1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010

224 398 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 7,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa CNH - HĐH, huyện C

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Huyện Củ Chi là địa bàn cửa ngõ ở phía tây bắc thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích tự nhiên 43.496,59 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 76,06% và tổng số dân là 302.662 người (năm 2005)

Những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH), huyện Củ Chi đã tích cực xây dựng các công trình thủy lợi, đường giao thông, đưa điện đến tận các xã vùng sâu, vùng xa và thực hiện nhiều chương trình phát triển văn hóa - xã hội ở nông thôn, đã làm cho bộ mặt nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực: giá trị tổng sản lượng nông nghiệp không ngừng gia tăng, nhiều khu công nghiệp - cụm công nghiệp - thương mại - dich vụ và khu dân cư mới được hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế nông thôn có sự chuyển dịch từ các hộ thuần nông sang các hộ kiêm nghiệp

Tuy nhiên, trong tiến trình CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn, huyện Củ Chi đang có những vấn đề bức thiết cần giải quyết, đó là:

o Sản xuất nông nghiệp vẫn đang ở trình độ thấp, quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, chất lượng nông sản kém khó tiêu thụ ở trong nước và khó cạnh tranh ở nước ngoài, dẫn đến hiệu quả sản xuất kém, thu nhập thấp và đời sống của cư dân nông thôn còn nhiều khó khăn

o Đất canh tác ngày càng bị thoái hóa, bạc màu, tuy năng suất cây trồng có tăng lên chút ít

o Môi trường tự nhiên nhất là môi trường nước có nơi, có lúc bị ô nhiễm và mức độ ô nhiễm có xu hướng gia tăng

o Ngành nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế, nhưng lại đang đứng trước nguy cơ thiếu lực lượng lao động nông nghiệp trẻ kế thừa

o Một số diện tích ruộng đất bị bỏ hoang vì canh tác không hiệu quả đang làm cho một bộ phận hộ nông dân gặp nhiều khó khăn trong đời sống

o Huyện đang xây dựng mô hình phát triển nông thôn cấp xã từ xã có cơ cấu kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp

Trang 2

Đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh, từ năm 2001 - 2010” nhằm đề xuất những giải pháp chính góp phần giải quyết một số vấn đề nêu trên, cụ thể: khai thác và bảo vệ đất trồng, hạn chế tình trạng bỏ đất hoang, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, bảo vệ môi trường, nâng cao thu nhập của các nông hộ, chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn Nội dung của các giải pháp đều nhằm góp phần đưa ngành nông nghiệp huyện Củ Chi phát triển bền vững trong những năm tới

2 Ý NGHĨA THỰC TIỄN VÀ TÍNH KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

2.1 Ý nghĩa thực tiễn

“Phát triển bền vững nông nghiệp và công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) nông thôn” là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta1 Cho đến nay, tuy có nhiều công trình nghiên cứu khoa học (NCKH) vấn đề này, nhưng các công trình NCKH chưa tập trung vào hệ thống một cách đầy đủ các lý thuyết kinh tế liên quan đến phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH-HĐH, nhất là trên địa bàn ngoại thành của một

thành phố lớn Do vậy, theo tác giả, nội dung nghiên cứu của luận án đáp

ứng được yêu cầu cả về lý thuyết và thực tiễn cho tiến trình phát triển bền

vững nông nghiệp và nông thôn, không riêng huyện Củ Chi mà cho cả các huyện ngoại thành TP.HCM

2.2 Tính khoa học

Tính khoa học của luận án được thể hiện trên nhiều mặt:

 Về cấu trúc nội dung bao gồm: Lý thuyết, kinh nghiệm thế giới, hệ thống thước đo, đánh giá thực trạng, hệ thống giải pháp

 Các giải pháp và kiến nghị cho từng vấn đề ở chương 3 đều được đề cập đến ở chương 1 hoặc chương 2

 Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích định tính, định lượng, quan sát, điều tra thực tế, phân tích thống kê, xây dựng 25 bản đồ,

sơ đồ, biểu đồ và 41 ảnh minh họa, 40 bảng số liệu

Nhìn chung, luận án nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn huyện Củ Chi và đảm bảo tính khoa học trong nghiên cứu

1 Hội nghị lần thứ 5 BCHTW Đảng (Khóa IX), tháng 3/2002, đã khẳng định CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình CNH, HĐH đất nước

Trang 3

3 ĐĨNG GĨP CỦA LUẬN ÁN

Đĩng gĩp quan trọng nhất của luận án là hệ thống các giải pháp phát triển nơng nghiệp bền vững Đĩng gĩp này cĩ thể là tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng, khơng chỉ ở huyện Củ Chi mà cịn cho các huyện khác cĩ điều kiện tự nhiên tương tự, trong việc xây dựng quy hoạch phát triển nong nghiệp hoặc đề ra các chiến lược, chủ trương trong phát triển kinh tế nĩi chung và nơng nghiệp nĩi riêng Cịn là tài liêu tham khảo cho các sinh viên làm luận văn tốt nghiệp thuộc các bộ mơn kinh tế nơng gnhiệp hoặc bộ mơn kinh tế và phát triển vùng trong các trường đại học Cĩ thể coi đây là mục tiêu chính của luận án

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Không gian

Củ Chi là huyện ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh

4.2 Thời gian

Luận án được viết dựa vào các số liệu từ 2001 - 2005 và 2006, 2007

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Phương pháp chung

5.1.1 Thu thập tài liệu Thu thập các tài liệu có liên quan đến phát triển nông nghiệp và nông thôn từ các Phòng, ban của huyện Củ Chi, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, các đề tài NCKH, các sách, báo trong và ngoài nước

5.1.2 Nghiên cứu thực địa Trong nghiên cứu thực địa, hai phương pháp chính được thực hiện: phỏng vấn cá nhân và tập thể, và điều tra bằng phiếu câu hỏi soạn sẵn cho đơn vị nông hộ

5.1.3 Xử lý thông tin - viết luận án

5.2 Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu

5.2.1 Điều tra Điều tra thực tế về thu nhập của một số hộ thuần nông và hộ kiêm nghiệp ở nhiều xã trên địa bàn huyện Củ Chi Điều tra bằng phiếu câu hỏi về mức sống của 132 nông hộ (Bảng 22) và điều tra về trình độ học vấn, trình độ CMKT của 140 lao động thường trú tại huyện Củ Chi (Bảng 23)

5.2.2 Phỏng vấn Phương pháp phỏng vấn được thực hiện trên các đối tượng: cán bộ thuộc Hội Nông dân huyện, các cán bộ phụ trách ở các phòng, ban: Nông

Trang 4

nghiệp & phát triển nông thôn, Tài nguyên & môi trường, Xóa đói giảm nghèo, Lao động - thương binh - xã hội… Trong khi đi thực địa, chúng tôi thực hiện nhiều cuộc quan sát về sinh thái nhân văn, môi trường, các điểm và vùng quy hoạch đã và đang được triển khai, các công trình thủy lợi và giao thông nông thôn…

5.2.3 Trao đổi với cấp lãnh đạo Huyện Trao đổi, thảo luận, phân tích một số vấn đề về phát triển nông nghiệp và nông thôn Từ đó đề xuất các giải pháp mang tính khả thi

5.2.4 Phân tích mẫu đất, mẫu nước Phân tích một số mẫu đất, mẫu nước ở một vài nơi vào các thời điểm khác nhau, để xác định tính chất của đất, mức độ ô nhiễm nguồn nước

5.2.5 Phân tích vấn đề Dùng phương pháp phân tích LOGFRAMES, PSR để xác định mục tiêu, giải pháp bảo vệ môi trường huyện Củ Chi và TP Hồ Chí Minh

5.2.6 Ứng dụng viễn thám (giải đoán ảnh vệ tinh Landsat TM) và kỹ thuật thông tin địa lý (Gis) xây dựng bản đồ: hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Củ Chi năm 2004

5.3 Xây dựng khung phân tích nội dung của luận án

Phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn huyện Củ Chi dựa trên các cơ sở sau:

5.3.1 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững nông nghiệp

o Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường tự nhiên

o Tăng trưởng nông nghiệp và sự nghèo đói ở nông thôn

o Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường con người ở nông thôn

5.3.2 Mô hình lý thuyết về tăng trưởng và phát triển nông nghiệp

o Mô hình các giai đoạn tăng trưởng và phát triển nông nghiệp (Todaro, S.S Park)

o Mô hình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

o Mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Chenery)

Trang 5

5.3.3 Hệ thống thước đo đánh giá phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn

o Chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng vốn trong nông nghiệp

o Chỉ tiêu đánh giá việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp

o Chỉ tiêu đánh giá sự nghèo đói ở nông thôn

o Chỉ tiêu đánh giá ô nhiễm môi trường nông thôn

6 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CỦA LUẬN ÁN:

Là giảng viên đại học từ năm 1973-2005, tác giả đảm nhận giảng dạy các môn: Địa lý nông nghiệp, Địa lý Việt Nam, Địa lý Đông Nam Á, Địa lý Đông Bắc Á, Địa lý Úc châu; đã xuất bản bốn quyển sách để làm giáo trình dạy học, và thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Hơn nữa tác giả đã thực hiện đề tài thạc sĩ “Lược khảo địa phương, địa lý nông thôn tỉnh Hậu Nghĩa “ năm 1972, và báo cáo chuyên đề năm thứ nhất tiến sĩ chuyên khoa địa lý học “Phát triển nông nghiệp quận Củ Chi” năm 1974

Trên cơ sở đó, tác giả đăng ký tên đề tài luận án tiến sĩ năm học

2004-2007

Qua tham khảo các sách và các bài báo đăng trong các tạp chí về phát triển nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam và một số nước trên thế giới, tác giả nhận thấy các nước đều hướng đến mục tiêu phát triển bền vững Tuy nhiên cho đến năm 2008, tác giả chưa được đọc các công trình nghiên cứu khoa học về phát triển nông nghiệp bền vững một huyện ngoại thành của một thành phố lớn

Tác giả thực hiện đề tài luận án trên cơ sở kế thừa, tổng hợp các kết quả nghiên cứu về phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn của bản thân mình

Trang 6

7 NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu và kết luận - kiến nghị, luận án gồm 3 chương

Chương 1.Tổng quan cơ sở lý luận về phát triển bền vững nông

nghiệp và kinh nghiệm công nghiệp hóa và phát triển nông nghiệp bền vững của một số nước và vùng lãnh thổ châu Á

Chương 2 Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững và

phát triển nông thôn huyện Củ Chi giai đoạn 2001 - 2005

Chương 3 Hệ thống các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp

và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa huyện Củ Chi

Trang 7

TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP VÀ KINH NGHIỆM CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ CHÂU AÙ.

