyền, lớp văn hóa giao lưu với Khmer và Ấn Độ, lớp văn hóa giao lưu với phương Tây
1.2.1.1 Văn hóa bản địa cổ truyền của các bộ tộc Lào
Trang 26Văn hóa cổ truyền của các bộ tộc Lào bao gồm hai giai đoạn là: văn hóa tiền sử, văn hóa Khún Lo - Khún Bô Lôm Đặc trưng chung của lớp văn hóa này là quá trình hình thành nền văn hóa cổ đại của các bộ tộc Lào ở khu vực Đông Nam Á mang tính bản địa, với nghề nông nghiệp lúa nước là chủ yếu, trong đó con sông Mêkông có vai trò to lớn đối với đời sống xã hội của các bộ tộc Lào
Ở phạm vi hẹp, văn hoá bản địa của Lào bắt đầu từ văn hóa của cư dân Thái/Tày đã sinh sống ở vùng miền Nam của Trung Quốc (khu vực thành phố Yunnan của Trung Quốc hiện nay), mà hiện nay vẫn còn những địa phương, khu vực, dân tộc chưa bị ảnh hưởng từ bên ngoài, có thể gọi đó là những ốc đảo văn hóa bản địa
Theo một số truyền thuyết phổ biến ở Lào thì Khún Lo là triều đại vương quốc Lào đầu tiên được hình thành năm 757 dương lịch ở vùng miền Nam của Trung Quốc; sau đó, khoảng 500 năm vương quốc Lạn Na ra đời, định đô ở Chiêng Mai (hiện nay thuộc miền Bắc Thái Lan); và đến thế kỷ XIV, vương quốc Lạn Xạng (nước Lào sau này) và Ayuthaya (Thái Lan hiện nay) đã được thành lập “Người Thái và người Lào từng là một Một bộ phận người Thái lập nên vương quốc Lạn Xạng từ năm 1353 (nước Lào sau này) Vương quốc này có sự phát triển thịnh đạt trong các thế kỷ XV - XVII cùng với Ayuthaya”.[TV18, 70]
Lào là một quốc gia đa tộc, đa văn hóa Khi tiến hành khảo cổ, thông qua một số hiện vật đã khai quật được, có thể khẳng định: người Lào sinh sống tồn tại qua các thời kỳ đồ đá, đồng, sắt Từ đầu Công nguyên, nhiều nhóm chủ thể văn hóa thuộc hệ Môn-Khơme đã sinh sống từ trước “Lào từng
là một phần của đế quốc Khmer” [TV12, 22]
Với các thành tựu của văn hóa bản địa, ngoài kỹ thuật trồng lúa, trồng cây, chăn nuôi, làm nhà sàn, còn có việc dùng các cây thuốc để chữa bệnh
Trang 27Thần thoại Quả bầu và thần thoại “Pu dơ, Nha dơ'' (Ông và Bà) là những truyền thuyết giải thích về nguồn gốc các bộ tộc, đưa tính chất văn hoá truyền thống phong phú riêng rẽ của các nền văn hóa dân tộc vào một nền tảng văn hoá quốc dân
Theo truyền thuyết, quả bầu là bà, mẹ đã sinh ra các dân tộc Truyền thuyết là thành tựu tuyệt vời của văn học dân gian lúc ấy, được sáng tác và phát triển trong tập thể nhân dân bằng cách truyền miệng từ người này đến người khác, từ địa phương này đến địa phương khác, thức dậy tình đoàn kết yêu thương giữa con người với con người, dù có nguồn gốc từ bộ tộc nào Truyền thuyết kể rằng: bầu chín, người lúc nhúc bên trong, phải dùng dùi sắt chọc thủng một lỗ, người chen chúc chui ra, phải khoét lỗ rộng hơn người tuôn ra như suối suốt ba ngày đêm Có nghĩa là, người trong quả bầu chui ra giữ nguyên mẫu bầu – mẹ Từ nguồn gốc chung ấy, dân tộc Lào biến đổi thành hình tượng một quả bầu, từ đó các bộ tộc chui ra theo thứ tự: trước tiên
là người Khmụ; tiếp đến là người Thái-Lào; rồi sau đó là người Mèo-Dao Ba nhóm bộ tộc lớn này sống trên đất Lào là con một mẹ Quả bầu đã ghi dấu các chặng đường lịch sử của các bộ tộc Lào Truyền thuyết này có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống xã hội của Lào đến tận ngày nay Trong thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, muốn đoàn kết dân tộc trong nước, các nhóm tộc người sinh sống ở Lào được gọi chung là người Lào, không phân biệt là người thuộc dân tộc nào
1.2.1.2 Văn hóa thời kỳ vương quốc Lào Lạn Xạng
