Hoạt động thực tiễn cách mạng và lợi ích chân chính của dân tộc, giai cấp là động lực của bước chuyển tư tưởng Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin 155 2.2.5..
Trang 1*********
NGUYỄN TẤN HƯNG
BƯỚC CHUYỂN TƯ TƯỞNG
CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TỪ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC ĐẾN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*********
NGUYỄN TẤN HƯNG
BƯỚC CHUYỂN TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TỪ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC ĐẾN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
Chuyên ngành : LỊCH SỬ TRIẾT HỌC Mã số : 62.22.80.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS TS LƯƠNG MINH CỪ
2 PGS TS NGUYỄN THANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình này là sản phẩm nghiên cứu của cá nhân tôi Những kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung của luận án này
Ngày …… tháng …… năm 2008
NCS Nguyễn Tấn Hưng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ CÁC TIỀN ĐỀ DẪN ĐẾN BƯỚC
CHUYỂN TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC 14 1.1 Bối cảnh thế giới và Việt Nam thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 14 1.2 Tiền đề tư tưởng - lý luận ảnh hưởng đến bước chuyển tư tưởng của
1.3 Truyền thống quê hương, gia đình và nhân cách con người Nguyễn Ái
Chương 2 NỘI DUNG VÀ THỰC CHẤT BƯỚC CHUYỂN TƯ TƯỞNG
CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TỪ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC ĐẾN CHỦ NGHĨA
2.1 Quá trình và nội dung bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc qua
hoạt động thực tiễn và những tác phẩm tiêu biểu 80 2.2 Thực chất bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc 137
Chương 3 Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ BƯỚC CHUYỂN TƯ
TƯỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN
3.1 Ý nghĩa từ bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc đối với cách
mạng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 170 3.2 Bài học lịch sử từ bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc đối với
sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay 190
Trang 5
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 10
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 12
Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ CÁC TIỀN ĐỀ DẪN ĐẾN BƯỚC CHUYỂN TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TỪ CHỦ NGHĨA YÊU
1.1 Bối cảnh thế giới và Việt Nam thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ảnh hưởng đến bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin 14 1.1.1 Đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội thế giới 14 1.1.2 Đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam 19 1.1.3 Các phong trào yêu nước và cách mạng tiêu biểu cuối thế kỷ
XIX và sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX 25 1.2 Các tiền đề dẫn đến bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin 45 1.2.1 Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam và yêu cầu bức thiết của sự nghiệp giải phóng dân tộc 45 1.2.2 Tư tưởng dân chủ - nhân văn phương Tây và sự ảnh hưởng của
1.2.3 Chủ nghĩa Mác - Lênin và sự thâm nhập của nó vào Việt Nam
1.2.4 Truyền thống gia đình, quê hương và phẩm chất cá nhân con
Trang 6Chương 2 NỘI DUNG VÀ THỰC CHẤT BƯỚC CHUYỂN TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TỪ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC ĐẾN CHỦ NGHĨA
2.1 Quá trình và nội dung bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc qua hoạt động thực tiễn và những tác phẩm tiêu biểu 77 2.1.1 Thời kỳ Nguyễn Tất Thành theo chủ nghĩa yêu nước và chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo 78 2.1.2 Thời kỳ Nguyễn Ái Quốc chuyển biến tư tưởng từ ý thức dân tộc
2.1.3 Thời kỳ Nguyễn Ái Quốc xác lập thế giới quan duy vật biện chứng và đứng trên lập trường giai cấp của giai cấp vô sản 90 2.2 Thực chất bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu
nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin 134 2.2.1 Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống, nâng chủ nghĩa yêu nước truyền thống lên một tầm vóc mới và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin 135 2.2.2 Từ lập trường dân tộc đến lập trường giai cấp, từ chủ nghĩa quốc gia dân tộc đến chủ nghĩa quốc tế vô sản 140 2.2.3 Sự thống nhất biện chứng giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại 150 2.2.4 Hoạt động thực tiễn cách mạng và lợi ích chân chính của dân tộc, giai cấp là động lực của bước chuyển tư tưởng Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin 155 2.2.5 Cơ sở của bước chuyển tư tưởng Nguyễn Ái Quốc là nền văn hóa truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại 160
Chương 3 Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ BƯỚC CHUYỂN TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Trang 7NAY 166
3.1 Ý nghĩa từ bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc đối với cách
mạng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 166
3.1.1 Xác định đúng đắn con đường cách mạng Việt Nam 167
3.1.2 Sự thống nhất biện chứng giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống
Việt Nam với chủ nghĩa Mác - Lênin 170
3.1.3 Sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong bước
chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ
3.1.4 Sự thống nhất biện chứng giữa cách mạng giải phóng dân tộc và
3.1.5 Sự thống nhất giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với tinh thần
3.2 Bài học lịch sử từ bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc đối với
sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay 189
3.2.1 Bài học về tinh thần luôn đổi mới, sáng tạo, biết vượt qua cái cũ,
cái lỗi thời để vươn tới cái mới, cái tiến bộ; đồng thời phải tránh giáo
điều, rập khuôn, cần biết chắt lọc những gì tinh túy và phù hợp với
điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước 189
3.2.2 Bài học về đổi mới phải xuất phát từ thực tiễn, trên cơ sở thực
tiễn và lấy lợi ích chân chính của dân tộc, của nhân dân lao động làm
3.2.3 Bài học về vận dụng và phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần
dân tộc trong sáng và tinh thần quốc tế chân chính trong sự nghiệp đổi
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử phát triển của nhân loại, ở tất cả mọi thời đại, bao giờ cũng đặt ra những vấn đề cần giải quyết Trước sự đòi hỏi của việc giải quyết những vấn đề đó, luôn xuất hiện các trào lưu tư tưởng có tác dụng tạo nên những bước chuyển, phản ánh tính chất của thời đại Mỗi bước chuyển trong lịch sử luôn là kết quả của sự kế thừa, chọn lọc có định hướng, làm mới những giá trị truyền thống … tạo ra một diện mạo riêng, với một sinh khí mới trong đời sống tinh thần dân tộc Trong quá trình chuyển biến cơ bản của lịch sử tư tưởng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, bước chuyển có tính chất quan trọng nhất, được thể hiện ở tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Xuất phát từ yêu cầu bức thiết của sự nghiệp giải phóng dân tộc, với tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc và sự khát khao về một nền độc lập cho dân tộc, sự tự do, hạnh phúc cho nhân dân, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định tự mình ra đi tìm đường cứu nước Qua nhiều năm bôn ba ở các cường quốc phương Tây và các thuộc địa trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, chân lý của thời đại Người đã thực hiện bước chuyển từ lập trường dân tộc, chủ nghĩa yêu nước sang lập trường giai cấp và chủ nghĩa cộng sản Tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã kết thúc một vòng khâu tìm kiếm lâu dài, gian khổ và bắt đầu một quá trình đấu tranh cách mạng mới Thực hiện bước chuyển về chất trong tư tưởng và lập trường chính trị, Người đã hoàn tất chặng đường đầu của hành trình cứu nước, đã tìm ra chân lý của thời đại và bắt đầu cuộc đấu tranh đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta vào quỹ đạo của cuộc cách mạng vô sản Người đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống
Trang 9ngoặt lớn nhất trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đưa nước ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội Hàng loạt vấn đề vốn rất phức tạp cả về lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam như quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, giữa chiến lược và sách lược, chiến tranh và hòa bình, đã được Người giải quyết thành công và đầy sáng tạo Trí tuệ, niềm tin, bản lĩnh của Người không chỉ có ý nghĩa dân tộc mà còn mang tầm vóc thời đại Đối với dân tộc Việt Nam, nếu không có sức mạnh của tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, yêu độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội; nếu không có trí tuệ, bản lĩnh đúng đắn và sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, thì con thuyền cách mạng Việt Nam khó có thể vượt qua mọi ghềnh thác để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, vẻ vang và
vĩ đại trong thế kỷ XX
Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước trong một thế giới đang chuyển mình với nhiều biến động Có thể thấy rằng, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, chúng ta phải đối mặt với nhiều vấn đề cấp bách trong cuộc sống mà lý luận chưa có lời giải và thực tiễn cũng chưa thể kiểm nghiệm tính đúng sai Nhưng mệnh lệnh từ thực tiễn đời sống đòi hỏi những vấn đề lý luận cần được bổ sung, điều chỉnh để thực hiện bước chuyển mới về tư tưởng Nghiên cứu về những bước chuyển trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, nhất là bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta nhận thấy rằng, bước chuyển mới phải được thực hiện bằng sự kết hợp giữa các giá trị, bản sắc văn hóa tư tưởng của dân tộc với các tinh hoa tư tưởng văn hóa nhân loại Điều này có nghĩa là trước hết, chúng ta phải trở về với điểm tựa cội nguồn của dân tộc để có những sáng tạo mới Trong lịch sử đương đại Việt Nam, có thể thấy rằng,
Trang 10đến chủ nghĩa Mác - Lênin là một bước chuyển vạch thời đại đối với dân tộc ta Và, cũng có thể khẳng định rằng, chính bước chuyển tư tưởng vĩ đại này đã là cơ sở vững chắc để tạo nền móng thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong thời đại lịch sử mới - thời đại Việt Nam trở thành một dân tộc có thể sánh ngang tầm với các dân tộc văn minh khác trên thế giới Vì thế,
đi sâu nghiên cứu bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa
yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin để làm rõ nội dung, thực chất của
bước chuyển tư tưởng; từ đó rút ra ý nghĩa và những bài học lịch sử đối với
công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay là vấn đề rất cần thiết và có giá trị khoa học Xuất phát từ những nhu cầu cấp thiết nói trên, chúng tôi chọn
vấn đề “Bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước
đến chủ nghĩa Mác - Lênin” làm đề tài thực hiện luận án Tiến sĩ triết học
của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, đã được
các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau đề cập trong những công trình, chuyên
khảo nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh Trước hết là chuyên khảo “Góp phần
tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Sỹ Thắng, Luận án Phó Tiến sĩ triết
học, Viện Triết học, Hà Nội, 1993 Về nội dung, chuyên khảo gồm 2 chương Theo chúng tôi, trong toàn bộ công trình nêu trên, vấn đề bước nhảy vọt cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh mới được tác giả trình bày sơ lược và mới chỉ đề cập đến thời
điểm xảy bước nhảy vọt cơ bản đó; chứ chưa đề cập đến nội dung, thực chất bước
chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc
Trong công trình “Tìm hiểu quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chủ nghĩa yêu nước
đến chủ nghĩa Mác - Lênin”, Luận án Phó Tiến sĩ Sử học, Viện Sử học, Hà Nội,
1985, tác giả Đức Vượng đã xác định mục đích của luận án là “từ góc độ sử học,
luận án hệ thống hóa lại những diễn biến của một quá trình phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời chứng minh một cách khoa học cho những luận điểm đã được khẳng định, để rồi đi đến những kết luận cần thiết” [165, 13] Điều quan tâm nhất của chúng tôi đối với công trình này là, tác giả Đức Vượng, dưới góc độ sử học, đã nêu diễn biến của quá trình chuyển biến tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng cách khái quát những sự kiện, những hoạt động của Người trong thời gian sống và hoạt động ở nước ngoài
Trang 11là việc Người gặp được tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I Lênin, (thường được gọi là Sơ thảo luận cương
hay Luận cương V.I.Lênin)
Có thể nói, trong chuyên khảo trên, tác giả Đức Vượng đã trình bày khá chi tiết về các bước chuyển ở Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu nước Tuy nhiên,
theo chúng tôi, thực chất vấn đề bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc vẫn
chưa được tác giả phân tích làm rõ
Các tác giả Đức Vượng - Nguyễn Văn Khoan, còn có chuyên khảo “Hành trình cứu
nước của Bác Hồ”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990 Trong công trình này, ở phần một - Tìm đường cứu nước - các tác giả trình bày quá trình Nguyễn Tất Thành ra đi tìm
đường cứu nước với những hoạt động lý luận và thực tiễn của Người ở nước ngoài, đặc biệt là tại Pháp Ở đây, các tác giả cũng nêu sự hình thành bước ngoặt căn bản
trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc khi Người tiếp xúc với Sơ thảo luận cương Trong chuyên khảo “Con đường dẫn Mác đến chủ nghĩa cộng sản và con đường dẫn
Bác Hồ đến chủ nghĩa Mác - Lênin”, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1988, tác giả
Nguyễn Văn Phùng đã đưa ra 4 cột mốc quan trọng trong tiến trình tư tưởng Hồ Chí Minh Bước ngoặt căn bản nhất chính là việc Người tìm ra chân lý cứu nước qua
tiếp cận “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc
địa” của V.I Lênin Tác giả khẳng định “qua 10 năm tìm tòi nghiên cứu
(1911-1920), vượt qua bao gian khổ hy sinh, vượt qua bao nhiêu đại dương, đi qua bao nhiêu đất nước, khảo sát những kinh nghiệm cách mạng, kể cả những kinh nghiệm mới nhất của châu Âu, châu Mỹ, Hồ Chí Minh đã tìm được con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn, đó là con đường cách mạng vô sản, là theo chủ nghĩa Mác - Lênin” [125, 44] Có thể nói, tác giả đã trình bày khá kỹ những cột mốc quan trọng trong tiến trình tư tưởng Hồ Chí Minh từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng chủ yếu nhấn mạnh bước ngoặt căn bản trong hành trình tư tưởng của
Hồ Chí Minh khi Người tiếp xúc với Sơ thảo luận cương Về nội dung, thực chất
bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc vẫn chưa được đi sâu, phân tích làm rõ trong chuyên khảo này
Tác giả Nguyễn Phan Quang trong công trình “Thêm một số tư liệu về hoạt động của
Nguyễn Ái Quốc tại Pháp 1917-1923”, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1995, cũng đề cập
đến những cột mốc quan trọng trong con đường dẫn Bác Hồ từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin Tác giả khẳng định, bước ngoặt được hình thành trong
tư tưởng và cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh chính là ở việc Người bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản tại Đại hội Tua (Tours) Theo chúng tôi, tuy đề cập rất đầy đủ những cột mốc quan trọng trong hành trình tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, nhưng