1.1 MÔ HÌNH LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG

1.1.1 Sự khác nhau về định nghĩa

Trong hai thập niên 1980, 1990, định nghĩa về nông nghiệp bền vững đã được hình thành rất khác nhau

1.1.1.1 Các định nghĩa về nông nghiệp bền vững trong thập niên 1980

 Douglas G.K phân thành 3 nhóm khác nhau về định nghĩa

- Nhóm thứ nhất : Nông nghiệp bền vững được nhấn mạnh vào khía cạnh kinh tế kỹ thuật

Năng suất lao động tăng và duy trì trong lâu dài là bằng chứng cho sự tăng trửơng của nông nghiệp theo con đường bền vững

vào khía cạnh sinh thái

Một hệ thống nông nghiệp mà làm suy yếu, ô nhiễm, phá vỡ cân bằng sinh thái của hệ thống tự nhiên một cách không cần thiết thì hệ thống đó không bền vững

cạnh con người

Một hệ thống nông nghiệp mà không cải thiện được trình độ giáo dục, sức khoẻ và dinh dưỡng của người dân nông thôn thì hệ thống đó không được xem là bền vững

 Ủy Ban Tư vấn kỹ thuật của Liên Hiệp Quốc ( Technical Advisory Committee – TAC, 1989) nhấn mạnh rằng, mục tiêu của nông nghiệp bền vững nên là duy trì sản xuất nông nghiệp ở trình độ cần thiết, đáp ứng nhu cầu gia tăng của việc mở rộng về dân số thế giới mà không làm suy thoái môi trường

Trang 8

 Pearce và Turner (1990) cho rằng, sự phát triển nông nghiệp bền vững được định nghĩa như là phát huy tối đa lợi ích của phát triển kinh tế trên cơ sở ràng buộc việc duy trì chất lượng của nguồn lực tự nhiên theo thời gian và tuân thủ các qui luật sau:

a) Đối với những tài nguyên có thể tái sinh (rừng, đất, lao động), việc sử dụng chúng phải đảm bảo ở mức thấp hơn khả năng tái sinh tự nhiên của chúng;

b) Đối với tài nguyên không tái sinh (máy móc, vật tư nông nghiệp), việc phát huy tối đa hiệu quả sử dụng chúng phụ thuộc vào khả năng thay thế các nguồn lực này (ví dụ: sử dụng phân bón để tăng sản lượng thay thế cho việc tăng sản lượng dựa vào tăng diện tích và tiến bộ kỹ thuật)

1.1.1.3 Các định nghĩa về phát triển bền vững của Ngân

hàng Phát triển châu Á (ADB, 1991) và Tổ chức Lương Nông thế giới (FAO)

o Định nghĩa về phát triển bền vững của ADB

Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB, 1991), trên thế giới nói chung có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm phát triển bền vững, tuy nhiên định nghĩa sau đây tương đối được nhiều người ủng hộ nhất:

“Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép một quá trình sản xuất và bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu các thế hệ tương lai” (Sustainable development is a new form of development which intergrates the production process with resource conservation and environmental enhancement It should meet the needs of the present without compromising our ability to meet those of the future (Brundland in ADB, 1991)

Như vậy, phát triển bền vững có mục tiêu rõ ràng:

Trang 9

o Định nghĩa về phát triển nông nghiệp bền vững của FAO:

FAO, 1989 đã định nghĩa về nông nghiệp bền vững như sau 1:

“Phát triển bền vững là việc quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên: định hướng những thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức sao cho đạt đến sự thỏa mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người của những thế hệ hôm nay và mai sau Sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản) chính là sự bảo tồn đất, nước và các nguồn gen động và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội.”

Do đó, các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững theo FAO là :

 Thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về số lượng và chất lượng và nhiều sản phẩm nông nghiệp khác

 Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống cho những người trực tiếp làm nông nghiệp

 Duy trì và chỗ nào có thể, tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được, không phá vỡ bản sắc văn hóa - xã hội của các cộng đồng sống

ở nông thôn, hoặc không gây ô nhiễm môi trường

 Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nhân dân

Qua các định nghĩa trên, cho thấy chưa có sự đồng nhất về định nghĩa của nông nghiệp bền vững giữa các nhà kinh tế học Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế học đều nhìn nhận rằng, phát triển nông nghiệp bền vững là một mô hình phát triển mà trong đó có sự ràng buộc giữa tăng trưởng nông nghiệp với môi trường tự nhiên, sự nghèo đói và môi trường con người ở nông thôn Do đó, để nắm được bản chất của phát triển nông nghiệp bền vững, chúng ta cần xem xét đến mối quan hệ ràng buộc này

1 Lê Văn Khoa (Chủ biên) – Nguyễn Đức Lương – Nguyễn Thế Truyền, 1999, Nông nghiệp và Môi trường, NXB Giáo Dục, tr.63

Trang 10

1.1.2 Các mối quan hệ ràng buộc

1.1.2.1 Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường tự nhiên

- Theo Haen (1991), tất cả các dạng, hình thức của sản xuất nông

nghiệp đều liên quan đến sự biến đổi của một hệ sinh thái

- Tình trạng suy thoái đất nông nghiệp và nguồn nước chủ yếu do sự phá huỷ một cách trầm trọng đối với diện tích rừng (10 – 17 triệu ha rừng bị phá hàng năm) và kém chất lượng của các công trình thuỷ lợi Sự phát triển nông nghiệp không phải chỉ bằng cách mở rộng diện tích để tăng sản lượng, mà còn là tăng sản lượng từ việc thâm canh trên một diện tích đang sử dụng và tăng vụ đối với diện tích được tưới chủ động Theo dự báo của FAO, trong những thập niên tới, 80% tổng sản lượng nông sản sẽ được tưới tiêu chủ động Do đó, vấn đề cốt lõi của sự mất cân bằng sinh thái không phải là

do tốc độ phát triển nông nghiệp mà là do phương thức thực hiện sự tăng trưởng

- Việc sử dụng đúng liều lượng, chủng loại của các loại thuốc trừ sâu, và đầu tư phát triển hệ thống thuỷ lợi đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng có thể ngăn chặn tình trạng nhiễm mặn và nhiễm độc nguồn nước Khôi phục và bảo vệ rừng sẽ hạn chế tình trạng lũ lụt Do yêu cầu ngày càng cao về lương thực, nguyên liệu và xuất khẩu đối với tiến trình công nghiệp hoá và nâng cao thu nhập cho nông dân, tăng trưởng nông nghiệp nhanh và ổn định là cần thiết Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh hơn không có nghĩa là hủy hoại môi trường sinh thái hơn Từ mối quan hệ này cho thấy rằng mô hình phát triển nông nghiệp bền vững là mô hình sử dụng các phương thức sản xuất tiến bộ để thực hiện tăng trưởng nông nghiệp

nhưng không làm suy thoái cân bằng sinh thái của môi trường tự nhiên

Biểu hiện của nông nghiệp bền vững trên khía cạnh này có thể đánh giá qua các chỉ tiêu sau:

o Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của nông nghiệp ổn định và

tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng dân số

o Năng suất đất và lao động theo thời gian

o Diện tích rừng bị phá và được khôi phục

o Độ màu mỡ của đất nông nghiệp đang sử dụng, độ nhiễm mặn của

đất

o Tỷ lệ diện tích đất được tưới tiêu chủ động và chất lượng nguồn nước

Trang 11

1.1.2.2 Tăng trưởng nông nghiệp và sự nghèo đói ở nông thôn

- Rao C.H.H và Choprak (1991) đề cập đến mối quan hệ giữa tăng

trưởng nông nghiệp - suy thoái môi trường - nghèo đói ở nông thôn như sau:

Trong quá trình tăng trưởng nông nghiệp, hai phương thức được thực hiện là quảng canh và thâm canh Quảng canh: tăng sản lượng chủ yếu

do mở rộng diện tích, và thâm canh: tăng năng suất trên một đơn vị diện tích bằng cách tăng cường các yếu tố đầu vào do ngành công nghiệp cung cấp Đối với phương thức quảng canh, mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu bởi phá rừng Nông nghiệp sẽ tăng trưởng trong ngắn hạn, nhưng một khi môi trường tự nhiên suy thoái, năng suất sẽ giảm, rồi thu nhập sẽ thấp trong khi dân số tăng lên, và hệ quả là thất nghiệp và nghèo đói xuất hiện Đối với phương thức thâm canh, để đáp ứng với yêu cầu tăng trưởng nhanh, tình trạng lạm dụng các hoá chất sẽ xuất hiện (phân bón, thuốc trừ sâu) Điều này sẽ làm suy thoái tài nguyên đất và nước; và một khi sự suy thoái xuất hiện, năng suất và thu nhập của nông dân sẽ giảm dần, trong khi dân số nông thôn tăng và môi trường nông thôn không thu hút việc làm, tình trạng thất nghiệp sẽ tăng và nghèo đói sẽ xuất hiện

- Shepherer A (1998) cũng tranh luận sự xuất hiện nghèo đói với

khía cạnh khác Ông cho rằng, ngay cả việc áp dụng các kỹ thuật sản xuất mà đảm bảo được cân bằng sinh thái vẫn dẫn đến tình trạng nghèo đói Do đặc điểm tiềm năng của từng vùng địa lý khác nhau, hiệu quả của việc ứng dụng kỹ thuật mới có sự khác nhau Bắt đầu giai đoạn ứng dụng kỹ thuật mới, vì đòi hỏi tăng đầu tư (giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, cải tạo mặt bằng đồng ruộng…) và có rủi ro trong đầu tư, phần lớn nông dân có khả năng áp dụng chính là những hộ nông dân giàu trong các vùng có lợi thế về tiềm năng tự nhiên Và chính họ nhận được lợi ích từ việc áp dụng các kỹ thuật mới, sau đó với sự hỗ trợ của chính phủ thông qua trợ giá các yếu tố đầu vào của sản xuất và tín dụng ưu đãi, nhiều nông dân kể cả nông dân nghèo trên các vùng tiềm năng tự nhiên khác nhau có thể áp dụng được kỹ thuật mới Tuy nhiên khi đại bộ phận nông dân có thể áp dụng đựơc, tổng sản lượng sẽ tăng nhanh và giá cả nông sản sẽ rơi xuống nhanh và hệ quả là thu nhập của nông dân sẽ bị giảm, nhất là nông dân nghèo trong các vùng tiềm năng tự nhiên thấp Nếu quá trình này tiếp tục, họ sẽ lỗ và mang gánh nặng về nợ nần và họ sẽ từ bỏ việc đầu tư trong khi dân số tiếp tục tăng trưởng, thất nghiệp sẽ gia tăng và tình trạng nghèo đói sẽ trầm trọng Một khi bộ phận nông dân nghèo đói gia tăng, thì đối với họ, việc đáp ứng

Trang 12

nhu cầu tồn tại ở hiện tại là quan trọng nhất, còn đáp ứng cho nhu cầu tương lai sẽ không thực sự có ý nghĩa Do thu nhập thấp và tỉ lệ thất nghiệp cao, họ sẽ sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng hàng hoá với nguyên liệu chính từ tự nhiên (gỗ, da thú…) của bộ phận dân cư có thu nhập cao bằng cách khai thác nguồn tự nhiên để kiếm thu nhập (phá rừng, săn bắn, đánh bắt mọi loài sinh vật bất kể kích thước) Hệ quả là môi trường tự nhiên tiếp tục suy thoái và lần nữa, thu nhập của họ sẽ tiếp tục giảm và rơi vào cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói

Như vậy, một hệ thống nông nghiệp bền vững mà không đảm bảo được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho người dân nông thôn thì không thể nào là hệ thống nông nghiệp bền vững được Hay nói cách khác, mô hình nông nghiệp bền vững là mô hình sử dụng các phương thức sản xuất tiến bộ để thực hiện tăng trưởng nông nghiệp nhưng không làm suy thoái cân bằng tự nhiên và đảm bảo được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho nông dân

