Trong khi quán triệt tinh thần khoa học và cách mạng của NEP, Đảng ta đã nhấn mạnh cần phải vận dụng sáng tạo và tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2012
Trang 3MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trong thời đại ngày nay là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đó cũng là xu thế khách quan trong tiến trình phát triển của nhân loại mà C.Mác và Ph.Ănghen đã vạch ra Nhưng xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu như thế nào? Bước đi, phương pháp, mô hình xã hội mới chưa có khuôn mẫu sẵn, đặc biệt trong thời đại ngày nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, chủ nghĩa tư bản đã có những thích nghi, đang khoác một bộ áo mới nhiều màu sắc, còn chủ nghĩa xã hội sau cơn thoái trào, khủng hoảng ở Liên
Xô và Đông Âu (hệ quả của một mô hình chủ nghĩa xã hội xơ cứng, biến dạng) cũng đang tự đổi mới, khởi sắc với nhiều hình thức phong phú Sự phát triển của thế giới đương đại không chỉ diễn ra theo một con đường, một mô hình… vì vậy mỗi nước, mỗi dân tộc đều phải thực hiện những cuộc “thử nghiệm” lịch sử, tự mình tìm ra mô hình, con đường và phương pháp đi lên chủ nghĩa xã hội cho phù hợp
Điều đó không làm cho giá trị học thuyết Mác- V.I.Lênin bị suy giảm Những hạn chế lịch sử của lý thuyết này là điều đương nhiên; hạt nhân hợp lý của nó xây dựng một xã hội tốt đẹp không hề bị xóa bỏ, thế hệ hiện nay và mai sau phải trân trọng, kế thừa, bổ sung, sáng tạo cho phù hợp với thực tiễn
V.I.Lênin đã vận dụng sáng tạo lý thuyết phát triển (lịch sử - tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội) của C.Mác - Ph.Ăngghen, tìm ra con đường quá độ gián tiếp từ thực tiễn nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười Đó là
con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước , “là mắt xích trung gian”, là “chiếc cầu nhỏ vững chắc”, là “sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất” để đi lên chủ nghĩa
xã hội từ một nước kinh tế kém phát triển Đây không phải là bài học thuần Nga hay một giải pháp tình thế mà là bài học có giá trị quốc tế, đặc biệt đối với những nước tiểu nông đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản
Trong Chính sách Kinh tế mới, mà cốt lõi là việc thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước V.I.Lênin đã thể hiện tư duy biện chứng vô cùng sắc sảo Từ việc hiểu thấu suốt biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa kinh tế và chính trị, giữa cái phổ biến và cái đặc thù…, V.I.LêNin đã kế thừa các nhân tố tiến bộ của cái cũ, tận dụng những yếu tố tích cực của mặt đối lập là chủ
Trang 4nghĩa tư bản, và đã làm nên “điều kỳ diệu Xô-viết” trong những năm 1921 -
1923 ở nước Nga
Ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, chính sách Kinh tế mới (NEP) được coi là một trong những cơ sở lý luận quan trọng cho đường lối đổi mới toàn diện đất nước Trong khi quán triệt tinh thần khoa học và cách mạng của NEP, Đảng
ta đã nhấn mạnh cần phải vận dụng sáng tạo và tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư tưởng của V.I.Lênin về chính sách Kinh tế mới, về chủ nghĩa tư bản nhà nước, sáng tạo nhiều hình thức quá độ, những nấc thang trung gian đa dạng phù hợp với hoàn cảnh lịch sử - cụ thể để đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội một cách vững chắc
Quá trình vận dụng NEP trọng tâm là phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Việt Nam, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua đã đạt được những kết quả tích cực
Thành phố Hồ Chí Minh - thành phố đầy năng động sáng tạo, đã đi đầu “xé rào”, thử nghiệm sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước với nhiều hình thức tổ chức kinh tế đa dạng như những “mắt xích trung gian”, đã thu hút mạnh vốn đầu tư của nước ngoài, môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện và có sức hấp dẫn hơn, các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước ngày càng phong phú hơn trên tất cả các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, tín dụng, ngân hàng… trong đó hình thức có hiệu quả là các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công
nghệ cao; các công ty cổ phần; trong nông nghiệp xuất hiện nhiều hình thức hợp
tác kiểu mới, trang trại hóa từng bước kết hợp với hợp tác hóa
Sự thành công của các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao các công ty cổ phần, hợp tác xã kiểu mới không chỉ ở hiệu quả kinh tế, mà còn ở hiệu quả xã hội Từ đó, hàng trăm khu chế xuất, khu công nghiệp, các công ty cổ phần, các trang trại, các tổ hợp tác, hợp tác xã đua nhau mọc lên như nấm trên khắp các tỉnh thành ở nước ta thời đổi mới (đặc biệt được đẩy mạnh từ khi gia nhập WTO) Sự lan tỏa đó chứng minh cho tính hợp quy luật, cho sức sống mãnh liệt của học thuyết V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới trong bối cảnh đương đại của lịch sử loài người Nó chứng minh cho tính đúng đắn của việc kết hợp hai mặt đối lập: sức mạnh kinh tế, kỹ thuật và tổ chức của tư bản với sức mạnh chính trị của nhà nước kiểu mới
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi và thành tựu thì phát triển chủ nghĩa
tư bản nhà nước ở nước ta nói chung cũng như ở thành phố Hồ Chí Minh nói
Trang 5riêng vẫn còn phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức về lý luận lẫn thực tiễn Trong bối cảnh này, nghiên cứu sự phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh thông qua một số mô hình cụ thể để rút ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp thiết thực, góp phần làm cho “sự chuẩn bị vật chất” đầy đủ hơn cho chủ nghĩa xã hội là việc làm cần thiết và cấp bách Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh” làm luận án tiến sĩ triết học
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Luận điểm về chủ nghĩa tư bản nhà nước được V.I.Lênin đề xướng từ đêm trước cách mạng Tháng Mười, được phát triển như một học thuyết và được vận dụng ở nước Nga sau chính sách Cộng sản thời chiến Chính sách Kinh tế mới, mà chủ nghĩa tư bản nhà nước là bộ phận cấu thành chủ yếu đã trở thành yếu
tố quan trọng thu hút đầu tư nước ngoài, kích thích các thành phần kinh tế trong nước, có tác dụng giải phóng và phát triển vượt bậc lực lượng sản xuất
Ở Việt Nam, dưới mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp nhiều thập niên, chủ nghĩa tư bản nhà nước đã bị phê phán trong nhận thức
và bị loại trừ trong thực tiễn Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới, chủ nghĩa tư bản nhà nước đã trở thành vấn đề thời sự cả trên bình diện lý luận và cả trong thực tiễn đổi mới kinh tế Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, luận án, luận văn và các bài viết về chủ nghĩa tư bản nhà nước đăng trên tạp chí và các phương tiện thông tin đại chúng, có thể khái quát theo những xu hướng sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận chủ nghĩa tư bản nhà nước, tính tất yếu và thực chất của chủ nghĩa tư bản nhà nước, vai trò lịch sử của chủ
nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội… ở phương
diện này có các công trình khá tiêu biểu như: “Kinh tế tư bản nhà nước và công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Trương Thị Minh Sâm chủ
biên [130]; “Quan niệm của V.I.Lênin về phát triển kinh tế tư bản nhà nước” của Đặng Hữu Toàn [172]; “NEP – Một cách tiếp cận mới mang tính nguyên tắc của
V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội” của Nguyễn Thế Nghĩa [110]; “Chính sách Kinh
tế mới của V.I.Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam” của Lê Thanh Sinh [
134]; “Về thành phần kinh tế tư bản nhà nước” của Trần Ngọc Hiên [54]; “Quan
điểm của V.I.Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước – Bước phát triển mới của lý luận về chủ nghĩa xã hội” của Phan Xuân Sơn [138]; “Chủ nghĩa tư bản nhà
Trang 6nước kiểu mới – địa vị lịch sử, các cơ hội lịch sử và công cuộc đổi mới” của Lưu
Hà Vỹ [202]; …
Thứ hai, nghiên cứu ứng dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, ở phương diện nghiên cứu này có các
công trình rất đáng chú ý: “Chính sách Kinh tế mới của V.I.Lênin và vận dụng
vào điều kiện ở nước ta” của Trần Ngọc Hiên [53]; “Mấy vấn đề về chủ nghĩa tư bản nhà nước” của Vũ Hữu Ngoạn - Khổng Doãn Hợi [113]; “Chủ nghĩa tư bản nhà nước ở nước ta hiện nay và xu hướng phát triển” của Trần Đăng Thịnh
[163]; “Vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước để phát triển kinh tế trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” của Nguyễn Xuân Quang [123]; “Tư tưởng của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước và sự nghiệp đổi mới ở nước
ta hiện nay” của Phạm Như Cương trong “Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận một
đòi hỏi bức xúc hiện nay của đất nước và thời đại” [28]; “Chủ nghĩa tư bản nhà
nước – Từ quan niệm của V.I.Lênin đến sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới” của Nguyễn Văn Thức [164]; “Từ chính sách “cộng sản thời chiến” đến chính sách Kinh tế mới” của Vũ Văn Phúc [120]; “Vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin về sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước theo tinh thần Đại hội X của Đảng” của Ts Nguyễn Văn Hậu [51]; và những công trình khác
Các công trình nói trên đã phản ánh sự vận dụng những nguyên tắc của NEP, đặc biệt là các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước vào điều kiện cụ thể của Việt Nam (nền kinh tế tiểu nông quá độ lên chủ nghĩa xã hội) được thể hiện bằng các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước
Thứ ba, nghiên cứu thực tiễn phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Việt
Nam nói chung và ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Kết quả của các nghiên
cứu này được thể hiện trong các công trình tiêu biểu sau: “Nghiên cứu vận dụng các hình thức kinh tế tư bản nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của
Ban kinh tế thành ủy thành phố Hồ Chí Minh [2]; “Vấn đề vận dụng học thuyết
của V.I.Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” của Nguyễn Chơn Trung [176] “Viện sĩ – tiến
sĩ Nguyễn Chơn Trung – Kinh nghiệm bước đầu của sự vận dụng mô hình kinh
tế tư bản nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh” của Trương Giang Long [84];
“Mười lăm năm xây dựng và phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp ở
Việt Nam” [101] và các công trình khác
Trang 7Thứ tư, nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phát triển chủ nghĩa tư bản
nhà nước: có một số hội thảo khoa học và các bài đăng trên tạp chí: “Thực trạng đầu tư và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các khu chế xuất, khu công
nghiệp thành phố Hồ Chí Minh” [166]; “Về lý luận, chính sách, giải pháp đối
với thành phần kinh tế tư bản nhà nước” v.v…
Ngoài ra, còn có một số công trình của các học giả đề cập đến xu hướng
vận động của chủ nghĩa tư bản ngày nay: “Nhận thức về thời đại ngày nay” của
Vũ Văn Hiền [55]; “C.Mác, V.I.Lênin với chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày
nay” của Nguyễn Thanh Tuấn [181]; “Thế giới phẳng” của Thomas Friedman
[44]; “Thế giới cong” của David M.Smick [132], “Chủ nghĩa tư bản chống chủ
nghĩa tư bản” của Michel Albert [1], “Nhìn về toàn cầu hóa” của George
Soros[137], “Triết học mở và xã hội mở” của Maurice Cornforth
Như vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản nhà nước và sự vận dụng nó ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Các công trình đó đã phản ánh các phương diện khác nhau (chủ yếu dưới góc độ kinh tế - chính trị học)
về chủ nghĩa tư bản nhà nước và sự phát triển nó ở thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống dưới cách tiếp cận triết học - kinh tế về sự phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước
ở thành phố Hồ Chí Minh