quá trình, nội dung, thực chất của bước chuyển tư tưởng đó vẫn chưa được làm rõ
Liên quan đến đề tài mà chúng tôi nghiên cứu, có tác giả Phạm Xanh với công trình
“Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam (1921 -
1930)”, Luận án Phó Tiến sĩ Sử học, Đại học Tổng hợp Hà Hội, 1989 Trong công
trình này, tác giả đã nêu những chuyển biến trong nhận thức, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc thể hiện qua những hoạt động của Người trong giai đoạn 1911 - 1920 Tác
Trang 12ngoặt quyết định trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc cũng là sự kiện khởi đầu một bước ngoặt căn bản trong lịch sử và sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam Thực hiện bước ngoặt đó, Người đã hoàn tất chặng đường đầu của hành trình cứu nước, đã tìm ra chân lý của thời đại và bắt đầu cuộc đấu tranh đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta vào quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới” [166, 33-34] Với công trình này, tác giả có đề cập đến bước ngoặt căn bản trong
hành trình tìm đường cứu nước của Người khi tiếp cận Sơ thảo luận cương, chứ không nghiên cứu nội dung, thực chất bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc và ý nghĩa bước chuyển đối với cách mạng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Một công trình có liên quan đến đề tài, là công trình “Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi
lạc” của GS Song Thành, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005 Đây là một công
trình khá đồ sộ và trình bày tương đối đầy đủ về tư tưởng Hồ Chí Minh Tác giả đã khái quát con đường Hồ Chí Minh từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là “con đường phát triển hợp lôgic, phù hợp với quá trình vận động và phát triển của tư tưởng cách mạng Việt Nam” [134, 73] Tuy nhiên, tác giả không đề cập đến sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, mới chỉ nêu những xuất phát điểm của Hồ Chí Minh khi Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là từ đặc điểm lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc, từ nhu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam và xu thế của thời đại Chúng tôi rất tán thành với khẳng định của GS Song Thành, rằng “công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là ở chỗ đã từ chủ nghĩa yêu nước, từ truyền thống văn hóa của dân tộc đến với chủ nghĩa Mác
- Lênin, hình thành quan niệm và thiết kế ra con đường biến lý tưởng đó từ ước mơ, khát vọng từng bước trở thành hiện thực trên đất nước ta”[134, 39]
Bên cạnh đó, còn có một số chuyên khảo, bài báo khoa học đề cập đến bước
chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, nhưng không đi sâu phân tích, làm rõ Chẳng
hạn như : “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng
Tám, tập 3 Thành công của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” của GS
Trần Văn Giàu, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1993; “Hồ Chí Minh - từ nhận thức lịch sử
đến hành động cách mạng” của GS Phan Ngọc Liên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1999; “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam” của tập thể
tác giả do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2003; “Chủ tịch Hồ Chí Minh người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải phóng dân
tộc” của tác giả Hùng Thắng - Nguyễn Thành, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2005; “Bước chuyển từ yêu nước đến tư tưởng cứu nước của Hồ Chí Minh” của tác giả Trịnh Tùng - Đặng Văn Hồ đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng, số 04-1993; “Con
đường Hồ Chí Minh đi đến chủ nghĩa Mác - Lênin, một phương pháp tiếp cận” của
GS Đặng Xuân Kỳ đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng, số 01-1993; “Từ sự gặp gỡ
Nguyễn Ái Quốc và chủ nghĩa Mác - Lênin đến sự lựa chọn con đường cách mạng của nhân dân Việt Nam” của tác giả Trần Duy Khang - Đinh Xuân Lý đăng trên
Tạp chí Lịch sử Đảng, số 03-1994; “Con đường cách mạng Hồ Chí Minh” của tác giả Trịnh Nhu đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng, số 04-1994; “Hồ Chí Minh và sự chủ
động sáng tạo trong việc lựa chọn con đường cứu nước” của tác giả Trình Mưu đăng
trên Tạp chí Lịch sử Đảng, số 05-1994; “Vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc từ C
Mác đến Hồ Chí Minh” của GS Song Thành đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số
Trang 1306-tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam” của tác giả Trịnh Nhu đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 5 (78), 1997;
“Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam - cơ sở tiếp nhận và vận dụng kinh nghiệm cách mạng Tháng 10” của tác giả Bùi Đình Phong đăng trên Tạp chí Lịch sử
Đảng số 10 (83), 1997; “Con đường cứu nước Việt Nam từ Phan Bội Châu đến
Nguyễn Ái Quốc” của tác giả Chương Thâu đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 05
(102), 1999; “Quá trình hình thành tư tưởng về con đường xã hội chủ nghĩa của cách
mạng Việt Nam ở Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Văn Huyên đăng trên Tạp chí
Triết học số 06 (112), 1999; “Một bước ngoặt đặc biệt quan trọng của cách mạng
Việt Nam” của GS Đặng Xuân Kỳ đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 01 (122),
2001, “Sự chuyển biến của tư tưởng yêu nước Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại
nửa đầu thế kỷ XX” của Trịnh Trí Thức và Đỗ Thị Hòa Hới đăng trên Tạp chí Triết
học số 02 (189), 2007, v.v
Các công trình của tác giả nước ngoài có liên quan nhiều đến đề tài luận án có thể
kể như: “Đồng chí Hồ Chí Minh” của E Côbêlép (Kobelev); “Chân dung một người
Bônsêvích da vàng”của Alanh Ruxiô (Alain Ruscio); Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc và đổi mới” của Furuta Motoo, “Hồ Chí Minh - Từ Đông Dương đến Việt Nam”
của D Êmơry (Daniel Hémery) Tác giả A Ruxiô đã nghiên cứu sự hình thành và quá trình phát triển tư tưởng chính trị của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn 1917-
1923 Tác giả cho rằng điểm nút trong sự tiến triển tư tưởng chính trị của Nguyễn
Ái Quốc là việc Nguyễn Ái Quốc tiếp xúc với Sơ thảo luận cương Còn tác giả F
Motoo đề cập đến việc Hồ Chí Minh từ chủ nghĩa dân tộc đến chủ nghĩa Mác - Lênin ở mức độ sơ lược Trong công trình của mình, tác giả D Êmơry đã nêu bật lên những nét chính trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ái Quốc và đã cố gắng trình bày quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến khi bắt gặp chân lý thời đại là chủ nghĩa Mác - Lênin, thông qua những sự kiện tiêu biểu được đặt trong bối cảnh chính trị - xã hội của Việt Nam và thế giới trong từng thời kỳ cụ thể Tuy nhiên, đây là cách tiếp cận lịch sử và
cũng chưa làm rõ thực chất bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc
Tóm lại, vấn đề Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin
không phải là đề tài hoàn toàn mới, đã có nhiều tác giả đề cập dưới những góc độ khác nhau và cũng đạt được những kết quả nhất định, song vẫn chưa hoàn toàn đầy đủ, hoàn chỉnh Xuất phát từ thực tiễn công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay, chúng tôi chọn vấn đề “Bước
chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin” để nghiên cứu, với mong muốn về mặt khoa học, đi sâu, làm rõ quá trình,
nội dung, thực chất bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc trên bình diện triết học; đồng thời rút ra ý nghĩa của bước chuyển tư tưởng đối với cách mạng Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX và những bài học lịch sử đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam
hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Trang 14chất trong tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, từ người yêu nước trở thành người cộng sản chân chính