Biểu hiện của nông nghiệp bền vững trên khía cạnh này có thể đánh giá qua các chỉ tiêu sau:

o Tỷ lệ hộ nghèo đói

o Tỷ lệ lao động thất nghiệp ở vùng nông thôn

1.2.2.3 Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường con người ở nông thôn

Theo Braun J.V (1991), quan tâm đến sự cân bằng của môi trường tự

nhiên vẫn chưa đủ, mà còn phải quan tâm đến môi trường mà trong đó người dân nông thôn sinh sống, đó là: nước và thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ và bệnh tật, vệ sinh, văn hoá Nói chung là tình trạng về sức khoẻ, dinh dưỡng và giáo dục nguồn nhân lực nông thôn

 Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường sức khoẻ dinh dưỡng

Strauss (1986), Haddad và Bouis (1991) cho rằng, tăng trưởng nông

nghiệp và cải thiện môi trường sức khoẻ - dinh dưỡng thường có ảnh hưởng hỗ tương Tăng trưởng nông nghiệp tạo ra việc làm và thu nhập, do đó làm thuận tiện cho việc cải thiện tình trạng sức khoẻ - dinh dưỡng của nông dân Mặt khác, tình trạng sức khoẻ dinh dưỡng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng nguồn lao động và năng suất lao động, và như vậy sẽ ảnh hưởng trở lại đối với tăng trửơng nông nghiệp Nhưng nếu tăng trưởng nông nghiệp được thực hiện bằng phương thức có thể làm giảm suy thoái môi trường tự nhiên thì điều này sẽ làm nông nghiệp tăng trưởng chậm và theo đó sẽ giảm

Trang 13

đi ảnh hưởng tích cực của tăng trưởng nông nghiệp đối với sự cải thiện tình

trạng sức khoẻ - dinh dưỡng Braun (1991) cũng tìm thấy rằng, nếu tăng

trưởng nông nghiệp được thực hiện bởi phương thức ảnh hưởng tới suy thoái môi trường, thì tình trạng sức khoẻ - dinh dưỡng của người dân nông thôn cũng bị ảnh hưởng một cách trực tiếp Trong trường hợp áp dụng phương thức thâm canh do thiếu hoàn chỉnh về số lượng cũng như chất lượng của các công trình thuỷ lợi sẽ làm suy thoái chất lượng nước, gia tăng muỗi, ruồi và các côn trùng khác và điều này sẽ dẫn tới sự phát triển các loại bệnh như sốt rét, dịch tả, đường ruột Do sử dụng thuốc trừ sâu không thích hợp đã ảnh

hưởng tới ngộ độc (nghiên cứu của Bull (1982) cho thấy 10.000 người chết

vì ngộ độc thuốc trừ sâu hàng năm trong các nước đang phát triển) Trong trừơng hợp áp dụng phương thức quảng canh, do mở rộng diện tích bởi phá rừng sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái về nguồn nước và hệ quả là khô hạn, lũ, thay đổi về khí hậu Điều này dẫn đến tình trạng không an toàn về sản xuất lương thực, suy dinh dưỡng, nạn đói và hàng loạt bệnh tật liên quan đến lũ lụt, hạn hán sẽ xuất hiện

 Tăng trưởng nông nghiệp và trình độ văn hoá của nông dân

Theo Alves E (1991), rõ ràng rằng con đường phát triển nông nghiệp

thông qua phương thức thâm canh đòi hỏi việc sử dụng các kỹ thuật sinh học với giống mới, nhiều phân bón hơn, thay đổi cơ cấu cây trồng trên đất, kết hợp nông - lâm - nuôi trồng thuỷ sản, các kỹ thuật hoá sinh để chống sâu dịch bệnh Nếu kỹ thuật này có thể đảm bảo không làm suy thoái môi trường, thì nông nghiệp sẽ bền vững Nhưng nếu trình độ văn hoá của nông dân thấp kém (tỉ lệ mù chữ cao) thì rất khó khăn đối với họ để hiểu về các khái niệm bền vững, suy thoái môi trường và hiểu được các kỹ thuật có thể làm giảm suy thoái môi trường Và điều này sẽ là rào cản đối với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vừa đem lại lợi ích cho họ vừa đồng thời gìn giữ môi trường Do đó, tăng trưởng nông nghiệp mà không gắn với cải thiện trình độ dân trí nông thôn sẽ ảnh hưởng tới suy thoái môi trường

Vậy thì, tăng trưởng nông nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến cải thiện môi trường sức khỏe - dinh dưỡng ở nông thôn Tuy nhiên, khi lựa chọn các kỹ thuật để thực hiên tăng trưởng mà ảnh hưởng đến suy thoái môi trường, ảnh hưởng tích cực sẽ bị giảm đi và hệ quả này sẽ trầm trọng thêm khi môi trường giáo dục ở nông thôn không được cải thiện

Như vậy, một hệ thống nông nghiệp mà không đảm bảo được sự bền vững trong cải thiện tình trạng sức khỏe - dinh dưỡng, trình độ văn hóa cho

Trang 14

o Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở nông thôn

o Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh

o Tỷ lệ nông dân bị các bệnh chủ yếu liên quan đến môi trường (bệnh sốt rét, đường ruột, dịch tả, ngộ độc)

o Tỷ lệ nông dân mù chữ

Từ phân tích 3 mối quan hệ chủ yếu trên, phát triển nông nghiệp bền vững có thể được khái quát như sau:

Phát triển nông nghiệp bền vững là sự phát triển mà đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng chung của nền kinh tế nhưng không làm suy thoái môi trường tự nhiên - con người và đảm bảo được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho người dân nông thôn

Trang 15

1.2 MÔ HÌNH LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

1.2.1 Mô hình hai khu vực (Lewis, Oshima) 1

Mô hình được giải thích bởi Lewis và Oshima

Luận điểm cơ bản: Nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế chính là khả năng thu hút lao động nông nghiệp của khu vực công nghiệp (L.labour)

1.2.1.1 Mô hình Lewis (1955)

o Đối với khu vực nông nghiệp:

tăng Hệ quả là có tình trạng dư thừa lao động trong khu vực nông nghiệp Với tình trạng này, theo Lewis, khi đó khu vực nông nghiệp có một số đặc trưng:

 Sản phẩm biên của lao động nông nghiệp bằng không

 Mức tiền lương ở mức tối thiểu

 Lao động giảm đi tương ứng với (L3-L2) nhưng không ảnh hưởng đến tổng sản phẩm nông nghiệp

Biểu đồ 1.1: Đường tổng sản phẩm nông nghiệp

o Đối với khu vực công nghiệp:

Lewis cho rằng mức tiền lương của khu vực công nghiệp cao hơn khu vực nông nghiệp, ở mức cao hơn 30% (W1= 1,3w0) có thể thu hút lao động

dư thừa khu vực nông nghiệp Trong hình (1.2), cho thấy:

 Khi LiL3 ,WiW1 Khi Li > L3, Wi tăng

1 TS Đinh Phi Hổ (Chủ biên), 2006, Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn, Nxb Thống kê, tr 29-37

Trang 16

 Khi khu vực công nghiệp thu hút L1 từ khu vực nông nghiệp, tổng sản phẩm Y1 với K1 Vì tiền lương công nhân không đổi, tổng sản phẩm tăng do đó lợi nhuận nhà tư bản công nghiệp tăng Lợi nhuận (P) được tái đầu tư mở rộng sản xuất, do đó vốn sản xuất mới sẽ là: K2= K1+P tổng sản phẩm sẽ là TP2 (K2), Li = L2

 Quá trình này sẽ tiếp tục cho đến khi thu hút hết lao động dư thừa

Biểu đồ 1.2: Quá trình dịch chuyển lao động

 Nếu khu vực công nghiệp tiếp tục thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp (vượt quá mức L3), tiền lương bây giờ phải cao hơn vì MPa>0 Lợi nhuận của khu vực công nghiệp sẽ giảm Do đó, để mở rộng tổng sản phẩm, nhà tư bản sẽ lựa chọn yếu tố khác thay thế lao động (công nghệ thâm dụng vốn), quá trình tăng trưởng sẽ tiếp tục

Kết luận: Mô hình Lewis cho thấy tăng trưởng của nền kinh tế được thực hiện trên cơ sở tăng trưởng của công nghiệp thông qua tích lũy vốn từ thu hút lao động dư thừa của khu vực nông nghiệp

1.2.1.2 Mô hình Harry T.Oshima

Oshima tranh luận như sau:

o Khu vực nông nghiệp có dư thừa lao động, nhưng chỉ lúc thời vụ không căng thẳng

o Đầu tư chiều sâu cả nông nghiệp và công nghiệp là không khả thi vì nguồn lực và trình độ lao động có hạn của các nước đang phát triển

Oshima đề nghị:

Trong giai đoạn 1: Đầu tư cho nông nghiệp phát triển theo

chiều rộng nhằm đa dạng hóa sản xuất thu hút lao động tại nông nghiệp không cần dịch chuyển qua khu vực công nghiệp

Hướng này phù hợp vì đòi hỏi vốn không lớn, trình độ kỹ thuật không cao và không đòi hỏi đầu tư lớn như đầu tư cho công nghiệp

Trang 17

Giai đoạn 2: Đồng thời đầu tư phát triển theo chiều rộng các

ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Tiếp tục đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ sinh học, sản xuất theo quy mô lớn (trang trại) nhằm mở rộng quy mô sản lượng Phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp cung cấp đầu vào cho nông nghiệp và các ngành công nghiệp thâm dụng lao động

Như vậy, phát triển nông nghiệp tạo điều kiện mở rộng thị trường công nghiệp, tăng quy mô sản xuất công nghiệp và nhu cầu về các hoạt động dịch vụ

Kết thúc giai đoạn 2: thể hiện tốc độ tăng trưởng việc làm lớn hơn tốc độ tăng trưởng lao động

Giai đoạn 3: Phát triển các ngành kinh tế theo chiều sâu nhằm

giảm nhu cầu lao động

Sự phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ của giai đoạn 2 làm cho hiện tượng thiếu lao động ngày càng phổ biến Do đó:

 Trong nông nghiệp đẩy nhanh cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ sinh học để tăng nhanh năng suất lao động Nông nghiệp có thể giảm số lao động chuyển sang khu vực công nghiệp mà không ảnh hưởng đến tổng sản phẩm nông nghiệp

 Công nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng thay thế sản phẩm nhập khẩu và chuyển dịch hướng về xuất khẩu Ngành công nghiệp thâm dụng lao động thu hẹp và ngành công nghiệp thâm dụng vốn sẽ mở rộng để nâng sức cạnh tranh và giảm nhu cầu lao động

1.2.2 Mô hình các giai đoạn tăng trưởng và phát triển nông nghiệp (Todaro, s.s Park) 1

1.2.2.1 Mô hình: Ba giai đoạn phát triển nông nghiệp

(Todaro, 1990)

Theo Todaro, phát triển nông nghiệp trải qua 3 giai đoạn, tuần

tự từ thấp đến cao, đó là:

1 TS Đinh Phi Hổ (chủ biên), 2006, Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn, Nxb Thống kê, tr.257-265

Trang 18

Giai đoạn 1: Nền nông nghiệp tự cung tự cấp

Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này thể hiện ở các mặt sau:

 Phần lớn sản phẩm sản xuất ra được tiêu dùng nội bộ trong khu vực nông nghiệp

 Sản phẩm chưa đa dạng, chủ yếu là từ các loại cây lương thực và một số con vật nuôi truyền thống

 Công cụ thô sơ, phương pháp sản xuất truyền thống giản đơn

 Đất, lao động là những yếu tố sản xuất chủ yếu, đầu tư vốn còn thấp Do đó, xu hướng lợi nhuận giảm dần được thể hiện rõ khi sản xuất mở rộng trên diện tích đất không màu mỡ

 Sản lượng nông nghiệp vẫn gia tăng nhưng chủ yếu là do mở rộng diện tích và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên

Giai đoạn 2: Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng

hóa

Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp là bước trung gian từ sản xuất tự cung tự cấp sang chuyên môn hóa

Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này thể hiện ở các mặt sau:

 Cơ cấu cây trồng con vật nuôi trên từng đơn vị diện tích đất nông nghiệp, trên từng hộ, được phát triển theo hướng hỗn hợp và đa dạng, để thay thế cho chế độ canh tác độc canh trong sản xuất trước kia Nhờ vậy, tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp được hạn chế đáng kể

 Sử dụng giống mới kết hợp với phân bón hóa học và nước tưới tiêu chủ động, làm tăng năng suất trong nông nghiệp Sản lượng lương thực tăng, nhưng đồng thời tiết kiệm được diện tích đất sản xuất, phát triển nhiều loại sản phẩm hàng hóa khác

 Sản lượng nông nghiệp gia tăng chủ yếu từ nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp và sản xuất hướng tới thị trường, thoát khỏi tự cung tự cấp

Giai đoạn 3: Nông nghiệp hiện đại - Đây là giai đoạn phát triển cao

nhất của nông nghiệp

Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này thể hiện ở các mặt sau:

Trang 19

L

 Trong các trang trại được chuyên môn hóa, sản xuất được cung ứng hoàn toàn cho thị trường và lợi nhuận thương mại là mục tiêu của người sản xuất

 Yếu tố vốn và công nghệ trở thành yếu tố quyết định đối với việc tăng sản lượng nông nghiệp

 Dựa vào lợi thế về quy mô, áp dụng tối đa công nghệ mới, hướng vào sản xuất một vài loại sản phẩm riêng biệt

1.2.2.2 Mô hình: Hàm sản xuất tăng trưởng nông nghiệp theo các giai đoạn phát triển (Sung Sang Park)

Sung Sang Park phân chia quá trình phát triển nông nghiệp trải

qua 3 giai đoạn: Sơ khai, đang phát triển và phát triển Mỗi giai đoạn phát triển, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau và được mô tả dưới dạng hàm sản xuất

Giai đoạn sơ khai:

Người sản xuất nông nghiệp chưa sử dụng các yếu tố đầu vào được sản xuất từ khu vực công nghiệp Trong giai đoạn đầu, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên như đất đai, thời tiết khí hậu và lao động Mối quan hệ đầu ra với đầu vào được khái quát bởi hàm sản xuất như sau:

Y: Sản lượng nông nghiệp, N: Yếu tố tự nhiên, L: Lao động

Trong giai đoạn sơ khai, quy luật năng suất biên giảm dần thể hiện trong sản xuất

Đường biểu diễn F1 cho biết mối quan hệ giữa số lao động nông nghiệp (L) và sản lượng tính trên 1 ha đất nông nghiệp (Y/S)

Lúc đầu, khi tăng thêm 1 đơn vị lao động, sản lượng trên 1 ha sẽ tăng hơn 1 đơn vị Sau đó, phần gia tăng của sản lượng trên 1 ha sẽ giảm dần khi số lao động sẽ tiếp tục tăng lên Nguyên nhân của năng suất biên giảm dần chủ yếu là do không chuyển được số lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ

Y/S

F1

O

Trang 20

Biểu đồ 1.3: Năng suất biên của lao động nông nghiệp

Giai đoạn đang phát triển:

Trong giai đoạn kế tiếp này, sản lượng nông nghiệp còn phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào được sản xuất từ khu vực công nghiệp (phân bón, thuốc hóa học)

Mối quan hệ này được khái quát bởi hàm sản xuất sau:

R: Đầu vào do công nghiệp cung cấp Trong giai đoạn đang phát triển, sản lượng trên 1 ha đất nông nghiệp (năng suất đất) tăng lên tương ứng với lượng phân bón và thuốc hóa học sử dụng tăng lên

Biểu đồ 1.4: Năng suất biên của lao động nông nghiệp

Đường biểu diễn F2 cho thấy sản lượng trên 1 ha ở giai đoạn đang phát triển cao hơn nhiều so với giai đoạn sơ khai (F1) Thay vì tăng lao động trên 1 ha đất, mà thêm vào đó là sử dụng phân hóa học nhiều hơn làm cho sản lượng tăng nhanh, rồi sau đó giảm xuống theo quy luật năng suất biên giảm dần

Cuộc cách mạng xanh đã đưa giống mới năng suất cao ứng dụng trong nông nghiệp, các loại giống mới luôn đòi hỏi lượng phân bón, thuốc hóa học nhiều hơn và nước tưới tiêu chủ động Do đó, trong giai đoạn này, sản lượng nông nghiệp tăng còn nhờ vào tác động từ cuộc cách mạng xanh đem lại (ứng dụng thành tựu của công nghệ sinh học)

Park nhấn mạnh rằng, sản lượng trên 1 ha đất rất phu thuộc vào khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào (R) từ khu vực công nghiệp

Giai đoạn phát triển:

Trang 21

Nền kinh tế đạt mức toàn dụng (Full employment), không còn tình trạng bán thất nghiệp trong nông nghiệp Sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào công nghệ thâm dụng vốn (máy móc) sử dụng trong nông nghiệp

Biểu đồ 1.5: Năng suất lao động và thu nhập của một lao động nông nghiệp

Mối quan hệ này được khái quát bởi hàm sản xuất sau:

Y = F (N, L) + F (R) + F (K) (3)

K: Vốn sản xuất Trong giai đoạn phát triển, sản lượng trên 1 lao động (năng suất lao động, Y) tăng lên tương ứng với lượng vốn sản xuất (K) sử dụng tăng thêm và thu nhập của 1 lao động (I) cũng tăng lên tương ứng

Trong biểu đồ trên, lúc đầu ở mức vốn K1, năng xuất lao động (Y1) và thu nhập là I1 (tương ứng số lao động là L1) Khi vốn tăng lên K2, năng xuất lao động (Y2) và thu nhập là I2 (tương ứng số lao động là L2) Như vậy, do thay đổi vốn làm cho năng suất lao động tăng, nâng cao thu nhập và tiết kiệm được lao động (L2 – L2)

Thu nhập bình quân của người lao động nông nghiệp trong các nước đang phát triển và phát triển có sự chênh lệch rất lớn vì khác nhau năng suất lao động Để thu hẹp khoảng cách này, theo Park không còn có con đường nào khác ngoài việc chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp

Hàm sản xuất của giai đoạn phát triển cho thấy để tăng năng suất đất cần tăng đầu tư cho khu vực công nghiệp để tăng khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào cho nông nghiệp Vậy muốn tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp cần tăng đầu tư vốn cho nông nghiệp dưới dạng máy móc, trang thiết

Trang 22

1.2.3.1 Khái niệm Khái niệm về công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn cũng như định nghĩa về công nghiệp nông thôn đến nay vẫn còn có những ý kiến khác nhau về nội dung, tính chất và phạm vi hoạt động

Ý kiến chung của nhiều người cho rằng, công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn là đưa khoa học công nghệ, thiết bị tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp và đưa công nghiệp và dịch vụ vào nông thôn, nhằm chuyển một nông thôn thuần nông với đa số là nông dân thành một nông thôn có đa số dân phi nông nghiệp

IX), tháng 3 năm 2002, đã khẳng định CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình CNH, HĐH đất nước Nghị quyết Hội nghị Trung ương năm cũng đã chỉ rõ nội dung tổng quát về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn như sau:

“ - CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường

- CNH, HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn” 1

Mục tiêu tổng quát và lâu dài của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa quy mô lớn, bền vững, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả và giá trị cao trên 1 ha, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sản xuất

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.93-94

Trang 23

trong nước, có khả năng cạnh tranh trên thị trường; nông thôn có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng phát triển và từng bước được hiện đại, xây dựng con người mới, nông thôn mới, giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh

2.4 Mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Chenery)

Lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhà kinh tế học Hollis Chenery, Giáo sư Đại học Havard ở Mỹ Chenery dựa vào các công trình nghiên cứu về sự phát triển của nhiều quốc gia từ giai đoạn 1950 đến 1973

kết luận rằng: Tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP có xu hướng

giảm dần, trong khi tỷ trọng công nghiệp trong GDP có xu hướng tăng dần tương ứng với GDP đầu người tăng dần

Ở mức GNP/người = 200USD, tỷ trọng GDP nông nghiệp là 45%, trong khi công nghiệp là 15% Tại mức GNP/người = 600USD, tỷ trọng GDP nông nghiệp = tỷ trọng GDP công nghiệp Ở mức GNP/người = 1000USD, tỷ trọng nông nghiệp là 20%, trong khi công nghiệp là 28%

Những quốc gia có GNP/người < 600USD được Chenery xếp vào giai đoạn trước của quá trình phát triển (kém phát triển), còn những quốc gia có thu nhập từ 600- 3.000USD được xếp vào giai đoạn giữa (chuyển tiếp phát

nhân lực Tiêu chí quản lý tổ chức

Tiêu chí môi trường tự nhiên

Tiêu chí thiết bị, cơ sở hạ tầng

Nông nghiệp, kinh tế nông thôn CNH, HĐH

Trang 24

triển) và thu nhập trên 3.000USD được xếp vào giai đoạn sau (phát triển) Đặc trưng của từng giai đoạn phát triển chính là cơ cấu GDP và sự thay đổi giai đoạn từ thấp lên cao khi sự chuyển dịch cơ cấu GDP theo hướng tỷ trọng GDP nông nghiệp giảm dần

Lý thuyết của Chenery cho thấy rõ trước điểm giữa, GDP phụ thuộc

chủ yếu vào nông nghiệp, nhưng qua điểm giữa GDP phụ thuộc vào khu vực công nghiệp (điểm giữa có thể nhận được nơi mà tỷ trọng GDP nông

nghiệp bằng với GDP công nghiệp) Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển nhận diện được thời điểm nào, khu vực nào của nền kinh tế cần được sự quan tâm về phân bổ đầu tư, có hệ thống chính sách kích thích ưu đãi thích hợp

Trang 25

1.3 KINH NGHIỆM CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ CHÂU Á

1.3.1 Công nghiệp hóa và phát triển nông nghiệp bền vững của Nhật Bản

Nhật Bản là nước đầu tiên ở châu Á đưa nông nghiệp đi lên công nghiệp hóa - hiện đại hóa Từ một nền nông nghiệp thủ công, cổ truyền theo phương thức châu Á, đến nay Nhật Bản đã xây dựng được một nền nông nghiệp được công nghiệp hóa - hiện đại hóa với trình độ khoa học công nghệ cao, mang những nét đặc thù của Nhật Bản và đứng đầu châu Á