Lớp văn hóa này tạo thành trong hai giai đoạn là văn hóa nước Lào Lạn Xạng (Triệu Voi) và văn hóa vương quốc Lào Đặc trưng chung của lớp văn hóa này là sự tồn tại song song hai yếu tố: văn hóa bản địa và văn hóa du nhập Trong đó, văn hóa du nhập được văn hóa bản địa tiếp nhận và nuôi
Trang 28dưỡng, còn văn hóa bản địa được văn hóa du nhập làm cho phong phú và đa dạng Những đặc điểm chủ yếu của giai đoạn văn hóa này là:
a Sự hình thành quốc gia Lào Lạn Xạng trong thế kỷ XIV
Lần đầu tiên đất nước vương quốc Lào được độc lập, thống nhất về lãnh thổ và được sự lãnh đạo từ vua Fa Ngum đến vua Say Sết Tha Với nền tảng
là nền nông nghiệp lúa nước, trồng trọt, còn có sự thúc đẩy sản xuất hàng hóa cũng như sự hình thành các trung tâm buôn bán phát triển ngày càng nhiều và được giao lưu với các nước láng giềng như Xiêm, Miến Điện, Đại Thanh, Đại Việt, Khơme bằng đường bộ hoặc đường thủy xuôi ngược sông Mêkông Thời
kỳ này đã có thương nhân châu Âu như Hà Lan, Anh, Pháp đến Lào đặt quan
hệ buôn bán
b Phật giáo được phục hồi làm quốc giáo
Nhìn tổng thể, nền văn hoá xóm giềng với cơ cấu nông nghiệp trong điều kiện xã hội chưa phân hoá gay gắt Trong xã hội, ngoài hai giai cấp chủ yếu là phong kiến quý tộc và nông dân, còn xuất hiện một số tầng lớp khác đông đảo như: thợ thủ công, thương nhân và sư sãi Các nhà sư được triều đình ưu ái, nhân dân kính trọng và có vị trí quan trọng trong xã hội cũng như trong triều chính Giai cấp nông dân gồm công xã và nông dân cá thể
Về văn hoá, Phật giáo góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của văn hóa, văn học nghệ thuật, kiến trúc v.v Kinh đô Viêng Chăn có trên 80 ngôi chùa Nhiều ngôi chùa mới được xây dựng, chùa tháp cũ được trùng tu Ngôi chùa không chỉ là trung tâm Phật giáo, nơi học chữ, học nghề, mà còn là trung tâm văn hóa của mỗi bản, làng Các sự kiện lịch sử quan trọng khi tổ chức và nghiên cứu giáo lý, dịch kinh kệ, tài liệu, sách vở của Ấn Độ dịch từ tiếng San-crít sang tiếng Lào đều diễn ra ở chùa Văn hóa nghệ thuật cũng như nền văn học đa dạng phát triển mạnh mẽ thời kỳ này Tác phẩm Xăng Xỉn Xay, Hoàng Hậu Tăn Tây, Chăm Pa Sỉ Tổn (buôn cây hoa đại), v.v xuất
Trang 29hiện đã đánh dấu bước ngoặt của nền văn học cũng như ngôn ngữ dân tộc Lào Ca múa, sân khấu, âm nhạc đều có bước tiến mới quan trọng, đặc biệt là
ca múa dân gian phát triển rộng khắp trong quần chúng nhân dân Có thể nói, vai trò của đạo Phật có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của xã hội
Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của Lào Lạn Xang thời kỳ này được các ký giả phương Tây ghi lại khá tiêu biểu, sinh động qua các bút ký:
“Ruộng đất phì nhiêu, sản vật dồi dào, dân cư đông đúc Nhân dân được dạy bảo cách làm ăn, mọi người đều sống đầy đủ, sung túc, nên nói đến trộm cắp
là điều xa lạ'' [TV46,45]
Thế kỷ XVII là giai đoạn quốc gia Lào Lạn Xạng bước vào thời kỳ hưng thịnh nhất trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, nghệ thuật Nhân dân các dân tộc Lào được sự chăm sóc và khuyến khích của nhà nước phong kiến tập quyền nên nông nghiệp phát triển, đất đai được khai phá, diện tích trồng trọt mở rộng, sản phẩm nông nghiệp dồi dào
c Giai đoạn tan rã của nhà nước Lào Lạn Xạng và khởi đầu thời kỳ xâm nhập của văn hóa phương Tây
Cuối thế kỷ XVII, nội bộ giai cấp phong kiến Lào nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng Cuộc tranh giành quyền binh, sát phạt lẫn nhau kéo dài sang đến đầu thế kỷ XVIII vẫn chưa chấm dứt, khiến lực lượng dân tộc bị chia rẽ và suy yếu dần Lợi dụng cơ hội này, phong kiến Xiêm đã can thiệp, hậu quả là nước Lào Lạn Xạng bị phân chia thành hai tiểu vương quốc (1707); sáu năm sau (l713) lại chia thành ba tiểu vương quốc là Luông Pra Bang, Viêng Chăn