Từ mục đích nêu trên, luận án có các nhiệm vụ chủ yếu như sau:
Thứ nhất, khẳng định tính tất yếu dẫn đến bước chuyển tư tưởng của
Nguyễn Ái Quốc từ việc phân tích bối cảnh lịch sử và các tiền đề khách quan, chủ quan của bước chuyển tư tưởng;
Thứ hai, phân tích, làm rõ về nội dung và thực chất bước chuyển tư
tưởng của Nguyễn Ái Quốc;
Thứ ba, phân tích ý nghĩa to lớn từ bước chuyển tư tưởng của Nguyễn
Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, từ đó rút ra một số bài học lịch sử cho sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nói trên, luận án đã dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học, tính khách quan; nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; nguyên tắc tính toàn diện và lịch sử cụ thể trong nghiên cứu Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp lịch sử và lôgic; các phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu và một số phương pháp nghiên cứu khác,…
Để có thể thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh, chúng tôi đã tập hợp và sử dụng một khối lượng tài liệu tương đối có tính hệ thống Có thể phân thành ba nhóm tài liệu chính như sau:
Nhóm 1 - Tài liệu gốc Đây là nhóm tài liệu mà chúng tôi quan tâm đến nhiều nhất
và trước nhất, vì đây là nguồn tài liệu đáng tin cậy giúp chúng tôi hình thành những nhận định và những kết luận cần thiết liên quan đến đề tài luận án Thuộc nhóm này là những bài viết, những tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc đã được công bố trên
nhiều ấn phẩm khác nhau, tập trung nhất là trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập, 12 tập,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
Nhóm 2 - Những công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài
luận án Các công trình này tuy không nhiều lắm, nhưng lại là nguồn tài liệu quan
trọng, rất hữu ích trong việc thực hiện luận án, gồm những chuyên khảo, những bài
Trang 15trong chừng mực nhất định, từ những đánh giá, nhận định, kết luận của các tác giả đó, chúng tôi tiếp tục đi sâu, làm rõ và hệ thống hóa hơn; đồng thời chỉ ra thực chất bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc
Nhóm 3 - Những hồi ký đã được công bố Thuộc nhóm tài liệu này là hồi ký của các
chiến sĩ cách mạng lão thành của Việt Nam, hoạt động cùng thời với Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ghi lại những kí ức khác nhau về những sự kiện, những hoàn cảnh khác nhau; hoặc kí ức của những người nước ngoài đã sống và làm việc với Người Với đề tài mà chúng tôi đang thực hiện, nhóm tài liệu này có tác dụng hỗ trợ nhằm minh họa, làm rõ hơn những sự kiện, những nhân vật, hoặc một thời điểm lịch sử nào đó có liên quan đến luận án
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án làm sáng tỏ và nổi bật về nội dung và thực chất bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, đó là bước chuyển từ lập trường dân tộc, chủ nghĩa yêu nước
sang lập trường giai cấp công nhân và chủ nghĩa cộng sản Về mặt triết học, đó là
bước chuyển về thế giới quan và phương pháp luận Luận án khẳng định, chính bước
chuyển có tính vạch thời đại về tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc đã đánh dấu sự
chuyển hướng cơ bản con đường cách mạng của Việt Nam, và các nước thuộc địa - trước hết là thuộc địa của Pháp Đồng thời đã khẳng định rõ, bước chuyển đánh dấu sự hình thành về cơ bản tư tưởng vừa khoa học, vừa cách mạng của Nguyễn Ái Quốc về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
6 Cái mới của luận án
Thứ nhất, trên cơ sở tiếp cận dưới góc độ triết học lịch sử và triết học văn hóa, luận
án đã làm rõ về nội dung, thực chất bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc từ
chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin
Thứ hai, trên cơ sở phân tích nội dung, thực chất và ý nghĩa của bước chuyển tư
tưởng Nguyễn Ái Quốc, luận án rút ra những bài học lịch sử có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm 201 trang, trong đó ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung gồm 185 trang, được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết và danh mục 225 tài liệu tham khảo
Trang 16Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ CÁC TIỀN ĐỀ DẪN ĐẾN BƯỚC CHUYỂN TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TỪ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC ĐẾN CHỦ NGHĨA MÁC -
LÊNIN
1.1 BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM THỜI KỲ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX ẢNH HƯỞNG ĐẾN BƯỚC CHUYỂN TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TỪ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC ĐẾN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
1.1.1 Đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội thế giới
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử thế giới có nhiều chuyển biến to lớn, chuẩn
bị cho một bước ngoặt trong tiến trình phát triển của nhân loại
Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển dần lên giai đoạn độc quyền - chủ nghĩa đế quốc Thời kỳ này diễn ra vào 30 năm cuối của thế kỷ XIX và hoàn thành vào thời điểm trước chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918) bùng nổ Về đặc điểm, tình hình thì hai giai đoạn này có sự khác biệt, song bản chất của chủ nghĩa tư bản không hề thay đổi Quy luật và mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản vẫn tồn tại Nổi bật là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã đạt trình độ xã hội hóa và chuyên môn hóa với việc chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và quy luật phát triển không đồng đều về kinh tế và chính trị giữa các nước tư bản, đế quốc Mâu thuẫn này làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản càng thêm gay gắt
Đến cuối thế kỷ XIX, việc bình định về quân sự của các nước đế quốc với các nước thuộc địa về cơ bản hoàn thành Hầu hết các nước nhược tiểu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ La tinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc Các nước đế quốc đặt ách áp bức thực dân dưới các hình thức khác nhau ở hầu hết các nước thuộc địa Đặc điểm chủ yếu của hệ thống thuộc địa đế quốc chủ nghĩa là việc phá hủy mọi tiềm năng, truyền thống vốn có, trình độ văn minh, nền kinh tế khá phát triển, khiến các nước này phải phụ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc Từ đó đã nảy sinh mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân, đế quốc Mâu thuẫn này đã trở thành một trong những mâu thuẫn cơ bản của thời đại đế quốc chủ nghĩa Nó là điều kiện khách quan để phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa gắn bó với phong trào cách mạng quốc tế, đặc biệt là phong trào cách mạng ở chính quốc Phong trào giải phóng dân
Trang 17cuộc cách mạng vô sản
Bị áp bức bóc lột nặng nề, nhân dân các dân tộc thuộc địa không ngừng đứng lên đấu tranh chống đế quốc để giành độc lập, tự do, bất chấp giai cấp phong kiến thống trị trong nước đã đầu hàng, làm tay sai cho chúng Song, cho đến chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào giải phóng dân tộc vẫn chưa đủ sức làm rung chuyển nền móng
của hệ thống thuộc địa, bởi lẽ, một mặt do chủ nghĩa đế quốc còn tương đối mạnh,
mặt khác do phong trào giải phóng dân tộc chưa kết hợp được với phong trào cách
mạng vô sản ở các nước tư bản
Chiến tranh đế quốc làm cho các thuộc địa lâm vào tình cảnh điêu đứng Trong lúc các dân tộc bị áp bức đang sống cuộc đời tăm tối thì “tiếng sấm của Cách mạng Tháng Mười Nga đã vang dội làm chấn động toàn thể địa cầu” [112, 314] Được Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 nêu gương, cổ vũ, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới, đặc biệt là châu Á mà điển hình là Trung Quốc,