Từ năm 1960 - 1995, tuy tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 9% năm 1960 còn 2% năm 1995; lao động nông nghiệp giảm từ 11,8 triệu người (28% lao động xã hội), xuống còn 3,35 triệu người (5,2% lao động xã hội), diện tích đất canh tác giảm từ 6 triệu ha còn 4,4 triệu ha, nhưng tổng giá trị sản lượng nông nghiệp đã tăng gấp 6 lần (từ 2.000 tỷ yên lên 12.000 tỷ yên) Năm 2001, nông nghiệp chiếm 1,37% GDP, công nghiệp 30,56% và dịch vụ 68,07%

Nhật Bản là nước phát triển, có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới với tổng sản phẩm nội địa (GDP) đạt 4,0 nghìn tỷ USD năm 2002 (Mỹ: 10,4 nghìn tỷ USD), 4,765 nghìn tỷ USD năm 2005 GDP bình quân đầu người là 36.694 USD năm 2005

Năm 2004, dân số Nhật Bản là 127,6 triệu người, tỷ lệ dân thành thị 78%

1.3.1.1 Chính sách phát triển nông nghiệp Chính sách phát triển nông nghiệp của Nhật Bản có những nội dung cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu trong từng giai đoạn phát triển kinh tế

 Thập niên 1950: Để đạt được mục tiêu chủ yếu là đảm bảo cung cấp lương thực thiết yếu cho nhân dân, Chính phủ Nhật Bản đã tiến hành cải cách ruộng đất, hình thành kinh tế trang trại, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới

đã ban hành Luật Nông nghiệp cơ bản (Agriculture Basic Law), nêu rõ mục đích của các chính sách nông nghiệp là tăng năng suất lao động và nâng cao thu nhập của người nông dân để ngang bằng với thu nhập của những người làm việc trong các lĩnh vực khác Để đạt được mục tiêu trên, Chính phủ

Trang 26

Tháng 8 năm 1998, Nguyên tắc cơ bản và Chương trình cải cách chính sách nông nghiệp được ban hành Hai văn kiện này khuyến khích những loại hình hoạt động có hiệu quả và ổn định trong nông nghiệp, trên cơ sở mở rộng quy mô canh tác và thu hút lao động trẻ có kỹ năng

1.3.1.2 Kinh tế trang trại Sau cải cách ruộng đất, năm 1950, số lượng trang trại của Nhật Bản là 6,2 triệu cơ sở Trong đó số trang trại dưới 0,5ha là 4,14 triệu, chiếm 66%; số trang trại 1-2ha là 1,52 triệu, chiếm 24,5%; và số trang trại có 2-5ha và lớn hơn chỉ có 510.000, chiếm 8% tổng số trang trại Bình quân quy mô một trang trại năm 1950 là 0,8ha Đến năm 1995, số trang trại giảm xuống còn 3,6 triệu cơ sở, bình quân quy mô trang trại tăng lên đến 1,5ha

Trang trại gia đình quy mô nhỏ của Nhật Bản đã thực hiện cơ giới hóa

ở mức độ cao từ 98 - 100% tuỳ từng khâu như xay xát 100%, cấy lúa 99%, gặt đập lúa 98%, nên đã tạo được một lượng nông sản hàng hóa lớn từ 9 triệu tấn thóc gạo năm 1950, tăng lên đến 16 triệu tấn năm 1987 và nhiều nông sản thực phẩm khác

Các trang trại nâng cao thu nhập theo hướng kết hợp các hoạt động kinh tế trong nông nghiệp và ngoài nông nghiệp Số trang trại kiêm nghiệp tăng từ 50% năm 1950 lên 85% năm 1980; và thu nhập của trang trại từ ngoài nômg nghiệp cũng tăng từ 30% tổng thu nhập của họ năm 1950 lên 68,2% năm 1980

Đến nay, do điều kiện tự do hóa nông sản trên thị trường thế giới, trang trại gia đình qui mô nhỏ càng bộc lộ những mặt yếu là không đảm bảo được ưu thế cạnh tranh với nông sản nước ngoài, vì chi phí sản xuất quá cao, giá thành nông sản cao

Để khắc phục các mặt hạn chế nêu trên, các trang trại phát triển theo hướng mở rộng qui mô sản xuất, ứng dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, đẩy

Trang 27

Hợp tác xã nông nghiệp đóng vai trò cung cấp đầu vào, giải quyết đầu

ra cho sản xuất nông nghiệp; ngoài ra còn đảm nhận hoạt động tín dụng, hoạt động bảo hiểm và các dịch vụ tư vấn quản lý sản xuất và đời sống cho các nông dân xã viên HTXNN đảm bảo việc mua hàng tiêu dùng cho xã viên với giá thấp nhất và bán nông sản của xã viên với giá cao nhất

Một HTXNN thực hiện nhiều hoạt động nhưng những lĩnh vực kinh doanh mà HTXNN có thể tham gia phải theo quy định của luật HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các chủ trang trại Hơn 90% trang trại gia đình là thành viên của các HTXNN Nhờ đó, sản phẩm của các trang trại đảm bảo được tiêu chuẩn chất lượng và được tiêu thụ tương đối dễ dàng

1.3.1.4 Bảo hộ nông nghiệp dưới nhiều hình thức Các chính sách bảo hộ nông nghiệp của Nhật Bản bao gồm: bảo hộ thị trường trong nước, trợ giá, trợ cấp và đầu tư

 Nhật bản bảo hộ thị trường trong nước bằng cách hạn chế nhập khẩu bằng hạn ngạch nhập khẩu, thuế quan và các rào cản phi thuế quan Số lượng mặt hàng nông nghiệp có hạn ngạch nhập khẩu đã giảm dần, từ 102 mặt hàng năm 1962 giảm xuống còn 12 mặt hàng năm 1993

 Tháng 12/1993, quyết định của vòng đàm phán Uruguay buộc Nhật Bản phải cho nhập khẩu nông sản Nghĩa vụ nhập khẩu gạo tối thiểu là 4% lượng gạo tiêu dùng năm 1994 và sẽ tăng lên 8% năm 2000 Do áp lực của Mỹ và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Nhật Bản buộc phải nhập khẩu lương thực mà vòng đàm phán Uruguay đã đưa ra nhưng lại áp đặt mức thuế cao Từ 1/4/1999, mức thuế cho 1kg gạo nhập khẩu là 351 yên

Trang 28

 Trợ giá cho người sản xuất: trong ba năm (1985 - 1987), số tiền trợ giá cho người sản xuất nông nghiệp ước tính 2.000 tỉ yên, chiếm gần 70% thu nhập từ sản xuất lúa Chính phủ trợ giá nhằm ổn định giá nông phẩm

 Trợ cấp và đầu tư cho nông nghiệp

Trợ cấp nông nghiệp chiếm 49% ngân sách nông nghiệp năm 1960, tăng lên 62% năm 1984 Nếu cộng thêm cả trợ giá cho thóc gạo thì trợ cấp chiếm 80% ngân sách nông nghiệp năm 1984

Đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn bao gồm chi phí cải tạo đất, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội ở nông thôn, công tác nghiên cứu triển khai khoa học kỹ thuật nông nghiệp…

Nhật Bản đang giảm dần chi ngân sách cho việc trợ cấp, trợ giá trong nông nghiệp Chẳng hạn trong những năm 1970 chi cho nông nghiệp chiếm 10,8% ngân sách quốc gia, tỷ lệ này giảm còn 3% năm 2000, đến năm 2003 còn 2,9%.1

Chính sách bảo hộ nông nghiệp của Nhật Bản tuy làm tăng chi phí xã hội, lãng phí tài nguyên thiên nhiên, làm tăng mâu thuẫn mậu dịch với các nước, nhưng vẫn có lợi về nhiều mặt nhất là về vấn đề xã hội vì đảm bảo việc làm hơn 3 triệu hộ nông dân

1.3.1.5 Bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững

++ Bảo vệ môi trường

+ Bảo vệ môi trường đất Đất trồng trọt và đất phục vụ nhu cầu sinh hoạt và kinh doanh (đất ở và đất xây dựng) ở Nhật Bản tại nhiều khu vực đã bị ô nhiễm đến mức báo động Theo thống kê của chính phủ Nhật Bản, năm 1995 có tới 722ha đất ở

13 vùng thuộc 6 tỉnh bị ô nhiễm, do chủ yếu bởi chất cadimi và có 10ha đất

ở một tỉnh bị ô nhiễm bởi chất thạch tín (arsenic) Một số công trình nghiên cứu khác cũng cho thấy có tới 7.140ha đất ở 129 vùng bị phát hiện ô nhiễm trên tiêu chuẩn cho phép.2

Để giảm thiểu các nguy cơ gây tổn hại đến môi trường đất, chính phủ đã và đang thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, kiểm soát và ngăn chặn việc thải các hóa chất vào đất, bằng cách yêu cầu các nhà kinh doanh có các giải pháp công nghệ để xử lý các

1 MAFF, 2004 Monthly Statistics of Agriculture, Forestryand Fisheries NO.7, Tokyo, July 2004

2 Quality of the Environment in Japan 1997, 2000, Environment Agency, Government of Japan, tr.214

Trang 29

chất thải hóa chất trước khi đổ ra môi trường đất, và yêu cầu họ tuân thủ theo quy định của Luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất và môi trường nước

Thứ hai, những ngành công nghiệp khai thác có sử dụng chất nổ (mìn) cần áp dụng các giải pháp chống ô nhiễm do chất nổ gây ra phù hợp với Luật an toàn chất nổ

Thứ ba, thực hiện các giải pháp kết hợp (công nghệ với sinh học, chính phủ Trung ương với chính quyền địa phương…) nhằm cải tạo đất bạc màu do ô nhiễm gây ra Cho đến những năm 1990, có hơn 7.000ha đất nông nghiệp bạc màu đã được cải tạo

+ Bảo vệ môi trường nước Theo Cục Môi trường thuộc chính phủ Nhật Bản thì chất lượng nước sông, hồ, biển ở nhiều vùng của Nhật Bản không đạt tiêu chuẩn chất lượng môi trường; nhất là ở các vùng biển nuôi trồng thủy sản, các con sông chảy qua vùng đô thị 754 trường hợp gây ô nhiễm môi trường biển do hoạt động hàng hải, trong đó có 370 trường hợp là ô nhiễm dầu (dầu từ tàu), 249 trường hợp liên quan tới chất thải hàng hải, và chất thải công nghiệp khác1

Để bảo vệ môi trường nước, Quốc hội Nhật Bản đã thông qua đạo luật

“Kiểm soát ô nhiễm nguồn nước” (năm 1980) Đạo luật cho phép chính quyền trung ương và chính quyền các địa phương xây dựng các kế hoạch hàng năm bảo vệ nguồn nước (kể cả nước ngầm) phù hợp tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng nguồn nước Ở Nhật Bản, có tới 70% nguồn cung cấp nước là nước mặt (nước từ sông, hồ) mà đây lại là nguồn cung cấp nước bị ảnh hưởng nhiều nhất từ ô nhiễm môi trường; chỉ có 30% nguồn cung cấp nước là nước ngầm Thống kê chính thức năm 1994 có tới 99% địa phương có người bị ngộ độc do nước bị ô nhiễm

