Hiện nay, trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng rộng mở, các ngành khoa học kỹ thuật ở nước ta nói chung và chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng nói riêng, đang có nhu cầu phát
Trang 1BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Bảng 1 : Bảng tổng kết hình vị tiếng Anh – đơn vị cấu tạo từ nhỏ nhất 54
Bảng 2 : Mô hình cấu tạo thuật ngữ tiếng Anh ở dạng từ phái sinh 58
Bảng 3 : Bảng tổng kết “Thuật ngữ-từ phái sinh tiếng Anh là danh từ được cấu tạo từ động từ 60
Bảng 4 : Bảng tổng kết “Thuật ngữ-từ phái sinh tiếng Anh là danh từ được cấu tạo từ tính từ” 62
Bảng 5 : Bảng tổng kết “Các hậu tố cấu tạo ra thuật ngữ-từ phái sinh tiếng Anh là tính từ” 63
Bảng 6: “Mô hình cấu tạo thuật ngữ-từ phái sinh tiếng Anh là trạng từ” 67
Bảng 7 : Bảng tổng kết “Mô hình cấu tạo thuật ngữ từ ghép tiếng Anh” 75
Bảng 8 : Sơ đồ “Sự kết hợp các yếu tố trong thuật ngữ cụm danh từ tiếng Anh”88 Bảng 9 : Bảng tổng kết “Vị trí các định tố trong thuật ngữ cụm danh từ tiếng Anh “ 89
Bảng 10 :Bảng tổng kết “thuật ngữ loại ngoại động từ tiếng Việt” 97
Bảng 11 : Bảng 1.”Tỷ lệ so sánh 180 thuật ngữ từ đơn tiếng Anh với các thuật ngữ tiếng Việt tương đương là từ đơn, từ ghép và cụm từ” 105
Bảng 12 : Biểu đồ 1“ Tỷ lệ so sánh 180 thuật ngữ từ đơn tiếng Anh với các thuật ngữ tiếng Việt tương đương là từ đơn, từ ghép và cụm từ” 105
Bảng 13 : Bảng 2 “Tỷ lệ so sánh 170 thuật ngữ là từ phái sinh tiếng Anh với các thuật ngữ tiếngViệt tương đương là từ đơn, từ ghép và cụm từ” 106
Bảng 14 : Biểu đồ 2 “Tỷ lệ so sánh 170 thuật ngữ tiếng Anh là từ phái sinh với các thuật ngữ tiếng Việt tương là từ đơn, từ ghép và cụm từ” 106
Bảng 15 : Bảng 3 “Tỷ lệ so sánh 550 thuật ngữ tiếng Anh là từ ghép với các thuật ngữ tiếng Việt tương đương là từ đơn, từ ghép và cụm từ” 107
Bảng 16 : Biểu đồ 3 “Tỷ lệ thuật ngữ là từ đơn, từ ghép và cụm từ tiếng Việt trong so sánh với thuật ngữ là từ ghép tiếng Anh” 107
Bảng 17 : Bảng 4 “Tỷ lệ so sánh 600 thuật ngữ tiếng Anh là cụm từ với các thuật ngữ tiếng Việt tương đương là từ đơn, từ ghép và cụm từ” 108
Bảng 18 : Biểu đồ 4 “Tỷ lệ so sánh 600 thuật ngữ tiếng Anh là cụm từ với các thuật ngữ tiếng Việt tương đương là từ đơn, từ ghép và cụm từ” 108
Bảng 19 : “Bảng đối chiếu thuật ngữ là từ ghép tiếng Việt với thuật ngữ tiếng Anh có nghĩa tương đương” 142
Bảng 20 : Mô hình “Công thức tính tài sản” 154
Bảng 21 : Tính tài sản theo cách thông thường 154
Bảng 22 : Mô hình cấu tạo thuật ngữ là từ đơn tiếng Việt 183
Bảng 23: Mô hình cấu tạo thuật ngữ là từ ghép tiếng Việt ……… 183
Bảng 24 : Mô hình cấu tạo thuật ngữ là cụm danh từ tiếng Việt 184
Bảng 25 : Mô hình cấu tạo thuật ngữ cụm động từ tiếng Việt 186
Trang 2NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
1 adj (adjective): tính từ
2 adv (adverb): trạng từ
3 n (noun): danh từ
4 prep (preposition): giới từ
5 conj (conjunction): liên từ
6 pron (pronoun): đại từ
7 comp (compound word): từ ghép
8 v (verb): động từ
9 vt (transitive verb): ngoại động từ
10 vi (intransitive verb): nội động từ
11 prp (present participe): hiện tại phân từ
12 pp (past participe): quá khứ phân từ
13 ( Đ ) : từ đơn tiếng Việt
20 Đ.A : từ đơn Anh (single word)
21 Ph.s = từ phái sinh Anh (derivation)
Trang 328 TT : tính từ tiếng Việt
29 tr : trang
30 [ ] chú thích tài liệu tham khảo theo số thứ tự ở phần phụ lục
Trang 4Mục lục
MỞ ĐẦU 1U
0.1.Lý do chọn đề tài 1
0.2 Mục đích nghiên cứu 2
0.3 Lịch sử nghiên cứu 2
0.3.1 Tiến trình nghiên cứu thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân hàng trên thế giới 2
0.3.2 Tiến trình và kết quả nghiên cứu của thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng ở Việt Nam 8
0.4 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 12
0.4.1 Đối tượng nghiên cứu 12
0.4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
0.4.3 Phạm vi nghiên cứu 13
0.5.Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 13
0.5.1 Nguồn tư liệu 13
0.5.2 Phương pháp nghiên cứu 14
0.6 Cái mới của luận án 15
0.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài 15
0.7.1 Ý nghĩa khoa học 15
0.7.2 Ý nghĩa thực tiễn 16
0.8 Bố cục luận án 17
CHƯƠNG MỘT : CƠ SỞ LÝ LUẬN 18
1.1 Đặc điểm cơ bản của thuật ngữ khoa học 18
1.2 Những vấn đề lý luận trong xây dựng thuật ngữ khoa học bằng
tiếng Việt ……… 23
1.2.1 Quan điểm về thuật ngữ khoa học tiếng Việt 24
1.2.2 Tiêu chuẩn thuật ngữ khoa học tiếng Việt 25
1.2.3 Phương thức xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt 29
1.2.4 Tính chất các yếu tố cấu thành thuật ngữ 37
1.3 Khái niệm thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng 40
1.3.1 Thuật ngữ Tài chính 40
1.3.2 Thuật ngữ kế toán 41
1.3.3 Thuật ngữ Ngân hàng 41
1.4.Tiểu kết 42
Trang 5CHƯƠNG HAI : SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO HÌNH THỨC 44
2.1 Sơ lược về cấu tạo hình thức của thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân hàng 44
2.2 Đơn vị nhỏ nhất dùng để cấu tạo từ trong tiếng Anh và tiếng Việt 46
2.2.1 Hình vị tiếng Anh trong cấu tạo thuật ngữ khoa học 47
2.2.2 Đơn vị nhỏ nhất cấu tạo thuật ngữ khoa học tiếng Việt .54
2.3 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ Tài chính – Kế - Ngân hàng tiếng Anh ở cấp độ từ vựng 55
2.3.1 Thuật ngữ là từ đơn trong tiếng Anh 55
2.3.2 Thuật ngữ là từ phái sinh trong tiếng Anh 57
2.3.3 Thuật ngữ là từ ghép trong tiếng Anh 67
2.3.4 Nhận xét chung 78
2.4 Cấu tạo của thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng bằng tiếng Việt ở cấp độ từ vựng 79
2.4.1 Thuật ngữ là từ đơn tiếng Việt (từ một tiếng) 79
2.4.2 Thuật ngữ là từ ghép tiếng Việt (từ hai tiếng) 80
2.4.3 Thuật ngữ là từ láy tiếng Việt 83
2.5 Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt có cấu trúc là cụm từ 86
2.5.1 Giới thuyết về thuật ngữ có cấu trúc là cụm từ 86
2.5.2 Thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh có cấu trúc là cụm từ 88
2.5.3 Thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Việt có cấu trúc là cụm từ 95
2.6 Thuật ngữ ở dạng viết tắt 102
2.6.1 Thuật ngữ ở dạng viết tắt tiếng Anh 102
2.6.2 Sử dụng thuật ngữ viết tắt tiếng Anh trong tiếng Việt 103
2.7 Bảng thống kê tỷ lệ và biểu đồ thể hiện cấu tạo thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh trong so sánh đối chiếu với tiếng Việt 104
2.7.1 Kết quả thống kê tỷ lệ tương đương giữa thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt 104
2.7.2 Bảng và biểu đồ so sánh về cấu trúc hình thức giữa các thuật ngữ của tiếng Anh và tiếng Việt 105
2.8 Tiểu kết 110
CHƯƠNG BA : SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO NGỮ NGHĨA 113
Trang 63.1 Một số vấn đề cơ bản về cấu tạo ngữ nghĩa của thuật ngữ Tài
chính-Kế toán-Ngân hàng 113
3.2 Sự tương ứng về nghĩa giữa các tiền tố và hậu tố của thuật ngữ tiếng Anh với những yếu tố cấu tạo thuật ngữ tiếng Việt 116
3.2.1 Các hậu tố làm thay đổi từ loại và thêm nghĩa cho thuật ngữ 117 3.2.2 Các tiền tố thêm nghĩa cho thuật ngữ 125
3.3 Cách tạo nghĩa của thuật ngữ bằng từ ghép 132
3.3.1 Cách tạo nghĩa của thuật ngữ có quan hệ ghép song song 133
3.3.2 Cách tạo nghĩa của thuật ngữ có quan hệ ghép chính phụ 134
3.3.3 So sánh cách tạo nghĩa của thuật ngữ là từ ghép giữa hai tiếng Anh, Việt 141
3.4 Cách tạo nghĩa của thuật ngữ bằng cấu trúc cụm từ 143
3.4.1 Thuật ngữ cụm từ với tư cách là một đơn vị từ vựng 143
3.4.2 Cách kết hợp các thành tố để tạo ra nghĩa của thuật ngữ là cụm từ trong tiếng Anh 145
3.5 Những điểm tương đồng và khác biệt giữa tiếng Anh và tiếng Việt trong quá trình chuyển những từ ngữ thông thường thành thuật ngữ 152
3.6 Từ nghĩa của những yếu tố cấu thành thuật ngữ đến khái niệm chung của thuật ngữ 154
3.6.1 Việc công thức hóa khái niệm thuật ngữ 154
3.6.2 Thuật ngữ khoa học không phải của riêng các nhà khoa học 156 3.7 Thành ngữ được sử dụng với tư cách là một thuật ngữ khoa học 161
3.8 Các trường nghĩa trong thuật ngữ thuộc lĩnh vựcTài chính – Kế toán - Ngân Hàng 164
3.8.1 Trường từ vựng-ngữ nghĩa dùng trong môi trường Kế toán 166
3.8.2 Trường từ vựng-ngữ nghĩa dùng trong lĩnh vực tài chính 169
3.8.3 Trường từ vựng-ngữ nghĩa dùng trong giao dịch ngân hàng.172 3.9 Tiểu kết 174
CHƯƠNG BỐN : TÍNH QUY LUẬT CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THUẬT NGỮ TÀI CHÍNH-KẾ TOÁN-NGÂN HÀNG TIẾNG VIỆT 175 4.1 Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong xây dựng thuật ngữ khoa học 175
4.2 Các mô hình cấu tạo thuật ngữ Tài chính -Kế toán -Ngân hàng tiếng Việt 183
Trang 74.2.1 Mô hình cấu tạo thuật ngữ là từ đơn tiếng Việt: 183
4.2.2 Bảng 23: Mô hình cấu tạo thuật ngữ là từ ghép tiếng Việt: 183
4.2.3 Mô hình thuật ngữ là cụm từ tiếng Việt 184
4.3 Các hiểu biết cần thiết trong quá trình dạy thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng bằng tiếng Anh 191
4.3.1 Thành bại trong kinh doanh phụ thuộc vào hiểu và dùng đúng thuật ngữ 191
4.3.2 Dạy thuật ngữ trong môn “tiếng Anh chuyên ngành” 192
4.3.3 Dạy từ ngữ chuyên môn với tư cách là một “special term” 193
4.3.4 Dạy thuật ngữ trong quá trình luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản194 4.4 Tiểu kết 196
KẾT LUẬN 197
TÀI LIỆU THAM KHẢO 203
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 203
TÀI LIỆU TIẾNG ANH 210
TÀI LIỆU THAM KHẢO TRÊN WEBSITE 215
PHỤ LỤC 218
Trang 8MỞ ĐẦU 0.1.Lý do chọn đề tài
0.1.1 Hiện nay, trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng rộng mở, các ngành
khoa học kỹ thuật ở nước ta nói chung và chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân
hàng nói riêng, đang có nhu cầu phát triển và hoàn thiện hệ thống thuật ngữ khoa
học tiếng Việt sao cho phù hợp với những chuẩn mực quốc tế
Ở nước ta, việc xây dựng các hệ thống thuật ngữ khoa học tiếng Việt thường