Công trình này góp phần làm sáng tỏ sự phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh là một tất yếu khách quan, dưới góc nhìn biện chứng (biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa kinh tế và chính trị, biện chứng giữa cái phổ biến và cái đặc thù…) đặc biệt chỉ ra những mâu thuẫn, những nghịch lý nảy sinh trong quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng nhân tố chủ quan (Đảng và Nhà nước ) trong việc kết hợp hai mặt đối lập - sức mạnh kinh tế, kỹ thuật của tư bản và sức mạnh chính trị của nhà nước kiểu mới một cách có nguyên tắc để đảm bảo vừa rút
ngắn, vừa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình quá độ gián tiếp ở
nước ta, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giải phóng các nguồn lực và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay
3.Mục đích và nhiệm vụ của luận án
+ Mục đích của luận án
Trên cơ sở làm sáng tỏ lý luận chung về chủ nghĩa tư bản nhà nước, luận án phân tích thực trạng vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh
Trang 8với những hình thức tổ chức kinh tế mới đa dạng, phong phú, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả loại hình kinh tế tư bản nhà nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh
+ Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được mục đích nói trên, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ
nghĩa tư bản của C Mác - Ph.Ăngghen, lý luận phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước của V.I.Lênin và sự vận dụng sáng tạo lý luận đó của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn nước ta
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước
(thành tựu, yếu kém và nguyên nhân của chúng); chỉ ra những nghịch lý, mâu thuẫn trong quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng để góp phần thúc
đẩy kinh tế - xã hội trong quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án trình bày một số vấn đề chung về chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới góc độ triết học - kinh tế
Tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới của V.I.Lênin với tư cách là “khâu trung gian” tất yếu, là phương thức phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản ở những nước xuất phát điểm thấp
Thời gian nghiên cứu chủ yếu từ thời kỳ đổi mới(1986) đến nay và phạm vi nghiên cứu chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh
Những giải pháp đề xuất nhằm phát triển kinh tế-xã hội ở thành phố
Hồ Chí Minh chỉ mang tính định hướng
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
+Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử) và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là học thuyết của V.I.Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
về “Chính sách Kinh tế mới” và quan điểm của Đảng ta về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 9+ Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận án, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành Đồng thời, luận án còn sử dụng các phương pháp: phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử, diễn dịch - quy nạp, phương pháp khảo sát, thống kê, phương pháp hệ thống hóa và khái quát hóa v.v…
6.Những đóng góp mới của luận án
- Luận án làm sáng rõ lý luận chủ nghĩa tư bản nhà nước của V.I.Lênin là
sự nối tiếp logic dự báo của C.Mác, Ph.Ăngghen về con đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội
- Luận giải học thuyết chủ nghĩa tư bản nhà nước là “khâu trung gian” tất yếu trong tiến trình quá độ gián tiếp dưới góc nhìn biện chúng
- Chỉ ra sự vận dụng sáng tạo học thuyết chủ nghĩa tư bản nhà nước với những hình thức phong phú ở một địa phương điển hình - thành phố Hồ Chí Minh
7.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về lý luận: luận án làm sáng tỏ lý luận chủ nghĩa tư bản nhà nước của
V.I.Lênin trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sự phát triển sáng tạo
lý luận này ở Việt Nam, ở thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới đất nước nói riêng và của thế giới nói chung
Về thực tiễn: nội dung nghiên cứu và những kết quả đạt được của luận án có
thể được làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách về phát triển kinh tế
tư bản nhà nước, thu hút đầu tư nước ngoài v.v… chúng cũng là những tài liệu có ích cho việc giảng dạy môn triết học và kinh tế học, đồng thời làm tài liệu tham khảo cho những công trình nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này
8 Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu gồm: phần mở đầu; ba chương với chín tiết; phần kết luận; danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Trang 10Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC
TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1.1.QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN VỀ VẤN ĐỀ “XÓA
BỎ CHẾ ĐỘ TƯ HỮU”, THIẾT LẬP CHẾ ĐỘ CÔNG HỮU VÀ VẤN ĐỀ QUÁ
ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN
1.1.1.Xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu là quá trình có tính quy luật trên cơ sở phát triển chín muồi của lực lượng sản xuất
Bằng quan niệm duy vật về lịch sử, cốt lõi là học thuyết hình thái kinh tế -
xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu đời sống xã hội, đặc biệt C.Mác
mổ xẻ phương thức sản xuất đương thời - phương thức sản xuất tư bản và đã vạch trần bản chất bóc lột giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản, chỉ ra những mâu thuẫn cơ bản trong lòng nó Đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng mang tính chất xã hội hóa cao trong khi quan hệ sản xuất lại mang tính chất tư nhân tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn cơ bản này của chủ nghĩa tư bản là nguồn gốc đẻ ra hàng loạt mâu thuẫn khác, trong đó có mâu thuẫn giữa giai cấp
vô sản và giai cấp tư sản
Từ đó, C.Mác và Ph.Ăngghen kết luận rằng, xu thế phát triển khách quan
của xã hội loài người là xã hội tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ bị thay thế bởi một xã
hội mới mà C.Mác và Ph.Ăngghen gọi là xã hội cộng sản chủ nghĩa
Vào lúc giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản còn chiếm địa vị thống trị tuyệt đối ở châu Âu và ra sức mở rộng phạm vi ảnh hưởng của nó sang các châu lục khác trên thế giới để tìm kiếm thị trường, để bóc lột sức lao động, đặt ách nô dịch đối với giai cấp vô sản và nhân dân lao động các dân tộc, thì C.Mác, Ph.Ăngghen đã nhận thấy sự kết thúc vai trò cách mạng, tính chất tiến bộ của
nó, đã thấy một xu hướng cách mạng mới, một lực lượng cách mạng mới cao hơn sẽ phủ định nó, đã thấy tương lai, triển vọng thuộc về chủ nghĩa cộng sản và
con đường đi tới tất yếu là cách mạng vô sản Quả thật, đó là một dự báo khoa
học vĩ đại, một tư tưởng cách mạng vạch thời đại Hơn hẳn những bậc tiền bối
của chủ nghĩa xã hội không tưởng, dù là những nhà không tưởng vĩ đại, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã sớm nhận thấy chủ nghĩa xã hội không phải là một lý tưởng
đạo đức tốt đẹp mà cuộc sống phải khuôn theo, mà nó là kết quả tất yếu của sự vận động hiện thực Giai cấp vô sản là một giai cấp cách mạng mà sứ mệnh lịch
Trang 11sử thế giới của nó là xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848 - Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của phong trào vô sản thế giới do C.Mác và Ph.Ăngghen soạn thảo đã luận chứng khoa học đầy sức thuyết phục làm cơ sở hình thành kết luận chính trị và
dự báo tương lai đó Tuyên ngôn là tác phẩm đánh dấu giai đoạn trưởng thành của chủ nghĩa Mác Dưới hình thức lý luận, Tuyên ngôn là sự tổng kết và nâng
cao những tìm tòi khoa học mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã tiến hành trong giai
đoạn đầu xây dựng học thuyết của mình Từ Phê phán triết học pháp quyền của
Hêghen (1843), Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh (1844), Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 đến Gia đình thần thánh (1845) và Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản (1847), …, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển một cách
nhất quán tư tưởng về sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản, về tính tất yếu của sự sinh thành chủ nghĩa xã hội thông qua cách mạng xã hội Không có
sự chuẩn bị tất yếu từ những tác phẩm này thì không thể có sự nhảy vọt về lý luận khoa học trong Tuyên ngôn Mặt khác, không có sự phát triển thực tiễn của phong trào cách mạng vô sản ở phương Tây từ năm 1830 đến năm 1848 thì cũng không thể có được những phân tích và tổng kết chính trị sắc bén của C.Mác và
Ph.Ăngghen thể hiện trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” Sau này, ở trình
độ thành thục và chín muồi của chủ nghĩa Mác, với những tác phẩm tiếp theo
như Đấu tranh giai cấp ở Pháp, Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị,; Tư
bản; đặc biệt là những tác phẩm viết sau sự kiện Công xã Paris như Phê phán Cương lĩnh Gôta (1875); Chống Đuyrinh (1878) cho đến những tác phẩm cuối
đời, C.Mác và Ph.Ăngghen vẫn không ngừng làm sáng tỏ và đạt tới sự phân tích
sâu sắc, triệt để hơn luận thuyết về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản Còn chủ nghĩa cộng sản ấy sẽ như thế nào, mọi chi tiết và mọi
mối liên hệ của nó trong tương lai sẽ ra sao thì, theo Ph.Ăngghen, đó là công việc sẽ còn phải tiếp tục nghiên cứu
Trong các tác phẩm của mình, sau khi đã khẳng định xu hướng phát triển
của xã hội loài người là chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ bị thay thế bởi chủ nghĩa
cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên các đặc trưng cơ bản của xã hội ấy Trong khi nêu lên các đặc trưng của xã hội tương lai, C.Mác và Ph.Ăngghen đặc
biệt nhấn mạnh đến việc xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản vì tất cả những đặc trưng
Trang 12khác của chủ nghĩa cộng sản đều là những hệ quả bắt nguồn từ sự xóa bỏ đó, đều là những đặc trưng phát sinh từ việc xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản ấy
Vấn đề xóa bỏ chế độ tư hữu được C.Mác và Ph.Ăngghen đặt ra một cách toàn diện, và được luận chứng rất khoa học, có sức thuyết phục hơn hẳn cách đặt vấn đề xóa bỏ chế độ tư hữu của những nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng, thông qua trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và đòi hỏi quan
hệ sản xuất thích ứng Quy luật chung nhất này (quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất) quy định sự vận động phát
triển tự nhiên, của lịch sử nhân loại từ thấp đến cao Nội dung cơ bản, tính khoa học, cách mạng của “Tuyên ngôn” được công bố vào năm 1848 là dựa trên sự nhận thức và phân tích sâu sắc thấu đáo nội dung, yêu cầu của quy luật trên trong xã hội tư bản vào khoảng giữa thế kỷ XIX
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã chỉ ra rằng: sự cách mạng hóa công cụ sản xuất làm giai cấp tư sản hoàn toàn chiến thắng chế độ phong kiến Nhưng, chính sự phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng khoét sâu mâu thuẫn giữa quá trình sản xuất mang tính xã hội với chế độ sở hữu mang tính tư nhân Quan
hệ sản xuất này trở nên cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất Mọi sự đối phó, điều chỉnh trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản không thể giải quyết được mâu thuẫn này và tất yếu sẽ dẫn đến sự diệt vong của quan hệ sở hữu tư sản, sự diệt vong của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng như sự diệt vong đã xảy ra với các phương thức sản xuất trước đó Nếu như xã hội tư sản hiện đại
đã từng sinh ra từ trong lòng xã hội phong kiến đã bị diệt vong, sự thay thế của đại công nghiệp cho chế độ ruộng đất, phường hội phong kiến và ngay
cả với công trường thủ công là một tất yếu không tránh khỏi, thì sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại trong lòng xã hội tư bản cũng tất yếu
đẩy chủ nghĩa tư bản đến chỗ diệt vong, nhường chỗ cho một hình thái mới cao hơn là chủ nghĩa cộng sản Đó là lôgic tất yếu của lịch sử