và Chăm Pa Sắc Độc lập thống nhất của nước Lào Lạn Xạng trước kia bị phá
vỡ, nguy cơ mất nước thường xuyên bị đe dọa Giai cấp thống trị nước Lào lúc ấy không thức tỉnh, vẫn lao vào con đường kình địch phe nhóm vì quyền lợi ích kỷ của mình, nên sau đó cả ba tiểu vương quốc đều bị phong kiến Adútthaya xâm lược và thống trị (1779) [TV48, 45]
Trang 30Đầu thế kỷ XIX, dưới sự lãnh đạo của Chạu A Nụ Vông, tiểu vương quốc Viêng Chăn đã nổi dậy đấu tranh, nhưng do nhiều nguyên nhân, hai cuộc khởi nghĩa (1827-1828) của Chạu A Nụ Vông đều thất bại
Cuộc khởi nghĩa vũ trang của quân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Chạu
A Nụ Vông là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Nó thể hiện lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân các bộ tộc Lào, góp phần khẳng định truyền thống quật khởi của dân tộc Lào khi đất nước qua những chặng đường lịch sử đen tối Cuộc khởi nghĩa còn để lại cho nhân dân Lào nhiều kinh nghiệm lịch sử trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm
Hơn một thế kỷ, nước Lào bị phong kiến Xiêm thống trị Kinh đô Viêng Chăn bị đốt sạch, phá sạch Số dân còn sót lại bị chúng cưỡng chế sang Xiêm Suốt một thời gian dài chùa tháp ở Viêng Chăn bị bỏ hoang, cây cỏ mọc um tùm không người chăm sóc vì phần lớn nhân dân, sư sãi, bị quân xâm lược cưỡng bức rời bỏ quê hương, bản mường
Nước Lào Lạn Xạng bị chia cắt do sự phân chia quyền lợi giữa thực dân Pháp và Xiêm Sông Mêkông gắn liền với sự phát triển của dân tộc chảy qua trung tâm đất nước biến thành biên giới giữa hai quốc gia Non ba triệu người sinh sống ở phía tả ngạn sông Mêkông trở thành nước Lào thuộc Pháp; gần 4 triệu người ở hữu ngạn sông Mêkông - một vùng đất rộng lớn bị sát nhập vào lãnh thổ Xiêm Lịch sử ngàn năm văn hiến của nước Lào Lạn-Xang mất đi, quê hương làng mạc bị tàn phá, nhân dân vô cùng khổ cực
1.2.1.3 Văn hóa thời kỳ hiện đại
Lớp văn hóa này có hai xu hướng trái ngược nhau song song tồn tại - chống Âu hóa và văn hoá giao lưu xã hội chủ nghĩa (văn hoá hiện đại) Đặc điểm chủ yếu của giai đoạn văn hoá này là:
a Ý thức về mặt quốc gia thống nhất được nâng cao bổ sung cho ý thức cộng đồng truyền thống
Trang 31Vào những năm 50 của thế kỷ XX, kế thừa và phát huy truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm của dân tộc, nhân dân các dân tộc Lào
từ Bắc xuống Nam liên tục nổi dậy chống lại ách thống trị hà khắc của thực dân Pháp Nhiều cuộc đấu tranh chính trị, vũ trang đã bùng nổ, tiêu biểu là phong trào đấu tranh vũ trang anh dũng bền bỉ của nhân dân các dân tộc Lào dưới sự lãnh đạo của Ông Kẹo, Côm Ma Đăm, Chau Pha Pan Chay Dù những cuộc đấu tranh không giành được thắng lợi và bị thực dân Pháp đàn áp hết sức tàn bạo, nhưng nó đã cỗ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân các dân tộc Lào
Từ năm l930 trở đi, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, tiếp theo đó là sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, với tư tưởng chính trị, quân sự, văn hoá đúng đắn: lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc Lào bước vào thời kỳ mới - một bước ngoặt lịch sử quan trọng Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được thành lập vào ngày 02-12-1975 đã vĩnh viễn chấm dứt ách thống trị của
đế quốc, phong kiến hơn một thế kỷ ở Lào Nhân dân Lào giành được thắng lợi trên các mặt trận như kinh tế, chính trị, văn hoá, từng bước hòa nhập vào nền văn minh nhân loại Đất nước và nhân dân các bộ tộc Lào bước sang trang mới, văn hoá của Lào cũng bước sang một trang mới