Ấn Độ, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Inđônêxia, v.v bão táp cách mạng với “phương Đông thức
tỉnh” là nét đặc sắc của tình hình quốc tế trong giai đoạn này
Trong bối cảnh ấy, V.I Lênin (1870 - 1924) đã phân tích tình hình cụ thể, tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, nêu ra lý luận cách mạng vô sản có thể thành công ở một số nước, thậm chí trong một nước tư bản phát triển trung bình; đồng thời nêu lên nguyên lý về cách mạng giải phóng các nước thuộc địa, về sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản ở chính quốc và các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc Thực tiễn chứng minh lý luận của V.I Lênin là đúng đắn với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga dưới sự lãnh đạo của Người là minh chứng lịch sử Thắng lợi đó là nguồn cổ vũ lớn lao đối với phong trào cách mạng thế giới, nhất là cách mạng ở các nước thuộc địa Năm 1919, V.I Lênin cùng các nhà cách mạng chân chính ở các nước, thành lập Quốc tế Cộng sản - một tổ chức quốc tế của phong trào cách mạng thế giới Quốc tế Cộng sản ra đời, đánh dấu bước phát triển mới về chất của phong trào cách mạng vô sản và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn thế giới
Tình hình của thế giới nói chung, tình hình Trung Quốc, Nhật Bản ở châu Á nói riêng đã ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Việt Nam
Vào đầu thế kỷ XX, Trung Quốc từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước phong kiến nửa thuộc địa Triều đình Mãn Thanh vừa tăng cường đàn áp cuộc đấu tranh chống phong kiến của nhân dân Trung Quốc, vừa nhượng bộ ngày càng nhiều hơn nữa đối với đế quốc phương Tây Phan Bội Châu khi so sánh giai cấp phong kiến
ở hai nước Việt Nam, Trung Quốc đã nhận thấy sự giống nhau: “triều đình chuyên chế chẳng có ai ra trò, Mãn Thanh với triều đình nhà Nguyễn ta cũng là một phường chó chết mà thôi” [8, 52-54] Khuynh hướng duy tân theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa phương Tây càng mạnh mẽ, đặc biệt trong giới trí thức, xuất thân từ sĩ phu phong kiến, hay giai cấp tư sản mới hình thành Tuy phong trào Duy tân do Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu phát động đã thất bại và các biện pháp của vua Quang Tự không được thi hành, nhưng nhân dân Trung Quốc được thức tỉnh bởi tinh thần yêu nước Họ đề cao ý thức độc lập dân tộc chống ngoại xâm, ý thức dân chủ chống
Trang 18chuyên chế và trào lưu tư tưởng văn hóa tiến bộ phương Tây đã thâm nhập Trung Quốc
Phong trào Duy tân Trung Quốc đã tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây vào Việt Nam Trào lưu tư tưởng mới này đã có cơ sở xã hội ở Việt Nam để tiếp nhận, nhưng không phải thông qua giai cấp tư sản dân tộc (lúc này chưa hình thành), mà thông qua một số sĩ phu tiến bộ trong giai cấp phong kiến có xu hướng tư sản hóa
Nhật Bản, vào đầu thế kỷ XX đã bắt đầu chuyển sang giai đoạn đế quốc gần 30 năm kể từ thời Minh Trị (Meiji) lên ngôi 1868 đến năm nổ ra cuộc chiến tranh Trung - Nhật (1894) Trong giai đoạn này, Nhật Bản đã tạo nên một kỷ nguyên Minh Trị Duy tân mở rộng nền dân chủ đại nghị, ban hành quyền bình đẳng trong nhân dân, mở cửa bang giao quốc tế, đổi mới và phát triển đất nước Phong trào dân quyền và tự do là sự biểu hiện quyết tâm của chính quyền Minh Trị Nhật Bản (1868 - 1912) trong việc kết hợp các giá trị truyền thống nền tảng với tư tưởng cách tân, học tập phương Tây về kinh tế kỹ thuật lẫn văn hóa Quá trình kết hợp các giá trị phương Đông và phương Tây đã được phản ánh trong sinh hoạt tư tưởng lúc bấy giờ
Công cuộc Duy tân Minh Trị đã làm biến đổi xã hội Nhật Bản một cách toàn diện và sâu sắc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước tư bản với nền công nghiệp phát triển cao và hiện đại Tư tưởng chỉ đạo lực lượng xã hội làm nên kỳ tích trong giai đoạn quá độ đó của nước Nhật (giữ được độc lập dân tộc và thoát khỏi chế độ phong kiến lỗi thời), là tư tưởng cải cách Duy tân của đẳng cấp quý tộc tư sản hóa, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại Những khẩu hiệu giành quyền bình đẳng cho nhân dân, xây dựng chính thể lập hiến, đòi dân chủ về chính trị,… đã góp phần làm phát triển và hoàn thiện cơ cấu chính quyền mới Hiến pháp Nhật Bản đầu tiên
ra đời, vừa làm thỏa mãn nhu cầu quyền lực của giai cấp thống trị, đồng thời cũng phản ánh sự thắng lợi của cuộc đấu tranh của nhân dân Nhật Bản Chính vì lẽ đó, Nhật Bản không những không rơi vào số phận của các nước thuộc địa hay phụ thuộc của thực dân phương Tây mà lại tiến hành xâm lược các nước châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên để làm thuộc địa Trong cuộc chiến tranh giành thế lực ở phương Đông, chiến tranh Nga - Nhật (1904 -1905) nổ ra và kết thúc bằng thắng lợi của Nhật Bản Chiến thắng của Nhật Bản có tác dụng cổ vũ một số nhà yêu nước Việt Nam Họ hướng về Nhật Bản, một nước “đồng văn, đồng chủng”, tân tiến để cầu viện như Tiểu La Nguyễn Thành đã nói “…Vậy thì bây giờ muốn tìm ngoại viện, không gì bằng sang Nhật là hơn cả” [8, 44] Song ngay lúc bấy giờ không phải không có người đã nhìn thấy “tâm địa đế quốc chủ nghĩa” của Nhật Bản và cảnh giác với việc cầu viện Nhật Bản để đánh Pháp Tăng Bạt Hổ cho rằng dựa vào Nhật để đánh Pháp chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, điều mà sau này Nguyễn Ái Quốc cũng đã nhấn mạnh
Tóm lại, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hoàn cảnh lịch sử của thế giới có nhiều yếu tố tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc Chủ nghĩa tư bản ở phương Tây phát triển đến giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và đã tiến hành xâm lược các dân tộc phương Đông, trong có Việt Nam Các cuộc canh tân đất nước của Trung Quốc, Nhật Bản tạo ra sự phát triển kinh tế xã hội, làm biến đổi bộ mặt đất nước, thay đổi căn bản chế độ chính trị Thực tiễn sinh động ấy đặt câu hỏi
Trang 19tộc, phát triển đất nước theo kịp các nước khu vực Bên cạnh đó, phong trào cách mạng vô sản phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, chủ nghĩa xã hội đang trở thành hiện thực Hệ tư tưởng của giai cấp công nhân ngày càng ảnh hưởng rộng khắp trên phạm vi thế giới Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc đang ngày càng phát triển nhanh chóng Những sự kiện lịch sử lớn này có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc nói riêng và tư tưởng dân tộc nói chung
1.1.2 Đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam
Vào đầu thế kỷ XIX, triều đình phong kiến nhà Nguyễn bắt đầu thiết lập chế độ chuyên chế cực đoan Các nhà sử học Việt Nam cho rằng, trong lịch sử nước ta, các vương triều tiến bộ trước đây đều được thiết lập trên sự thắng lợi của một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, hoặc sau khi thiết lập, đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc, củng cố thống nhất quốc gia Đó là cơ sở chủ yếu tạo nên sức mạnh cho các vương triều Nhà Nguyễn là vương triều phong kiến cuối cùng được thiết lập bằng một cuộc chiến tranh phản cách mạng nhờ thế lực xâm lược của nước ngoài Nguyễn Ánh lên làm vua, lập ra triều Nguyễn sau khi đã đàn áp cuộc chiến tranh cách mạng của nông dân mà nội dung cơ bản của nó là “đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân, độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia” [158, 369]
Trong lịch sử Việt Nam đã có Luật Hồng Đức dưới thời Lê (1428 - 1527) với nhiều
tiến bộ Năm 1815, nhà Nguyễn ban hành “Gia Long Hoàng triều luật lệ” nói là đã
tham khảo và kế thừa Luật Hồng Đức, nhưng thực chất đã gạt bỏ hết những điều tiến
bộ của Luật Hồng Đức, mà chủ yếu sao chép Luật Mãn Thanh ở Trung Quốc Hoàng
triều luật lệ tăng cường phạm vi trừng trị và có những hình thức trừng trị tàn bạo, bất