Theo đạo luật kiểm soát ô nhiễm nguồn nước sửa đổi năm 1994, tỉnh trưởng các tỉnh có quyền sử dụng các biện pháp đặc biệt và phù hợp với yêu cầu của địa phương mình trong việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước Sau đó Bộ Môi trường Nhật Bản cũng đã công bố bản “hướng dẫn bảo vệ nguồn nước ngầm và kiểm soát ô nhiễm” Đây là tài liệu quan trọng mang tính phổ cập để giúp người dân và nhà kinh doanh biết cách khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngầm

++ Phát triển nông nghiệp bền vững

1 Quality of the Environment in japan 1997, 2000, sđd, tr.70

Trang 30

 Ban hành luật nông nghiệp liên quan đến môi trường

Vào cuối những năm 1990, ba luật nông nghiệp liên quan đến môi trường đã được ban hành: Luật khuyến khích sản xuất nông nghiệp bền vững (1999); Luật thay đổi một phần về kiểm soát phân hóa học (2000) và Luật liên quan đến việc xử lý thích hợp và khuyến khích sử dụng chất thải của gia súc (1999) Cả ba luật nông nghiệp liên quan đến môi trường đều chú trọng tới việc áp dụng kỹ thuật thích hợp để duy trì độ màu của đất, đảm bảo môi trường canh tác thuận lợi

Nhật Bản tuy là nước có mức tự cung cấp lương thực thấp, nhưng vẫn đảm bảo được an ninh lương thực bằng biện pháp nhập khẩu nông sản và dự trữ lương thực

Nhật Bản đã tự cung cấp lương thực đạt 59%, tự cung cấp lương thực – thực phẩm tính theo nhiệt lượng cung cấp (calo) là 40%, tự cung cấp ngũ cốc 27%, trong đó gạo 95%, trứng 96%, rau 83%, sữa và các sản phẩm sữa 70%, thịt 54% (năm 1999)1 Năm 2003, tỷ lệ tự cung cấp ngũ cốc của Nhật Bản 24%, trong đó gạo 83%2

Nhật Bản nhập 16 triệu tấn ngô, 5,8 triệu tấn lúa mỳ, 4,9 triệu tấn đậu tương, 1,6 triệu tấn lúa mạch, 600.000 tấn thịt lợn, 550.000 tấn thịt gà, 830.000 tấn rau xanh với tổng giá trị nhập khẩu lên tới 36 tỉ USD (năm 1999)3

Luật quản lý lương thực năm 1995 quy định trong kho luôn phải dự trữ

2 tháng gạo (1,5 triệu tấn), 2,6 tháng lúa mỳ, 1 tháng đối với thức ăn gia súc,

20 ngày đối với đậu tương

1.3.2 Công nghiệp hóa và phát triển nông nghiệp bền vững của Trung Quốc

Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản lượng lương thực (494,17 triệu tấn), bông (4,60 triệu tấn), hạt có dầu (25,78 triệu tấn), thịt (41,21 triệu tấn) năm 1997; rau quả (chiếm 13,3% trái cây và 65% rau của thế giới) năm 2000 Năm 2005, sản lượng lương thực 484,01 triệu tấn, bông 5,7 triệu tấn, thịt các loại 77 triệu tấn

2 Keizai Koho Centre, 2005, Japan, P.59

Trang 31

Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của Trung Quốc ngày càng giảm, nhưng nông nghiệp và nông thôn vẫn đóng vai trò quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Nếu năm 1978, nông nghiệp của Trung Quốc chiếm khoảng 40% GDP, 50% kim ngạch xuất khẩu và thu hút 70% lực lượng lao động xã hội, thì đến cuối năm 2002, các tỷ lệ này giảm xuống còn 15%, 13% và 50% Năm 2003, nông nghiệp chiếm 14,78% GDP, công nghiệp 52,94% và dịch vụ 32,28%

Năm 2004, dân số Trung Quốc 1,307 tỷ người, tỷ lệ dân thành thị 43%

1.3.2.1 Phát triển công nghiệp nông thôn (Xí nghiệp Hương trấn)

Công nghiệp nông thôn đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

Công nghiệp nông thôn thường gồm các hoạt động với 4 loại hình chính là:

- Sản xuất công nghiệp;

- Chế biến nông sản;

- Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ;

- Thương mại và dịch vụ

Phát triển công nghiệp nông thôn nhằm các mục tiêu :

- Tạo công ăn việc làm;

- Giảm đói nghèo;

- Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế;

- Giảm sức ép dân từ nông thôn di cư ra thành thị

Ở Trung Quốc, công nghiệp nông thôn được gọi là xí nghiệp Hương trấn

Xí nghiệp Hương trấn (XNHT) được hình thành từ cuối năm 1978 và phát triển mạnh từ đầu những năm 1980

Năm 2004, giá trị gia tăng của XNHT đạt 4.150 tỷ NDT, tăng 13,3%

so với năm 2003; trong đó giá trị công nghiệp đạt 2.920 tỷ NDT, tăng 13,5%; doanh thu đạt 16.600 tỷ NDT, tăng 13,1%; số công nhân là 138,4 triệu người

Trang 32

Thực tế cho thấy, các XNHT được xây dựng trên vành đai các thành phố phát triển như : Thượng Hải, Thiên Tân, Bắc Kinh, … hoạt động có hiệu quả, tạo ra giá trị sản lượng tương đối lớn với nhiều mặt hàng phong phú đa dạng, chất lượng cao, cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn người lao động

Các XNHT ở Thượng Hải đã có hàng nghìn mặt hàng xuất khẩu thông qua 25 công ty xuất khẩu, trong đó các sản phẩm dệt và may mặc chiếm 60 - 80%, ngoài ra còn có các mặt hàng cơ khí, điện tử liên doanh với công ty thành phố Thượng Hải, XNHT đã kết hợp chặt chẽ với công nghiệp thành thị với nhiều hình thức linh hoạt như sản xuất gia công, hợp tác sản xuất, liên doanh liên kết về vốn, kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm …

Ở thành phố Bắc Kinh có 20.000 XNHT hoạt động ở các thôn xã ngoại thành, sử dụng khoảng một triệu lao động nông thôn, có nguồn vốn gần 9 tỷ NDT, tạo ra giá trị sản lượng chiếm 50% giá trị sản lượng công nghiệp của toàn thành phố Trong số các XNHT có 2.300 cơ sở liên doanh với nước ngoài

Kinh nghiệm thực tế của Trung quốc cho thấy, công nghiệp nông thôn không thể cùng một lúc phát triển ở tất cả các vùng, các miền của đất nước, mà giai đoạn đầu ở những vùng có điều kiện thuận lợi trước Đó chính là các vùng vành đai của các thành phố đô thị phát triển

1.3.2.2 Phát triển nông nghiệp đô thị Trung Quốc đã đề ra 6 mô hình nông nghiệp đô thị Riêng thành phố Thượng Hải đã thực hiện khá thành công mô hình này Đó là :

- Nông nghiệp xanh: duy trì và phát triển cây xanh, thảm cỏ trong thành phố

- Nông nghiệp phục vụ khách sạn: sản xuất hoa, cây cảnh, rau quả, thịt, trứng, sữa cung cấp cho khách sạn trong thành phố

- Nông nghiệp thu ngoại tệ: sản xuất nông sản xuất khẩu;

- Nông nghiệp dịch vụ: phát triển vườn cây ăn trái, cây cảnh phục vụ khách tham quan và xuất khẩu

- Nông nghiệp an dưỡng: phát triển ở vùng nông thôn ngoại thành có cảnh đẹp

- Nông nghiệp sinh thái :sản xuất các sản phẩm an toàn, không độc hại, không ô nhiễm môi trường

Trang 33

Sản xuất nông nghiệp đô thị có thể vận dụng dưới nhiều hình thức, quy mô khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện quỹ đất, từ vườn mi ni đến trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp

Trung Quốc là nước phát triển mạnh nông nghiệp đô thị.Trong số 18 thành phố lớn như : Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thiên Tân,… nông nghiệp đô thị nội, ngoại thành đã đáp ứng 85% nhu cầu về rau xanh và 50% nhu cầu thịt và trứng

1.3.2.3 Xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa (XHCN) Trung Quốc nhiều lần nêu “xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” (XHCN) Trong kế hoạch “5 năm lần thứ hai” và “5 năm lần thứ ba” thập niên 1950, 1960 đã nêu ra “xây dựng nông thôn mới XHCN”, nhấn mạnh xây dựng nông nghiệp hiện đại, thực hiện phong trào hợp tác hóa Từ cải cách mở cửa (1978), Văn kiện số 1 những năm 1982, năm 1983 và của năm 1984, Văn kiện số 5 năm 1987, Văn kiện 1 năm 1991 đều đề cập đến xây dựng nông thôn mới XHCN

Tháng 1 - 2006, Trung ương Đảng Cộng sản và Quốc vụ viện Trung Quốc đã đưa ra “Ý kiến về thúc đẩy xây dựng nông thôn mới XHCN” (Văn kiện số 1 - 2006); tháng 3 - 2006, Đại hội đại biểu nhân dân toàn Trung Quốc đã thông qua “Cương yếu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội “5 năm lần thứ XI” 2006 - 2010 (Cương yếu), nhấn mạnh việc xây dựng nông thôn mới XHCN

Trung Quốc thúc đẩy xây dựng nông thôn mới XHCN trong bối cảnh:

 Cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn còn yếu kém, chưa đáp ứng được với đòi hỏi phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nông dân

 Quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp, thành thị và nông thôn chưa cân đối, hài hòa

 Lao động nông thôn còn nhiều, chất lượng lao động và thu nhập của

cư dân nông thôn còn thấp

Năm 2002, trong tổng số lao động của Trung Quốc là 737,4 triệu người, thì lao động nông thôn 489,6 triệu người (66,50%) và số lao động nông nghiệp là 386,7 triệu người (50%)1

Thời gian số nông dân được học hành đào tạo bình quân là 7 năm; trong số lao động nông thôn, số có trình độ tiểu học và bán mù

1 National Boreau Statistical of China, China statistical Abstract, 2003, P.44

Trang 34

Ngày 20/9/2005, Hội nghị công tác sản nghiệp hóa nông nghiệp toàn Trung Quốc, đưa ra mục tiêu trong vòng 5 năm tới lôi kéo 40% tổng số nông hộ toàn quốc tham gia kinh doanh sản nghiệp hóa nông nghiệp, mức gia công nông sản đạt trên 50%, xây dựng hơn 100 thương hiệu nổi tiếng.3

Xây dựng nông thôn mới XHCN được xem là nỗ lực tìm kiếm giải pháp về vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân của Trung Quốc

++ Mục tiêu Phát triển hài hòa thành thị - nông thôn, công nghiệp - nông nghiệp, kinh tế - xã hội giữa cư dân thành thị và cư dân nông thôn