b Tư tưởng Mác – Lê nin và triết học duy vật biện chứng Mác – xít đã được bổ sung nhuẫn nhuyễn vào đời sống tư tưởng truyền thống dân tộc Lào
Ngay sau khi thành lập nước, CHDCND Lào đối mặt với thù trong, giặc ngoài; kẻ thù cũ, mới cấu kết với nhau để phản kích một cách thâm độc, với ý định gây bạo loạn, lật đổ chế độ mới ngay khi vừa ra đời Từ năm 1979 –
1985, kẻ địch tiến hành phá hoại trên nhiều mặt, vừa chống phá bằng vũ trang, đe dọa xâm lược, vừa bao vây, phá hoại về kinh tế, xâm nhập về văn hóa, vừa phục hồi các phong tục tập quán lạc hậu, kích động tư tưởng, chia rẽ
Trang 32các bộ tộc, chia rẽ lãnh đạo với quần chúng, chia rẽ nước Lào với các nước anh em, bạn bè Tuy nhiên, giai đoạn này, đất nước Lào vẫn giữ vững ổn định chính trị và coi đó như một trong những nhân tố quan trọng đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước sau chiến tranh
c Tư tưởng Mác-xít càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, quá trình đô thị hóa diễn ra ngày một nhanh chóng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Mặc dù tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, các thế lực phản động tìm mọi cách để phá hoại, tình hình kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào, với tinh thần đổi mới và quyết tâm cao, trong 5 năm đầu tiến hành công cuộc đổi mới, nhân dân Lào đã ngăn chặn và đánh bại mọi âm mưu phá hoại của kẻ địch, bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ quyền lãnh thổ và chế độ mới, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Nền kinh tế quốc dân có bước chuyển biến quan trọng, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, tổng sản phẩm quốc nội tăng lên, quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng Đời sống nhân dân được cải thiện, nền dân chủ của nhân dân về mọi mặt được phát huy, chế độ dân chủ nhân dân từng bước được củng cố vững mạnh
Đại hội Đảng NDCM Lào khóa V đã chỉ rõ: “Đổi mới hệ thống chính trị, nhưng không có nghĩa thay đổi chế độ chính trị này bằng chế độ chính trị khác, mà là sự hoàn thiện tổ chức của hệ thống chính trị dân chủ nhân dân và đổi mới phương pháp hoạt động trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức đó”
Đại hội Đảng NDCM Lào khóa VI và khóa VII nêu cụ thể các mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ thực hiện: “Tăng cường đoàn kết toàn dân thành một khối, phát huy tinh thần tự chủ, tự cường, tự tạo lập sức mạnh Huy động
và tập trung mọi khả năng của nhân dân, của các thành phần kinh tế vào phát
Trang 33triển sản xuất theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước” Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới, nhiều mặt của đất nước được khai thác và phát huy từng bước
Từ khi Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào được thành lập đến nay, trong lĩnh vực văn hoá, Đảng và Nhà nước tuyên truyền sâu rộng đường lối, chính sách, các quy định, pháp luật đến địa phương và nhân dân bằng nhiều phương tiện và hình thức khác nhau như: báo chí, đài phát thanh, truyền hình, bản tin, đội thông tin, đội văn nghệ và rạp chiếu bóng nhằm đấu tranh, đánh lùi luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của kẻ địch, quản lý chặt chẽ các đội văn nghệ nghiệp dư ở cơ sở để bảo đảm nội dung trong sáng và cách mạng, đồng thời chỉ đạo hoạt động văn hoá ở những nơi nhân dân tập trung