phải dựa vào các hệ thống thuật ngữ nước ngoài Trong lĩnh vực Tài chính-Kế
toán-Ngân hàng nói chung là phải dựa vào thuật ngữ tiếng Anh, Mỹ Chính vì thế, việc
khảo sát, so sánh về cấu tạo hình thức và cấu tạo ngữ nghĩa của thuật ngữ Tài
chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt là một công việc có tính chất thời sự,
cấp bách, cần phải được triển khai nghiên cứu, nếu chúng ta muốn có được một hệ
thống thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Việt vừa khoa học, vừa dân tộc,
vừa quốc tế
Đó là lý do thứ nhất để chúng tôi chọn đề tài như tiêu đề của luận án
0.1.2 Qua nhiều năm giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành Tài chính-Kế toán cho
sinh viên các trường đại học, chúng tôi nhận thức rất rõ tầm quan trọng của vấn đề
truyền đạt như thế nào cho chính xác nội dung chuyên môn của các thuật ngữ Tài
chính-Kế toán-Ngân hàng Hơn nữa, sinh viên ngoài giờ học trên lớp có sự hướng
dẫn của giáo viên, còn phải tự cập nhật kiến thức cho mình qua việc đọc thông tin
trên mạng hay qua sách báo tiếng Anh Việc dạy và học ngoại ngữ phải lấy người
học làm trung tâm, phải tìm cách giúp người học hiểu được các vấn đề khoa học qua
việc dùng đúng thuật ngữ chuyên môn bằng tiếng Anh Đây là một vấn đề lớn luôn
luôn làm chúng tôi trăn trở
Đây là lý do thứ hai và là lý do thực tiễn để chúng tôi lựa chọn đề tài luận án
0.1.3 Nhưng, so sánh thuật ngữ khoa học tiếng Anh với tiếng Việt, dù chỉ trong lĩnh
vực Tài chính-Kế toán-Ngân hàng vẫn còn là một vấn đề quá rộng, bởi vì có thể nói
đến nhiều phương diện khác nhau khi so sánh Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay ở
nước ta theo chúng tôi thiết thực nhất là khảo sát về các phương diện cấu tạo hình
Trang 9thức và nội dung ngữ nghĩa của thuật ngữ Hơn nữa, vấn đề này hiện nay nhìn
chung cũng chưa được nghiên cứu chuyên sâu Cho nên, việc so sánh đối chiếu
thuật ngữ chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh với tiếng Việt về
hai phương diện này là một việc làm hữu ích và cần thiết
Đây chính là lý do thứ ba để chúng tôi xác định cụ thể đề tài luận án của
chúng tôi
0.2 Mục đích nghiên cứu
Tiếng Việt hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức Ngoài việc phải đáp
ứng tích cực và có hiệu quả nhu cầu hội nhập quốc tế, các thuật ngữ khoa học được
sáng tạo ra phải giữ gìn bản sắc tiếng Việt Đề tài mà luận án tập trung nghiên cứu
nhằm giải quyết vấn đề này Do vậy, công việc nghiên cứu cụ thể của luận án là tiến
hành khảo sát, so sánh đối chiếu thuật ngữ chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân
hàng tiếng Anh và tiếng Việt về hai phương diện: cấu tạo và nội dung, nhằm phát
hiện những sự tương đồng và khác biệt giữa thuật ngữ của hai thứ tiếng Anh,Việt
Từ đó luận án có thể đưa ra được các mô hình cấu tạo thuật ngữ Tài chính-Kế
toán-Ngân hàng bằng tiếng Việt, chỉ ra những mô hình cấu tạo nào là “tối ưu” để góp
phần xây dựng và phát triển hệ thống thuật ngữ này của tiếng Việt
0.3 Lịch sử nghiên cứu
Để đi sâu vào miêu tả, phân tích thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân hàng của
tiếng Anh và tiếng Việt về hai phương diện đặc điểm cấu tạo hình thức và đặc điểm
ngữ nghĩa, luận án xin trình bày cái nhìn bao quát về lịch sử nghiên cứu thuật ngữ
lĩnh vực này trên thế giới và ở Việt Nam
0.3.1 Tiến trình nghiên cứu thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân hàng trên thế
giới
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ và liên tục của xã hội loài người, đặc biệt là
về giáo dục, văn hóa, khoa học, y tế, thương mại v.v , ngôn ngữ của các dân tộc,
các quốc gia trên thế giới cũng phát triển theo để phản ánh được những thay đổi của
thực tế cuộc sống Các lĩnh vực ngôn ngữ, các phong cách ngôn ngữ chuyên biệt
dần dần hình thành để đáp ứng các nhu cầu chuyên môn nảy sinh trong xã hội phát
Trang 10triển Sự ra đời và phát triển của thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng thế giới
cũng không nằm ngoài quy luật này
Kế toán được xếp vào “nghề đứng thứ nhì trong hàng nghề cổ nhất thế giới”
(Accounting is at least the second oldest profession in the world) [142:5] Kế toán ra
đời rất sớm, trước cả chữ viết “Theo kết quả của các cuộc khảo cổ trong thời gian
gần đây ở vùng Lưỡng Hà cổ đại, người ta tìm thấy những “trang sổ” kế toán đầu
tiên của nhân loại là những phiến đá trên đó khắc đầy những hình ảnh sinh động để
theo dõi “tình hình tài sản” được xác định có tuổi từ khoảng 5000 năm trước công
nguyên” [9:11] Trên thực tế, sự giao lưu mua bán, quan hệ làm ăn ngày càng phức
tạp do xã hội vận động và phát triển không ngừng Kinh nghiệm cũng như sự nhận
thức thông thường của các thương gia không đủ để họ quản lý tài sản của mình
Theo tác giả Michael R Sneyd “Phải trải qua hàng ngàn năm trước khi nghề kế toán
xuất hiện nhiều thế hệ các thương gia, những người thu thuế mới tìm ra được
phương pháp tổng quát và thoả đáng cho việc lưu giữ những sổ sách ghi chép công
việc làm ăn của họ” [142:5]
Theo tìm hiểu của giới chuyên môn, phải đến năm 1299 con người mới phát
triển hệ thống thông tin tài chính gồm tất cả các yếu tố cấu thành của hệ thống kế
toán kép và vào năm 1494 Luca Pacioli tác giả cuốn Summa hệ thống kế toán kép
mới được miêu tả một cách cụ thể và rõ nét Sau đó 377 năm Josial Wedwood là
người đầu tiên hoàn thiện hệ thống kế toán giá thành Hệ thống kế toán từ đó đã
ngày càng được hoàn chỉnh hơn với việc hoàn thiện hệ thống kế toán giá thành hiện
đại của Donaldson Brown- Giám đốc điều hành của General Motor
Hiện nay trên thế giới đã có một tổ chức riêng ban hành các chuẩn mực kế toán
quốc tế Tổ chức thiết lập chuẩn mực kế toán quốc tế gồm Tổ chức ủy ban chuẩn
mực kế toán quốc tế (IASCF), Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), Hội
đồng cố vấn chuẩn mực (SAC), Hội đồng hướng dẫn báo cáo tài chính quốc tế
(IFRIC)
• IASCF có trách nhiệm giám sát IASB, là tổ chức ban hành chuẩn mực báo
cáo tài chính quốc tế (IFRS) SAC có trách nhiệm tư vấn các vấn đề kỹ thuật
Trang 11và lịch làm việc cho IASB IFRIC, dưới sự quản lý của IASB, có trách nhiệm
ban hành các hướng dẫn báo cáo tài chính quốc tế
• IASCF gồm mười chín (19) ủy thác viên gồm sáu (6) từ Bắc Mỹ, sáu (6) từ
châu Âu, bốn (4) từ châu Á - Thái Bình Dương, và ba (3) từ bất kỳ khu vực
nào khác miễn là sự cân bằng về khu vực địa lý được giữ vững
• IASB có 14 thành viên đến từ 9 quốc gia có trách nhiệm thiết lập các chuẩn
mực kế toán Các thành viên của IASB được lựa chọn theo tiêu chuẩn trình
độ chuyên môn chứ không phải theo khu vực bầu cử hay quyền lợi khu vực
Các thành viên của IASB có nguồn gốc là các kiểm toán viên thực hành,
người lập các báo cáo tài chính, người sử dụng các báo cáo tài chính, và từ
hàn lâm Bảy trong 14 thành viên có trách nhiệm trực tiếp liên hệ với một
hay nhiều hơn các nhà thiết lập chuẩn mực quốc gia Việc công bố một
chuẩn mực, dự thảo, hay hướng dẫn cần được sự tán thành của 8 trên 14
thành viên
• Hội đồng cố vấn chuẩn mực (SAC) bao gồm các nhóm cá nhân có các nguồn
gốc chức năng và khu vực địa lý khác nhau nhằm cố vấn cho IASB và đôi
khi, cho các ủy thác viên
• Các thành viên của IFRIC đến từ các khu vực địa lý rộng rãi, có trình độ
giao dịch cao, đại diện của các kế toán viên trong các ngành nghề và người
sử dụng các báo cáo tài chính
• Thêm vào đó, tất cả các thành viên của IASB có trách nhiệm liên hệ với các
nhà thiết lập chuẩn mực quốc gia không có thành viên của IASB trong tổ
chức lập quy của họ Ngoài ra, nhiều quốc gia này cũng có mặt trong Hội
đồng cố vấn chuẩn mực
• Như vậy, trên thế giới hệ thống tài chính kế toán đã có được sự thống nhất
cơ bản để các nước dựa vào đó xây dựng các chuẩn mực tài chính kế toán
của mình [176]
Lịch sử nghiên cứu của hệ thống thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân hàng
trên thế giới cho ta thấy sự ra đời và phát triển của hệ thống thuật ngữ trong lĩnh vực
Trang 12này là hoàn toàn tự nhiên, khách quan, và song hành cùng với sự phát triển của văn
minh nhân loại Cụ thể:
Ngành khoa học nghiên cứu về vấn đề “accounting”hình thành Mục đích của
khoa học này nhằm đưa những khái niệm, nhận thức thông thường thành quy luật,
thành tư duy logich khiến cho nó có khả năng phản ánh hiện thực một cách sâu sắc
và chính xác Khoa học nghiên cứu về “kế toán” ra đời, kéo theo nó là “phân tích tài
chính” Lĩnh vực Tài chính-Ngân hàng tồn tại song hành, hỗ trợ nhau Nói đến Tài
chính là nói đến hoạt động giao lưu giữa các loại vốn như ngắn hạn, trung hạn và
dài hạn Kinh tế càng cao thì đầu tư càng nhiều Đầu tư cần vốn phải thông qua
những giao dịch thị trường, trong đó phải nói tới giao dịch ngân hàng Vì vậy, khi
nói đến hoạt động trong lĩnh vực Tài chính-Kế toán-Ngân hàng, trên thực tế, chủ
yếu là ta đề cập đến các vấn đề về kinh tế Thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng
do đó còn có tên gọi chung là “thuật ngữ Kinh tế “
Kế toán được hiểu là “một hệ thống đo lường, xử lý và truyền đạt thông tin
tài chính về một đơn vị hoạch toán độc lập” Thông tin được lưu giữ lại là những
giao dịch hàng ngày liên quan về giá trị, chẳng hạn như mua bán, chi trả, thu nợ,
vay mượn, hay nói các khác đó là những sự kiện kinh tế ảnh hưởng đến nội bộ một
doanh nghiệp và được gọi là “nghiệp vụ kinh tế phát sinh” (business transaction)
Khi đã có một khối lượng lớn về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thì doanh nghiệp
cần phải có phương pháp lưu giữ và phân loại nó Khái niệm “tài khoản” ra đời
(account) “Tài khoản” là tên gọi hay nói rõ hơn đó chính là cái “mác”, cái “nhãn”
(labels) mà các nhân viên kế toán dùng để tập hợp, phân biệt các khoản tiền của các
nghiệp vụ kế toán tương tự Hàng loạt các thuật ngữ ra đời như hệ thống tài khoản