công nhằm bảo vệ nền chuyên chế Các vua nhà Nguyễn là “thiên tử”, có uy quyền tuyệt đối, thâu tóm tất cả quyền lập pháp, hành pháp; đồng thời, giai cấp địa chủ và hệ thống quan lại phong kiến là rường cột của chế độ phong kiến đương thời
Nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến chuyên chế không còn khả năng phát huy được tiềm lực của nhân dân Cùng với pháp luật hà khắc, quân đội đông đảo, tư tưởng Nho giáo bảo thủ đã tiếp tục kìm hãm nhân dân trong trật tự của nền chuyên chế cực đoan Mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ phong kiến với nông dân ngày càng gay gắt, dẫn tới đỉnh cao là các cuộc chiến tranh nông dân nổ ra liên tiếp ở khắp nơi Các vua Nguyễn thẳng tay đàn áp, dìm phong trào nông dân trong bể máu Đúng lúc triều Nguyễn khủng hoảng thì thực dân Pháp ráo riết xâm lược Việt Nam Trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, giai cấp phong kiến Việt Nam đã vội vã đầu hàng đế quốc, phản bội quyền lợi dân tộc Từ một quốc gia phong kiến độc lập, thống nhất, có chủ quyền, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến, không có độc lập, không có tự do, bị chia cắt làm nhiều mảnh
Trước khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, chế độ phong kiến Việt Nam đang đứng trước những thử thách to lớn: hoặc là mở cửa ra thế giới, mạnh dạn cách tân, cải tổ bộ máy nhà nước, kích thích phát triển công thương nghiệp như Nhật Bản đã làm;
hoặc bế quan tỏa cảng, nhân danh bảo vệ cái Tôi dân tộc mà duy trì các lề thói,
Trang 20phong tục, cách thức tổ chức đời sống xã hội cũ xưa Trong sự do dự ấy của triều đình nhà Nguyễn, đã xuất hiện các nhà canh tân, cải cách như Nguyễn Trường Tộ,
Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Thú Thứ và Đặng Huy Trứ dưới thời Tự Đức, với phương án đổi mới không thua kém gì các nhà cải cách thời Minh Trị bên Nhật Bản; Khang Hữu
Vi, Lương Khải Siêu bên Trung Quốc Đối với các tư tưởng Canh tân, vua Tự Đức và
triều đình ít nhiều đã chấp nhận các đề nghị có liên quan đến các lĩnh vực giáo dục, thủ công nghiệp, nội thương, ngoại thương, khai mỏ, đóng tàu, đúc súng; “nhưng đó là sự chấp nhận có tính chất tùy tiện, ngẫu hứng mà không nằm trong một tư tưởng chiến lược được vạch ra và xác định một cách rõ ràng Hơn nữa, lề lối làm việc lại rất quan liêu giấy tờ, chỉ có phê chuẩn rồi sau đó không có những biện pháp cần thiết để thực hiện và kiểm tra, đôn đốc thực hiện Một lề lối làm việc như vậy nằm trong thể chế chính trị đương thời mà lẽ ra cần phải và có thể canh tân - lề lối làm việc ấy cũng thuộc về nhược điểm cố hữu của nhà trường Nho giáo chỉ dạy lý luận mà không dạy các phương pháp tổ chức thực hành” [139, 310] Cho nên cuối cùng, các đề nghị canh tân, cải cách ấy dù có nhiều tư tưởng đã được đánh giá là tiến bộ, táo bạo, cũng
không được thực hiện trên thực tế Theo chúng tôi, sự thất bại của những tư tưởng
canh tân, cải cách ở Việt Nam thời kỳ ấy là sự thất bại của cái mới, cái tiến bộ trước
cái lỗi thời đang còn khá mạnh Sự thất bại đó còn do nguyên nhân, vẫn chưa xuất hiện một trào lưu đổi mới thật sự ngay trong lòng xã hội Việt Nam, vẫn chưa có một giá đỡ, tức điều kiện hiện thực cho cái mới có khả năng phát huy sức mạnh và tính hiệu quả của nó Hậu quả của việc không thực hiện cải cách, đồng thời thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng, quân quyền cực đoan của triều đình nhà Nguyễn đã dẫn đến sự thất bại nhanh chóng trước sức mạnh xâm lược của thực dân Pháp
Để đảm bảo cho nền thống trị của chúng, thực dân Pháp đã không thủ tiêu lợi ích của giai cấp phong kiến - địa chủ bản xứ, mà trái lại tìm mọi cách dung dưỡng nó, biến nó thành cơ sở xã hội vững chắc cho sự thống trị của chúng ở thuộc địa; đồng thời thực dân Pháp đã câu kết với giai cấp địa chủ quý tộc phong kiến Việt Nam thi hành một
chính sách kinh tế thực dân rất bảo thủ, đó là duy trì phương thức sản xuất phong kiến
kết hợp với việc thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
(quan hệ sản xuất và những yếu tố của kiến trúc thượng tầng phong kiến đan xen với các yếu tố của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa) Cho nên, tính chất xã hội Việt
Nam giai đoạn này là chế độ thuộc địa nửa phong kiến
Thực dân Pháp thi hành thủ đoạn độc quyền kinh tế và đặc biệt coi trọng thủ đoạn bóc lột phi kinh tế theo thời kỳ trung cổ Đó là chế độ thuế khóa vô cùng nặng nề và hết sức vô lý Toàn bộ chính sách kinh tế của thực dân Pháp dẫn tới kết quả tất yếu, đó là nền kinh tế Việt Nam phải phụ thuộc vào kinh tế chính quốc và không phát triển toàn diện được Nhân dân Việt Nam bị bần cùng hóa Trên lĩnh vực văn hóa, thực dân Pháp đã thực hiện một chính sách văn hóa nô dịch, nhằm làm cho nhân dân Việt Nam đoạn tuyệt với những giá trị truyền thống tốt đẹp, đồng thời phục hồi những mặt lạc hậu, phản động trong văn hóa phong kiến Chúng khuyến khích truyền bá văn chương yêu đương ủy mị, đưa văn hóa phương Tây, trước hết là văn hóa Pháp, chống lại văn hóa truyền thống dân tộc Cùng với việc hạn chế đi tới sự thủ tiêu Nho học, thực dân Pháp đào tạo những người Tây học để phục vụ bộ máy thống trị của thực dân, đúng như nhận xét của một nhà chí sĩ yêu nước:
Trang 21tiếng Pháp, đã coi là đủ rồi Còn như điện học, hóa học, hình học, thương học người Pháp có đặt ra một khoa nào đâu … người Pháp chỉ khoái trá về chỗ nó làm mất chí khí của người ta thôi… Cách làm cho ta ngu, ta yếu nó chỉ sợ ta không càng ngày càng ngu hơn, càng ngày càng yếu hơn mà thôi” [145, 72] Như vậy, xã hội Việt Nam đã trì trệ hàng bao thế kỷ lại bị chế độ thực dân kìm hãm trong vòng lạc hậu
Tình trạng đó, đã dẫn tới xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam: mâu
thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc; mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ quý tộc phong kiến
Hai mâu thuẫn này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vì sự câu kết giữa đế quốc và phong kiến là đặc trưng của chế độ thuộc địa Thực dân Pháp muốn bóc lột nhân dân phải dựa vào giai cấp địa chủ phong kiến; giai cấp địa chủ phong kiến muốn bóc lột nhân dân phải dựa vào thực dân Pháp Bản chất sâu xa của hai mâu thuẫn này là vì nước Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai đã mất độc lập; dân tộc Việt Nam không có hạnh phúc, tự do; nông dân Việt Nam không có ruộng đất Họ bị tước hết mọi quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục Nỗi nhục lớn nhất của nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ là mất nước, mất mọi quyền về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, luật pháp, thậm chí cả chủ quyền và nhân phẩm … Nhân dân Việt Nam vừa không có quyền sống, quyền tự do, lại còn bị xâm phạm về thân thể, chịu nhục hình, bị đối xử dã man, vô nhân đạo, bị hạ thấp nhân phẩm Dưới chế độ thuộc địa, người bản xứ có thể bị bắt bớ, giam giữ bất cứ lúc nào hoặc bị kết án tử hình vắng mặt (Nguyễn Ái Quốc đã từng bị thực dân, phong kiến kết án tử hình vắng mặt - NTH) Người Việt Nam không có quyền tự do di chuyển và lựa chọn cho mình nơi cư trú trong phạm vi quốc gia hay tới một nước nào đó Mỗi người không có quyền sở hữu tài sản, quyền tự do chính kiến và tự do không
bị ngăn cản thực hiện chính kiến của mình, tự do tìm kiếm, thu nhận và phổ biến thông tin, tư tưởng Chế độ thực dân giam hãm con người trong sự què quặt, méo mó về trí tuệ Họ không thể có sự phát triển tự do của cá nhân trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, sức khỏe, nghề nghiệp, … Nói ngắn gọn và khá đầy đủ,
người dân thuộc địa không có quyền công dân mà chỉ là thần dân Những nội dung
nêu trên đã được Nguyễn Ái Quốc nhận thức ở những mức độ nhất định trước khi ra
đi tìm đường cứu nước