Nhà nước quản lý nhà in, xuất bản sách báo, tạp chí, ảnh, phim chiếu bóng; cấm nhập khẩu báo chí, phim đồi truỵ, phản động, hướng dẫn nghe đài, đọc báo, xem truyền hình và văn nghệ Trung ương Đảng và Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho công tác in ấn phát hành Cơ quan in ấn phát hành được củng cố ngày một tốt hơn cả về số lượng và chất lượng Trong thời gian qua, đã in sách lí luận chính trị, sách về nghề làm báo, sách văn học từ thời kì nước Lào Lạn Xang như: Xẵng Xin Xay, thơ ca xuất sắc của Lào và các đề tài khác
Về bổ sung trình độ chuyên môn, cán bộ văn hoá cũng có bước tiến mới, trước hết là bồi dưỡng xây dựng cán bộ trong nước và gửi đi đào tạo ở nước ngoài, làm cho đội ngũ cán bộ được nâng cao cả về số lượng và chất lượng
Như vậy, cùng với sự quản lý của Đảng, quản lý Nhà nước, ngành văn hoá coi trọng công tác tuyên truyền giáo dục rộng rãi, đặc biệt là đối với tầng lớp văn hoá thanh thiếu niên ở các trường đại học, trường chuyên nghiệp, trường phổ thông Ở các bản làng, ngành văn hoá còn vận động các già làng,
Trang 34sư sãi tham gia công tác tuyên truyền giáo dục về văn hoá truyền thống của dân tộc cho dân bản Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chính phủ CHDCND Lào hết sức quan tâm xây dựng một nền văn hoá Lào đậm đà bản sắc dân tộc, mang tính đại chúng và tiến bộ Hơn 30 năm đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng CNXH ở CHDCND Lào, sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá của nhân dân các bộ tộc Lào đã đạt những thành quả đáng khích lệ về nhiều mặt, nổi bật là nền văn hóa, văn nghệ Lào đặc sắc
1.2.2 Văn hóa quốc gia Lào nhìn từ không gian
Nhiều nhà nghiên cứu về Đông Nam Á ở CHDCND Lào cũng như nước ngoài đã khảo sát về khu vực Đông Nam Á rộng lớn, phía bắc tới sông Dương
Tử, phía đông tới vùng quần đảo Phillippines, phía nam tới các quần đảo Inđônêxia Nhà nhân chủng học Nguyễn Đình Khoa cho rằng: “Tại khu vực Đông Nam Á đã diễn ra sự hợp chủng giữa họ (Mongoloid) với cư dân Melanesien bản địa, dẫn đến kết quả là sự hình thành chủng Indonesien (người Mã Lai)…” [TV17,160]
1.2.2.1 Không gian địa lý lãnh thổ
CHDCND Lào là một trong những quê hương của loài người sinh sống tại khu vực Đông Nam Á, là một vùng văn hóa hết sức đa dạng, nhiều chủng tộc, nhiều ngôn ngữ, nhiều nét khác biệt trên một nền văn hóa tương đồng, có không gian văn hóa liên quan với phương Nam Trung Quốc, đã phát triển từ thời nguyên thuỷ, trải qua quá trình phát triển, đấu tranh sinh tồn với tự nhiên
và hình thành nên cộng đồng dân tộc
CHDCND Lào là nước có nền kinh tế đang phát triển, nằm sâu trong phần lục địa thuộc khu vực Đông Nam Á, với diện tích khoảng 236.800 km2 Lãnh thổ Lào chạy dài theo sông Mêkông, có đường biên giới chung với 5 nước: phía Đông giáp Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, dài 1957 km; phía Tây có đường biên giới chung với vương quốc Thái Lan, dài 1730 km;
Trang 35phía Bắc giáp vùng đồi núi Vân Nam Trung Quốc, dài 416 km và phía Tây Bắc giáp Myanma, dài 230 km; phía Nam giáp Campuchia, dài 492 km [TV34, 71]
Địa hình của CHDCND Lào chủ yếu là đồi núi và cao nguyên, chiếm 3/4 diện tích cả nước và trải dài ở phía Đông và phía Bắc của đất nước, đỉnh Phu-Bìa cao nhất nước 2.817m Từ vùng biên giới phía Đông Bắc (biên giới với Việt Nam và Trung Quốc) và Tây Bắc (biên giới với Myanma và Thái Lan) có hai dãy núi lớn chạy theo hướng Đông Bắc và hạ thấp dần xuống hình thành một chuỗi cao nguyên Hủa-phăn ở phía Đông - Bắc Nằm giữa vùng núi phía Đông và Tây ở miền Bắc là cao nguyên Cánh đồng Chum, có độ cao từ 1.200m đến l.500m so với mặt biển Chính vị trí địa lý khép kín như vậy đã làm cho nước Lào có những hạn chế trong việc giao lưu với các nền văn hoá trong và ngoài theo luồng giao thông đường thủy