(accounting system), vốn chủ sở hữu (owner’s equity), nợ phải trả (liability), tài sản
(asset), doanh thu (revenues), chi phí (expenses), thương phiếu phải trả (notes
payable), vay có thế chấp ( mortage payable)……
Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ghi chép trong sổ sách phải sử dụng các thuật
ngữ liên quan đến tiền, được đo lường bằng tiền (money measure) Các thông tin kế
toán dưới dạng thuật ngữ tài chính được trình bày trong bốn bản báo cáo kế toán, đó
Trang 13là “bảng kê lãi lỗ” (the income statement), “bảng kê vốn chủ sở hữu” (the statement
of owner’s equity), “bảng chu chuyển tiền mặt” (the statement of cash flows) và
“bảng cân đối tài sản” (the balance sheet) Hàng loạt các thuật ngữ kế toán được đặt
ra để gắn vào những “nghiệp vụ kinh tế phát sinh” được trình bày trong các bảng
báo cáo tài chính Thí dụ như “bảng cân đối tài sản” là bảng dùng để trình bày tình
trạng tài chính vào ngày tháng nhất định nào đó Ta sẽ thấy hàng loạt các thuật ngữ
được tạo ra để gắn với các “nghiệp vụ kinh tế phát sinh” như: “tài sản cố định”
(fixed assets), “tài sản lưu động” (current assets), “tài sản vô hình” (intangible
assets), “cổ phiếu ở công ty con” (shares in subsidiary), “ký quỹ ngắn hạn” (short
term deposits), “dự phòng nợ và chi phí” (provisions for liabilities and charges),
“tiền bù cổ phiếu” (share premium), “vốn cổ phần huy động” (called up share
capital)……
Xã hội phát triển, giao dịch trong làm ăn buôn bán càng mở rộng và trở nên
phức tạp; nhất là hiện nay trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cả thế giới hướng tới một
cơ chế kinh tế duy nhất, thuật ngữ càng cần phải được cập nhật thường xuyên Do
vậy, thuật ngữ kế toán là một hệ thống mở để đón nhận các thuật ngữ mới ra đời
Thuật ngữ “nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung"(generally accepted
accounting principles (GAAP)) được dùng làm thước đo chung tình hình kinh tế của
mỗi quốc gia trên thế giới hay từng doanh nghiệp trong các quốc gia đó
Kế toán được coi là một lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong thế giới kinh
doanh hiện đại (Accounting is one of the fastest growing fields in the modern
business world) [157:5] Nó được coi là “ngôn ngữ kinh doanh” (the language of
business) Trước kia việc xuất hiện của công việc kế toán hoàn toàn là nhu cầu rất
tự nhiên Các bộ tộc thời trung cổ hay một nhóm thương gia cần đến kế toán chỉ đơn
giản là để quản lý của cải, tài sản mà họ kiếm được Nhận thức của họ về việc quản
lý của cải của mình cũng rất đơn giản Doanh nghiệp được tưởng tượng như một cái
hộp đựng tiền hay một cái hồ chứa nước Do vậy tiền đầu tư vào doanh nghiệp, tiền
vay mượn hay tiền rút ra cũng được miêu tả như dòng nước chảy Tiền bỏ vào
doanh nghiệp có thuật ngữ tương ứng “inflow of cash” (luồng vốn chạy vào);
Trang 14“cash” là tiền, “inflow” là dòng chảy vào Tiền rút vốn được gọi là “ outflow of
cash” “Outflow” là dòng chảy ra Và cũng từ đây thuật ngữ “cash flow” (chu
chuyển tiền hay dòng ngân lưu) ra đời Khi nói “cạn kiệt nguồn vốn” người ta dùng
hình tượng “ reservoir runs dry” cũng tương tự như dùng trong trường hợp “ấm đun
cạn hết nước” Cách hiểu cũng như các thuật ngữ trên vẫn được dùng để ghi chép
các giao dịch thu chi nguồn vốn trong doanh nghiệp ngày nay
Nếu kế toán chỉ dừng lại ở việc quản lý tài sản sao cho có hiệu quả thì chưa đủ
Ngày nay do tốc độ phát triển như vũ bão của công việc kinh doanh mang tính
thương mại quốc tế thì việc quản lý đòi hỏi phải đi vào chiều sâu, phải quan tâm
đến chất lượng của hoạt động doanh nghiệp Kế toán được sử dụng rộng rãi để diễn
giải các hoạt động khác như hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động
tài chính (operating, investing and financing activities) Do vậy cùng với kế toán,
phân tích hoạt động kinh doanh là một trong những công cụ đắc lực để quản lý và
điều hành có hiệu quả các hoạt động doanh nghiệp
Phân tích hoạt động doanh nghiệp liên quan đến một số môn học mới xuất
hiện chừng vài thập niên trở lại đây, chủ yếu ở các nước có nền kinh tế phát triển
như: “kế toán quản trị” (management accounting), “phân tích báo cáo tài chính”
(the analysis of financial statements), “quản trị tài chính” (financial management)
Để đáp ứng hoạt động phân tích hoạt động doanh nghiệp hàng loạt thuật ngữ mới
xuất hiện Thí dụ “phân tích tỷ số” (ratio analysis) là một công việc của “phân tích
báo cáo tài chính” Các tỷ số sẽ rút gọn khối lượng dữ liệu chứa trong “bảng báo
cáo tài chính” thành dạng thực tế để dễ hiểu, dễ sử dụng Các “nhà quản lý”
(manager) cần phải biết “khả năng thanh khoản” (liquidity), khả năng đáp ứng các
nghĩa vụ ngắn hạn (short term liability) của doanh nghiệp mà họ đang điều hành
Họ phải quan tâm đến “tỷ số lưu hoạt” (current ratio), đó là kết quả việc so sánh
giữa “tài sản hiện hành” (current assets) và “nợ hiện hành” (current liabilities).Các
“cổ đông"(shareholders) muốn biết “lãi cổ tức” (stock dividend) có được an toàn
hay không, họ phải được cung cấp kết quả qua phân tích “tỷ số bảo chứng lợi nhuận
cổ tức” ( dividend cover) ở nơi mà họ đang bỏ vốn đầu tư Kết quả của tỷ số dựa
Trang 15vào việc so sánh “lợi nhuận trong năm tài chính” (profit for the finacial year) với
“lãi cổ tức phải chi trả” (dividend payable) Hàng loạt các thuật ngữ mới xuất hiện
để đáp ứng cho các hoạt động này Thí dụ không chỉ có các nhà quản lý mà cả
những “người làm công” (employee), “con nợ” (debtor), “trái chủ “ (creditor), các
“nhà cung ứng vật tư’” (supplyer) và cả các “công ty cạnh tranh” (rival company)
đều quan tâm đến “tỷ số thời gian thu nợ trung bình” ( average collection period) và
“tỷ số lượng hàng quay vòng” (stock turnover) Các cổ đông, các “nhà tư
vấn”(adviser), các “nhà đầu tư”(investor) quan tâm đến “tỷ số khả năng sinh lời”
(profitability)……
Giao dịch ngân hàng cũng là hoạt động phổ biến trong hoạt động làm ăn của
doanh nghiệp.”Ngân hàng là thủ quỹ của nền kinh tế” Điều này trở nên cần thiết
khi nước ta ra nhập WTO Trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại quốc tế sẽ trở
nên thường xuyên Trong quá trình hoạt động cũng như tất cả các hoạt động quốc tế
kể cả quan hệ mậu dịch và phi mậu dịch đều cần đến tài chính Rất nhiều thuật ngữ
ra đời như “tín dụng thư’” (letter of credit (L/C)); “tín dụng thư huỷ ngang” và “tín
dụng thư không huỷ ngang” (revocable L/C, irrevocable L/C); “thư tín dụng giáp
lưng” (back to back L/C); “giao hàng trên tàu” (free on board); “giá hàng, phí bảo
hiểm, cước vận chuyển” (cost, insurance, freight (CIP)); “hối phiếu” (bill of
exchange / draft); “ lệnh phiếu” ( promissory note)…
0.3.2 Tiến trình và kết quả nghiên cứu của thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân
hàng ở Việt Nam
Trong thời kỳ Pháp thuộc, các trường đại học, cao đẳng ra đời nhằm đào tạo tại
chỗ nguồn nhân lực, tầng lớp công chức phục vụ cho chính sách đô hộ của Pháp Do
vậy, ta chỉ thấy một số trường được thành lập như Đại học Y dược, Thú Y, Pháp
chính, Cao đẳng Sư phạm, Nông lâm Công chính, Thương mại….Các trường này
hợp lại thành Viện Đại học Đông dương và tập trung ở Hà-nội Chương trình học,
tài liệu giáo khoa ở bậc đại học chủ yếu nhập từ Pháp, giảng dạy bằng tiếng Pháp
Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Không bao lâu,
ngày 23/9/1945 bắt đầu Nam Bộ kháng chiến và bùng nổ cuộc Toàn quốc kháng
Trang 16chiến chống thực dân Pháp vào ngày 19/12/1946 Mặc dù đây là thời kỳ rất khó
khăn nhưng Đảng ta vẫn gấp rút chuẩn bị nguồn nhân lực có chất luợng cao để xây
dựng đất nước sau này Ngoài một số trường như Đại học Nông lâm, Công chính,
Mỹ thuật, Thú y… để phục vụ sản xuất và chiến đấu, Đảng ta cũng đã bắt đầu gửi
lưu học sinh đi học ở các nước Xã hội Chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc…
Sau Hòa bình lập lại năm 1954, các trường đại học được cải tổ, năm trường
theo mô hình mới được khai giảng tại Hà-Nội là: Đại học Tổng hợp, Đại học Bách
khoa, Đại học Y-Dược, Đại học Sư phạm và Đại học Nông lâm Tiếp theo, một loạt
các trường đại học khác ra đời, trong đó có trường Đại học Tài chính-Kế toán
thành lập vào năm 1964 Đây là một lĩnh vực khoa học còn non trẻ, nhưng cũng có
thuận lợi là trường đã sử dụng các chương trình, giáo trình giảng dạy có sẵn của
Liên Xô, biên dịch, biên soạn lại cho phù hợp Để phục vụ giảng dạy và tiện cho
sinh viên tra cứu, rất nhiều từ điển Tài chính-Kế toán-Ngân hàng song ngữ
Nga-Việt ra đời; điều này đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển hệ
thống thuật ngữ của các ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng
Năm 1996, Trường Đại học Tài chính-Kế toán cùng với Trường Đại học Kinh
tế và khoa Kinh tế Trường Đại học Tổng hợp (cũ) hợp nhất lại thành Trường Đại
học Kinh tế Tp.HCM bây giờ Cuối những năm 1989-1990 là thời kỳ tan rã của
Liên bang Xô viết, lúc này tiếng Nga không còn là ngoại ngữ được sử dụng chủ yếu
ở các trường đại học, trong số đó có cả Trường Đại học Kinh tế Tiếng Anh trở
thành ngoại ngữ độc tôn để giảng dạy môn “ngoại ngữ chuyên ngành”; tiếng Pháp
chỉ dùng làm ngoại ngữ thứ hai cho khoa Thương mại Du lịch (ngoại ngữ thứ nhất
là tiếng Anh) Một số giáo viên của trường và các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này
đã chuyển hướng đi tu nghiệp tại các nước phương Tây, vì thế việc du nhập thuật
ngữ từ các ngôn ngữ phương Tây bắt đầu mạnh mẽ
Để đáp ứng nhu cầu phát triển như vũ bão của nền kinh tế đất nước trong giai
đoạn mới, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM đã thay đổi chương trình giảng dạy, sử
dụng các chương trình tiên tiến đang được giảng dạy tại các trường đại học lớn trên
thế giới nhằm nhanh chóng hòa nhập với hệ thống đào tạo thế giới, trước hết là các
Trang 17nước trong khu vực Do đó ảnh hưởng của các thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân
hàng bằng tiếng Anh ngày càng rõ rệt hơn trong các giáo trình cũng như trong các
từ điển Tài chính-Kế toán-Ngân hàng song ngữ Anh-Việt
Bên cạnh đó, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới hiện nay, thị trường tài chính
luôn là thị trường sôi động mang tính quyết định sự phát triển bền vững và lớn
mạnh của một nền kinh tế quốc gia Tuy nhiên ở nước ta, thị trường này mới nhen
nhúm Do vậy, nhu cầu tìm hiểu, tiếp thu những tri thức mới về lĩnh vực này trở nên
vô cùng cấp bách, đòi hỏi hàng loạt các thuật ngữ ra đời, tuy chưa chính xác nhưng
cũng đáp ứng được vấn đề nắm bắt tri thức khoa học mới Bất cứ một tài liệu
chuyên ngành nào cũng kèm theo thuật ngữ để giải thích những tri thức khoa học
liên quan Nhưng vì đây là một mảng tri thức đang còn nhiều mới mẻ, chúng ta
chưa kịp xây dựng cho mình một hệ thống thuật ngữ riêng, mà còn vay mượn nhiều
của nước ngoài, trước kia là của Nga, Pháp, nay là của tiếng Anh Đây là điều kiện
để thuật ngữ tiếng Anh ào ạt vào Việt Nam
Chỉ tính riêng các từ điển song ngữ Anh-Việt về lĩnh vực Tài chính-Kế
toán-Ngân hàng những năm 90 của thế kỷ trước cho tới nay đã có những quyển sau:
1 1985: Nguyễn Đức Dy, Đỗ Mộng Hùng, Vũ Hữu Tửu, Vũ Hoài Thủy, Từ
điển Ngoại thương Anh-Việt, Trường Đại học Ngoại thương
2 1992: Nguyễn Thị Ái Nguyệt, Nguyễn Tùng Lâm, Từ điển Anh-Việt
Thương mại-Tài chính-Ngân hàng Anh-Việt, Nxb Thế giới – Nxb Mũi Cà
Trang 187 2003: Đỗ Hữu Châu, Từ điển thuật ngữ Tài chính Quốc tế Anh Việt, Nxb
Nhìn chung, chúng ta có thể nêu ra một số nhận định như sau về thuật ngữ
Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Việt:
a) Bên cạnh những đặc điểm chung với nhiều hệ thống thuật ngữ khoa học xã hội
và nhân văn khác của Việt Nam, hệ thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng
Việt còn có các đặc điểm riêng của mình Do sự phát triển mạnh mẽ những năm gần
đây để đáp ứng kịp thời sự thay đổi của nền kinh tế, có những thuật ngữ được cấu
tạo chưa chuẩn xác, chưa trong sáng tiếng Việt là điều không tránh khỏi
b) Thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng dùng ở Việt Nam chủ yếu là qua con
đường vay mượn các thuật ngữ nước ngoài theo các phương thức phổ biến là:
chuyển dịch, phiên âm, chuyển tự và mượn nguyên dạng
c) Về nguồn gốc, các thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng dùng ở Việt Nam
phần lớn được tạo lập từ các yếu tố Hán-Việt (thí dụ: kinh tế, thương mại, tài chính,
ngân hàng, ) Trong số 1500 thuật ngữ liệt kê trong phụ lục, chúng tôi đã tìm thấy
khoảng 90% số lượng các thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng được cấu tạo từ
các yếu tố Hán Việt Các yếu tố thuần Việt rất ít, chỉ khoảng dưới 10%
d) Các thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Việt được hình thành từ lối
phiên chuyển các thuật ngữ Anh-Mỹ ngày càng nhiều, thí dụ: “chống độc quyền”
hay “chống tơ-rớt” (antitrust), “nhãn” hay “mác” (brand mark), ”chế độ hạn ngạch”
hay “chế độ cô ta” (quota system)……
Có tình hình sử dụng song song thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng
tiếng Việt và thuật ngữ phiên chuyển từ tiếng Anh/Mỹ, thí dụ: marketing → tiếp thị,
bán hàng online → bán hàng trên mạng, down giá → hạ giá, lãi suất hot → lãi
suất cao …
Trang 19Qua tìm hiểu tiến trình và kết quả nghiên cứu thuật ngữ Tài chính-Kế
toán-Ngân hàng hai thứ tiếng Anh, Việt ta có thể nhận thấy thuật ngữ trong lĩnh vực khoa
học này của tiếng Việt còn quá non trẻ so với bề dày lịch sử của thuật ngữ loại này
trên thế giới Chính vì điều này mà cho tới nay ta vẫn phải vay mượn thuật ngữ
nước ngoài Để tiến tới một nền kinh tế duy nhất trên thế giới, cần phải có một tiếng
nói chung, một sự chuẩn mực chung, một sự hiểu biết thống nhất về các khái niệm
khoa học trong lĩnh vực này Do vậy, việc đi tắt đón đầu để nhanh chóng tiếp cận
nền văn minh nhân loại bằng việc xây dựng riêng cho mình một hệ thống thuật ngữ
Tài chính-Kế toán-Ngân hàng vừa quốc tế, vừa đậm đà bản sắc dân tộc nhưng vẫn
bảo đảm tính chính xác, khoa học là điều cần quan tâm hiện nay
0.4 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
0.4.1 Đối tượng nghiên cứu
là các đặc điểm về hình thức và các đặc điểm về nội dung của thuật ngữ chuyên
ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt
0.4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là tiến hành khảo sát, so sánh đối chiếu các
thuật ngữ chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt về
hai phương diện hình thức và nội dung Nhiệm vụ nghiên cứu tập trung vào:
• Đặc điểm của thuật ngữ khoa học : tính chính xác, tính hệ thống, tính
quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng
• Đơn vị cấu tạo nhỏ nhất của thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
• Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
• So sánh đặc điểm cấu tạo thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
• Đặc điểm khái niệm của thuật ngữ tiếng Anh trong so sánh với tiếng Việt
Qua quá trình trên, luận án cố gắng tìm ra đặc điểm loại hình tiếng Anh và tiếng
Việt đã chi phối như thế nào những sự tương đồng và dị biệt về cấu tạo và ngữ
nghĩa của thuật ngữ hai thứ tiếng Từ đó ta có thể đưa ra được các mô hình cấu tạo
thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt nhằm góp phần xây
Trang 20dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng
tiếng Việt hiện nay Công việc cụ thể
1) Hệ thống lại các quan điểm lý thuyết về thuật ngữ khoa học nói chung và
lý luận về thuật ngữ khoa học ở Việt Nam nói riêng
2) Khảo sát một cách hệ thống và miêu tả, phân tích cụ thể các đặc điểm về
hình thức và về nội dung của thuật ngữ chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng
tiếng Anh và tiếng Việt; làm rõ những sự tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống
thuật ngữ này về hai phương diện hình thức và nội dung; trong đó chỉ rõ các đặc
điểm loại hình của tiếng Anh và tiếng Việt đã chi phối như thế nào những sự tương
đồng và dị biệt này
3) Dựa trên các kết quả thu được, luận án đưa ra một số đề xuất, kiến nghị
mang tính lý luận đối với việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống thuật ngữ
Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Việt hiện nay
0.4.3 Phạm vi nghiên cứu
là 1500 thuật ngữ chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh đối chiếu
với tiếng Việt (xin xem phần phụ lục)
0.5.Tư liệu và phương pháp nghiên cứu
0.5.1 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu được rút ra từ những từ điển sau:
1 Từ điển Kế toán-Kiểm toán-Thương mại Anh-Việt, biên soạn: Khải Nguyên,
Văn Hạnh, Nhà xuất bản Thống kê 2003
2 Từ điển thuật ngữ Tài chính Quốc tế Anh-Việt, biên soạn Đỗ Hữu Châu, Nhà
xuất bản Thanh niên 2003
3 Từ điển Kinh tế-Tài chính-Ngân hàng, biên soạn Lê Văn Tề, Nhà xuất bản
Trang 216 Từ điển Việt-Anh Thương mại-Tài chính thông dụng, Công ty dịch thuật quốc
tế, Nhà xuất bản Thống kê 1996
7 Bên cạnh đó, tư liệu dùng cho việc nghiên cứu còn được lấy ra từ các sách,
báo, tạp chí trong và ngoài nước, các thông tin cập nhật trên Website (Terminology
from Wikipedia, the free encyclopedia) và các giáo trình tiếng Anh chuyên ngành
Tài chính-Kế toán-Ngân hàng đang giảng dạy ở Trường Đại học Kinh tế, Học viện
Ngân hàng, Trường Đại học KHXH và Nhân văn, tài liệu, giáo trình chương trình
“Diploma of bussiness administration” của Úc……
0.5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các nhiệm vụ đã đề ra ở trên, luận án sẽ sử dụng những phương
pháp nghiên cứu sau đây:
1 Phương pháp phân tích, miêu tả :
Phân tích đặc điểm cấu tạo thuật ngữ nhằm rút ra nhận xét về đặc điểm cấu tạo
thuật ngữ của tiếng Anh và tiếng Việt Phân tích nội dung của các thuật ngữ nhằm
biết được tính chính xác của các thuật ngữ hai thứ tiếng
2 Phương pháp so sánh đối chiếu
So sánh đối chiếu được coi là một phương pháp rất cần thiết để tìm ra sự
giống nhau và khác nhau giữa hai ngôn ngữ nói chung và hai hệ thuật ngữ chuyên
ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt nói riêng Thông qua
phương pháp so sánh đối chiếu, ta có thể phát hiện ra những ảnh hưởng và những
khó khăn chủ yếu của việc chuyển dịch thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng
tiếng Anh sang tiếng Việt, qua đó có thể đưa ra cách thức giải quyết thích hợp nhất
3 Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê được sử dụng để nghiên cứu các lĩnh vực khoa học nói
chung và ngôn ngôn ngữ nói riêng Phương pháp thống kê thực chất là phương pháp
phân tích định lượng Phương pháp phân tích định lượng giúp ta tính toán tần số sử
dụng các hiện tượng được nghiên cứu để từ đó có được số liệu cần thiết làm cơ sở
xác thực cho những kết luận trong quá trình nghiên cứu của luận án Kết quả thống
kê được tổng hợp lại thành các bảng biểu Các con số thống kê được biểu hiện bằng
Trang 22các mô hình, tỷ lệ phần trăm cho phép ta đánh giá được đại lượng đã thu được từ
góc độ ngẫu nhiên hay có tính quy luật giúp ta hình dung dễ dàng hơn về nét đặc
trưng cơ bản của cấu trúc hình thức và cấu trúc ngữ nghĩa cũng như phương thức
cấu tạo từ của thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt
0.6 Cái mới của luận án
Luận án đã nêu ra được những đặc điểm về cấu tạo hình thức của thuật ngữ
Tài chính – Kế toán – Ngân hàng bằng tiếng Anh và tiếng Việt
Luận án chỉ ra được những phương thức cấu tạo giống và khác nhau trong hệ
thuật ngữ này ở hai thứ tiếng Anh,Việt
Ngoài ra, luận án còn đưa ra những nhận xét về khả năng biểu thị nghĩa chính
xác ở mức độ nào khi sử dụng hệ thuật ngữ này bằng hai thứ tiếng Đây chính là cơ
sở để người Việt Nam hướng tới việc xây dựng một hệ thuật ngữ chuyên ngành
bằng tiếng Việt bảo đảm tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế, tính dân tộc và