++ Nội dung Nội dung và yêu cầu của xây dựng nông thôn mới XHCN được nêu ra trong Văn kiện số 1 - 2006 và Cương yếu là: “Sản xuất phát triển, đời sống sung túc, thôn làng văn minh, thôn xã gọn gàng, quản lý dân chủ”

o Sản xuất phát triển trước hết là hiện đại hóa nông nghiệp, nâng cao năng lực sản xuất tổng hợp của nông nghiệp trong đó quan trọng là sản xuất lương thực Sản xuất phát triển còn là ứng dụng khoa học kỹ thuật, thực hiện chuyển đổi phương thức tăng trưởng của nông nghiệp, ra đời những ngành nghề mới như sản xuất những sản phẩm theo nhu cầu của thị trường

o Đời sống sung túc là mục tiêu hạt nhân của xây dựng nông thôn mới Thông qua thúc đẩy sản xuất phát triển, cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn, nâng cao thu nhập, cuộc sống của cư dân nông thôn sẽ được cải thiện

o Thôn làng văn minh: bản chất là vấn đề xây dựng văn minh tinh thần XHCN ở nông thôn, bao gồm các mặt như văn hóa, phong tục tập quán, pháp chế, trị an xã hội, bảo đảm đời sống tinh thần, văn hóa phong phú đa dạng cho cư dân nông thôn

o Thôn xã gọn gàng chỉ xây dựng bộ mặt nông thôn mới, cải thiện môi trường sinh thái, quy hoạch xây dựng nông thôn sạch đẹp

1 www.edu.cn/2004/208/3123743.shtmt

2 http://www.china.com.cn/chinese/news/1168054.htm

3 http://www.china.com.cn/chinese/sy/976926.htm

Trang 35

o Quản lý dân chủ: kiện toàn chế độ tự trị thôn dân, hoàn thiện chế độ tự trị dân chủ cơ sở nông thôn là mấu chốt để thực hiện quản lý dân chủ nông thôn, chuyển đổi vai trò của chính quyền thôn xã

o Nội dung xây dựng nông thôn mới XHCN không chỉ là đẩy mạnh phát triển kinh tế, mà còn là đẩy mạnh sự nghiệp xã hội như giáo dục, văn hóa, y tế, bảo đảm xã hội, cơ sở hạ tầng của nông thôn; và cải thiện môi trường sinh thái, xây dựng nông thôn sạch đẹp

1.3.3 Công nghiệp hóa và phát triển nông nghiệp bền vững của Đài Loan

Đài Loan gồm đảo chính là Đài Loan và hơn 80 đảo nhỏ, tổng diện tích 36.000km2 Đảo Đài Loan chiếm 97% diện tích toàn bộ, là đảo lớn nhất của Trung Quốc

Đài Loan từ xưa vẫn là một phần (tỉnh) của Trung Quốc Sau khi thắng trận của cuộc chiến tranh Trung Nhật năm 1894, bằng sức mạnh Nhật đã bắt ép chính phủ nhà Thanh ký hiệp ước ở thành phố Ximonoxeki (Nhật) giao cho Nhật đảo Đài Loan

Tháng 8/1945, khi Trung Quốc thắng trong chiến tranh chống Nhật và Nhật phải đầu hàng, Đài Loan được trả về cho Trung Quốc

Năm 1949, cách mạng Trung Quốc thắng lợi và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa được thành lập, quân Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch chạy ra Đài Loan và xây dựng thành một lãnh thổ riêng Tháng 12/1954, Chính phủ Hoa Kỳ ký với chính phủ Đài Loan hiệp ước An Ninh chung, nhằm chiếm đóng lâu dài Đài Loan, tách Đài Loan ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc

Nhật đô hộ Đài Loan rất khắc nghiệt, nhưng sau đó Đài Loan thừa hưởng một cấu trúc hạ tầng tốt (đường bộ, đường sắt, hải cảng), công nghiệp hóa mức độ, giáo dục phát triển, nông dân làm việc cần mẫn có trình độ kỹ thuật nhất định, thực hiện cuộc cách mạng xanh (du nhập giống lúa có năng suất cao), phát triển thủy lợi, áp dụng kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến…

Nông nghiệp chiếm tỷ trọng trong cơ cấu GDP ngày càng giảm: 32% năm 1950, 28,3% năm 1960, 4,2% năm 1990 và 2,9% năm 1998

Năm 2004, dân số Đài Loan là 22,6 triệu người, tỷ lệ dân thành thị 78%

Trang 36

8 triệu USD; hiện nay là một cơ sở nghiên cứu tạo sản phẩm khoa học công nghệ và tiếp nhận để thực hiện các sản phẩm khoa học công nghệ từ các trường đại học và các viện nghiên cứu khác (trong và ngoài nước) Trên cơ sở đó, viện khuyến nông Đài Trung làm vai trò đầu mối chuyển giao khoa học - công nghệ vào sản xuất qua trung tâm khuyến nông của nông hội, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất của nông hộ

1.3.3.2 Tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa nông hộ với nông hội và hợp tác xã nông nghiệp

Để thực hiện được cuộc cách mạng xanh, ngay từ đầu thế kỷ 20, người Nhật đã dựa vào địa chủ để thành lập các nông hội với mục đích khuyến nông chứ không phải quản lý Từ năm 1930, các nông hội, hợp tác xã phụ trách về tín dụng, cung cấp vật tư kỹ thuật, tiêu thụ nông sản của nông dân, thu nhận 40.000 nhân viên trong đó có 13.000 phụ trách khuyến nông , cứ 32 hộ nông dân có 1 người phụ trách khuyến nông cao nhất thế giới lúc bấy giờ

Ngày nay, điều kiện duy nhất để trở thành hội viên chính thức của nông hội là phải có 0,1ha đất trở lên Hội viên có quyền lợi được bảo hiểm (trong đó có trợ cấp cho nông dân hết tuổi lao động của nhà nước), được vay vốn từ quỹ tín dụng của nông hội với vật thế chấp chủ yếu bằng đất, được cung cấp các dịch vụ kỹ thuật, được tiêu thụ sản phẩm qua kênh thương mại của nông hội Hợp tác xã nông nghiệp có chức năng chính là kinh doanh dịch vụ kỹ thuật và thương mại (kể cả các mặt hàng phi nông nghiệp)

1.3.3.3 Nâng cao đời sống nông dân Nông nghiệp Đài Loan, sau giai đoạn năm 1969, như đánh dấu một bước ngoặt biểu hiện chính sách tăng trưởng nông nghiệp sang chính sách

Trang 37

Để đảm bảo lợi ích của các trang trại, nhà nước đã thực hiện biện pháp ổn định và trợ giá nông sản đối với một số sản phẩm như gạo, đường, thịt lợn… bằng cách tổ chức ra các kho đệm dự trữ nông sản và các quỹ đệm dự trữ tiền vốn để có sản phẩm nhằm điều chỉnh cung cầu của thị trường khi giá cả biến động, và có trợ giá để bảo hộ, duy trì sản xuất và nâng cao thu nhập của các trang trại bằng cách: Giá đảm bảo; trả chênh lệch; điều chỉnh nhập khẩu

Nhà nước không đánh thuế sử dụng đất, thuế thu nhập đối với nông hộ, và cũng không đánh thuế đối với các hoạt động kinh doanh của nông hội và hợp tác xã nông nghiệp

Nhà nước giải quyết tốt việc làm cho lao động nông thôn Lao động nông nghiệp chuyển sang lao động phi nông nghiệp ngay tại làng hoặc ở thị trấn lân cận Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong lao động xã hội, giảm từ 56,1% năm 1952 xuống còn 12,9% năm 1991

Nhà nước có chính sách trợ cấp tiền hàng tháng cho các nông dân hết tuổi lao động: 3.000 đài tệ/người/tháng (1996)

1.3.3.4 Nhập khẩu nông sản và tự do hóa mậu dịch nông sản

Trước năm 2002, Đài Loan vẫn hạn chế nhập khẩu 21 mặt hàng nông sản như gạo, mía đường, đậu đỏ, lạc, thịt gà, cá… Năm 2002, sau khi Đài Loan chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), những mặt hàng này cũng phải được nhập khẩu, từ đó đã tạo nên một thách thức nghiêm trọng đối với nền sản xuất nông sản gạo, đường vì những mặt hàng này có giá cao gấp 2-3 lần so với hàng nhập khẩu Theo các chuyên gia kinh tế, sau khi tự do hóa nhập khẩu thì 72 mặt hàng nông sản của nông nghiệp Đài Loan bị đe dọa với giá trị lên tới 150.000 đài tệ, có khoảng 800 hộ nông dân bị ảnh hưởng

Đứng trước tình hình đó, để thích ứng với sự cạnh tranh gay gắt của tự

do hóa mậu dịch nông sản, Đài Loan áp dụng giải pháp:

Trang 38

o Thu hẹp quy mô sản xuất nông nghiệp với nhiều loại nông sản không đủ sức cạnh tranh, chú trọng phát triển những loại nông sản có tính cạnh tranh cao, giá trị kinh tế cao

o Phương hướng phát triển nông nghiệp Đài Loan sẽ coi trọng chất, không coi trọng số lượng, theo đuổi phương pháp sản xuất tập trung

1.3.4 Công nghiệp hóa và phát triển nông nghiệp bền vững của Thái Lan

Nông nghiệp Thái Lan cho đến giữa những năm 1980 là khu vực quan trọng nhất trong nền kinh tế Thái Lan xét cả về lực lượng lao động, đóng góp trong GDP và thu nhập về xuất khẩu Năm mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của Thái Lan là gạo (luôn đứng đầu thế giới và chiếm khoảng 30 - 40% sản lượng gạo xuất khẩu của thế giới); sắn (là nước xuất khẩu nhiều nhất thế giới, khoảng từ 8 triệu đến 9 triệu tấn/năm), cung cấp 95% nhu cầu sắn trên thị trường thế giới); ngô (hằng năm xuất khẩu từ 4-5 triệu tấn); cao su (từ năm 1974 đến năm 2005 Thái Lan luôn đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu cao su Chính phủ Thái Lan đang phấn đấu để trở thành nước xuất khẩu cao su nhiều nhất thế giới); rau quả (vào những năm 1990 Thái Lan đã xuất khẩu hơn 8 triệu tấn, đứng thứ hai khu vực châu Á- Thái Bình Dương, sau Trung Quốc)

Trong những năm 1990 và những năm đầu thế kỷ 21, tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong GDP của Thái Lan giảm xuống nhanh chóng: 15,8% năm 1985, 10,4% năm 1996 và 9,3% năm 2002 Tuy vậy, nông sản vẫn chiếm hơn 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan Còn nhập khẩu nông sản của Thái Lan chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, khoảng 5% trong tổng lượng hàng hóa nhập khẩu Điều này, chứng tỏ nông nghiệp vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Thái Lan

Năm 2003, nông nghiệp chiếm 8,77% GDP, công nghiệp 41,44% và dịch vụ 49,79%

Năm 2004, Thái Lan xuất khẩu 10,13 triệu tấn gạo, đứng đầu thế giới Kế đến là Việt Nam 4 triệu tấn, Mỹ 3 triệu tấn và Ấn độ 2,8 triệu tấn

Năm 2004, dân số Thái Lan là 63,8 triệu người, tỷ lệ dân thành thị 31%

1.3.4.1 Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Trang 39

Tính đến năm 2005, hệ thống thuỷ lợi tại Thái Lan đã đảm bảo nước tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp

Hệ thống giao thông đường bộ toả đi khắp các vùng, miền trong cả nước, là điều kiện quan trọng cho CNHNN và phát triển nông thôn