Phía Bắc của CHDCND Lào là vùng núi đồi trùng điệp, hiểm trở, chia cắt thành nhiều thung lũng hẹp, giao thông đi lại khó khăn Mặc dù, Lào nằm trong khu vực kinh tế - xã hội - văn hoá phát triển năng động như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, v.v nhưng hiện nay Lào chưa tận dụng hết lợi thế này Vùng miền Bắc là nơi tập trung của cư dân thuộc nhóm ngữ hệ Tây-Lào, Khmụ; Mhông, Mẹo; Dạo…với trang phục tương đối giản dị, lễ hội Kinh chiêng của người Mhông, Mẹo, Dạo; lễ hội ăn Trâu của người Khmu mang bản sắc văn hóa tiểu biểu của vùng này Hơn nữa vùng Bắc là nơi núi cao, hầu hết giao lưu văn hoá đối ngoại còn khó khăn, đồng thời việc trao đổi buôn bán với nước ngoài phải thông qua các nước láng giềng Do vậy, không gian văn hoá Lào ở vùng này về cơ bản có những nét khác biệt với văn hoá khu vực
Thung lũng, đồng bằng là mô hình vùng địa lý thứ hai của địa hình Lào
Diện tích ở vùng thung lũng, đồng bằng không lớn bằng núi đồi, cao nguyên, nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển
Trang 36kinh tế-xã hội của nhân dân các dân tộc Lào Đây là vùng dân cư tập trung đông đúc, sản xuất nông nghiệp - công nghiệp phát triển Đồng bằng ở CHDCND Lào không liền dải mà bị chia cắt do xen kẽ với núi đồi, nên việc giao lưu hàng hoá và đi lại rất khó khăn, đã nổ bật thêm sự khác nhau về phương thức sinh sống của các bộ tộc Lào
CHDCND Lào nằm ở trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa Mùa khô thường khô hạn, không phù hợp cho phát triển nông nghiệp, tháng nóng nhất nhiệt độ trung bình khoảng 380C
và nắng nóng kéo dài 3 tháng (tháng 4, 5, 6)
CHDCND Lào có hệ thống sông suối dày đặc và được đổ về trục lớn nhất là sông Mêkông Nếu so với sông Hồng của Việt Nam, sông Idawadi của Myanma và sông Chaophagna ở Thái Lan thì sông Mêkông đã để lại dấu ấn rất quan trọng trong văn hoá tinh thần cũng như trong đời sống của các bộ tộc Lào Bởi vì, ngoài việc tạo nên nét độc đáo của nền tảng văn hoá nông nghiệp lúa nước, nó còn tạo ra một hệ thống giao thông đường thủy thuận lợi suốt một thời gian dài trong lịch sử đường bộ chưa phát triển và giao lưu văn hoá giữa các bộ tộc người từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây
Nói đến thiên nhiên của Lào thì không thể không nói đến những cánh rừng bạt ngàn trùng điệp Rừng dường như bao phủ cả đất nước suốt từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, đâu đâu cũng có rừng Rừng chiếm từ 80 - 85% diện tích Đối với nhân dân các bộ tộc Lào, rừng có vị trí đặc biệt trong tâm tư tình cảm của mỗi người Rừng còn là quê hương của nhiều loài động vật, trong đó con voi được các bộ tộc Lào quý trọng, trở thành tên của Vương quốc Lào thời vua Phà Ngủm khi tiến hành cuộc chinh phạt thống nhất đất nước kết thúc thắng lợi vào năm 1353, gọi tên nước là Lạn Xang (Triệu Voi) trải dài hơn năm trăm năm
Trang 371.2.2.2 Không gian văn hóa bản địa
Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước, với các giá trị văn hóa còn lưu giữ được, Lào là một trong những dân tộc có nền văn minh rất sớm và được gắn liền với nền văn minh Đông Nam Á Dân tộc Lào đã qua các thời kỳ
đá cũ, đá mới, đồ đồng, đồ sắt, kế thừa và tiếp nối lao động sáng tạo liên tục
từ thế hệ này qua thế hệ khác Cùng với sự phát triển của kỹ thuật thì văn hóa
cổ truyền của dân tộc Lào đã hình thành các nhân cách văn hóa, các phong tục tập quán với những nét đặc trưng nhất