tính đại chúng
Từ những kết quả phân tích, nghiên cứu các tư liệu thu thập được, luận án đưa
ra những đề xuất đối với việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thuật ngữ Tài
chính-Kế toán-Ngân hàng trong tiếng Việt, tiến tới hoàn thiện nó và những đề xuất
về vấn đề giảng dạy thuật ngữ khoa học nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt là việc
chuẩn hóa nó
0.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài
0.7.1 Ý nghĩa khoa học
Những kết quả của luận án đã góp thêm luận cứ cho lý luận xây dựng thuật ngữ
khoa học bằng từ ngữ tiếng Việt ở Việt Nam
Dựa vào những kết quả nghiên cứu, luận án có thể đề ra những phương thức đặt
thuật ngữ ngành Tài chính – Kế toán – Ngân hàng bằng từ ngữ tiếng Việt trên cơ sở
bảo đảm các tiêu chuẩn của thuật ngữ là tính khoa học, tính hệ thống, tính quốc tế,
tính dân tộc và tính đại chúng
Trang 23Qua những kết quả nghiên cứu, luận án lựa chọn, đưa ra mô hình cấu tạo thuật
ngữ thích hợp nhất (có thể là từ, có thể là cụm từ) sao cho phù hợp với loại hình
ngôn ngữ và nguyên tắc cấu tạo từ của tiếng Việt
Dựa vào kết quả nghiên cứu, luận án có thể lựa chọn cách chuyển dịch thuật
ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt theo cách thích hợp nhất, hiệu quả nhất, mang đậm
nét bản sắc văn hóa dân tộc
Những kết quả của luận án cũng cho thấy tiếng Việt của chúng ta có đủ khả
năng tạo riêng cho mình một hệ thống thuật ngữ khoa học nói chung và thuật ngữ
Tài chính-Kế toán-Ngân hàng nói riêng Đây là đề tài nghiên cứu ứng dụng lý
thuyết vào thực tiễn xây dựng thuật ngữ khoa học ở Việt Nam, cho nên về mặt khoa
học, đề tài này đã hệ thống lại và xây dựng mô hình cấu tạo và đặc điểm về tính quy
luật của sự hình thành và phát triển thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng
0.7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án là công trình đầu tiên ở cấp độ luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học so sánh
thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh với tiếng Việt
Những kết quả của luận án có thể coi như một công cụ hữu hiệu trong việc phân
tích và lựa chọn phương thức chuyển dịch một thuật ngữ thuộc lĩnh vực Tài
chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh sang tiếng Việt một cách có cơ sở khoa học và chính
xác dựa trên nền tảng định lượng và ứng dụng mô hình toán học Từ đây có thể
hoàn thiện và mở rộng ứng dụng các lý luận vào thực tiễn xây dựng thuật ngữ khoa
học nói chung và thuật ngữ chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng nói riêng
Những kết quả của luận án cũng sẽ chứng minh tiếng Việt có đủ khả năng xây
dựng một hệ thống thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng riêng cho mình, mang
đặc điểm tiếng Việt cả về ngữ âm, ngữ pháp, cấu tạo, chính tả Điều này rất cần
thiết trong giai đoạn hiện nay, khi mà Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên
thứ 150 của WTO, do vậy việc nắm bắt thông tin khoa học thực hiện bằng chính
tiếng Việt (chứ không phải chỉ bằng tiếng Anh), để tự tin hòa nhập vào cộng đồng
thế giới và khu vực là điều cấp bách và thiết thực hiện nay
Trang 240.8 Bố cục luận án
Ngoài phần “mở đầu” và phần “kết luận”, luận án có bốn chương như sau:
1 Cơ sở lý luận
Khái quát các đặc điểm ngôn ngữ của thuật ngữ khoa học nói chung,
chỉ ra những vấn đề lý luận trong việc xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng
Việt, nêu lên những khái niệm về thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân
hàng
2 So sánh đặc điểm cấu tạo hình thức
Hệ thống hóa các đặc điểm cấu tạo hình thức của thuật ngữ Tài chính –
Kế toán – Ngân hàng, chỉ ra một số đặc điểm tương đồng và khác biệt về đặc
điểm cấu tạo hình thức của thuật ngữ ở lĩnh vực này trong hai thứ tiếng Anh,
Việt
3 So sánh đặc điểm ngữ nghĩa
Hệ thống hóa các đặc điểm cấu tạo ngữ nghĩa của thuật ngữ Tài chính –
Kế toán – Ngân hàng trong tiếng Anh và tiếng Việt, chỉ ra một số tương đồng
và khác biệt về đặc điểm cấu tạo ngữ nghĩa của thuật ngữ loại này trong hai
thứ tiếng Anh, Việt
4 Tính quy luật của việc xây dựng hệ thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân
hàng tiếng Việt
Đề xuất một số ý kiến về việc xây dựng và hoàn thiện hệ thuật ngữ Tài
chính– Kế toán – Ngân hàng bằng tiếng Việt
Qua tri thức kinh nghiệm và thực tế khách quan trong việc dạy và
học ngoại ngữ theo xu hướng lấy người học làm trung tâm hiện nay, luận
án nêu lên một số bước trong việc truyền thụ của người dạy cũng như khả
năng hấp thụ của người học trong việc hiểu và sử dụng thuật ngữ khoa học
bằng tiếng Anh
Trang 25CHƯƠNG MỘT : CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Đặc điểm cơ bản của thuật ngữ khoa học
Như chúng ta đã biết, từ lâu đã có nhiều công trình trên thế giới và trong nước
nghiên cứu về “thuật ngữ” Nói đến thuật ngữ người ta thường nhắc đến tên tuổi
một số nhà thuật ngữ học nổi tiếng như E.Wuster (Đức), J.C.Boulanger (Anh),W.E
Flood, R.W Brown (Mỹ) và đáng chú ý là một số là nhà ngôn ngữ học Liên Xô
trước đây và Nga hiện nay
Chúng tôi đã cố gắng cập nhật một số tư liệu lý luận mới đây, chủ yếu là của
Nga, để bổ sung thêm vào quan niệm hiện nay về các thuật ngữ khoa học Nguồn tư
liệu chính là hai cuốn :
- Terminovedenie: Predmet, metody, structura (Thuật ngữ học: Đối tượng,
phương pháp, cấu trúc), in năm 2007, tái bản lần thứ ba, của tác giả V.M.Leichik
- Obshaja terminologhija: Voprosy teorii (Thuật ngữ học đại cương: Những
vấn đề lý thuyết) in năm 2007, tái bản lần thứ tư,của ba tác giả là A.V
Superanskaja, N.V Podolskaja, N.V Vasileva
Theo các tác giả này thì có thể định nghĩa về thuật ngữ như sau:
- “Thuật ngữ là đơn vị từ vựng của một thứ ngôn ngữ nhất định dùng cho những
mục đích chuyên môn, nó biểu thị một khái niệm lý thuyết chung - cụ thể hay trừu
tượng của một lĩnh vực tri thức hay hoạt động chuyên môn nhất định”(Leichik,
tr.31-32)
- “Thuật ngữ là từ (hay cụm từ) chuyên môn, được thừa nhận trong hoạt động
chuyên ngành và được sử dụng trong những điều kiện đặc biệt Thuật ngữ là sự
biểu đạt bằng từ ngữ một khái niệm của một hệ thống các khái niệm thuộc một lĩnh
vực tri thức chuyên ngành nhất định Thuật ngữ là yếu tố khái niệm cơ sở của thứ
ngôn ngữ dùng cho các mục đích chuyên môn”
( Superanskaja, Podolskaja và Vasileva, tr.14)
Trong luận án này, chúng tôi sẽ áp dụng quan niệm trên về thuật ngữ để khảo
sát các thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân hàng của tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 26Trong cuốn sách của mình, tác giả Leichik (tr.32-48) có đưa ra một số nhận
định mới, khi nói về đặc điểm của thuật ngữ
Trước hết, theo ông cần phải thấy rõ hơn sự khác biệt giữa một bên là thuật
ngữ - đối tượng của thuật ngữ học với một bên khác là các từ ngữ bình thường, các
đơn vị từ vựng – đối tượng của ngôn ngữ học, bởi vì thuật ngữ có những đặc trưng
riêng của nó, đó là những từ ngữ “đặc biệt” Ta có thể xem xét những đặc trưng này
của thuật ngữ từ hai phương diện:
cấu trúc nội dung của thuật ngữ
-
- cấu trúc hình thức của thuật ngữ
Về cấu trúc nội dung, theo ông không nên hiểu “nghĩa” của thuật ngữ như
“nghĩa” của các từ ngữ thông thường, mà nên quan niệm rộng hơn, đó là bình diện
“nội dung” của thuật ngữ Nó gồm ba thành tố:
1) ý nghĩa biểu vật
2) tính có lý do
3) ý nghĩa biểu niệm
Đáng chú ý là sự nghiên cứu của tác giả này về “tính có lý do” của thuật
ngữ, cụ thể là trong việc chọn lựa các thuộc tính của đối tượng để định danh Theo
ông, một thuật ngữ được coi là tối ưu khi nó chỉ sử dụng một thuộc tính nổi trội
(differentia specifica) để định danh đối tượng Trong thực tế các tên gọi động vật,
thực vật và hàng loạt chuyên ngành khoa học thuộc loại những thuật ngữ tối ưu như
vậy Thí dụ, các thuật ngữ y học tiếng Nga “virusologhija”(siêu vi trùng
học),“revmatologhia” (phong thấp học) là để gọi tên hai chuyên ngành y tế, nhưng
đối tượng nghiên cứu của nó không phải chỉ có “siêu vi trùng” hay “bệnh thấp
khớp“, mà rộng lớn hơn nhiều Số lượng thuật ngữ “tối ưu” như vậy thường rất lớn,
theo khảo sát của Leichik thì trong hệ thống thuật ngữ tin học có:
- 92 % là các thuật ngữ “tối ưu” tức là trong nội dung của nó chứa đựng tên gọi và một thuộc tính nổi trội ;
- 6% là các thuật ngữ mà trong nội dung của nó chứa đựng tên gọi
và hơn một thuộc tính nổi trội ;
Trang 27- 2% là các thuật ngữ mà trong nội dung của nó chỉ chứa đựng thuần túy tên gọi
Hệ thuật ngữ tin học được coi là mới hình thành sau này, còn những hệ thuật
ngữ khác lâu đời hơn như thuật ngữ sinh học thì tình hình khác hơn:
- 70 % là các thuật ngữ “tối ưu” tức là trong nội dung của nó chứa đựng tên gọi và một thuộc tính nổi trội ;
- 20 % là các thuật ngữ mà trong nội dung của nó chứa đựng tên gọi và hơn một thuộc tính nổi trội ;
- 10 % là các thuật ngữ mà trong nội dung của nó chỉ chứa đựng thuần túy tên gọi
Kết quả khảo sát trên cho thấy tính đa dạng về nội dung của các hệ thuật ngữ
của các ngành khoa học khác nhau
Về cấu trúc hình thức, theo tác giả Leichik (tr.48-62), cần thấy sự khác biệt
của thuật ngữ so với các từ ngữ thông thường trong cách cấu tạo từ và cụm từ (ngữ)
Theo ông, trong một hệ thuật ngữ thường có nhiều “nhóm” thuật ngữ:
- nhóm các thuật ngữ “cơ sở” (bazovye), thí dụ như thuật ngữ
“nguyên tố” trong ngành Hóa hữu cơ;
- nhóm các thuật ngữ “chủ yếu” (osnovnye), thí dụ như thuật ngữ
“luật pháp” trong ngành Luật học;
- nhóm các thuật ngữ phái sinh và thuật ngữ phức hợp, thường là
các cụm từ; thí dụ: fototekhnika (kỹ thuật sao chụp) là thuật ngữ chủ yếu Æ kinofototekhnika (kỹ thuật sao chụp điện ảnh) là thuật ngữ phái sinh Æ tsvetnaja fototekhnika (kỹ thuật sao chụp màu) là
thuật ngữ phức hợp
Trong các nghiên cứu thuật ngữ học ở Nga (xem Leichik 2007,