Song song với việc vạch ra tiến trình lịch sử - tự nhiên của xã hội loài người dưới tác động của quy luật khách quan, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xác
định rõ lực lượng cơ bản tiến hành cuộc cách mạng xã hội ấy là giai cấp vô sản,
đội ngũ những người công nhân đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, là sản phẩm của nền đại công nghiệp, là giai cấp triệt để cách mạng, phong trào đấu tranh của họ mưu cầu lợi ích cho khối đại đa số Từ những tư tưởng cơ bản trên,
“Tuyên ngôn” khẳng định rằng “giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ
Trang 13khí giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy; những công nhân hiện đại, những người vô sản.” [87,549] Giai cấp tư sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau
Ngoài việc khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, C.Mác -
Ph.Ăngghen còn chỉ ra phương thức xóa bỏ chế độ tư hữu một cách tích cực qua
một số tác phẩm của mình Các ông cho rằng cần phải phê phán cái cũ, cái phi nhân tính, cái trật tự xã hội hiện hành nhưng không phải bằng ảo tưởng mà dựa trên cơ sở hiện thực
Trong “Lời nói đầu” nổi tiếng của tác phẩm “Phê phán Triết học pháp quyền của Hégel” (1843 - 1844), đánh dấu bước chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản, C.Mác đã nhận định rằng: phê phán tôn giáo “ở thượng giới”, giỏi lắm chỉ cởi được sự tha hóa trong lĩnh vực tinh thần - tâm linh Trái lại, sự tha hóa của quần chúng lao động “ở cõi trần” trong sự “nghèo nàn hiện thực” gắn liền với
chế độ tư hữu thì phải “phê phán pháp quyền”, “phê phán chính trị” - một sự phê
phán kiểu mới không dừng lại ở “phẫn nộ” mà là “vạch trần”, một sự “phê phán giáp lá cà” mà theo C.Mác điều quan trọng là phải “đánh trúng nó” tức là đánh
trúng vào cái trật tự tư sản - trật tự dựa trên sở hữu tư nhân cùng với đối kháng giai cấp cuối cùng trong lịch sử
Trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, C.Mác cũng đã nhấn
mạnh: muốn xóa bỏ tư tưởng về chế độ tư hữu thì tư tưởng về chủ nghĩa cộng
sản là hoàn toàn đủ rồi Còn muốn xóa bỏ chế độ tư hữu trong thực tế thì phải có
hành động cộng sản chủ nghĩa hiện thực Lịch sử sẽ đem đến theo mình hành
động cộng sản chủ nghĩa ấy Đồng thời trong tác phẩm này, C.Mác đã lột tả những cội rễ của lao động bị tha hóa trong tác động qua lại có tính nhân quả với hàng loạt các nhân tố gắn liền với chế độ tư hữu tư sản như : tư bản, tiền công, lợi nhuận, cạnh tranh, Biểu hiện đầu tiên của lao động bị tha hóa nằm ngay ở
quá trình lao động, và đụng chạm đến bản chất của sở hữu và phân phối Người
công nhân sản xuất ra các vật phẩm, nhưng chúng không thuộc về họ, mà của người khác Toàn bộ sức lực và cuộc sống của họ dành cho lao động, còn thành quả lao động thì biến thành cái xa lạ với họ, tức thành cái bị tha hóa, tách khỏi người sản xuất
Trang 14Tha hóa trong quá trình lao động đã dẫn đến tha hóa ở bình diện rộng hơn
– tha hóa bản thân con người, tha hóa loài, hay đời sống có tính loài của con
người Cuối cùng, sự tha hóa trong lao động, trong đời sống có tính loài được
hiểu như tha hóa lẫn nhau (absonderung) giữa người với người, xét theo tổng
thể các quan hệ xã hội
Vậy đâu là cơ sở xã hội của tha hóa? C.Mác trở về phân tích nguồn gốc
của tư hữu, C.Mác nhận thấy rằng nội dung của khái niệm lao động bị tha hóa
được xem xét như kết quả vận động của sở hữu tư nhân Tuy nhiên, sự phân tích
tiếp theo cho thấy mặc dầu sở hữu tư nhân vừa là cơ sở, vừa là nguyên nhân của lao động bị tha hóa, song trong thực tế thì ngược lại; nó hóa ra là kết quả của lao động bị tha hóa
C.Mác cũng nêu lên tư tưởng xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu, sự
phủ định nó nhằm mục tiêu tiến bộ xã hội Như vậy để khắc phục tha hóa lao
động, theo C.Mác, cần thủ tiêu một cách tích cực cơ sở xã hội làm nảy sinh và
gia tăng sự tha hóa đó Xã hội hiện tại, với những mâu thuẫn nảy sinh trong
lòng nó và với những điều kiện hiện thực do nó sinh ra, đã tạo tiền đề cho quá
trình này, quá trình giải phóng công nhân dưới hình thức chính trị
Trong vai trò của nhà giải phẫu xã hội, C.Mác nhận thấy cơ sở của những nghịch lý vừa nêu nằm ở chế độ tư hữu Ông khảo sát quá trình này trong những biểu hiện đơn giản dễ thấy của nó, trong quan hệ giữa người với người – quan
hệ sở hữu, phân phối sản phẩm lao động, rút ra từ đây tính tất yếu của xung đột
xã hội dưới chủ nghĩa tư bản, cũng như tính tất yếu của đổi mới xã hội một cách
tích cực C.Mác tiên đoán về sự xóa bỏ chế độ tư hữu bằng chính sự vận động tự thân của nó
C.Mác chưa gọi học thuyết của mình là chủ nghĩa cộng sản, hay chủ nghĩa
xã hội, nhưng ông xem nó là mục tiêu mà con người hướng tới , cùng với quá
trình xóa bỏ chế độ tư hữu một cách tích cực “Xóa bỏ tích cực” được ngầm hiểu là xóa bỏ về căn bản quan hệ “tha hóa” giữa người với người trong quá trình hoạt động sản xuất, hoạt động sống nói chung, nhưng vẫn lưu giữ các yếu
tố phù hợp trong điều kiện lịch sử mới, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển,
nghĩa là không xóa bỏ sạch trơn, xóa bỏ theo kiểu thủ tiêu của chủ nghĩa hư vô
Xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu tức là xóa bỏ sự tha hóa con người, là
sự chiếm hữu một cách thực sự bản chất con người bởi con người và vì con người Sự “quay trở lại” bản chất con người chính là giải quyết tình trạng tha
Trang 15hóa, mà trước hết là tha hóa lao động Con người không chỉ có thể, mà cần phải thực hiện sự xoay chiều ấy như một mệnh lệnh lịch sử, như nhiệm vụ đặt ra cho bản thân trong cuộc hành trình giải phóng
Sự “quay trở lại” tích cực mà C.Mác nhấn mạnh không phải là quay trở lại một cách máy móc, theo hình ảnh vòng tròn khép kín, mà theo hình ảnh vòng xoắn ốc, hàm chứa yếu tố lọc bỏ, kế thừa, phát triển Chính cách tiếp cận như
thế đã làm sáng tỏ tư tưởng biện chứng về phát triển xã hội ở C.Mác Chủ nghĩa
cộng sản, theo C.Mác, với tính cách là việc con người hoàn toàn quay trở lại
chính mình với tính cách là con người xã hội, nghĩa là có tính chất người – sự
quay trở lại này diễn ra một cách có ý thức và có giữ lại tất cả sự phong phú của
sự phát triển trước đó
Chủ nghĩa cộng sản đó có được phải bằng cuộc đấu tranh giai cấp, cuộc
đấu tranh cuối cùng sẽ nổ ra thành một cuộc cách mạng mà trong đó giai cấp vô
sản sẽ lật đổ giai cấp tư sản bằng bạo lực và thiết lập sự thống trị của mình, để
xây dựng một xã hội mới - xã hội cộng sản, đồng thời vạch ra cương lĩnh sách lược cho cách mạng vô sản
Giai đoạn thứ nhất trong cách mạng vô sản là giai đoạn giành lấy dân chủ [87, 567] Mục đích trước mắt của các Đảng cộng sản và giai cấp vô sản
là lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền [106, 558] Cuộc cách mạng chính trị giành chính quyền chỉ là tiền đề
để giai cấp vô sản thực hiện cuộc cách mạng về kinh tế Đó là xóa bỏ chế độ
tư hữu tư sản, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, mở đường cho
lực lượng sản xuất phát triển
“Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong giai cấp vô sản
đã được tổ chức thành giai cấp thống trị, và để tăng thật nhanh số lượng lực lượng sản xuất lên [87, 567] Và “Tuyên ngôn” cũng đã phác họa ra xã hội cộng sản trong tương lai - đó là xã hội không còn giai cấp, không còn nhà nước, một liên hợp của người lao động phát triển toàn diện xuất hiện Trong
liên hợp ấy, sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự do của tất cả mọi người
Như vậy, C.Mác dạy chúng ta rằng: Trong tiến trình của cách mạng vô sản, trước hết giai cấp vô sản giành lấy chính quyền, sau đó sử dụng sự thống trị
Trang 16của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản vào
trong tay nhà nước vô sản
Giai cấp vô sản không xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, chỉ xóa bỏ sở hữu
tư sản nhưng từng bước một Từng bước một chính là tư tưởng về thời kỳ quá
độ, thời kỳ này có rất nhiều hình thức sở hữu khác nhau, nó là cơ sở, nguồn gốc
của sản xuất hàng hóa, của nền kinh tế thị trường mà bây giờ chúng ta thực hiện
Như vậy, vấn đề xóa bỏ tích cực chế độ tư hữu tư sản, thiết lập chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất với vấn đề xóa bỏ giai cấp, xây dựng một xã hội không có giai cấp , không có áp bức bóc lột, với việc giải phóng con người , xóa
bỏ mọi sự tha hóa của con người do chế độ tư hữu đem lại và qua đó giải phóng cho toàn nhân loại là tư tưởng gắn liền với C.Mác - Ph.Ăngghen hầu như suốt cả cuộc đời
Tuy nhiên, việc xóa bỏ sở hữu tư sản có thể tiến hành lập tức hay phải có điều kiện nào? C.Mác, Ph.Ăngghen đã nêu ra điều kiện ở hàng loạt các tác phẩm trước và sau “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
Trong khi nhấn mạnh đến việc xóa bỏ chế độ tư hữu, C.Mác và
Ph.Ăngghen cũng đặc biệt lưu ý rằng không phải khi nào cũng xóa bỏ được
chế độ tư hữu, rằng không thể xóa bỏ ngay lập tức chế độ tư hữu, cũng y như
không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu Đó là vì “không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ” [89, 15-16]
Như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đã lưu ý việc xóa bỏ sự đối kháng giai
cấp, xóa bỏ chế độ tư hữu là một quá trình lâu dài chứ không phải là hành động
nhất thời, chốc lát của những người cộng sản sau khi giành chính quyền và việc
xóa bỏ nó cũng không thể chủ quan, nóng vội Trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế
- triết học năm 1844” C.Mác đã cảnh báo như một “tiên tri” về cái gọi là chủ nghĩa cộng sản “thô thiển” kiểu “bình quân”, “trại lính” nếu người ta tiến hành thủ tiêu chế độ tư hữu một cách duy ý chí
Tiếp theo, trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” do C.Mác và Ph.Ăngghen viết chung (1845 – 1846) lần đầu tiên quy luật cơ bản chi phối đời sống xã hội –
Trang 17quy luật về tương quan biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất
được phát hiện, các ông lại một lần nữa cảnh báo về nguy cơ vội vã xóa bỏ chế
độ tư hữu đối với những người cộng sản tương lai bất chấp quy luật khách quan
Các ông đã sáng suốt dự đoán rằng nếu chưa có “tiền đề tuyệt đối cần thiết” là
sự phát triển chín muồi của lực lượng sản xuất, thì hậu quả thật ghê gớm khó lường khi áp dụng chế độ công hữu Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng … “tất cả sẽ
chỉ là một sự nghèo nàn đã trở thành phổ biến, mà với sự thiếu thốn thì cũng bắt
đầu trở lại cuộc đấu tranh để giành những cái cần thiết, thế là người ta lại không tránh khỏi rơi vào cũng sự ti tiện trước đây”
Đến tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản” do Ph.Ăngghen viết ngay vào đêm trước của “Tuyên ngôn” với tư cách một bản dự thảo cương lĩnh của Liên đoàn những người cộng sản (vào cuối 10/1847), Ph.Ăngghen cũng
đã nhấn mạnh : thủ tiêu chế độ tư hữu là một cách nói vắn tắt và tổng quát nhất
về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã hội, việc cải tạo này là kết quả phát triển tất
yếu của sự phát triển công nghiệp Cho nên những người cộng sản hoàn toàn
đúng khi đề ra việc thủ tiêu chế độ tư hữu thành yêu cầu chủ yếu của mình
Như vậy Ph.Ăngghen đã nhắc lại ngay lập tức ở đây cái “tiền đề tuyệt đối
cần thiết” để xã hội hóa sở hữu các tư liệu sản xuất mà ông và C.Mác đã từng
nêu trong “Hệ tư tưởng Đức” rằng “thủ tiêu chế độ tư hữu” phải là kết quả tất
yếu của sự phát triển công nghiệp
Điều kiện xóa bỏ chế độ tư hữu hoàn toàn nằm trong quan hệ biện chứng sinh động giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất mà Ph.Ăngghen đã tổng kết đầy sức thuyết phục: “Bất cứ một sự cải biến nào về mặt quan hệ chiếm hữu cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những lực lượng sản xuất mới” [87, 504] Chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần và chỉ khi nào tạo nên được một khối lượng tư liệu sản xuất cho việc cải tạo đó thì khi ấy thủ tiêu được chế