Trước khi tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, các bộ tộc Lào đã có một đời sống văn hóa khá cao mà thành tựu rõ nhất là văn hóa nông nghiệp lúa nước, sống bằng hái lượm, làm nghề trồng lúa, xây nhà ở… mà đặc trưng văn hóa
dân tộc tiêu biểu là: ở nhà sàn, ăn cơm nếp, thổi khèn bè Đây có thể nói là
một trong những di sản văn hóa sáng tạo của các bộ tộc Lào, làm nền bản sắc văn hóa đặc sắc của một quốc gia lâu đời vùng Đông Nam Á
Nhà sàn là một sáng tạo của cư dân các bộ tộc Lào và nhà sàn khung cột
đã phát triển rất mạnh qua chiều dài lịch sử từ hái lượm sang trồng trọt đã nảy sinh tư duy độc đáo của người Lào Ngoài kỹ thuật xây dựng nhà sàn, ăn cơm nếp, còn có thổi khèn bè… Người Lào rất coi trọng nhà Văn hóa của gia đình trước hết là cái nhà Cho đến nay, lối kiến trúc nhà truyền thống của người Lào đồng nhất giữa các miền, bao gồm những chi tiết đặc trưng như: hành lang nhà trong, sàn thoáng mát để bà con xóm làng tụ hợp trong những dịp thăm viếng và để trai gái có nơi vui chơi hát hò, thổi sáo, thổi khèn vào những buổi tối đẹp trời Về vị trí, người Lào thích làm nhà cạnh ruộng, ruộng cạnh bản Bà con họ hàng thường quây quần chung cư gần nhau trong bản làng Ngày nay, quan niệm về nhà cửa đã thay đổi nhiều, nhưng chất lượng đời sống gia đình vẫn được quyết định bởi vị trí của ngôi nhà, nơi có thể tiếp thu các tinh hoa của không gian thiên nhiên
Trang 38Về mặt xã hội, quan hệ gia đình ở Lào theo chế độ mẫu hệ Địa vị quan trọng của người phụ nữ tạo nên những nét đặc trưng cơ bản xã hội cổ truyền của Lào Vai trò của nữ giới được xem trọng hơn nam giới Con cái chủ yếu theo nguồn gốc mẹ, mặc dù vẫn có sự phân công lao động theo giới tính Cho đến ngày nay, một số bộ tộc Lào vẫn còn giữ tục lệ này Ví dụ, sau lễ cưới người con trai phải sang nhà gái ở rể trong khoảng thời gian nhất định
Các giá trị văn hóa gia đình là bộ ba thiết chế văn hóa mang giá trị cổ truyền bản địa Lào Nó tạo ra tình thương yêu, lòng nhân hậu và khoan dung rất nhân bản Cùng với văn hóa gia đình là văn hóa làng Trong cơ cấu tổ chức xã hội, làng giữ vai trò quan trọng Trong làng, sư sãi và người già luôn được mọi người quý trọng Có thể nói các quan hệ nhân văn trên địa bàn làng
xã của người Lào được quy định bởi hai quan hệ với cùng một mục tiêu của nền kinh tế sinh thái Đó là quan hệ tự nhiên trong sinh tồn để sản xuất và các quan hệ giao tiếp giữa con người với con người Văn hóa gia đình, văn hóa làng - xã tạo nên diện mạo văn hóa của cả nước, cũng chính là một khâu quan trọng trong lịch sử phát triển đất nước của Lào
Tư duy của người Lào về vũ trụ nhấn mạnh đến Nước, nhắc đến đại tam tài là Thiên - Địa - Nước Nước là nguồn gốc đầu tiên để con người sinh sôi
và phát triển, cho nên người Lào gọi sông Mêkông là sông Mẹ
Về tôn giáo, dù Phật giáo sớm chiếm ưu thế và trở thành quốc giáo, nhưng ở Lào vẫn tồn tại các hình thái tín ngưỡng vạn vật hữu linh, thờ phụng
tổ tiên và thờ thần Đất Quan niệm vạn vật hữu linh, tức là mọi vật mà ta nhận thấy chung quanh đều có linh hồn như con người Vì thế, chung quanh cuộc sống con người ở Lào đều liên quan với thờ thần Đất, thần Nước Đất thờ ở
những chỗ cao Trong thần thoại Lào kể: “Lúc mới có người, Mường Thén
(Thén là Trời) và Mường Người (Đất) còn ở rất gần nhau Trời và Đất chưa cách biệt Mường Thén và Mường Người đều có 3, 4 người cai quản Lẽ ra thì
Trang 39thường có sự cách biệt, nhưng vì Người không chịu nghe Trời nên Trời và Đất dần dần xa nhau…” [TV6,795]