Superanskaja và Vasileva, 2007) các tác giả quan niệm rằng thuật ngữ được cấu tạo
nên từ một hay nhiều “yếu tố thuật ngữ” (terminoelement) Mỗi yếu tố này gắn kết
với một khái niệm hay một thuộc tính khái niệm của một hệ thống khái niệm nhất
định Thuật ngữ có cấu trúc tối ưu là những thuật ngữ mà các yếu tố của nó biểu thị
Trang 28một cách đơn trị mối quan hệ lô-gich giữa các khái niệm, như các mối quan hệ giữa
sự vật và thuộc tính hay chức năng của nó, giữa hành động và công cụ hay phương
tiện thực hiện nó v.v ; thí dụ: phòng đọc – thuật ngữ của ngành Thư viện, máy hơi
nước – thuật ngữ của ngành Cơ khí Chế tạo máy
Trong số các thuật ngữ là từ đơn phái sinh, đáng chú ý là các thuật ngữ được
tạo ra bằng phương thức phụ tố (affixes), như trường hợp dùng phụ tố “-tron-“ (vay
mượn từ tiếng Hy Lạp như trong: elktron) với nghĩa là “chastitsa” (hạt) để tạo sinh
các thuật ngữ của tiếng Nga: neitron, pozittron, tsiklotron,… Hay sử dụng các tiền
tố (prefixes) như: mini-, maksi-, midi- , để tạo sinh nhiều thuật ngữ khác
Đáng chú ý là trước đây trong tiếng Nga, phương thức “ghép” ít dùng,
không có sức sản sinh mạnh Nhưng ngày nay tình hình đã khác hẳn, vì hai lý do:
một là, sự phát triển mạnh mẽ của tiến bộ khoa học-kỹ thuật làm cho tri thức của
con người ngày càng sâu rộng, cần phải có những từ ghép hay cụm từ để biểu thị
những khái niệm phức tạp hơn; thí dụ như tên gọi của những ngành khoa học, kỹ
thuật và công nghệ liên ngành gần đây: biogheokhimija (hóa học địa sinh học),
neftegazopromyslovaja gheofizika ( địa vật lý học công nghiệp dầu khí),…hai là xu
thế sử dụng các yếu tố gốc Hy Lạp-La Tinh và phương thức ghép của chúng vốn
mang tính quốc tế và đang thịnh hành hiện nay, để cấu tạo nhiều thuật ngữ mới, thí
dụ như: thuật ngữ kinologhija (điện ảnh học) trong đó yếu tố “-loghija” có nghĩa
như “khoa học” đã được dùng phổ biến lâu nay Do đó, hiện nay trong các hệ thuật
ngữ của tiếng Nga số lượng các thuật ngữ là từ ghép hay cụm từ cố định là rất lớn;
thí dụ: trong ngành Kỹ thuật điện, thuật ngữ là từ đơn chỉ có 5,3 %, còn lại là từ
ghép và cụm từ
Cũng theo quan điểm các tác giả trên, một điểm đáng chú ý là mô hình cú
pháp ở các thuật ngữ là cụm từ Trong ngành Ngôn ngữ học, theo thống kê trên
10.000 thuật ngữ thì có 24 % thuật ngữ là từ đơn, trong 76 % còn lại là từ ghép và
cụm từ thì có 02 mô hình ngữ pháp hay dùng nhất là:
+ cụm danh từ: tính từ - danh từ: 18%
+ cụm danh từ: danh - danh từ: 17%
Trang 29+ Còn lại là các mô hình khác như : tính từ - danh từ - danh từ: 6%,
+ danh từ- tính từ - danh từ: 4,5 % , danh từ - danh từ - danh từ: 2%,
tính từ- tính từ - danh từ: 2% v.v
Trong một số hệ thuật ngữ của các chuyên ngành khác như Công nghệ chế tạo
máy, Vật lý hạt nhân, Tin học, Sinh học, tình hình cũng tương tự như trong hệ thuật
ngữ Ngôn ngữ học Mặc dù, các cụm từ khác như cụm động từ, cụm tính từ đều có
khả năng tạo thành các thuật ngữ, nhưng cụm danh từ vẫn chiếm ưu thế là vì chức
năng cơ bản của thuật ngữ là để định danh, biểu hiện (repretetivnaja) và trong vai
trò tên gọi của đối tượng thì danh từ vẫn là chủ yếu
Khi bàn đến mối quan hệ giữa các đặc điểm về nội dung và hình thức của
thuật ngữ, cũng theo các tác giả trên cần chú ý rằng trong quá trình hình thành một
hệ thuật ngữ có khi do sự thay đổi có tính cách mạng của lý thuyết, của các tri thức
và bộ máy khái niệm mà có thể xảy ra tình hình phức tạp và tế nhị là: hình thức
thuật ngữ thì vẫn như cũ, nhưng nội dung thì khác trước Điển hình là trường hợp
của hệ thuật ngữ Hóa học: với sự ra đời của Bảng tuần hoàn Mendeleev thì mặc dù
vẫn sử dụng các thuật ngữ đã có như “sắt, vàng, azot,…”, nhưng nội dung các khái
niệm được các từ này biểu thị đã thay đổi về cơ bản
Trong những nghiên cứu mới đây về thuật ngữ, khi nói về công việc xây dựng
hệ thuật ngữ, các nhà nghiên cứu nước ngoài có đề xuất thêm một số khía cạnh mới
Chẳng hạn, theo các nhà nghiên cứu thuật ngữ học người Nga nói trên thì có bốn
nguyên lý tạo lập một hệ thuật ngữ chuyên ngành như sau:
1 Nguyên lý “phiên dịch” thuật ngữ (bao gồm cả phiên âm, chuyển tự,
chuyển dịch, mượn nguyên dạng) là nguyên lý thường sử dụng khi mà hệ thống
thuật ngữ của một lĩnh vực tri thức mới đã xuất hiện và phát triển ở một nước A và
sau đó được nước B vay mượn những khái niệm và từ ngữ của chuyên ngành đó
Khi vay mượn như thế, nhiều khi có sự chuyển đổi về ý nghĩa; thí dụ, khá nhiều
thuật ngữ của ngành Hàng không Nga là được phiên dịch theo thuật ngữ Hàng hải
của tiếng Đức: ekipazh (tiếng Đức có nghĩa là ”thủy thủ đoàn” sang tiếng Nga thành
“phi hành đoàn”), na bortu (tiếng Đức có nghĩa là ”trên tàu thủy” sang tiếng Nga
Trang 30thành “trên tàu bay”) , pilot (tiếng Đức có nghĩa là ”người hoa tiêu” sang tiếng Nga
thành “người phi công”) Hiện nay, thuật ngữ Tin học và Quảng cáo của Nga cũng
vay mượn từ tiếng Anh rất nhiều Tình hình của nhiều hệ thuật ngữ tiếng Việt ,
trong đó có thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng cũng là như vậy
2 Nguyên lý sử dụng “nguồn lực sẵn có” của ngôn ngữ, như trong tiếng
Việt chúng ta sử dụng các yếu tố từ ngữ tiếng Việt để cấu tạo thuật ngữ Cần chú ý
rằng, như đã nói ở trên, trong quá trình hình thành một hệ thuật ngữ có thể xảy ra
tình hình là: hình thức thuật ngữ thì vẫn như cũ, nhưng nội dung thì khác hẳn.trước
3 Nguyên lý tạo lập thuật ngữ thứ ba này rất đặc thù, chỉ áp dụng hạn chế
trong một số lĩnh vực tri thức và hoạt động, trong đó từ ngữ chuyên ngành còn chưa
ổn định hẳn, thậm chí có từ ngữ chưa hẳn đã thành một thuật ngữ chắn chắn, chính
xác Nguyên lý này cũng giống nguyên lý thứ hai là sử dụng các yếu tố nội sinh của
tiếng mẹ đẻ, nhưng khác ở chỗ là: các từ ngữ thông thường của ngôn ngữ chung
toàn dân được dùng làm thuật ngữ ở đây chưa được “thuật ngữ hóa” hoàn toàn Do
đó có thể gọi nguyên lý này là “nguyên lý thuật ngữ hóa” các yếu tố phi thuật ngữ
Thí dụ như các thuật ngữ Chính trị học xuất hiện những năm 80 – 90 của thế kỷ
trước là những từ hay cụm từ như thế: perestroika “cải tổ”(1985), novoe
politichesskoe myshlenie “tư duy chính trị mới”(1986), edinoe ekonomichesskoe
prosstransstvo“không gian kinh tế thống nhất”(1990) v.v
4 Nguyên lý tạo lập thuật ngữ của một số lĩnh vực tri thức và hoạt động
thường gọi là phức hợp hay liên ngành, đa ngành Đây là một đặc trưng của sự phát
triển khoa học-kỹ thuật, sản xuất thực tiễn của xã hội hiện đại Do đó có nhiều thuật
ngữ của một lĩnh vực tri thức mới gồm hai yếu tố, kết hợp một yếu tố của ngành
chuyên môn này với một yếu tố của ngành chuyên môn khác Thí dụ, thuật ngữ
Kinh tế Nông nghiệp: “hoạt động doanh nghiệp trong hệ thống kinh doanh nông
nghiệp” bao gồm thuật ngữ về Kinh tế kết hợp với thuật ngữ về Nông nghiệp
1.2 Những vấn đề lý luận trong xây dựng thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt
Trang 311.2.1 Quan điểm về thuật ngữ khoa học tiếng Việt
Nói đến thuật ngữ khoa học là nói đến lớp từ vựng bao gồm những tập hợp
từ ngữ được xác định một cách chính xác khái niệm về sự vật, hiện tượng, hoạt
động… trong một ngành khoa học cụ thể Thuật ngữ khoa học là phương tiện để
miêu tả đối tượng nghiên cứu, diễn đạt nội dung khoa học của ngành đó Lớp từ
vựng bao gồm những đơn vị từ vựng như vậy được gọi là hệ thuật ngữ của mỗi
ngành khoa học Hay nói một cách khác, thuật ngữ khoa học là hệ thống các tên gọi
và ký hiệu quy ước dùng làm phương tiện để nghiên cứu đối tượng một chuyên
ngành hẹp
Khi nói đến từ ngữ được sử dụng trong ngôn ngữ khoa học điều đầu tiên mà
chúng ta cần chú ý tới là phải phân biệt trong vốn từ vựng khoa học-kỹ thuật-công
nghệ của một ngôn ngữ những từ ngữ khoa học dùng chung phổ biến cho nhiều
ngành khoa học khác nhau và những từ ngữ khoa học dùng riêng cho một hay một
vài ngành khoa học nào đấy Thí dụ, như các từ: hệ thống, cấu trúc, chức năng, yếu
tố, quan hệ,…có thể bắt gặp trong văn bản của nhiều ngành khoa học khác nhau,
khoa học xã hội nhân văn cũng như khoa học tự nhiên và công nghệ Nhưng một số
từ như: âm vị, hình vị, từ ghép, từ láy, ngữ nghĩa, ngữ dụng,…thì ta thường chỉ đọc
thấy trong một số sách báo về ngôn ngữ học, ký hiệu học, lý luận và phê bình văn
học Hay như trong hóa học và sinh học ta rất hay gặp những từ ngữ mang tính quốc
tế, được xây dựng trên cơ sở tiếng La Tinh và Hy Lạp
Sử dụng thuật ngữ khoa học là một hoạt động ngôn ngữ Nói đến hoạt động
ngôn ngữ là ta phải chú ý tới hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong phạm vi lĩnh
vực đó IU.V.Rozdextvenxki quan niệm: “ Giáo dục ngôn ngữ nghề nghiệp nhằm
phổ biến ngôn ngữ trong các lĩnh vực chuyên sâu của giao tiếp được xác định theo
loại hình công việc ngoài ngôn ngữ của con người” (Những bài giảng ngôn ngữ học
đại cương, 1997, tr.366) Theo tác giả Đỗ Hữu Châu “Thuật ngữ là từ chuyên môn
được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành
kỹ thuật nào đấy Có thuật ngữ của ngành vật lý, ngành hóa học, toán học, thương
mại, ngoại giao v.v Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa,
Trang 32biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kỹ thuật
nhất định” [12:167] Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp “Thuật ngữ là một bộ phận từ
ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác
của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn của con người”
[22:270] Các tác giả Nguyễn Công Đức, Nguyễn Hữu Chương đã viết: “Thuật ngữ
là những từ biểu thị các khái niệm khoa học của một lĩnh vực chuyên môn nào đó
của con người” [20:186]
Theo nhận định của Hội đồng thuật ngữ Bộ Giáo dục “Thuật ngữ nói chung
và đặc biệt thuật ngữ của các chuyên ngành khoa học-kỹ thuật tuy là bộ phận trong
từ ngữ chung của ngôn ngữ, song vẫn làm thành một hệ thống có tính chất riêng”