Từ đó, có thể nói, xã hội Việt Nam muốn đi lên phải đồng thời giải quyết cả hai mâu thuẫn trên Đánh đổ chủ nghĩa đế quốc phải đi đôi xóa bỏ chế độ phong kiến; đấu tranh giành độc lập dân tộc không thể tách rời đấu tranh giành dân chủ, tự do, đáp ứng yêu cầu của nông dân muốn làm chủ ruộng đất; của công nhân muốn làm chủ xí nghiệp, của trí thức muốn được phát triển văn hóa dân tộc, của toàn dân muốn làm
chủ đất nước Giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc và tự do ở nước ta vào lúc này có
quan hệ chặt chẽ với nhau và là yêu cầu bức thiết của dân tộc
Như vậy, trước khi thực dân Pháp xâm lược, thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam là chế độ phong kiến thuần nhất chưa xuất hiện nhu cầu cải cách và phát triển lên một phương thức sản xuất mới Khi thực dân Pháp xâm lược, các cuộc cải cách của Trung Quốc, Nhật Bản dội vào, các trào lưu truyền bá văn hóa phương Tây, sự tác động của chủ nghĩa tư bản, đã buộc dân tộc Việt Nam phải chuyển biến theo những điều kiện
Trang 22riêng của mình Có thể nói, những chuyển biến về kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một trong những điều kiện quan trọng dẫn đến bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc
Trang 23đời của giai cấp công nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX
Các phong trào yêu nước và cách mạng ở nước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX phát triển khá mạnh mẽ, thể hiện tinh thần yêu nước quật cường của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và phong kiến Đó là phong trào Cần Vương (1885-1896) với các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu: Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 - 1892) của Nguyễn Thiện Thuật, Khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887) của Phạm Bành và Đinh Công Tráng, Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1887-1892) của Tống Duy Tân và Cao Điển, Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1895) của Phan Đình Phùng [73, 66-85]; phong trào nông dân Yên Thế (1883-1913) do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo; phong trào nông dân mang màu sắc tôn giáo ở Nam Bộ đứng lên chống thực dân, phong kiến Các cuộc khởi nghĩa đã khơi dậy tinh thần yêu nước của cả dân tộc, tạo nên một khí thế hào hùng chống ngoại xâm và phong kiến Sau đó là các phong trào cách mạng như phong trào cách mạng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu với xu hướng vũ trang bạo động, của Phan Châu Trinh với xu hướng bất bạo động Bên cạnh đó, có các cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản, tiểu tư sản trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, Dưới đây, chúng tôi chỉ trình bày các phong trào yêu nước và phong trào cách mạng tiêu biểu, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự chuyển biến tư tưởng của
Nguyễn Ái Quốc
Phong trào Cần Vương được phát động chính thức từ năm 1885 do vua Hàm Nghi và Thượng thư Bộ binh Tôn Thất Thuyết khởi xướng Các phong trào Cần Vương nổ ra trên quy mô lớn từ Thái Bình, Hưng Yên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đến Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam và vào tới Bình Định Nó kéo suốt một dải từ Bắc Kỳ đến Trung Kỳ trong những năm 1885, 1886 và 1887, sau đó giảm dần sức mạnh, rồi
đi đến kết thúc thất bại với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê vào năm 1895
do Phan Đình Phùng lãnh đạo Tấm lòng yêu nước của những người khởi xướng, lãnh đạo các phong trào Cần Vương - những phần tử ưu tú, tiến bộ nhất trong giai cấp phong kiến - rất đáng khâm phục và sẽ được lịch sử mãi mãi ghi nhận; nhưng đường lối, giải pháp cứu nước của họ không thể đi tới thành công Bởi vì, trong khi phải đánh đổ phong kiến tay sai là chỗ dựa của thực dân thì họ lại lấy hệ tư tưởng phong
kiến - hệ tư tưởng Nho giáo - làm nền tảng tư tưởng; và đặc biệt là họ thiếu một tầm
Trang 24nhìn vĩ mô và phương pháp cách mạng đúng đắn Phan Đình Phùng, vị tiến sĩ tiêu biểu
cho lớp sĩ phu Cần Vương, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hương Khê đã viết: “Tôi ngẫm nghĩ lại, nước mình mấy ngàn năm nay, đất nước chẳng rộng, quân lính không mạnh, tiền của chẳng giàu, cái chỗ dựa để dựng nước là nhờ cái gốc vua tôi, cha con theo năm đạo thường mà thôi” [121, 8] Trước sự “va đập” dữ dội của thời cuộc, hệ
tư tưởng Nho giáo lúc này không còn đủ sức mạnh làm sợi dây liên kết các nhà Nho Một hệ tư tưởng không còn khả năng tự cứu mình thì làm sao nó làm nổi sứ mệnh giải nguy cho đất nước? Các sĩ phu, văn thân yêu nước thời này theo đuổi mục tiêu đánh đuổi thực dân, giành lại độc lập cho đất nước để rồi tiếp tục duy trì chế độ phong kiến đã quá lỗi thời Chế độ ấy đã bắt đầu một giai đoạn xuống dốc từ cuối thế kỷ XVIII mà cơ sở xã hội của nó là nền sản xuất nhỏ, không tạo nên được động lực cho sự hồi sinh và phát triển của đất nước
Phong trào Cần Vương thất bại là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, không phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, không phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Thất bại của phong trào Cần Vương và sự phá sản của ý thức hệ phong kiến là thất bại và phá sản của một thứ chủ nghĩa dân tộc cô độc trước thế lực thực dân tư sản Nhân dân Việt Nam phải chiến đấu ròng rã 38 năm, phải trả bằng những giá quá đắt
mới rút ra kết luận bổ ích: Chế độ phong kiến là nguồn gốc làm cho nhân dân ta lạc
hậu và mất nước Hệ tư tưởng phong kiến mà Nho giáo là nòng cốt, đã bất lực trước nhiệm vụ soi đường cho dân tộc ta chống xâm lăng, bảo vệ Tổ quốc trong thời đại đế quốc chủ nghĩa Bài học lịch sử quý giá được rút ra ở đây là: với một kẻ thù có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, được trang bị vũ khí tối tân, nếu chỉ với nhiệt tình yêu nước và vũ khí thô sơ, thì không thể chiến thắng được Vì vậy, muốn đánh thắng thực dân xâm lược, phải canh tân đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh và đặc biệt là phải biết vượt qua cái lỗi thời, lạc hậu vươn tới cái mới, cái tiến bộ
Về cuối thời kỳ bình định của thực dân Pháp, xen kẽ với việc mở rộng khai thác thuộc địa, chúng đã vấp phải những cuộc nổi dậy của nhân dân ta ở nhiều nơi, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của nông dân miền trung du Bắc Bộ bùng lên từ núi rừng Yên Thế, do Hoàng Hoa Thám (Đề Thám) lãnh đạo (1883-1913) Đây là cuộc đấu tranh vũ trang, với quy mô rộng lớn trên địa bàn các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Thái Nguyên, Lạng Sơn Đáng chú ý là cuộc khởi nghĩa nổ ra nhằm hưởng ứng tiếng súng còn đang vang rền, tuy có yếu dần ở Hương Khê của Phan Đình
Phùng, ở Hùng Lĩnh của Tống Duy Tân, ở Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật và ở Ba Đình của Đinh Công Tráng vừa ngừng xong
Yên Thế, nơi đại bản doanh của Hoàng Hoa Thám (1862-1913), cũng là nơi hội ngộ
bí mật của nhiều nhà yêu nước từ xa xôi lặn lội tìm đến như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên, Kỳ Đồng, v.v
Trang 25không được bền bỉ cả về mặt chính trị và quân sự, đã gây ra hai luồng suy nghĩ: đấu tranh vũ trang dựa vào núi rừng có khả năng duy trì và phát triển, gây cho địch nhiều thiệt hại, nhưng triển vọng cuối cùng sẽ như thế nào? Đi tới đâu? Còn chưa được giải đáp rõ ràng Ý thứ hai gợi ra suy nghĩ đi tìm giải pháp khác ôn hòa hơn trong việc chống thực dân Pháp, để chờ cơ hội thuận lợi sẽ tính sau Đó là nguồn gốc tư tưởng của khuynh hướng cải lương chủ nghĩa, mà cơ sở kinh tế xã hội của nó là giai cấp tư sản và tiểu tư sản Việt Nam mới hình thành, bị thực dân chèn ép, khống chế Thật ra,
tư tưởng bạo động vũ trang vẫn day dứt bao tâm hồn nặng lòng vì nước, thương dân Tinh thần sẵn sàng hy sinh vì nước có thừa, nhưng làm thế nào để giành lại non sông
…?