độ tư hữu
Việc thủ tiêu chế độ tư hữu không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan thuần
túy của những người cộng sản, mà điều kiện cơ bản để thực hiện nhiệm vụ đó là
trình độ phát triển rất cao của lực lượng sản xuất, chừng nào “cho phép sản
xuất với một quy mô có thể không những đủ cung cấp cho mọi người mà còn thừa sản phẩm để tăng thêm tư bản xã hội và tiếp tục phát triển lực lượng sản xuất hơn nữa … đến mức khiến cho có thể sản xuất đủ sản phẩm cho mọi người,
Trang 18và khiến cho chế độ tư hữu trở thành xiềng xích ngăn cản sự phát triển của lực lượng sản xuất” [87, 504 ]
Và các ông cũng lưu ý “trong những nước khác nhau, những biện pháp ấy (biện pháp xóa bỏ chế độ tư hữu - tác giả) dĩ nhiên sẽ khác nhau rất nhiều Tức
là phải quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể khi thực hiện xóa bỏ chế độ tư hữu
chứ không nên giáo điều Cùng với việc thủ tiêu chế độ tư hữu thay cho xã hội
tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, xuất hiện một liên
hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện để phát triển tự do cho mọi người Đó chính là mục tiêu cao cả của những người cộng sản Chính
xuất phát và nhất quán với những quan điểm duy vật lịch sử ấy nên dù khẳng định chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ bị thay thế bằng chủ nghĩa cộng sản, nhưng C.Mác và Ph.Ăngghen vẫn luôn nhấn mạnh rằng cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa chỉ có thể nổ ra và giành được thắng lợi ở nơi nào mà chủ nghĩa tư bản đã đạt đến trình độ phát triển cao nhất của nó, cụ thể, vào thời ấy, theo Ph.Ăngghen, là các nước văn minh như Anh, Mỹ, Pháp Thậm chí “trong mỗi một nước đó, cách mạng cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển nhanh hay chậm, là tùy ở chỗ nước nào trong những nước đó có công nghiệp phát triển hơn, tích lũy được nhiều của cải hơn và có nhiều lực lượng sản xuất hơn Cho nên ở Đức, cách mạng cộng sản chủ nghĩa sẽ thực hiện chậm hơn và khó khăn hơn, còn ở Anh thì nhanh hơn và dễ dàng hơn” [90, 472 ]
Như vậy C.Mác và Ph.Ăngghen đã vượt qua các bậc tiền bối chủ nghĩa xã
hội không tưởng, đã sớm nhận thấy chủ nghĩa xã hội không phải chỉ là một lý
tưởng đạo đức tốt đẹp mà cuộc sống phải tuân theo, mà nó còn là kết quả tất yếu của sự vận động hiện thực, của sản xuất Giai cấp vô sản là giai cấp cách
mạng mà sứ mệnh lịch sử thế giới của nó là xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
Giá trị bền vững trong lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen về chủ nghĩa xã hội là ở chỗ, nó là khoa học chứ không phải là mộng tưởng, không tưởng, là cách mạng chứ không phải cải lương Lý luận khoa học này đã soi sáng con đường giải phóng giai cấp vô sản và toàn thể xã hội loài người, con đường đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản như một tất yếu lịch sử Con đường phủ
định biện chứng chủ nghĩa tư bản bằng cách mạng và phải là tiến trình lịch sử
lâu dài chứ không phải “một sớm một chiều”
Trang 19Qua nghiên cứu hàng loạt các tác phẩm kinh điển Mácxít, chúng ta càng
hiểu hơn công thức “xóa bỏ chế độ tư hữu” trong tác phẩm có tính chất cương
lĩnh của giai cấp vô sản-“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” không phải là “nông nổi, ảo tưởng” của thời hai ông còn “trẻ người, non dạ”, mà tư tưởng này là sự
nối tiếp logic của các tư tưởng mà các ông đã trình bày trước đó Hai mươi lăm
năm sau, rồi đến bốn mươi năm sau “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, trong hai lời tựa viết cho tái bản (bằng tiếng Đức 1872 và bằng tiếng Pháp 1888), các tác giả Tuyên ngôn vẫn một mực khẳng định rằng “… xét về đại thể, những nguyên
lý tổng quát trình bày trong Tuyên ngôn này vẫn còn hoàn toàn đúng dù rằng những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II”, nếu Tuyên ngôn được viết lại “thì về nhiều mặt cũng sẽ viết khác đi”, vì đại công nghiệp đã có những bước tiến hết sức lớn trong hai mươi năm qua
Từ toàn bộ vấn đề đã nêu trên , có thể rút ra kết luận rằng các tác giả kinh
điển C.Mác và Ph.Ăngghen không hề đề ra một con đường cụ thể, bất di, bất
dịch để xây dựng chủ nghĩa xã hội mà mọi người nhất nhất phải tuân theo ở mọi nơi mọi lúc Các ông không bao giờ xem học thuyết của mình là hoàn chỉnh và
đã xong xuôi hẳn Học thuyết ấy càng không phải là những tín điều, không phải
là “cẩm nang thần kỳ”, mà nó chỉ như những gợi ý về mặt phương pháp, là kim chỉ nam cho hành động sáng tạo cách mạng Nó không có sẵn và đầy đủ cho
mọi câu trả lời đối với mọi tình huống trong cuộc sống
Khi thực tiễn cách mạng phát triển vượt qua những kiến giải khoa học đã
có, làm cho một số luận điểm nào đó bị lạc hậu trước những đòi hỏi mới của phong trào cách mạng thì các ông đã kịp thời tự phê phán, đưa ra những giải thích và bổ sung mới
Chính các ông đã nghiêm túc thực hiện việc bổ sung vào lý luận của mình cho phù hợp với thực tiễn Với sự biến động của thực tiễn từ sau Công xã Paris, các ông đã 7 lần bổ sung cho các lời tựa của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
để tác phẩm này không mất đi sức sống và giá trị cách mạng của nó Vào năm cuối đời (1895), trước khi mất, Ph.Ăngghen đã tự đánh giá rằng, dự báo nêu ra tên đây không tránh khỏi sự giản đơn, rằng bản thân ông và cả C.Mác đều không
thấy “trạng thái phát triển kinh tế trên lục địa lúc bấy giờ còn rất lâu mới chín
muồi để xóa bỏ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”[94, 761] Sự điều chỉnh
trên không hề có tính chất từ bỏ những quan điểm, nguyên tắc cũng như lập
trường kiên định cách mạng của các ông về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội và
Trang 20thời kỳ quá độ, mà chỉ là sự điều chỉnh những vấn đề cụ thể về dự báo khả năng,
thời điểm và các vùng không gian bùng nổ cách mạng vô sản nhằm đi tới xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa
C.Mác, Ph.Ăngghen cũng dự báo trung tâm cách mạng sẽ chuyển sang
nước Nga và tập trung nghiên cứu tình hình kinh tế - xã hội ở Nga, chỉ rõ khả năng rút ngắn của bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa không phải là vấn đề riêng biệt, chỉ thuần túy đặc thù Nga vào cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX mà khả năng này bao quát một phạm vi lịch sử rộng lớn hơn
nhiều, nó được đặt ra đối với những nước có hoàn cảnh tương tự như nước Nga,
những nước mà kết cấu kinh tế kiểu công xã nông thôn đã từng có một quá trình phát triển khá bền vững đang còn tồn tại những tàn dư nặng nề của chế độ phong
kiến gia trưởng (các nước phương Đông) Phương Đông là khu vực có khả năng
thực hiện bước quá độ lịch sử này, nhưng không phải đơn độc, biệt lập mà phải
đặt trong mối liên hệ hỗ trợ, thúc đẩy không tách rời khỏi bước tiến của các phong trào cách mạng ở các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây (dưới sự giúp
đỡ của các nước này)
C.Mác, Ph.Ăngghen đặc biệt nhấn mạnh tới hàng loạt những điều kiện chi phối khả năng quá độ này Những điều kiện ấy mang nội dung vật chất khách quan và luôn vận động biến đổi Do vậy, việc vận dụng nó không thể cứng nhắc máy móc và giáo điều Tuy có những điều chỉnh như trên, song điều cốt lõi mà đến ngày “nhắm mắt xuôi tay” các ông không hề thay đổi, đó là : lịch sử loài
người tất yếu đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Cuộc cách mạng vô sản là con đường đi tới của tất cả các dân tộc, không có sự lựa chọn nào khác
Dự báo ấy đã được hiện thực hóa bằng cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga
và V.I.Lênin đã phát triển, đã thực hành sáng tạo luận thuyết khoa học về tính
tất yếu lịch sử của chủ nghĩa xã hội
1.1.2 Về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và vấn đề phát triển “rút ngắn”
* Dự báo của C.Mác, Ph.Ăngghen về vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản và vấn đề phát triển “rút ngắn”
Học thuyết hình thái kinh tế – xã hội là nền tảng lý luận cho sự luận chứng khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và dự báo về khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa Về khả năng phát triển “rút ngắn”, “bỏ qua”, C.Mác
Trang 21đã từng khẳng định đây là khả năng có thể và cũng đã xảy ra trong lịch sử phát triển xã hội khi luận chứng quá trình lịch sử - tự nhiên của các hình thái kinh tế -
xã hội Quá trình lịch sử - tự nhiên được mổ xẻ bằng những qui luật nội tại trong bản thân hình thái kinh tế - xã hội Sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội không phải do ý muốn của bất kỳ một lực lượng nào, mà do những qui luật khách quan trong nền sản xuất tác động, đó là qui luật về sự phù hợp của quan
hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phù hợp giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, qui luật về đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp… Chính sự vận động của những qui luật khách quan này đã dẫn đến sự chuyển hóa từ hình thái kinh tế – xã hội này sang hình thái kinh tế – xã hội khác
một cách tuần tự
Lịch sử nhân loại đã tuần tự trải qua các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp
đến cao như cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản và đang quá độ sang chủ nghĩa xã hội - giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản Tuy nhiên lịch sử cũng đã cho thấy ngoài sự phát triển tuần tự qua các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ , phong kiến, tư bản cộng sản chủ nghĩa, do những điều kiện địa lý, chính trị, lịch sử, văn hóa khác nhau, do những điều kiện khách quan lẫn chủ quan, bên ngoài lẫn bên trong chi phối nên không nhất thiết con đường phát triển của các quốc gia phải theo trình
tự giống nhau, mà vấn đề bỏ qua một hoặc vài hình thái kinh tế - xã hội vẫn là quá trình lịch sử - tự nhiên Lịch sử đã chứng thực điều này, ví dụ như do chịu ảnh hưởng của đế quốc La mã, nơi mà cùng với sự tan rã của phương thức sản xuất nô lệ đã hình thành những điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh chủ nghĩa phong kiến Nước Đức chuyển từ xã hội cộng sản nguyên thủy sang chế độ phong kiến bỏ qua chế độ chiếm hữu nô lệ Ở các dân tộc Slavơ cũng có điểm tương tự Các dân tộc Kadắctăng, Mông cổ, Ápganistăng, đa số những người dân châu Mỹ la tinh, các dân tộc du mục châu Phi đã bỏ qua giai đoạn phát triển
xã hội nô lệ Với sự tham gia trực tiếp của các nước tư bản chủ nghĩa chiến thắng, nhân dân Bắc Mỹ, Canada đã chuyển sang chủ nghĩa tư bản bỏ qua giai đoạn phát triển xã hội phong kiến Ở Úc, dưới sự thống trị của thực dân Anh đã
bỏ qua chế độ nô lệ và phong kiến, chuyển từ xã hội cộng sản nguyên thủy sang
chủ nghĩa tư bản Điều đó cho thấy việc bỏ qua một vài hình thái kinh tế - xã hội
đối với một số quốc gia dân tộc là một khả năng thực tế, được tạo nên do chính những qui luật chung nhất của sự vận động của lịch sử và đã có tiền lệ
Trang 22Từ thực tế lịch sử đó, C.Mác đã đề ra tư tưởng về khả năng “phát triển rút ngắn” và ông đã rút ra kết luận quan trọng: một xã hội ngay cả khi đã phát hiện được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó … cũng không thể nào nhảy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xóa bỏ những giai đoạn
đó Nhưng có thể rút ngắn và làm dịu bớt được những “cơn đau đẻ”
Ở đây C.Mác đã đồng thời nhấn mạnh tới quy luật khách quan chi phối sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội theo logic lịch sử - tự nhiên, vừa đặt vấn
đề về một khả năng rút ngắn sự phát triển ấy Tuy chỉ mới là mầm mống nhưng
tư tưởng này của C.Mác là gợi ý rất quan trọng trong việc nghiên cứu lý luận bỏ
qua chế độ tư bản, tiến lên chủ nghĩa xã hội mà V.I.Lênin nêu ra sau này…
Ngoài việc khẳng định quá trình lịch sử - tự nhiên của các hình thái kinh
tế - xã hội C.Mác – Ph.Ăngghen còn cho rằng sự chuyển biến từ xã hội nọ sang