Thái Lan đã hoàn thành chương trình điện khí hóa trong toàn quốc

1.3.4.2 Hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) Trong nhiều năm thực hiện CNHNN, Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Thái Lan đã tích cực ủng hộ hoạt động R và D thông qua việc khuyến khích các bộ phận chức năng chuyên giám sát hoạt động R và D của bộ này là Vụ Nông nghiệp, Vụ Phát triển chăn nuôi, Vụ Nghề cá, đề ra các chính sách cho hoạt động R và D phục vụ cho CNHNN Các cơ quan chức năng này, tuỳ theo thẩm quyền được quy định, có trách nhiệm phối hợp với các viện nghiên cứu, các trường đại học và các cơ quan nghiên cứu độc lập khác, tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ cho CNHNN Các hoạt động R và D chủ yếu mà các nhà khoa học Thái Lan tiến hành bao gồm : nghiên cứu cải tạo đất đai, áp dụng công nghệ sinh học để lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; tiến hành thụ tinh nhân tạo; thực hiện chuyển giao công nghệ nuôi cấy phôi, nghiên cứu các công nghệ bảo quản sau thu hoạch …

Trong thực tế, cho đến nay, hoạt động R và D đã có tác dụng to lớn thúc đẩy nông nghiệp Thái Lan phát triển, giúp hoàn thành nhiều mục tiêu, chương trình sản xuất và chế biến nông sản mà chính sách CNHNN đã vạch

ra

1.3.4.3 Phát triển hợp tác xã nông nghiệp Phát triển hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên ở Thái Lan là hợp tác xã tín dụng, được thành lập ở Phitsamuloke từ năm 1916, với chức năng huy động tiền gửi để giúp nông dân nghèo sản xuất Từ kết quả hoạt động thành công của hợp tác xã này, mô hình hợp tác xã tín dụng nông thôn được mở rộng ra nhiều địa phương

Năm 1947, chính phủ Thái Lan thành lập “Ngân hàng hợp tác xã” với nguồn vốn của chính phủ, nhằm khuyến khích các hợp tác xã tín dụng mua cổ phần của nó và trở thành chủ nhân

Năm 1966, Ngân hàng hợp tác xã kết hợp với hợp tác xã tín dụng thành lập “Ngân hàng nông nghiệp nhà nước”, hoạt động như một trung tâm

Trang 40

Mục tiêu của các hợp tác xã nông nghiệp Thái Lan là:

Cung cấp vốn với lãi suất thấp cho xã viên

Khuyến khích nông dân gửi tiền tiết kiệm

Cung cấp hàng hóa cho xã viên với giá thấp hơn giá thị trường Khuyến khích nông dân áp dụng kỹ thuật mới trong sản xuất Giúp xã viên tiêu thụ sản phẩm một cách có lợi, như xuất khẩu nông sản (gạo, chuối…)

Hợp tác xã nông nghiệp Thái Lan thường lấy địa bàn huyện làm cơ sở và phân chia ra các tổ, đội, nhóm theo làng, xã, cụm dân cư Ở tỉnh có Liên hiệp tỉnh và toàn quốc có Liên hiệp hợp tác xã Thái Lan (CLT) (chung cho mọi loại hình hợp tác xã) Cơ cấu tổ chức nội bộ hợp tác xã nông nghiệp Thái Lan cũng theo mô hình chung gồm Hội nghị toàn thể xã viên (hoặc đại diện) họp một lần/năm để quyết định các vấn đề quan trọng của hợp tác xã Hội đồng quản trị là cơ quan thường trực của hợp tác xã được bầu 1 năm 1 lần với số lượng thành viên từ 7 - 15 người

1.3.4.4 Một số biện pháp thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp

Từ năm 1998 đến năm 2005, chính phủ Thái Lan đã đưa ra một số chính sách mới Trong đó tập trung một số giải pháp cấp bách như :

- Đẩy nhanh tốc độ giao đất cho nông dân thông qua cuộc cải cách đất đai Kể từ năm 1998 đến năm 2005, Thái Lan đã tiến hành cải cách đất đai trên diện tích khoảng 200.000rai ( 1 rai tương đương 1.600m2 )

- Phân vùng sản xuất nông nghiệp để giải quyết tình trạng sản xuất không ổn định Từ tháng 9 năm 1999 đến tháng 2 năm 2000, Thái Lan đã hoàn thành xong phân vùng sản xuất nông nghiệp

- Cung cấp các loại giống có chất lượng cao cho nông dân để họ cải thiện chất lượng cây trồng

- Quản lý sau thu hoạch một cách hiệu quả

Ngày đăng: 26/02/2016, 16:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16- Đỗ Minh Cương - Mạc Văn Tiến (2004), Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam, Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Minh Cương - Mạc Văn Tiến
Năm: 2004
17- Nguyễn Mạnh Dũng (2006), “Mỗi làng, Một sản phẩm”. Một chiến lược phát triển nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa, Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỗi làng, Một sản phẩm"”. "Một chiến lược phát triển nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa
Tác giả: Nguyễn Mạnh Dũng
Năm: 2006
18- PGS.TS Vũ Năng Dũng (Chủ biên) (2004), Cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, bước đi, cơ chế chính sách trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, bước đi, cơ chế chính sách trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: PGS.TS Vũ Năng Dũng (Chủ biên)
Năm: 2004
19- Bùi Huy Giáp - Nguyễn Điền (1998), Nông nghiệp Việt Nam bước vào thế kỷ XXI, Trung tâm kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (VAPEC), Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam bước vào thế kỷ XXI
Tác giả: Bùi Huy Giáp - Nguyễn Điền
Năm: 1998
20- Huỳnh Văn Giáp (2003), Địa lý Đông Nam Á, ĐHQG TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý Đông Nam Á
Tác giả: Huỳnh Văn Giáp
Năm: 2003
21- Huỳnh Văn Giáp (2004), Địa lý Đông Bắc Á, ĐHQG TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý Đông Bắc Á
Tác giả: Huỳnh Văn Giáp
Năm: 2004
22- Nguyễn Sinh Hằng (Chủ biên) (2003), Một số vấn đề về hiện đại hóa nông nghiệp Trung Quốc, Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hiện đại hóa nông nghiệp Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Sinh Hằng (Chủ biên)
Năm: 2003
23- Nguyễn Đình Hòe (2006), Môi trường và phát triển bền vững, Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe
Năm: 2006
24- TS. Đinh Phi Hổ (2003), Kinh tế nông nghiệp: lý thuyết và thực tiễn, Thoáng keâ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp: lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: TS. Đinh Phi Hổ
Năm: 2003
25- TS. Đinh Phi Hổ (Chủ biên) (2006), Kinh tế phát triển, Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Tác giả: TS. Đinh Phi Hổ (Chủ biên)
Năm: 2006
26- Hội Khoa học kinh tế nông - lâm nghiệp (2000), Kinh tế và chính sách đất đai ở Việt Nam, Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và chính sách đất đai ở Việt Nam
Tác giả: Hội Khoa học kinh tế nông - lâm nghiệp
Năm: 2000
27- Lê Hương (Chủ biên) (2006), Nhân tố con người trong quản lý nhà nước về môi trường, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân tố con người trong quản lý nhà nước về môi trường
Tác giả: Lê Hương (Chủ biên)
Năm: 2006
28- Lê Văn Khoa (Chủ biên), Nguyễn Đức Long, Nguyễn Thế Truyền (1999), Nông nghiệp và môi trường, Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp và môi trường
Tác giả: Lê Văn Khoa (Chủ biên), Nguyễn Đức Long, Nguyễn Thế Truyền
Năm: 1999
29- Nguyễn Thiện Luận (Chủ biên) (2001), Một số vấn đề về công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 2001 - 2020, Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 2001 - 2020
Tác giả: Nguyễn Thiện Luận (Chủ biên)
Năm: 2001
30- Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã (1999), Đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã nông nghiệp, nông thôn, Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã
Năm: 1999
31- Đặng Kim Sơn (2001), Công nghiệp hóa nông nghiệp, Lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam, Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa nông nghiệp, Lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Năm: 2001
32- Đặng Kim Sơn (2006), Nông nghiệp và nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển, Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp và nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Năm: 2006
33- Tổng cục Thống kê (2003), Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2001, Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2001
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 2003
34- Tổng cục Thống kê (2005), Niên giám thống kê 2004, Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2004
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 2005
35- Tổng cục Thống kê (2006), Niên giám thống kê 2005, Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2005
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SĐ 2.4: SƠ ĐỒ THỔ NHƯỠNG HUYỆN CỦ CHI - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
2.4 SƠ ĐỒ THỔ NHƯỠNG HUYỆN CỦ CHI (Trang 58)
SĐ 2.6: SƠ ĐỒ MẬT ĐỘ DÂN SỐ CỦ CHI 2005 - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
2.6 SƠ ĐỒ MẬT ĐỘ DÂN SỐ CỦ CHI 2005 (Trang 66)
Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu về dân số huyện Củ Chi giai đoạn 2001 - 2005 - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu về dân số huyện Củ Chi giai đoạn 2001 - 2005 (Trang 69)
SƠ ĐỒ 3.1: MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN THEO - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
SƠ ĐỒ 3.1 MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN THEO (Trang 111)
Bảng 2.1:  Các nhóm đất huyện Củ Chi - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
Bảng 2.1 Các nhóm đất huyện Củ Chi (Trang 191)
Bảng 2.2: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐẤT HUYỆN CỦ CHI - TP. HỒ CHÍ MINH - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
Bảng 2.2 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐẤT HUYỆN CỦ CHI - TP. HỒ CHÍ MINH (Trang 192)
Bảng 2.5: Một vài chỉ số khí hậu tại trạm Tân Sơn Hòa (Quận Tân Bình, - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
Bảng 2.5 Một vài chỉ số khí hậu tại trạm Tân Sơn Hòa (Quận Tân Bình, (Trang 195)
Bảng 2.8: Dân số chia theo nhóm tuổi và giới tính huyện Củ Chi (2004) - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
Bảng 2.8 Dân số chia theo nhóm tuổi và giới tính huyện Củ Chi (2004) (Trang 196)
Bảng 2.10: Một số chỉ tiêu về lao động huyện Củ Chi giai đoạn 2001 - 2004. - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
Bảng 2.10 Một số chỉ tiêu về lao động huyện Củ Chi giai đoạn 2001 - 2004 (Trang 198)
Bảng 2.17: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Củ Chi giai đoạn - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
Bảng 2.17 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Củ Chi giai đoạn (Trang 202)
Bảng 2.25: Hiện trạng sử dụng đất năm 2005 và quy hoạch sử dụng đất - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
Bảng 2.25 Hiện trạng sử dụng đất năm 2005 và quy hoạch sử dụng đất (Trang 211)
Bảng 2.27: Kết quả đo độ ồn tích phân trung bình ( dBA ) trên địa bàn - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
Bảng 2.27 Kết quả đo độ ồn tích phân trung bình ( dBA ) trên địa bàn (Trang 212)
Bảng 2.34: Kết quả phân tích mẫu nước ngầm (nước giếng khoan) tại một số khu vực huyện Củ Chi năm 2006 - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
Bảng 2.34 Kết quả phân tích mẫu nước ngầm (nước giếng khoan) tại một số khu vực huyện Củ Chi năm 2006 (Trang 218)
Bảng 2.36: Dự kiến tải lượng nước thải từ các KCN, CCN huyện Củ Chi đến - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
Bảng 2.36 Dự kiến tải lượng nước thải từ các KCN, CCN huyện Củ Chi đến (Trang 219)
Bảng 3.3: Danh sách các hộ sản xuất, kinh doanh phong lan được khảo sát - Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi   thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010
Bảng 3.3 Danh sách các hộ sản xuất, kinh doanh phong lan được khảo sát (Trang 221)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w