Hoàng Văn Hành định nghĩa “Thuật ngữ là từ dùng để biểu thị một khái niệm xác
định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định Toàn bộ
hệ thống của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ” [33:148]
Theo Lưu Văn Lăng “Không thể tách rời từng khái niệm ra để đặt thuật ngữ, mà
phải hình dung, xác định vị trí của nó trong toàn bộ hệ thống khái niệm” [48:427]
Quan điểm của các tác giả tuy có khác nhau, nhưng đều toát lên một yêu cầu
đối với một thuật ngữ khoa học, đó là thuật ngữ phải mang tính khoa học, tức tính
chính xác, tính hệ thống và tính quốc tế Một thuật ngữ khoa học ngoài những tiêu
chuẩn trên còn phải có tính dân tộc, tính đại chúng, tính ngắn gọn Khi đặt một thuật
ngữ khoa học, những tiêu chuẩn trên cần được bàn bạc kỹ để đi đến thống nhất
1.2.2 Tiêu chuẩn thuật ngữ khoa học tiếng Việt
1) Tính chính xác của thuật ngữ phải thể hiện ở mặt ngữ nghĩa lẫn hình thức
“ Muốn cho thuật ngữ đặt ra thật chính xác, nên làm sao cho trong nội bộ một ngành
khoa học, mỗi khái niệm chỉ có một thuật ngữ, và ngược lại mỗi thuật ngữ chỉ dùng
để chỉ một khái niệm, nghĩa là không nên có hiện tượng đồng nghĩa và đồng âm
Thuật ngữ nên có tính một nghĩa Tính một nghĩa đó cũng như việc nên tránh hiện
tượng đồng nghĩa và đồng âm là yêu cầu trong nội bộ một ngành khoa học, còn giữa
các ngành mà đòi hỏi như vậy là không thực tế” [41:135] Thí dụ như: “no” trong
dinh dưỡng học có nghĩa ở trạng thái “ăn uống đầy đủ, trái với đói” Trong hóa học
Trang 33“no” nói về các chất hóa học ở trạng thái đã kết hợp đủ, “không thêm, không bớt
được nguyên tố khác” (cac bua no, carbur no).Trong ngành khai thác mỏ, “than” là
một loại quặng thiên nhiên, còn “than” trong y học dùng để chỉ một loại sốt nguy
hiểm đối với con người, đó là bệnh “than” Bên cạnh đó, ta còn phải tính đến một
yếu tố khác đó là những người thuộc trường phái khác nhau có thể xây dựng những
hệ thống khái niệm khác nhau, dùng những hệ thống ký hiệu, thuật ngữ khác nhau
“Trong ký hiệu ngôn ngữ có mặt quy ước của xã hội, qui ước giữa người này và
người khác” Đấy là điều mà Lưu Văn Lăng thường lưu ý khi “Bàn về vấn đề xây
dựng thuật ngữ khoa học” Thí dụ “morpheme” có thể đọc và viết khác nhau như
moóc-phen, moocphem, mocphem, morphem, morfem, moocfem, hay được gọi là
từ tố, hình vị Chính xác ngữ nghĩa ở đây là khi đọc thuật ngữ đó lên, người nghe
hiểu đúng khái niệm khoa học của nó Khi nói đến tính chính xác về hình thức là ta
nói đến sự chặt chẽ và ngắn gọn về hình thức của một khái niệm khoa học Để tránh
sự hiểu lầm, số lượng đơn vị đưa ra cấu tạo thuật ngữ phải phù hợp tối đa với khái
niệm được biểu thị Ta nhất thiết không để dư thừa về thành tố cấu tạo cho dù rất
phù hợp với quy luật cấu tạo ngôn ngữ để tránh sự hiểu sai khái niệm khoa học
2) Khi nói đến tính hệ thống của thuật ngữ, ta cũng phải chú ý cả hai mặt: hệ
thống khái niệm và hệ thống ký hiệu Hệ thống khái niệm không thể tách rời hệ
thống ký hiệu Muốn có hệ thống ký hiệu, ta phải xác định được hệ thống khái
niệm Một ngành khoa học càng phát triển, hệ thống khái niệm càng phức tạp Ban
đầu là khái niệm mang tính khái quát, kế đó là những khái niệm chi tiết hơn, và cứ
như thế phân chia dần dần thành những tầng, lớp khái niệm chi tiết, chuyên sâu hơn
nữa về một lĩnh vực hoạt động khoa học Hay ta nói, vốn thuật ngữ là một hệ thống
Trong hệ thống thuật ngữ lại có nhiều tiểu hệ thống Rồi trong mỗi tiểu hệ thống ấy
lại chia thành những tiểu hệ thống nhỏ hơn Và, các tiểu hệ thống lại tiếp tục chia ra
thành những tiểu hệ thống nhỏ hơn nữa Mỗi tiểu hệ thống phản ánh một ngành
khoa học Mỗi tiểu ngành khoa học sau đó lại còn được phân nhỏ ra nữa Điều này
phù hợp với sự phân ngành khoa học càng ngày càng chuyên sâu của khoa học hiện
đại Chỉ trong tiểu hệ thống nhỏ nhất mỗi thuật ngữ mới có khả năng thể hiện “tính
Trang 34đơn nghĩa” tuyệt đối Chúng ta cũng cần lưu ý “Tính hệ thống của thuật ngữ trong
mỗi ngôn ngữ còn phải phụ thuộc vào đặc trưng từ vựng–ngữ nghĩa của ngôn ngữ
ấy, mà những đặc trưng này thì không thể giống nhau giữa các ngôn ngữ” [51:3.14]
Ta thấy một thuật ngữ nước ngoài khi đưa vào tiếng Việt được thể hiện dưới nhiều
dạng khác nhau, viết và đọc thành những âm và chữ khác nhau như “language”
tương đương với “tiếng”, “ngôn ngữ” trong tiếng Việt “Cost” trong các thuật ngữ
như “cost accounting” nghĩa tương đương Việt là “ kế toán chi phí”; “cost concept”
tương đương Việt là “nguyên tắc giá gốc”; “cost of goods sold” tương đương Việt là
“giá vốn hàng bán” Do vậy, khi chuyển dịch sang tiếng Việt ta phải tránh sự gò bó
vào tính hệ thống của thuật ngữ nước ngoài, miễn sao người Việt hiểu đúng nội
dung khái niệm của thuật ngữ đó là được chấp nhận
3) Tính quốc tế của thuật ngữ thể hiện ở chỗ, một khái niệm khoa học được hiểu
như nhau trong các thứ tiếng khác nhau trên thế giới Để đưa khoa học từng bước
vào quần chúng nhân dân, các thuật ngữ nước ngoài đưa vào Việt Nam phải dễ đọc,
dễ viết và dễ hiểu Đặc điểm về cấu âm và chữ viết ở ta khác với các tiếng phương
Tây Ta phải tìm và tận dụng tối đa âm, chữ viết sẵn có để mô phỏng nhằm đưa
thuật ngữ khoa học nước ngoài vào hệ thống thuật ngữ tiếng Việt.Việc làm này
khiến thuật ngữ của ta càng phong phú, mang tính khoa học và tính quốc tế Vay
mượn tiếng nước ngoài để tạo từ mới cho ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày hay trong
lĩnh vực chuyên môn được coi là một hiện tượng thông thường giữa các dân tộc
4) Khi xây dựng một hệ thống thuật ngữ khoa học, bên cạnh tiêu chuẩn khoa học
được thể hiện ở tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế chúng ta cần phải nhấn
mạnh đến tính dân tộc của thuật ngữ Cụ thể, ta nên tận dụng những từ thông
thường sẵn có trong tiếng nói của quần chúng Các tác giả đều muốn thuật ngữ nước
ngoài khi đưa vào tiếng Việt phải thật dễ hiểu để mọi đối tượng có thể tiếp thu được
tiến bộ khoa học Do vậy, nhiều quan điểm dùng từ thuần Việt thay vì dùng từ
Hán-Việt Thí dụ “thay âm vô thanh bằng âm điếc hay tiếng điếc, thay âm hữu thanh
bằng âm kêu hay âm ồn, thay âm yết hầu và âm thanh hầu bằng âm họng hay âm
cổ…” [29:5] Nhưng khi xét đến quan điểm phong cách học thì một thuật ngữ khoa
Trang 35học về nguyên tắc phải mang màu sắc phong cách khoa học Một số ý kiến khác lại
cho rằng nếu dùng thuật ngữ mang tính đại chúng, nhưng nếu có tính dung tục ta
không nên dùng Thí dụ như trong y học ta không dùng từ “đi ỉa” mà dùng từ “đại
tiện”, không dùng “bọng đái” mà dùng “bàng quang”, thay từ “đi đái” bằng từ “tiểu
tiện”…
5) Xét về tiêu chuẩn tính đại chúng, thuật ngữ phải có màu sắc phong cách khoa
học.Với đặc điểm này đã khiến thuật ngữ có phạm vi sử dụng hẹp, nên nhiều người
quan niệm rằng, thuật ngữ là ngôn ngữ dành riêng cho các nhà chuyên môn là vậy
Nhưng ở một số ngành khoa học nông nghiệp, kinh tế, điện tử, y, dược… gắn với
nhu cầu sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày, và nhất là hiện nay, trong lĩnh vực kinh tế,
việc giao lưu mua bán không chỉ bó hẹp trong từng địa phương nhỏ lẻ mà nay mở
rộng giữa miền này với miền khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác thì màu sắc
phong cách khoa học đôi khi bị mờ đi Trong những trường hợp như vậy, “Trong ý
thức của người bản ngữ, ranh giới giữa nghĩa thường dùng và nghĩa thuật ngữ
không phải bao giờ cũng rõ nét Dường như nghĩa thường dùng (nghĩa gốc) và
nghĩa thuật ngữ (cũng là nghĩa gốc) về căn bản đôi khi là đồng nhất” [33:149]
Nhưng một điều khác biệt giữa từ thông thường và thuật ngữ cần nhấn mạnh là cấu
trúc thuật ngữ phải ngắn gọn để dễ dàng sử dụng trong quảng đại quần chúng
Nói chung, các quan điểm về sử dụng thuật ngữ khoa học nước ngoài và vấn
đề tiêu chuẩn của một thuật ngữ khoa học đã được thống nhất; đó là:
1 Tính khoa học, trong đó bao gồm : tính chính xác, tính hệ thống,
tính quốc tế
2 Tính dân tộc: phù hợp với ngôn ngữ dân tộc, đặc điểm tiếng Việt
3 Tính đại chúng: ngắn gọn, dễ dùng
Nhưng, theo như nhận định của tác giả PhạmVăn Bảy “Trong hơn 40 năm
tham gia xây dựng thuật ngữ khoa học, một vấn đề vướng mắc then chốt thành đề
tài tranh luận: ba tiêu chuẩn đó hình như mâu thuẫn nhau” [2:2.2]
Ba tiêu chuẩn được hình thành trong thuật ngữ thế nào và có quan hệ qua lại
ra sao, đấy cũng là vấn đề mà luận án đặt mục đích nghiên cứu
Trang 361.2.3 Phương thức xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt
Một thực tế không thể phủ định đó là do khoa học kỹ thuật của ta phát triển sau
các nước Âu châu nên hiện nay, hầu như ta phải tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài
Việc mượn thuật ngữ nước ngoài để tạo ra hệ thống thuật ngữ cho các ngành khoa
học tiếng Việt theo những con đường sau:
1.2.3.1 Phương thức mượn nguyên dạng
Thuật ngữ nguyên dạng tiếng nước ngoài hiện được sử dụng rất phổ biến trong
các lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, nghiên cứu khoa học và cả trong các tạp chí
báo, phát thanh, truyền hình… Theo các tác giả của “Từ điển tiếng Việt”(1992),
“Chúng tôi nghĩ rằng cách viết nguyên dạng đối với từ ngữ có tính chất quốc tế là
hợp lý, đáp ứng yêu cầu giao lưu văn hóa với các nước ngày càng mở rộng, để có
chính tả thống nhất và tạo ra sự thống nhất với quốc tế” Các tác giả trong bài viết
“Tình trạng sử dụng thuật ngữ khoa học – kỹ thuật hiện nay và các nguyên tắc
chuẩn hóa thuật ngữ” có đưa ra nhận định, “Nếu chấp nhận nguyên tắc này thì loại
thuật ngữ có tính chất quốc tế mà viết nguyên dạng sẽ chiếm từ 60 đến 90% vốn
thuật ngữ khoa học tiếng Việt (tùy từng ngành khoa học và kỹ thuật)”[3:1.10]
Để tìm hiểu vấn đề này, luận án thử đưa ra phân tích một số từ ngữ tiếng Anh
đang được dùng nguyên dạng một cách phổ biến như:
1 Show ↔ biểu diễn, trình diễn, trưng bày thường để nguyên dạng trên sách