xã hội kia phải có một thời kỳ chuyển tiếp, mà các ông gọi là thời kỳ quá độ Và thời kỳ quá độ đó càng tất yếu đối với sự thay đổi từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản (dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất) lên hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa (dựa trên sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất)
Về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Thời kỳ quá độ là thời kỳ chuyển
tiếp từ hình thái kinh tế - xã hội này chuyển sang một hình thái kinh tế – xã hội khác Đây là giai đoạn lịch sử đặc biệt với độ dài ngắn khác nhau tùy điều kiện lịch sử cụ thể
Sự chuyển hóa từ hình thái này lên hình thái khác của lịch sử là một quá trình thống nhất giữa tính liên tục và gián đoạn Trong mỗi nấc thang của quá trình phát triển tự nhiên của lịch sử có sự hình thành, phát triển đi lên và có sự suy tàn, vận động đi xuống Sự nối tiếp, liên tục giữa giai đoạn suy tàn của nấc
thang cũ và giai đoạn hình thành của nấc thang mới được thực hiện bằng mắt
khâu trung gian - đó là thời kỳ quá độ giữa các nấc thang phát triển Dấu hiệu
đặc trưng của xã hội ở thời kỳ quá độ là một hệ thống chưa ổn định, sự cùng tồn
tại đan xen của các nhân tố tiêu biểu cho cả cái mới và cái cũ
Các nhân tố xã hội cũ và mới vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau tạo thành những mâu thuẫn Trong thời kỳ quá độ, sự phát triển của những nhân tố những trật tự cũ còn cản trở sự ra đời của cái mới, đôi khi còn lấn át cái mới, đẩy cái mới vào tình trạng thụt lùi tạm thời, thậm chí phải làm đi làm lại nhiều lần V.I.Lênin cho rằng, đó là tình trạng có những mảnh vụn của trật tự cũ đôi khi chất
Trang 23đống lại một cách nhanh chóng, trong khi đó, những mầm mống của cái mới có khi lại phát triển chậm chạp và không phải bao giờ cũng thấy rõ ngay được
Những thời kỳ quá độ trước hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa có nhiều hình thức, độ dài và tính chất phức tạp của chúng cũng không
giống nhau
Công xã nông thôn là hình thức quá độ, là khâu trung gian chuyển tiếp từ
xã hội cộng sản nguyên thủy sang xã hội chiếm hữu nô lệ Đặc trưng của công
xã nông thôn là một hình thức tổ chức xã hội dựa trên nền tảng chế độ sở hữu
“hỗn hợp” về tư liệu sản xuất, vừa có yếu tố sở hữu cộng đồng (công xã), vừa có yếu tố sở hữu tư nhân thuộc về cá nhân các thành viên công xã Về bản chất đây
là hai kiểu sở hữu đối lập nhau, nhưng lại gắn bó với nhau một cách hữu cơ trong một chế độ kinh tế, trong đó chúng vừa kết hợp với nhau, vừa đấu tranh loại trừ nhau Trong “hình thức châu Á” hay “phương thức sản xuất châu Á”,
chế độ xã hội công xã nguyên thủy đã phải trải qua khâu trung gian là công xã
nông thôn và kinh tế điền trang thái ấp để trút bỏ những hình thức cuối cùng của
nó, thực hiện việc “bỏ qua” chế độ chiếm hữu nô lệ, tiến lên chế độ phong kiến
Những biến đổi của quan hệ kinh tế - xã hội diễn ra trong lòng chế độ
chiếm hữu nô lệ đã được thực hiện trong hình thức xã hội gọi là “điền trang thái
ấp” Đặc trưng của nó là vẫn duy trì chế độ chiếm hữu tư liệu sản xuất quy mô
lớn - kiểu chiếm hữu nô lệ; đồng thời, lại vừa thực hiện chế độ tư hữu tư liệu sản xuất nhỏ, manh mún; vừa áp dụng hình thức bóc lột trực tiếp qua lao dịch nông
nô, lại vừa áp dụng hình thức bóc lột gián tiếp qua địa tô và thuế khóa Rõ ràng
ở đây hình thức điền trang thái ấp vừa chứa đựng những yếu tố của phương
thức sản xuất chiếm hữu nô lệ, vừa có những yếu tố của phương thức sản xuất
phong kiến sẽ trở thành phương thức thống trị Về mặt xã hội, hình thức điền
trang thái ấp cũng tạo ra một giai cấp “trung gian” là giai cấp nông nô
Hình thức hiệp tác giản đơn ở buổi đầu của chủ nghĩa tư bản, được hình
thành do một số chủ xưởng mở rộng sản xuất, thuê nhân công, tổ chức lại sản xuất và phân công lao động tập thể theo hướng chuyên môn hóa sản xuất V.I.Lênin viết: Việc những người tiểu sản xuất hàng hóa lập ra những xưởng tương đối lớn, đánh dấu bước quá độ sang một hình thức cao hơn của công
nghiệp Nền sản xuất nhỏ phân tán đã sản sinh ra hiệp tác giản đơn tư bản chủ
nghĩa [68, 443] Trong hình thức kinh tế hiệp tác giản đơn, tính chất trung gian
quá độ được biểu hiện ở những đặc điểm: vừa có những yếu tố của nền sản xuất
Trang 24nhỏ phân tán, vừa có những yếu tố của nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa C.Mác cho rằng: đó chỉ là cái xưởng của những người thợ cả phường hội được
mở rộng ra mà thôi
Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội được C.Mác và
Ph.Ăngghen trình bày trong nhiều tác phẩm, đặc biệt trong tác phẩm “Phê phán
cương lĩnh Gô ta” Trên cơ sở tiếp tục và phát triển học thuyết Mácxít về nhà
nước trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, “Ngày 18 tháng sương
mù của Louis Bonapaste”, “Nội chiến ở Pháp” và tổng kết kinh nghiệm của các
cuộc cách mạng trước kia của toàn bộ phong trào công nhân quốc tế, đặc biệt từ
sự phê phán tính chất vô căn cứ, tiểu tư sản và hết sức phản động trong “Cương
lĩnh Gô-ta”, C.Mác đã đưa ra luận điểm hết sức quan trọng về thời kỳ quá độ từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản và hình thức nhà nước trong thời kỳ đó
C.Mác cho rằng: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa
là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời
kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì
khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản” [92, 47] C.Mác nói
đến một xã hội quá độ, xã hội này vừa có những yếu tố của xã hội tư bản, vừa có những yếu tố của xã hội cộng sản Xã hội này cũng có thể gọi là xã hội cộng sản được, nhưng “không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên
những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát
thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội, về mọi phương diện - kinh
tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng
ra” [92, 33] Như vậy theo C.Mác, xã hội quá độ bắt đầu từ khi giành chính
quyền đến khi kết thúc giai đoạn đầu, bước vào giai đoạn cao của xã hội cộng
sản, có nghĩa là giai đoạn đầu tức chủ nghĩa xã hội chính là thời kỳ quá độ (thời
kỳ quá độ theo nghĩa rộng)
Sau khi đọc đoạn văn trong Phê phán cương lĩnh Gôta của C Mác: “Đó
là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra, sau những cơn đau đẻ kéo dài” [92, 35-36] V.I.Lênin đã ghi chú ở lề: “vậy là: I “những cơn đau
đẻ kéo dài”; II “giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa”, III “giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa” Nhiều người cho rằng, theo cách ghi chú của V.I.Lênin thì I, II, III là ba giai đoạn của xã hội mới sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, trong đó “những cơn đau đẻ kéo dài” là “thời kỳ quá
Trang 25độ” (lên giai đoạn đầu của xã hội cộng sản) Cách phân kỳ ba giai đoạn của xã hội mới không phải là của C.Mác, vì theo C.Mác xã hội mới chỉ có hai giai đoạn, còn “những cơn đau đẻ kéo dài” nằm ngay trong xã hội tư bản Cách mạng thành công có nghĩa là “đứa trẻ” đã ra đời, và “cơn đau đẻ” đã kết thúc V.I.Lênin không chỉ nói đến “thời kỳ quá độ từ xã hội tư bản lên xã hội cộng sản giai đoạn cao”, mà còn nói đến “thời kỳ quá độ từ xã hội tư bản lên xã hội cộng sản giai đoạn đầu” tức “thời kỳ quá độ từ xã hội tư bản lên chủ nghĩa xã hội”
(thời kỳ quá độ theo nghĩa hẹp)
Theo C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin: xã hội cộng sản giai đoạn cao được
biểu thị bằng các từ ngữ: xã hội cộng sản đã phát triển, chủ nghĩa xã hội hoàn
chỉnh, chủ nghĩa xã hội dưới hình thức phát triển Xã hội cộng sản giai đoạn đầu
được biểu thị bằng các từ: chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội chưa hoàn chỉnh,
xã hội cộng sản vừa thoát thai từ xã hội tư bản
Thực hiện bước quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
là rất khó khăn, phức tạp Quá độ gián tiếp từ các nước chậm phát triển, xuất
phát điểm thấp lại càng khó khăn, phức tạp gấp vạn lần Chủ nghĩa xã hội phải là nấc thang cao hơn, ở trình độ phát triển tiên tiến hơn, đủ sức phủ định chủ nghĩa
tư bản, do đó không trải qua chủ nghĩa tư bản, bước quá độ lịch sử lên chủ nghĩa
xã hội sẽ kéo dài hơn, diễn ra quanh co phức tạp hơn nhiều, phải đi qua những
nấc khâu trung gian, áp dụng nhiều hình thức quá độ nhỏ, những giải pháp
trung gian quá độ, từng bước để chủ nghĩa xã hội trưởng thành dần dần cho đến khi đạt được trình độ phát triển điển hình cho phép chiến thắng chủ nghĩa tư bản trên tất cả mọi lĩnh vực
Khái niệm thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội sẽ
được hiểu đầy đủ hơn khi đi sâu phân tích những đặc điểm mang tính chất trung
gian của giai đoạn này Chủ nghĩa Mác cho rằng, thời kỳ quá độ là trạng thái của
xã hội đang “thoát thai” từ xã hội cũ, đang trong quá trình sinh nở một xã hội mới tiến bộ hơn xã hội cũ Đây cũng là thời kỳ mà chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại, song chưa bị tiêu diệt hẳn, chủ nghĩa xã hội đang hình thành, nhưng còn non yếu Cho nên trong kết cấu kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ còn có sự đan xen, thâm nhập vào nhau giữa những yếu tố, những đặc điểm của cả chủ nghĩa
tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực kinh tế (nền kinh tế nhiều thành phần với đa dạng hình thức sở hữu, với nhiều hình thức phân phối), chính trị (sự tồn tại của nhiều lực lượng, giai tầng trong xã hội có lợi ích khác nhau,
Trang 26thậm chí đối lập nhau…) và tư tưởng văn hóa (sự đan xen tồn tại của những tư tưởng, đạo đức, lối sống… mới và cũ)
Trong đó, những yếu tố của chủ nghĩa xã hội chỉ mới đóng vai trò định hướng, C.Mác, Ph.Ăngghen dự báo về khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội
không qua chủ nghĩa tư bản và kiên trì với lý luận này, nhưng các ông không
bao giờ đánh giá thấp địa vị và vai trò của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản
trong lịch sử Các ông cho rằng chủ nghĩa tư bản chừng nào chưa bị phủ định,
chưa bị một cái khác (chủ nghĩa cộng sản) thay thế, thì nó vẫn là một trình độ
phát triển tiên tiến, hiện đại tồn tại trong lịch sử, trước hết là trình độ phát triển
của nền sản xuất, của kỹ thuật và của tổ chức quản lý xã hội, Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng, không có chế độ nô lệ cổ đại Hy Lạp và La Mã thì không có chủ nghĩa tư bản hiện đại, mà không có chủ nghĩa tư bản hiện đại thì chủ nghĩa
xã hội cũng không có
Loại hình quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chủ nghĩa tư bản như
một khả năng được dự báo từ thời C.Mác và Ph.Ăngghen thông qua thực tế
nước Nga trong những năm 60-70 của thế kỷ XIX
Trong thư gửi Ban biên tập tờ “Ký sự nước nhà”, khi bàn về con đường phát triển của xã hội Nga, C.Mác viết: “Nếu nước Nga cứ tiếp tục đi theo con đường mà nó đã đeo đuổi (con đường phát triển của chủ nghĩa tư bản - tác giả)
từ năm 1861, thì nó sẽ bỏ lỡ mất một cơ hội tốt đẹp nhất (cơ hội tiến lên chủ nghĩa xã hội - tác giả nhấn mạnh) mà lịch sử đã từng dành cho một dân tộc nào
đó và nó sẽ chịu tất cả mọi tai họa khủng khiếp của chế độ tư bản” [92, 175 ]
Nghiên cứu về các xã hội phương Đông, nhất là công xã nông thôn Nga thế kỷ XIX, C.Mác đã cho thấy nước Nga là một nước ở vào trình độ phát triển thấp và lạc hậu hơn nhiều so với các nước tiên tiến ở châu Âu, là nước đi sau đến muộn so với các nước tư bản Anh, Pháp, Mỹ, nó là nước chỉ mới bước vào con đường tư bản Theo quy luật cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản, chắc chắn sẽ chồng chất lên nước Nga những hậu quả tai hại mà các nước tư bản Tây Âu đều phải trải qua Cuộc sống nặng nề của quần chúng nhân dân lao động, đặc biệt là giai cấp vô sản và nông dân Nga cần phải được giải phóng khỏi xiềng xích của Nga hoàng chuyên chế và các thế lực tư bản trong và ngoài nước
Con đường giải phóng để phát triển nước Nga có thể không cần thiết phát triển chủ nghĩa tư bản mà có thể vượt qua nó Có thể duy trì và lợi dụng hình