Từ buổi xa xưa đã tồn tại các hình thức tôn giáo sơ khai như thờ cúng cá thần linh ( thẻn), các ma ( phỉ)… người ta luôn quan niệm tất cả các hiện tượng tự nhiên có liên quan trực tiếp đến sản xuất, đời sống và tính mệnh con người đều là thần như: thần gió, thần đất, thần nước, thần sấm, thần sét… Trong đó có một vị thần tối thượng có khả năng làm chủ bầu trời, mặt đất và trong nước đó là Phạ-thẻn
Đối với các bộ tộc Lào, thần còn là những nhân vật lịch sử có công lao trong việc bảo vệ sản xuất, diệt trừ ác quái thú dữ, dũng cảm giúp nhân dân bản vượt qua những thách thức khắc nghiệt Nhìn chung, đó là những vị thần luôn che chở cho đời sống con người trong việc đấu tranh để sinh tồn Tuy nhiên, cũng với uy phong lẫm liệt, nên khi tức giận, thần cũng có thể gây tai họa cho mọi người Vì thế, để tránh sự phẫn nộ của các vị thần, mọi người phải thường xuyên cúng bài, cầu xin để được che chở
Cùng với thần linh, các bộ tộc Lào còn có một hệ thống thần ma Người
ta luôn cho rằng, bên cạnh thế giới của con người còn có thế giới thần ma đáng thương, mà nhiều khi cũng đáng ghét Do tính chất hai mặt của thế giới con người và thần ma, nên đã hình thành quan niệm ma lành – ma dữ, ma tốt – ma xấu và tất cả được đánh giá như thần bảo hộ Ví dụ, ma lành là mà mường, ma làng (linh hồn người có công với bản-làng, người ăn ở phúc đức),
ma nhà (linh hồn của người ông bà, cha, mẹ, họ hàng và người thân) thường trú ngụ quanh bản làng, quanh nhà để che chở, bảo vệ cho con cháu và dân bản Còn hoạt động của thần ma trở thành tục lệ làng, xã hay gia đình như:
Khỏng Xíp Xỉ ( 14 điều tục lệ làng)
Trang 401.2.2.3 Không gian giao lưu và tiếp biến văn hóa
Cùng với đạo Phật, đạo Balamôn đã sớm được du nhập vào Lào Theo một số sử gia cho rằng, đạo Balamôn được truyền bá vào Lào khoảng thế kỷ thứ VIII-XII thông qua người Khơme và đã có thời kỳ phát triển ở Lào Qua thời gian, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đạo Balamôn đã không thể tiếp tục phát triển được, dần dần mờ nhạt và nhường chỗ cho đạo Phật Một trong nhiều nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự thất bại của đạo Balamôn trên đất Lào đó là vị trí quốc giáo của đạo Phật
Đạo Phật là một hiện tượng văn hóa phổ biển nhất trong lối sống của người Lào nói riêng, ở khu vực Đông Nam Á nói chung Phật giáo được du nhập vào Lào bằng con đường nào, từ trước đến nay vẫn chưa có câu trả lời thống nhất Nhưng tựu trung các nhà nghiên cứu đều cho rằng, Phật giáo đã
có mặt ở đất Lào từ trước khi quốc gia thống nhất, độc lập (giữa thế kỷ XIV)
ra đời và vào bằng hai con đường chính: từ Bắc xuống và từ Nam lên Thậm chí, một số tác giả Lào còn cho rằng đạo Phật đến Lào từ thế kỷ I Tây lịch Qua nghiên cứu cho thấy, trước thế kỷ XIV, Phật giáo đã có mặt ở Lào, nhưng chỉ lẻ tẻ ở từng địa phương, đặc biệt là những mường nằm ở phía Nam như: mường Chămpasac, ở vùng Trung là mường Xỉ-khôt-ta-bong, ở miền Bắc như mường Xiêng-Đông-Xiêng-Thong và mượng Phuôn Đây là ba trung tâm văn hóa, lịch sử và kinh tế của Lào thời bây giờ
Theo G Coedès – một tác giả người Pháp có nhiều công trình nghiên cứu về nước Lào, ông cho rằng, Phật giáo du nhập vào vùng Tây Lào khoảng thế kỷ thứ VIII do người Môn đầu tiên di cư từ La vô đến vùng thượng Mêphing, nơi cư trứ dân La vạ Tại đây, người Môn đã truyền bá Phật giáo cho cư dân La vạ và cũng chính người Môn đã lập nên vùng này thành hai đô thị là Lăm-phun và Lăm-pang Sau đó, Lăm-pun trở thành thủ phủ của Haripujaya (sau này là Xiêngmai-Lạnna, hiện nay thuộc về vùng Bắc Thái Lan)