báo, phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình Thí dụ: show
ca nhạc, show thời trang, show diễn, showroom, game show, live show….Nếu phân
tích về mặt ngữ pháp tiếng Việt thì show dùng nguyên dạng trong các từ trên có lẽ
đang ở vị trí tiểu từ, yếu tố phụ, được hiểu là buổi ca nhạc, buổi diễn thời trang,
buổi biểu diễn Ngoài ra từ show của tiếng Anh đọc là /S∂u/; /S/ là phụ âm rít của
tiếng Anh đòi hỏi khi phát âm, hơi phát ra qua khe răng thành một âm gió, rít rất
mạnh Tiếng Việt không có phụ âm này Người Việt không được học nghiêm túc về
phát âm tiếng Anh sẽ đọc thành /s∂u/ Phát âm như vậy sẽ trùng với từ sew /s∂u/ với
nghĩa may, khâu Như vậy khi giao tiếp người Anh sẽ không hiểu nói gì Người ta
còn hay dùng cụm động từ chạy show được người Việt hiểu là đi biểu diễn Kiểu tạo
Trang 37ra từ mới qua kết nối hỗn hợp từ tiếng Anh lẫn tiếngViệt dễ dẫn đến sai về nghĩa
Từ show đọc thành /s∂u/ trong quá trình sử dụng lại bị biến âm thành sô, rồi lại biến
đổi thành chạy “sô” Và cuối cùng xuất hiện một cụm từ trở nên quen thuộc tới
mức có thể đưa vào từ điển thành ngữ tiếng Việt đó là chạy “sô” như ca sĩ Thí dụ
như: Ngày nay không những giảng viên mà cả sinh viên đại học đều phải chạy “sô”
như ca sĩ Sô lúc này không phải là biểu diễn nữa mà là vội vã, chen lấn xô đẩy Các
từ như showroom, game show, live show tuy đã có nghĩa tương đương tiếng Việt
nhưng mọi người vẫn thích dùng nguyên dạng từ tiếng Anh Những từ trên là từ
ghép tiếng Anh Từ ghép tiếng Anh rất phức tạp, việc cấu tạo không chỉ đơn thuần
ghép hai từ vào nhau là được Từ show trong quá trình sử dụng còn có những hình
thái khác như showing, show-off, shown, showed…
2 hot ↔ nóng trong các cụm từ thuật ngữ tiếng Anh như: hot stock ↔ chứng
khoán nóng, hot money ↔ tiền nóng Từ mới tiếng Việt được tạo ra một cách sáng
tạo như thị trường hot, lãi suất hot Ta có thể phân tích kết quả của sự kết hợp
nguyên dạng từ tiếng Anh trên của tiếng Việt như sau:
Nếu tính từ hot để đằng sau từ thị trường và lãi suất thì đây là vị trí ngược với
tiếng Anh Hơn nữa, người Việt khi đọc một từ tiếng Anh thường hay bỏ, không
phát âm những phụ âm ở cuối từ Do vậy, phụ âm /t/ là một âm bật, đòi hỏi phát âm
bật hơi mạnh thì người Việt thường đọc liền giống như (chim) hót Với vị trí như
vậy và với cách phát âm như vậy thì người nước ngoài hiểu nhầm hot là nghĩa hát
Nói về mặt nghĩa thì thuật ngữ hot trong hot money không phải nghĩa tốt như hot
trong cụm từ lãi suất hot Trong khi lãi suất hot tiếng Việt được hiểu là lãi suất cao,
hấp dẫn thì thuật ngữ hot money tiếng Anh là khái niệm: hành động đầu cơ có khả
năng phá vỡ việc quản lý tỷ giá một cách có trật tự và phá vỡ thế cân bằng trong
thanh toán [70:347] Ta có cảm giác cụm từ lãi suất hot hay thị trường hot của
tiếng Việt chỉ là cụm từ lóng dùng trong khẩu ngữ
Một từ ghép tiếng Anh vẫn hay dùng nguyên dạng trong tiếng Việt đó là hot
line ↔ đường dây nóng Hot line được giải nghĩa là đường dây liên lạc trực tiếp và
dành riêng giữa những người đứng đầu các chính phủ [95:817], trong khi hot line
Trang 38dùng nguyên dạng tiếng Việt lại được hiểu là hệ thống điện thoại hoạt động liên
tục, có thể giao dịch bất cứ lúc nào
3 Những từ như fan (hâm mộ), laptop, marketing, (tuổi) teen, (trang) web, (vụ)
scandal…được dùng nguyên dạng tiếng Anh mặc dù đã có nghĩa tương đương tiếng
Việt Nếu để ý một chút ta có thể nhận thấy những từ trên tuy dùng nguyên dạng
nhưng lại được đọc theo kiểu ghép vần tiếng Việt Tiếng Việt đọc sao viết vậy,
nhưng tiếng Anh người ta không đọc theo kiểu ghép các chữ cái (letter) mà dựa vào
phiên âm trong ngoặc Như vậy người truyền thông tin cũng như người tiếp nhận
thông tin sẽ gặp khó khăn, rắc rối khi dùng những từ ngữ mà đọc một đằng, viết một
nẻo Hơn nữa, người Việt thường hạ giọng ở cuối từ, còn tiếng Anh việc lên hay
xuống giọng ở âm tiết đầu hay cuối hay ở giữa từ rất quan trọng bởi âm tiết mang
trọng âm tải nội dung từ Luận án sẽ trình bày cụ thể vấn đề này ở chương sau
Khi định nghĩa về từ, các nhà khoa học đều có chung một quan điểm xem từ là
đơn vị cơ bản của ngôn ngữ Từ có vỏ âm thanh và nội dung ý nghĩa gắn bó với
nhau thành một thể thống nhất, sử dụng độc lập trong câu Hay nói rõ hơn, việc tìm
ra những tiêu chí thống nhất về mặt chữ viết, về mặt ngữ âm cũng như về mặt hình
thái hay ngữ nghĩa chung cho mọi ngôn ngữ là một điều không dễ dàng gì
Để giải quyết vấn đề này, ta không nên phân tích riêng lẻ từng trường hợp
mượn nguyên dạng tiếng nước ngoài mà phải có trách nhiệm đi sâu vào nghiên cứu
mọi khía cạnh ngôn ngữ một cách kỹ lưỡng, nghiêm túc và khoa học Hay nói một
cách khác là cần phải có một cái nhìn biện chứng trong vấn đề này
Tiếng Anh và tiếng Việt có loại hình ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau
Khi phân biệt các loại hình ngôn ngữ, người ta thường căn cứ vào tỷ số hình vị
trên mỗi từ Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập được định nghĩa là có tỷ lệ tương ứng
một trên một giữa từ và hình vị Thí dụ như: ăn, ở, nhà, cửa hay thuật ngữ mua,
bán, nợ, tiền… Dưới con mắt của các nhà nghiên cứu phương Tây, tiếng Việt cũng
như tiếng Trung Quốc đều có khuynh hướng là tất cả các từ có tỷ số từ-hình vị là
1:1 Đặc điểm này là do từ của tiếng Việt dường như không có cấu trúc nội bộ,
trong khi đó cấu trúc nội bộ từ liên quan đến mối quan hệ của các hình vị ở các
Trang 39nước phương Tây khá phức tạp Nghĩa là, đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt không có các
đơn vị nhỏ nhất cấu tạo từ có đặc điểm giống như hình vị phụ thuộc của tiếng Anh
Tiền tố, trung tố, hậu tố, hay nói chung là hình vị phụ tố (affixes) là nét điển hình
của hình vị tiếng Anh Tiếng Anh thuộc loại hình ngôn ngữ khuất chiết, ngôn ngữ
tổng hợp tính, có đặc điểm chung là trong từ có sự phân biệt rõ ràng giữa căn tố và
phụ tố Đặc điểm này thể hiện rất rõ trong nguyên tắc cấu tạo từ tiếng Anh Tiếng
Việt được xếp vào loại hình ngôn ngữ đơn lập Ngôn ngữ đơn lập sử dụng từ độc
lập, trong khi đó ngôn ngữ tổng hợp tính sử dụng hình vị phụ tố kết hợp với hình vị
căn tố để làm biến đổi nghĩa và từ loại của hình vị căn tố Do có sự khác biệt về loại
hình ngôn ngữ nên việc kết hợp các yếu tố để tạo nên từ và ngữ giữa tiếng Anh và
tiếng Việt cũng không giống nhau Hay nói cách khác, đặc điểm về cấu trúc, chức
năng của từ trong mỗi ngôn ngữ phụ thuộc vào những loại hình khác nhau Với
những lý do trên, việc mượn nguyên dạng thuật ngữ khoa học nước ngoài cần phải
cân nhắc cẩn thận
Một số ngành như hóa học, y, mỏ, địa chất, toán, vật lý việc dùng nguyên dạng
nhiều thuật ngữ nước ngoài vẫn là điều cần thiết Trong phần nghiên cứu này, luận
án chủ yếu quan tâm đến mảng thuật ngữ kinh tế Một số thuật ngữ viết tắt theo theo
thông lệ quốc tế thường dùng nguyên dạng trong các văn bản, chứng từ giao dịch
như vận đơn, hóa đơn, hợp đồng mua bán….thường dùng nguyên dạng các thuật
ngữ viết tắt như: ATTN ↔ for the attention of (người nhận thư), FX ↔ Foreign
exchange (ngoại hối), LOC ↔ letter of credit (thư tín dụng), RSVP ↔ Please reply
(xin phúc đáp), Ltd ↔ Limited company (công ty trách nhiệm hữu hạn), SOONEST /
ASAP ↔ As soon as possible (càng sớm càng tốt)…
Ngoài những vấn đề nói trên, chúng ta còn phải tìm hiểu các yếu tố văn hóa
ảnh hưởng đến ngôn ngữ của mỗi quốc gia như thế nào, bởi, ngay cả Anh và Mỹ tuy
nói chung một ngôn ngữ, nhưng lại là 2 quốc gia hoàn toàn riêng biệt, có nền văn
hóa hoàn toàn khác nhau Do vậy trong giao tiếp, người ta vẫn phân biệt nói theo
kiểu Anh hay nói theo kiểu Mỹ Thí dụ như thuật ngữ CPA mang nghĩa nhân viên
Trang 40kế toán công, người Mỹ gọi là Certified Public Accountants, còn người Anh gọi là
Chartered Accountant (Luận án sẽ phân tích vấn đề văn hóa ở chương III và IV)
Việc tìm hiểu để đưa ra được nguyên tắc chung, nhằm điều chỉnh ngôn ngữ
theo một mẫu mực có sẵn, phù hợp với đặc điểm hệ thống và đặc điểm hoạt động
của từng ngôn ngữ trong quá trình đặt thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng là
nhiệm vụ trọng tâm của luận án
Ngoài phương thức mượn nguyên dạng, việc sử dụng thuật ngữ khoa học nước
ngoài còn có nhiều phương thức khác
1.2.3.2 Phương thức phiên âm
Phiên âm là phương pháp vay mượn y nguyên hay gần như y nguyên thuật
ngữ nước ngoài Hay nói rõ hơn, phiên âm là để Việt hóa những thuật ngữ mang
tính quốc tế và không thể đối dịch được Thống nhất cách phiên âm là nội dung của
việc xây dựng thuật ngữ tiếng Việt Có hai mảng quan điểm được đưa ra là phiên
âm nên theo nguyên tắc “dựa vào âm của thuật ngữ quốc tế mà phiên ra tiếng Việt”
hay “dựa vào dạng chữ quốc tế”
Theo “quyết nghị của Hội đồng chuẩn hóa chính tả và Hội đồng chuẩn hóa
thuật ngữ” ngày 1-7-1983 thì “Thuật ngữ vốn tiếng nước ngoài mà được dùng trong
tiếng Việt thì sự quy định chính tả nên dựa trên hình thức phổ biến của những thuật
ngữ ấy trên chữ viết Trong ngôn ngữ khoa học, mà chủ yếu là ngôn ngữ viết, cần
nhớ kỹ mặt chữ thuật ngữ và cần khai thác giá trị thông tin của nó” Việc dựa chủ
yếu vào”mặt chữ” có cái lợi là thuật ngữ phiên âm dễ giống với thuật ngữ nước
ngoài Điều này tạo điều kiện tốt cho việc giao lưu khoa học kỹ thuật với quốc tế
Nhưng cái bất lợi là nếu dùng phiên âm quốc tế thì chỉ thuận tiện cho những người
có trình độ ngoại ngữ khá chứ khó lòng sử dụng đại trà Dùng hệ thống chữ cái
tiếng Việt để phiên âm thuật ngữ khoa học được nhiều người đồng tình Cách phiên
âm này cho phép người đọc dễ dàng khôi phục lại những âm thanh sẵn có trong
ngôn ngữ khác bằng ngôn ngữ quen thuộc của mình Nhưng việc chỉ dựa vào “mặt
chữ” để cho đúng “dạng quốc tế” đã khiến cho việc Việt hóa thuật ngữ nước ngoài
bị hạn chế Thuật ngữ Âu châu có nhiều vần và nhiều âm trong tiếng Việt không có,