Trang 27thức sở hữu công xã, cách quản lý công xã để trong những điều kiện nhất định chuyển nước Nga lên chủ nghĩa xã hội
Điều này được thể hiện trong lời tựa xuất bản “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, bản tiếng Nga vào đầu năm 1882 Đây là lời tựa lần cuối cùng C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục nhấn mạnh rằng: “Bây giờ, thử hỏi công xã nông thôn Nga, cái hình thức đã bị phân giải ấy của chế độ công hữu ruộng đất nguyên thủy, có thể chuyển thẳng sang hình thức cao, chủ nghĩa cộng sản và sở hữu ruộng đất không, hay là trước hết, nó cũng phải trải qua quá trình tan rã như
nó đã trải qua trong tiến trình phát triển lịch sử của phương Tây ?” Ngày nay,
lời giải đáp duy nhất cho câu hỏi ấy là thế này: “Nếu cách mạng Nga là tín hiệu
của cuộc cách mạng vô sản ở phương Tây và nếu cả hai cuộc cách mạng ấy bổ sung cho nhau thì chế độ sở hữu công xã về ruộng đất ở Nga hiện nay có thể là điểm xuất phát của một sự tiến triển cộng sản chủ nghĩa” [92, 434]
Năm 1894 Ph.Ăngghen nói rõ về khả năng này: “Không những có thể mà còn chắc chắc là sau thắng lợi của giai cấp vô sản và sau việc xã hội hóa những
tư liệu sản xuất ở dân tộc châu Âu thì những nước vừa mới bước vào con đường sản xuất tư bản chủ nghĩa và vẫn còn có các chế độ thị tộc nguyên vẹn hoặc
những tàn dư của chế độ thị tộc, có thể sử dụng những tàn dư đó của sở hữu
chung và những tập quán nhân dân tương ứng làm công cụ mạnh mẽ rút ngắn một cách đáng kể quá trình phát triến của mình lên xã hội xã hội chủ nghĩa và
có thể tránh được phần lớn những đau khổ và những cuộc đấu tranh mà ở Tây
Âu chúng ta đã trải qua (tác giả nhấn mạnh )
Ph.Ăngghen còn trình bày chi tiết hơn điều kiện ấy: “Liệu sở hữu công xã
có thể dùng làm điểm xuất phát của một hoạt động dân tộc bỏ qua toàn bộ thời
kỳ tư bản chủ nghĩa để lập tức biến chủ nghĩa cộng sản nông dân Nga thành chế
độ sở hữu công cộng xã hội chủ nghĩa hiện đại về mọi tư liệu sản xuất … được hay không? Thắng lợi của giai cấp vô sản Tây Âu đối với giai cấp tư sản và gắn liền với điều đó, việc thay thế nền sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng nền sản xuất
do xã hội quản lý, đó là điều kiện tiên quyết tất yếu để nâng công xã Nga lên cùng một trình độ phát triển như vậy” [94, 628-630 ]
Khái quát điều đó, Ph.Ăngghen từ dự báo con đường phát triển xã hội chủ nghĩa đặc thù Nga đã đi đến tính phổ biến lựa chọn chủ nghĩa xã hội đối với tất
cả các nước đang ở trình độ phát triển tiền tư bản chủ nghĩa Ở đây lần đầu tiên
Ph.Ăngghen đưa ra khái niệm về con đường phát triển rút ngắn mà trước đó
Trang 28C.Mác mới chỉ nói tới “không qua chủ nghĩa tư bản” bằng cách nói gián tiếp
(chuyển thẳng sang hình thức cao - chủ nghĩa cộng sản …) mà thôi Nhưng một
điều kiện tất yếu để làm được việc đó, là “tấm gương và sự ủng hộ tích cực của phương Tây cho tới nay vẫn còn là tư bản chủ nghĩa Chỉ khi nào nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã bị đánh bại tại quê hương của nó và ở những nước nó đã phát đạt, chỉ khi nào những nước lạc hậu qua tấm gương ấy mà biết được rằng: Việc
đó đã được tiến hành như thế nào? Những lực lượng sản xuất công nghiệp hiện đại, với tư cách là sở hữu công cộng, đã được sử dụng như thế nào, đã phục vụ
toàn thể xã hội, thì những nước lạc hậu ấy mới có thể bước vào con đường phát
triển rút ngắn như vậy Như thế thắng lợi của những nước ấy sẽ được đảm bảo
Và điều đó không chỉ đúng với nước Nga, mà với tất cả các nước đang ở trong giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” [92, 632 ]
Như vậy, ngoài việc nêu lên con đường lịch sử - tự nhiên tuần tự qua tất
cả các hình thái trong sự phát triển của xã hội (ở đây là hình thức quá độ lịch sử
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đối với các nước tư bản chủ nghĩa Tây
Âu), C.Mác, Ph.Ăngghen còn dự đoán về con đường phát triển bỏ qua giai đoạn
tư bản chủ nghĩa của các nước tiền tư bản để tiến lên chủ nghĩa xã hội Khả
năng ấy, theo C.Mác và Ph.Ăngghen có thể bắt đầu từ nước Nga Nhưng phải có những điều kiện như sau:
Cách mạng Nga là tín hiệu của cuộc cách mạng vô sản ở phương Tây và hai cuộc cách mạng đó bổ sung cho nhau
Cách mạng vô sản đã giành được thắng lợi ở các nước phương Tây và tại các nước đó giai cấp vô sản đã thành công trong việc xã hội hóa những tư liệu sản xuất, đã sử dụng được những lực lượng sản xuất công nghiệp hiện đại, với tư cách là sở hữu công cộng, để phục vụ cho toàn xã hội và qua đó nêu tấm gương cho các nước tiền tư bản biết “việc đó đã được tiến hành như thế nào” Các nước
tiền tư bản phải nhận được sự giúp đỡ tích cực của giai cấp vô sản ở các nước
tiên tiến đã tiến hành thắng lợi cách mạng vô sản
1.2.QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC KIỂU MỚI – CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ GIÁN TIẾP LÊN CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI
1.2.1.Luận chứng của VI.Lênin về con đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội là sự nối tiếp logic dự báo của C.mác, Ph.Ănghen
Trang 29Sau khi C.Mác và Ph.Ăngghen mất, V.I.Lênin là người kế tục trực tiếp sự nghiệp của các ông Trên cơ sở những đổi thay của thời đại CNTB cạnh tranh chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, với sự phát triển không đều của chúng đã gợi
cho VI.Lênin có những phát triển lý luận mới từ những dự báo mà C.Mác,
Ph.Ănghen đã nêu ra Đó là dự báo cách mạng vô sản có thể thắng lợi ở một số
nước tư bản chủ nghĩa, thậm chí ở một nước có thể là nước tư bản trung bình
nhưng phải là mắt xích yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc (xuất phát từ thực tiễn lúc đó là chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền và tình thế phát triển không đều trong các nước tư bản và nước Nga trở thành một mắt xích yếu nhất)
Ngoài ra V.I.Lênin còn chỉ ra con đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa
xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa đối với những nước lạc hậu,
tiểu nông Trong báo cáo tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản, V.I.Lênin nhấn mạnh
rằng: “với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu
có thể tiến tới chế độ Xô-viết, và qua những những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”
Trong thời đại mình, V.I.Lênin đã bắt tay vào việc giải “bài toán” quá độ với những “dữ kiện” mới do điểm xuất phát đi lên chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ xã hội
mà ở đó, chủ nghĩa tư bản còn chưa phát triển, nền sản xuất nhỏ còn phổ biến Ở
những nước này, nhiệm vụ của thời kỳ quá độ không chỉ là cải tạo quan hệ kinh
tế - xã hội cũ, xác lập quan hệ kinh tế - xã hội mới, mà trước hết và chủ yếu là phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra những điều kiện vật chất cần thiết cho chủ nghĩa xã hội Cho nên, thời kỳ quá độ ở đây sẽ khó khăn, phức tạp, lâu dài hơn, phải đi bằng đường “vòng”, qua nhiều bước quá độ, nhiều nấc thang trung gian gián tiếp hơn, đặc biệt hơn kiểu quá độ trực tiếp Vì vậy, kết cấu kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ ở đây vừa mang đặc điểm của xã hội tư bản vừa mang đặc điểm của xã hội xã hội chủ nghĩa, đồng thời vừa mang đặc điểm của các xã hội
tiền tư bản Cho nên chẳng những thời kỳ quá độ sẽ lâu dài, phức tạp hơn, mà còn đòi hỏi phải tìm tòi, vận dụng rất đa dạng các hình thức trung gian để cải
tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới
Từ những kinh nghiệm không thành công khi áp dụng chính sách Cộng sản thời chiến vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, V.I.Lênin đã nhanh chóng và kiên quyết sửa chữa nó, chuyển sang chính sách Kinh tế mới
Trang 30(NEP) Chính sách Cộng sản thời chiến - thực chất đó là mô hình kinh tế xã hội theo quan niệm quá độ trực tiếp “chuyển thẳng” lên chủ nghĩa xã hội không cần qua khâu trung gian, các bước quá độ nào Chính sách đó chưa phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước Nga, một nước tư bản phát triển trung bình, với những tàn tích của chế độ nông nô gia trưởng còn tồn tại phổ biến
Với NEP, V.I.Lênin đã tập trung suy nghĩ tìm tòi cả một hệ thống quan điểm và giải pháp cho quá độ lên chủ nghĩa xã hội thích hợp với đặc điểm và hoàn cảnh lịch sử của các nước tiểu nông lạc hậu Tại Đại hội X Đảng Cộng sản Nga V.I.Lênin đã nhấn mạnh, hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa rằng bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội có thể có những hình thức khác nhau, tùy thuộc ở chỗ quan hệ đại tư bản đã chiếm ưu thế hay nền kinh tế nhỏ còn chiếm ưu thế trong nước
V.I.Lênin cũng đã phân biệt chính xác “quá độ trực tiếp” (ứng với sự phát triển tuần tự từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội) và “quá độ gián
tiếp” (thích hợp cho loại hình “phát triển rút ngắn” bỏ qua chủ nghĩa tư bản,
tiền tư bản lên chủ nghĩa xã hội) Và trong sự “phát triển tuần tự” cũng có thể
chứa đựng khả năng “rút ngắn” nào đó [tức là không nhất thiết phải trải qua
toàn bộ sự phát triển đầy đủ của chủ nghĩa tư bản rồi mới tiến lên chủ nghĩa xã
hội, đây là trường hợp quá độ gián tiếp tương đối (quá độ từ “đầu” tư bản),
nước Nga là một điển hình
Một hình thái khác của phát triển là “phát triển rút ngắn” không nằm trong
“phát triển tuần tự”, bỏ qua hình thái tư bản chủ nghĩa từ các quan hệ phong kiến, tiền tư bản, quá độ lên chủ nghĩa xã hội [“bỏ qua”, “không qua” chế độ tư
bản đây là trường hợp quá độ gián tiếp tuyệt đối (quá độ “tiền” tư bản) - đó là
trường hợp của Việt Nam và một số nước có điều kiện tương tự như Việt Nam]
Quá độ từ “đầu” chủ nghĩa tư bản là kiểu quá độ đối với những nước mà
ở đó đã xuất hiện những yếu tố kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, nhưng chủ nghĩa tư bản chưa giành được vị trí thống trị Những yếu tố này đan xen, phụ thuộc vào chế độ kinh tế đang giữ vị trí thống trị
Quá độ “tiền” tư bản chủ nghĩa là kiểu quá độ đối với những nước mà ở
đó các yếu tố kinh tế tư bản chủ nghĩa chưa xuất hiện Kết cấu kinh tế ở đây
là kết cấu kinh tế đan xen của nhiều loại hình xã hội khác nhau trước chủ nghĩa tư bản
Trang 31Xét về thời gian, kiểu quá độ gián tiếp với hai loại hình quá độ “đầu” và
“tiền” tư bản chủ nghĩa, dài hơn kiểu quá độ trực tiếp Vì ở đây, cách mạng phải
giải quyết cùng một lúc hai nhiệm vụ rất cơ bản: phát triển lực lượng sản xuất và cải tạo quan hệ sản xuất Song, do điều kiện quốc tế mới (thời đại hiện nay là thời đại quốc tế hóa rất cao lực lượng sản xuất, thời đại bùng nổ thông tin và
mở rộng giao lưu quốc tế…), nên độ dài trên càng có thể rút ngắn Như vậy ta
thấy các nước quá độ từ “đầu” hoặc từ “tiền” tư bản chủ nghĩa lên xã hội chủ nghĩa cùng một lúc chịu sự tác động ngược chiều của hai yếu tố: vừa phải kéo
dài lại vừa có thể rút ngắn; vừa phải đi những bước tuần tự, lại vừa có thể thực
hiện những bước nhảy vọt Đấy là một “nghịch lý”, một mâu thuẫn mà chúng
ta cần phân tích, để tìm ra những phương thức kết hợp, những loại hình và
bước đi phù hợp
Sự thành công của NEP thể hiện sự phát triển đầy tính sáng tạo của V.I.Lênin về lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện quá độ không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thích ứng không chỉ với tình hình nước Nga sau cách mạng Tháng Mười mà còn đối với các nước lạc hậu, tiền tư bản như Việt Nam và nhiều nước khác
Công lao của V.I.Lênin là ở chỗ đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận căn
bản nhất của con đường “phát triển rút ngắn”, của phương thức “quá độ gián
tiếp” lên chủ nghĩa xã hội mà trước đó C Mác và Ph.Ăngghen mới chỉ đưa ra những phác thảo có ý nghĩa dự báo
Lý luận đó lại được vận dụng có hiệu quả vào thực tiễn nước Nga trong buổi đầu sinh thành của chủ nghĩa xã hội, nó đã tạo ra sức sống mới cho chủ
nghĩa xã hội, khẳng định một xu thế phát triển tích cực đầy triển vọng của chủ
nghĩa xã hội, tạo niềm tin cho các nước kém phát triển đi theo quỹ đạo xã hội
chủ nghĩa
1.2.2.Chủ nghĩa tư bản nhà nước iểu c chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước) và CNTB hiện đại không thể là tương lai của loài người
* Nguồn gốc
Sự dung hợp giữa tổ chức độc quyền và nhà nước diễn ra trong chủ nghĩa
tư bản chỉ là sự phát triển tiếp tục những đặc trưng kinh tế cơ bản của chủ nghĩa
tư bản và là sự vận động của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa sang một giai đoạn phát triển cao hơn mà hình thức hoàn hảo của nó là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
Trang 32Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước xuất hiện trong lịch sử theo sự vận
động của qui luật tích tụ và tập trung tư bản, là biểu hiện của trình độ sản xuất
xã hội hóa trên thực tế cao độ, là hình thức mới của chế độ sở hữu tư bản chủ
nghĩa Dưới tác động của sự phát triển của lực lượng sản xuất, và xã hội hóa lực lượng sản xuất, quan hệ sở hữu tư bản tư nhân thuần túy không còn phù hợp, đòi hỏi có sự can thiệp, điều tiết của nhà nước tư sản Vì vậy sự hình thành chủ
nghĩa tư bản nhà nước là một yêu cầu khách quan của cả nhà nước và cả nhà tư
bản Trong lịch sử, khi trình độ xã hội hóa sản xuất chưa phát triển thì quan hệ
sở hữu tư bản chủ nghĩa mang hình thức tương ứng với trình độ đó Ví dụ, những nhà máy được ra đời từ cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII thì
hình thức sở hữu phù hợp là từng cá nhân sở hữu và quản lý chúng Nhưng trải
qua nhiều thập kỷ, cách tổ chức tư bản chủ nghĩa như vậy cũng đã tỏ ra không còn thích hợp nữa Sự cần thiết lúc này là phải có sự liên hệ lẫn nhau chặt chẽ hơn giữa các ngành và toàn bộ hệ thống tái sản xuất xã hội Một nhược điểm của
tư bản tự do cạnh tranh là nền kinh tế lên cơn sốt một cách định kỳ (hay khủng hoảng theo chu kỳ), sự phá sản của các xí nghiệp thường xảy ra… câu giải đáp
là phải tập trung hóa tư bản, hợp nhất các xí nghiệp cá thể thành các công ty cổ
phần Nhu cầu xuất hiện các công ty này cũng còn do sự cần thiết phải mở rộng
sản xuất, xây dựng đường sắt, phát triển ngành vận tải đường biển Để thực hiện những mục tiêu đó, hình thức cá thể của sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa tỏ ra
chưa đủ Thay thế nó là hình thức tập thể không phủ định hình thức cũ, nhưng
đã tạo khả năng thực hiện được bước chuyển nhanh chóng lên những công nghệ mới đối với thời kỳ đó và phát triển sản xuất
Cuộc khủng hoảng kéo dài vào những năm 70-90 của thế kỷ XIX, một lần
nữa lại để lộ ra các khuyết tật thuộc về bản chất của chủ nghĩa tư bản Công xã
Pa-ri năm 1871 nổ ra ở Pháp, có thể coi là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên của
giai cấp công nhân, mặc dù không thành, nhưng nó báo hiệu một giai đoạn mới, một tương quan mới của hai giai cấp: tư sản và vô sản Phong trào công nhân đã phát triển mạnh làm xuất hiện các Đảng chính trị của giai cấp vô sản, chủ nghĩa Mác đã lan rộng Để sống còn, chủ nghĩa tư bản đã tìm được cho mình một hình
Trang 33Mâu thuẫn giữa các tổ chức độc quyền của các cường quốc tư bản chủ nghĩa về
sự phân chia phạm vi ảnh hưởng trên thế giới là một nguyên nhân sâu xa dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc Với hình thức tổ chức độc quyền, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã có bước phát triển rất cao, đến lượt mình nền sản xuất này rất cần thị trường tiêu thụ ổn định
mà trước đây vẫn chưa có Điều đó đã được xác nhận qua tiến trình cuộc khủng hoảng lớn những năm 30 của thế kỷ XX Và lần này lối thoát lại được tìm ra
được thông qua việc nhà nước điều tiết sản xuất, quốc hữu hóa một loạt các
ngành, thành lập hệ thống bảo đảm xã hội
Nhưng đến những năm 70-80 của thế kỷ XX đã bắt đầu xuất hiện một cuộc khủng hoảng cơ cấu kéo dài Và một lần nữa, chủ nghĩa tư bản lại tìm ra những hình thức thích nghi mới, nhằm thoát ra khỏi những khó khăn kinh tế, lợi dụng được những công nghệ tiên tiến, theo chiều sâu trong phát triển kinh
tế Đó là quá trình xuyên quốc gia hóa sản xuất và tư bản.Trình độ xã hội hóa
sản xuất lúc này đã vượt ra ngoài phạm vi quốc gia và phát triển theo xu hướng quốc tế hóa
ch c
Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự liên kết giữa tổ chức kinh tế (hình thức “Liên minh giới chủ”) và tổ chức chính trị (hình thức
các Đảng phái chính trị) thành một cơ chế thống nhất qua nhà nước để chi phối
đường lối và điều khiển các chính sách kinh tế, chính trị của quốc gia
Để xâm nhập và chi phối hoạt động của Nhà nước tư sản, “Liên minh giới chủ” lập ra các “Ban tư vấn”, vạch ra các chiến lược và sách lược kinh tế của đất nước có lợi cho mình Chúng cấp kinh phí cho các Đảng phái chính trị hoạt động
và thông qua các Đảng phái chính trị đó đưa người của mình vào nắm các vị trí then chốt của nhà nước, đồng thời cũng thông qua các nhân vật chính trị “tay trong” này đưa ra những phúc trình để biểu quyết trong các hội nghị, nhờ đó mà các lợi ích của độc quyền được thể chế hóa thành luật pháp buộc các giai cấp khác và toàn xã hội phải tuân thủ Vai trò của các “Liên minh giới chủ” lớn đến
mức, dư luận thế giới gọi chúng là những chính phủ thực quyền đằng sau
các chính phủ
Đối với các nhân vật chính trị thì “hôm nay là bộ trưởng, ngày mai là chủ ngân hàng; hôm nay là chủ ngân hàng, ngày mai là bộ trưởng…” Điều đó cho thấy, sự kết hợp này không chỉ diễn ra một chiều, mà còn bao hàm cả quá trình
Trang 34xâm nhập ngược lại của các quan chức nhà nước tư sản vào sở hữu tư bản và chi phối bộ máy quản lý kinh tế của các tổ chức độc quyền Họ nắm giữ những vị trí trọng yếu của công ty dưới hình thức giám đốc, chủ tịch công ty danh dự nhằm đảm bảo cho công ty có được ưu thế trong các quan hệ kinh tế trong nước và quốc tế, từ đó hình thành hệ thống thiết chế kinh tế - xã hội, trong đó với tư cách
là nhà tư bản và tư cách là một quan chức nhà nước cai trị xã hội được dung hợp ngay trong bản thân một con người
Hơn nữa, sự dung hợp giữa nhà nước tư sản với các tổ chức độc quyền không chỉ diễn ra trong việc hình thành hệ thống thiết chế và thể chế thích ứng,
mà còn ở việc hình thành các chức năng tương hỗ trong toàn bộ nền kinh tế Vai
trò của nhà nước là điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế thị trường và cung cấp cơ sở
hạ tầng cứng và mềm cần thiết cho các tổ chức độc quyền hoạt động ổn định,
bình thường chứ không nhúng tay trực tiếp với tư cách nhà nước vào các hoạt động của các xí nghiệp độc quyền ở tầm vĩ mô Ngoài ra, Nhà nước tư sản còn
tạo ra thị trường rộng lớn của mình với dung lượng nhu cầu đủ các mặt hàng, từ
hàng tiêu dùng cho đến súng đạn để các tổ chức độc quyền khai thác; đồng thời Nhà nước tư sản còn là chỗ dựa vững chắc về tài chính khi các xí nghiệp độc quyền gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh Sự phối hợp các hoạt động
kinh tế giữa Nhà nước tư sản và các tổ chức độc quyền không chỉ làm giàu cho các tổ chức độc quyền, mà còn bảo tồn và thúc đẩy sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện phát triển nhanh chóng của khoa
học - công nghệ và sự mở rộng không ngừng của quá trình toàn cầu hóa
Từ đó cho thấy, đây thực sự là quá trình dung hợp giữa hai khối sức
mạnh: tổ chức độc quyền và bộ máy nhà nước, nhằm tạo thành một cơ chế thống nhất gắn bó cả lợi ích kinh tế lẫn chính trị và là sự thể hiện đặc điểm kinh
tế nổi bật của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn độc quyền
n
c quy n nhà n c, ch n toàn cầu hóa)
Hiện nay có nhiều quan niệm đánh giá khác nhau về xu hướng tiến triển
của chủ nghĩa tư bản hiện đại, tựu trung có hai trào lưu cơ bản
Trào lưu tư tưởng Mácxít: Cái chung của họ là đứng trên quan điểm hình
thái kinh tế - xã hội, đều thừa nhận vai trò mạnh mẽ của nhà nước và coi chủ
nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là một đặc trưng căn bản của chủ nghĩa tư bản hiện đại, thừa nhận nền kinh tế hỗn hợp ở những mức độ khác nhau nhưng
Trang 35cách giải thích thì không hoàn toàn giống nhau, họ cho rằng trong lòng chủ nghĩa tư bản hiện đại xuất hiện nhân tố cho xã hội sau chủ nghĩa tư bản, những nhân tố đang chín muồi không chỉ tạo những tiền đề vật chất, kỹ thuật, tổ chức
mà cả những tiền đề về nhiều mặt (kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng), trong
những lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội cho xã hội sau chủ nghĩa tư bản,
xã hội xã hội chủ nghĩa (hoặc cộng sản chủ nghĩa) Nhưng đề cập phạm vi xuất hiện của các nhân tố này không hoàn toàn giống nhau giữa các ý kiến
Trào lưu tư tưởng không phải Mácxít: cho rằng chủ nghĩa tư bản ngày nay
đã “cải biến” thành một thứ “chủ nghĩa tư bản mới nào đó” khác hẳn với chủ
nghĩa tư bản cũ hoặc một dạng “phi tư bản chủ nghĩa” và thậm chí “xã hội chủ nghĩa” Theo họ, xã hội phương Tây phát triển hiện nay một mặt có thể gọi là xã hội hậu công nghiệp, điện tử, siêu công nghiệp, hậu tư sản, technotronic, tiêu dùng đại chúng, hỗn hợp, nhà nước phúc lợi chung, làn sóng văn minh thứ ba, v.v… hoặc mặt khác cũng có thể gọi là chủ nghĩa xã hội dân chủ, chủ nghĩa xã hội tham dự, chủ nghĩa xã hội mới, chủ nghĩa xã hội thực dụng, v.v… (hay còn gọi là mô hình kinh tế thị trường Tây Âu và Nhật Bản)
Trong số đó có quan điểm đáng được chú ý, tiêu biểu là quan điểm của
Paul A.Samuelson chủ trương phát triển kinh tế hiện đại vào cả “hai bàn tay” là
cơ chế thị trường và nhà nước Ông cho rằng, nền kinh tế các nước tư bản chủ
nghĩa phát triển hiện nay là nền kinh tế “hỗn hợp” trong đó “bàn tay vô hình” (invisible hand) cùng “bàn tay hữu hình” (visible hand) đều đóng vai trò có ý
nghĩa quyết định, và “điều hành một nền kinh tế hiện đại nếu không có cả chính phủ lẫn thị trường thì cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay Tư tưởng này là
sự xích lại gần giữa tư tưởng Keynes chính thống và cổ điển mới
Ngoài ra còn có quan điểm của George Soros với lý thuyết “xã hội mở”
Xã hội mở luôn thấy sự không hoàn hảo của mình, tự để mở cho sự cải thiện Xã
hội mở được xây dựng theo cơ chế thị trường nhưng đây là thị trường không
hoàn hảo cho nên Soros đã phản bác việc cường điệu của giá trị của cơ chế thị
trường cũng như phản bác cả việc kiểm soát trên mọi hoạt động kinh tế của nền kinh tế kế hoạch Lý thuyết này không quá thiên về “bàn tay vô hình” hoặc “bàn
tay hữu hình” mà phải kết hợp hài hòa, “các nguyên tắc của xã hội mở thể hiện
qua hình thức một Nhà nước dân chủ với nền kinh tế thị trường” [137,155] Lý
thuyết này cũng thấy được sự không hoàn hảo của chủ nghĩa tư bản, và cho rằng chủ nghĩa tư bản cần phải cải thiện, cần phải cố gắng sửa chửa những
Trang 36nhược điểm trên phạm vi toàn cầu, nếu để tình trạng kinh tế diễn ra như hiện nay dưới sự sụp đổ của công ty tài chánh… có thể dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản thế giới
Sự thích nghi của chủ nghĩa tư bản hiện đại và xu hướng vận động của nó
Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã đi rất xa trong quá trình toàn cầu hoá sản xuất xã hội và nhất thể hoá kinh tế Sự điều tiết của tư bản tư nhân đối với các quá trình kinh tế quyện chặt với sự điều tiết của nhà nước tư sản thông qua công
cụ luật pháp - hành chính - kinh tế - xã hội hết sức đa dạng Một cơ chế siêu quốc gia đặc biệt, có chức năng điều tiết mâu thuẫn chính trị và kinh tế của chủ nghĩa tư bản, đã được thiết lập Mặc dù cơ chế này chưa hoàn chỉnh, nhưng nó cũng đã góp phần giải quyết một số trục trặc của chủ nghĩa tư bản Vì vậy, khi
đánh giá chủ nghĩa tư bản hiện đại, cần cân nhắc cả hai mặt Một mặt, đúng là những khuyết tật của nó, những mâu thuẫn của nó, vẫn chưa mất đi Nhưng mặt
khác, năng lực phát triển và tự cải tạo của nó, khả năng thích ứng của nó với
điều kiện mới, rõ ràng không nhỏ, chủ nghĩa tư bản đã điều chỉnh về nhiều mặt
+ Điều chỉnh về lực lượng sản xuất
Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã, đang thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất xã hội, trên cơ sở các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
hiện đại; từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức và toàn cầu hóa Đổi mới - sản xuất công nghệ cao tiên tiến trở thành loại hình đổi mới - sản xuất quan trọng
nhất, tiên tiến nhất thúc đẩy sự đổi mới - biến đổi của các ngành kinh tế và các lĩnh vực xã hội với độ đầu tư mạo hiểm cao: chính phủ và các công ty lớn cũng chấp nhận đầu tư mạo hiểm để có công nghệ mới Lao động tri thức (Knowledge worker) chiếm vị trí cơ bản và thúc đẩy biến đổi cơ cấu lao động Quá trình chuyển sang lao động tri thức cũng là quá trình giảm số lượng việc làm và làm đảo lộn cơ cấu lao động trong xã hội
Trong kinh tế tri thức, sản phẩm thông tin, tri thức là chính và không có trọng lượng do các đơn vị truyền tin cơ bản (bit) hợp thành Nền sản xuất hầu như không được định lượng bằng trọng lượng (kg, tấn), mà được đo bằng “bit” Tính khép kín quốc gia, khu vực chuyển sang mở ngỏ, toàn cầu hóa là cơ bản: công nghệ số (digital) dẫn đến tin hóa, mạng hóa “Ba hóa” (số hóa, tin hóa, mạng hóa), đã và đang dần dần xóa bỏ thành lũy thời gian và không gian và là nguyên nhân cơ bản dẫn đến toàn cầu hóa
+ Điều chỉnh về quan hệ sản xuất
Trang 37Về phương diện sở hữu, chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa hiện nay ở các
nước tư bản chủ nghĩa phát triển là chế độ sở hữu hỗn hợp tư bản chủ nghĩa
Những hình thái sở hữu hỗn hợp mới trong đó có sự hòa nhập giữa tư bản tư nhân cá thể, tư bản tư nhân tập thể (tư bản độc quyền), tư bản của chính người lao động làm thuê hoặc tư bản nhà nước… Những hình thái mới này thể hiện
trình độ xã hội hóa mới trong lĩnh vực sở hữu, là biểu hiện mới sự phát triển hơn nữa tính xã hội của tư bản cổ phần Sự hình thành sở hữu đa quốc gia,
xuyên quốc gia phù hợp với mức độ xã hội hóa sản xuất, đồng thời, chúng cũng thể hiện một cách cụ thể sự tự điều chỉnh trong lĩnh vực quan hệ kinh tế căn bản nhất của chủ nghĩa tư bản hiện đại tại các nước tư bản phát triển nhất, Đặc biệt
sở hữu tập thể của những người lao động tạo ra hình thái sở hữu mới có sự tham gia của lao động làm thuê là một trong những biện pháp hữu hiệu trong điều kiện nền sản xuất đã có những biến đổi chất lượng như đã xem xét ở trên
Những công ty mang hình thức sở hữu hỗn hợp tỏ ra có sức sống trong thực tế,
đứng vững được trong cạnh tranh, nhất là những công ty nhỏ và trung bình
+ Điều chỉnh về phương diện quản lý sản xuất kinh doanh
Thu hút người lao động vào quản lý là xu hướng hiện đại nhất trong chiến lược quản lý, đáp ứng nhu cầu khách quan của giai đoạn cách mạng hóa nền sản
xuất xã hội dựa trên thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật từ trên dưới 2 - 3 thập niên gần đây Quá trình này được thực hiện ở tất cả các cấp
độ, từ bộ phận đến phân xưởng, xí nghiệp và toàn công ty Chế độ “cộng quản” (cogestion), “tự quản” (autogestion) đã thay thế cho chế độ quản lý hành chính
khắt khe, vừa đáp ứng được nhu cầu động viên lao động vừa đáp ứng những
nhu cầu kinh tế - kỹ thuật của sản xuất kinh doanh Thực tế vận dụng kỹ thuật công nghệ mới cho thấy kết quả của lao động tùy thuộc vào cả một tập thể sản xuất từ cơ sở trở đi chứ không tùy thuộc vào năng suất cá biệt Những ê kíp tự quản phục vụ cho dây chuyền sản xuất, chịu trách nhiệm hoàn toàn số lượng và chất lượng sản phẩm phù hợp, sự liên tục và bảo trì bộ máy sản xuất chứng tỏ hiệu quả cao ở cấp thấp nhất, việc tổ chức lao động và phân bổ chức năng, chức việc thuộc thẩm quyền của ê kíp Ở cấp xí nghiệp và công ty có hội đồng sản xuất, các ủy ban tư vấn, ủy ban các giám đốc công nhân v.v
+ Điều chỉnh về phương diện phân phối lợi nhuận
Các nhà kinh doanh từ lâu đã xem sự tham dự của người lao động như một phương tiện duy trì bầu không khí xã hội hòa dịu trong công ty và một nhân
Trang 38tố nâng cao thành tựu kinh tế của công ty (mặc dù còn là thử nghiệm và còn hạn
chế) Tuy nhiên, kể từ những năm 80, hệ thống tham dự này đã dần dần chiếm
địa vị nổi bật như một phương tiện để sống sót trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và vì vậy nó được phổ biến ngày càng rộng rãi và dưới nhiều hình thức mới rất khác nhau Theo hệ thống này tiền lương, thu nhập lao động gồm hai bộ
phận Thứ nhất là tiền lương cơ bản được xác định trong quá trình xác định thang lương trong hợp đồng tập thể Thứ hai là phần còn lại được xác định
trong một hiệp nghị đặc biệt giữa ban quản trị và đại biểu những người làm thuê Ngoài thu nhập tiền lương, tiền công, còn thu nhập qua lợi tức cổ phần, phúc lợi xã hội
Sự tiến triển trên ba mặt của quan hệ kinh tế căn bản trong các nước tư bản phát triển nhất (sở hữu, quản lý và phân chia lợi nhuận), có thể nhận định
rằng sự tự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản ở những nước này đã làm xuất hiện
những chất lượng mới trong quan hệ căn bản này, địa vị của người lao động làm
thuê đang ngày càng thay đổi mạnh theo hướng giảm bớt không ngừng sự tách
rời của quần chúng lao động làm thuê khỏi nguồn lực sản xuất và nguồn lực của
chính bản thân mình trong quá trình sản xuất và hưởng thụ thành quả của nó
Quan hệ sản xuất ở các nước tư bản chủ nghĩa đã được xã hội hoá hơn
trước, vì thế, trong một chừng mực nhất định, có sự thích ứng hơn với sự phát
triển của lực lượng sản xuất Ngày nay, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản
xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đương nhiên là vẫn tồn tại và có những mặt gay gắt, nhưng ở mặt khác, mâu thuẫn đó không còn
những đường nét và ranh giới rõ ràng như trước Trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, nhà nước tư sản chiếm hữu và phân phối từ 30% - 60% thu nhập quốc dân
Đây không đơn thuần là sự chiếm hữu tư nhân nữa, mà phần nào đã mang
tính chất xã hội
+ Điều chỉnh về quan hệ giữa tư bản và lao động
Từ đầu thập niên 80 thế kỷ XX đến nay, sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hoá thúc đẩy chủ nghĩa tư bản hiện đại chuyển sang giai
đoạn độc quyền quốc tế (độc quyền xuyên quốc gia) Nó triệt để tận dụng ưu thế
về thực lực mọi mặt nhằm bành trướng thế lực trên quy mô toàn cầu với mục đích cố hữu là thu lợi nhuận độc quyền cao Thực tế cho thấy, bình quân tỷ suất chiếm đoạt lợi nhuận trong các nước tư bản phát triển là 300%, cá biệt có những nơi lên tới 700% - 800% Do đó về thực chất, "nhà nước phúc lợi", "chủ nghĩa
Trang 39tư bản nhân dân", "chủ nghĩa tư bản xã hội" không phải là biện pháp đổi mới
triệt để chất lượng cuộc sống người lao động, xoá bỏ nghèo khổ, mà là để duy trì
sự nghèo khổ trong trật tự
Chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá được coi là giai đoạn mới của chủ nghĩa tư
bản độc quyền quốc tế, nó có những cách thức tồn tại và hình thức thống trị mới nhưng không thay đổi về bản chất Tính chất phức tạp và gay gắt của đấu tranh
giai cấp trong xã hội tư bản đương đại có nhiều nét mới, nhưng trọng tâm vẫn xoay quanh mối quan hệ giữa lao động làm thuê và giới chủ tư bản Tận dụng được cuộc cách mạng khoa học và công nghệ và do những nguyên nhân khác nữa, chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá giải quyết được một số vấn đề nhất định về việc làm và thu nhập cho người lao động Thế nhưng, cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính toàn cầu hiện nay cho thấy rõ: việc bảo đảm cho người lao động có công ăn việc làm ổn định, yên tâm đối với cuộc sống tương lai theo thân phận người lao động của mình thì chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá không thể làm được
Nỗi lo lắng cho ngày mai trở thành nỗi lo lắng thường trực hơn, không chỉ đối với người lao động chân tay, mà cả đối với người lao động trí óc Điều đó có
liên quan đến đặc điểm của khủng hoảng kinh tế, cái tất yếu kinh tế của chủ nghĩa tư bản
+ Điều chỉnh hình thức và phạm vi thống trị của nó
Khi xem xét chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá, người ta quan tâm nhiều tới mối quan hệ của nó đối với các nước đang phát triển Ngày nay, hầu như không
còn sự độc chiếm và bóc lột siêu kinh tế ở thuộc địa kiểu như trước đây Mặc dù
chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá không có hệ thống thuộc địa, nhưng vẫn có chủ nghĩa thực dân của nó Cuộc đấu tranh cho những lợi ích sống còn của các dân tộc đang phát triển chỉ di chuyển nội dung, thay đổi hình thức chứ không mất đi
Trước đây, nội dung chủ yếu của cuộc đấu tranh là chính trị và quân sự để giành độc lập dân tộc, thì ngày nay là kinh tế, chính trị, văn hoá để đi tới chấm dứt sự
áp bức bóc lột về kinh tế, để giữ vững nền độc lập trong xu thế toàn cầu hoá,
đấu tranh vì một sự bình đẳng, hợp tác phát triển lâu dài và bền vững, vì một
toàn cầu hoá nhân bản hơn và cho đại đa số nhân dân lao động Chủ nghĩa tư
bản độc quyền xuyên quốc gia phải thích nghi bằng cách tổ chức ra các thị
trường khu vực, thị trường thế giới, các quỹ tiền tệ quốc tế, ngân hàng thế giới
để giải quyết các mối quan hệ kinh tế và nhất là để thao túng thị trường thế giới
Sự ra đời của những tổ chức này có đưa lại thời cơ phát triển kinh tế cho các
Trang 40nước kém phát triển, nhưng mục đích chính của nó là để tạo ra môi trường thuận
lợi cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, hay nói cách khác, để chủ nghĩa tư
bản chi phối nền kinh tế thế giới Đó cũng chính là bản chất của thị trường thế giới Chủ nghĩa tư bản độc quyền tìm cách thích nghi để vừa thao túng thị
trường thế giới, vừa thực hiện âm mưu gây ảnh hưởng về chính trị đối với các nước Hiện nay chúng chuyển sang dùng sức mạnh về tiền vốn, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý và thị trường làm công cụ, cùng với các thủ đoạn
chính trị, ngoại giao, văn hóa, tư tưởng để thực hiện "diễn biến hòa bình",
"giành thắng lợi không cần chiến tranh" hay còn được gọi là "một thứ chiến tranh không có khói súng" hoặc còn gọi là “quyền lực mềm”
Lý thuyết “quyền lực mềm” (sức mạnh mềm) của Francis Fukuyama cho
rằng ngày nay chủ nghĩa xã hội đã kết thúc, chủ nghĩa tư bản tồn tại mãi mãi, không có nước nào địch nổi với Mỹ về sức mạnh mềm, nhưng nó vẫn còn những
điểm chưa hoàn hảo Quyền lực mềm là quyền lực về kinh tế, văn hóa xã hội… là
khả năng để có được những gì mình muốn thông qua thu hút hơn là cưỡng chế
Điều này thực hiện được nhờ sức mạnh của khoa học công nghệ, công nghệ thông tin hiện đại Nó là mục tiêu chính trong chính sách đối ngoại của Mỹ để
áp đặt mục tiêu, chính sách của Mỹ lên các quốc gia khác mà không tốn kém chi phí (con người, thiết bị, đạn dược, thù oán…) tuy nhiên với bản chất lợi nhuận
tối đa Mỹ vẫn không từ bỏ sử dụng quyền lực cứng thông qua những cuộc chiến tranh ở A ganistan, ở Iraq, ở các nước Bắc Phi Trong mối quan hệ giữa các
nước tư bản phát triển với nhau, những mâu thuẫn nổi lên cũng không kém phần
phức tạp, gay gắt sau khi trật tự thế giới hai cực chấm dứt Tuy nhiên, hình thức đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn đã có nhiều thay đổi, chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, khoa học và công nghệ, thương mại và đầu tư Điều này làm xuất hiện ảo tưởng về một chủ nghĩa tư bản hoà bình, có thể đem lại cho nhân
loại ổn định, hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá Tác phẩm “Thế
giới phằng” của Thomas Friedman đã mô tả một thế giới mà với sự tiến bộ vượt
bậc của “cách mạng số” đã dỡ bỏ những rào cản địa lý làm cho thế giới phẳng
ra, thế giới chuyển từ cở nhỏ xuống siêu nhỏ và đồng thời được san phẳng
Trong thế giới đó con người sống sung túc, giàu có Đồng thời ông cũng thấy được đằng sau thế giới phẳng còn có một thế giới không phẳng - thế giới của những nước nghèo đói kém phát triển Tuy không đề cập cụ thể đến thế giới này, nhưng qua đó bức tranh về hai gam màu sáng tối khác nhau trên thế giới đã