Thời đại mới, nhiệm vụ lịch sử mới đòi hòi phải có giai cấp mới, giai cấp tiên tiến đứng ra gánh vác Nhưng xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX mới đang trong quá trình
phân hóa, chưa sâu sắc Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo, bị áp bức bóc lột
nặng nề, có khả năng cách mạng lớn lao, nhưng do không đại diện cho một phương
thức sản xuất tiên tiến nên không có được một hệ tư tưởng độc lập Giai cấp tiểu tư
sản dân tộc thành thị thì lực lượng nhỏ bé, địa vị bấp bênh, không thể lãnh đạo cách
mạng, chỉ có thể là bạn đồng minh của cách mạng mà thôi Giai cấp tư sản đang
trong quá trình hình thành, chịu sự chèn ép của tư bản nước ngoài, có tinh thần dân tộc, nhưng vì quá yếu ớt nên cam phận, dễ dàng thỏa hiệp với thực dân đế quốc để
mưu sự sống còn Giai cấp công nhân bắt đầu hình thành, nhưng số lượng chưa nhiều,
đang ở giai đoạn “tự nó”, chưa trở thành một giai cấp đấu tranh tự giác, có đảng tiên phong lãnh đạo
Trước tình hình đó, lớp sĩ phu yêu nước - bộ phận tiên tiến nhất, phân hóa từ giai cấp
phong kiến, được hấp thụ ít nhiều “tân học”, đã đứng ra đảm nhiệm sứ mệnh lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xăm lược Ý thức được trách nhiệm trước lịch sử, với bầu nhiệt huyết chứa chan, vượt qua ý thức hệ Nho giáo bảo thủ, họ cố tiến lên cùng thời đại, đón nhận những luồng tư tưởng mới, mong muốn tìm phương hướng giải quyết những yêu cầu do lịch sử đặt ra Đó là những chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,.v.v
Phan Bội Châu (1867-1940) là người đại diện cho xu hướng vũ trang bạo động, theo đường lối chính trị và phương pháp cách mạng mới, theo tấm gương duy tân của Nhật Bản Năm 1905, Phan Bội Châu sang Nhật Bản, mở đầu phong trào Đông du Từ thực tế không thành công của các bậc tiền bối và của bản thân mình trong phong trào Văn
Thân, Cần Vương, ông thành lập một tổ chức cách mạng lấy tên là Duy Tân hội
(1904), tập hợp một số sĩ phu yêu nước và chọn Kỳ ngoại hầu Cường Để làm hội chủ với mục đích đánh đuổi giặc phục thù nhằm “khôi phục được Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập” [8, 33] Nhiệm vụ trước mắt là phát triển thế lực về người và tài chính, chuẩn bị cho cuộc bạo động và xuất dương cầu viện “Sau khi duy tân rồi thì dân trí sẽ mở mang, dân khí sẽ lớn mạnh hơn, dân quyền sẽ phát đạt, vận mệnh nước
ta do dân ta nắm giữ” [5, 225] Từ Nhật Bản, Phan Bội Châu gửi về nước những tác phẩm khuấy động tinh thần yêu nước, thương nòi Phong trào được tiến hành đến năm
Trang 261908, do việc Pháp - Nhật cấu kết với nhau, Nhật Bản trục xuất các chiến sĩ Đông du
ra khỏi nước mình, làm cho phong trào Đông du tan rã giữa đường
Sau thất bại của phong trào Đông du, cùng với sự thắng lợi của cách mạng Tân Hợi Trung Quốc (1911), Phan Bội Châu đã từ bỏ lập trường quân chủ, đề ra nghị án dân
chủ chủ nghĩa, thủ tiêu Duy Tân hội thành lập Việt Nam Quang phục hội (1912) Sau khi Việt Nam Quang phục hội ra đời thành lập ngay Quang phục quân thực hiện mục
tiêu “đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Một là bài trừ dị tộc, khôi phục quốc quyền Hai là phá bỏ nền chuyên chế quân chủ
vì đó là một chính thể rất xấu xa, vì nó mà mất nước Quyền lực của nhà nước là của chung toàn dân do dân quyết định Những tàn dư độc hại của chính quyền chuyên chế không còn nữa Trên mặt địa cầu, dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc hùng cường với quốc kỳ 5 sao, hoàn toàn tự do độc lập” [6, 134-135]
Trong Phan Bội Châu niên biểu, ông đã viết về những chuyển biến tư tưởng của mình
từ sau khi đến Nhật Bản Khi ông nghiên cứu nguyên nhân của các cuộc cách mạng nước ngoài và các chính thể tốt đẹp Đông Tây, tiếp thu lý luận của Rútxô (J J
Rousseau, 1712-1778), tiếp xúc các tư tưởng gia Trung Hoa, thì quan điểm về chế độ quân chủ, kể cả quân chủ lập hiến đã dần biến mất nơi ông và được thay thế bằng chế độ dân chủ
Khi Việt Nam Quang phục hội thất bại, Phan Bội Châu hướng về Tôn Dật Tiên và
nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin Một trong những nguyên nhân khiến cho sự chuyển biến tư tưởng Phan Bội Châu theo chiều hướng tiến bộ là Tôn Dân Tiên đã triệu tập Đại hội toàn quốc lần thứ II Quốc dân đảng Trung Quốc và chính thức thông qua 3 chính sách lớn: “liên Nga, liên Cộng, hỗ trợ công nông” Phan Bội Châu nhận thấy cách mạng hiện nay đã có khuynh hướng phát triển rộng rãi hướng về cách
mạng thế giới, ông liền cải tổ Việt Nam Quang phục hội thành Việt Nam Quốc dân
đảng, phỏng theo chương trình và điều lệ của tổ chức Quốc dân đảng Trung Quốc
Xuất phát từ lòng yêu nước chân thành, Phan Bội Châu không ngừng thay đổi cái cũ và tiếp thu cái mới, cốt làm sao giành được độc lập cho nước nhà Ông nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, bước đầu hiểu thêm một số vấn đề, càng nhận thấy hạn chế của mình và đặt nhiều kỳ vọng vào Nguyễn Ái Quốc Sự chuyển biến tư tưởng cách mạng của Phan Bội Châu qua các thời kỳ theo khuynh hướng quân chủ - quân chủ lập hiến - dân chủ tư sản và cuối cùng dừng lại một chút với quan điểm xã hội chủ nghĩa Xét cho cùng, nguyên nhân dẫn đến sự chuyển biến đó được quy định bởi mục tiêu cứu nước, đuổi giặc, thực hiện dân quyền - tự do - bình đẳng và phát huy dân khí - đoàn kết thương yêu, chấn hưng dân trí - khai mở trí tuệ cho nhân dân Việt Nam Phan Bội Châu là nhà yêu nước, nhà tư tưởng, danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam Tên tuổi của cụ đã chiếu sáng một phần tư thế kỷ XX Trong những năm tháng đen tối của đất nước, trước khi xuất hiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vĩ đại, quốc dân đồng bào ta đã gửi gắm niềm hy vọng vào Phan Bội Châu và phong trào giải phóng dân tộc mà Cụ là người khởi xướng và đứng đầu Do vậy, có thể xem Phan Bội Châu là gạch nối giữa phong trào dân tộc của các sĩ phu, văn thân yêu nước và phong trào cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo Có thể nói phong trào yêu nước của cụ Phan Bội Châu là một trong những phong trào yêu nước tiêu biểu đầu thế kỷ XX, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc Chỉ 5 năm sau
Trang 27đánh giá đúng đắn và khẳng định vai trò lịch sử của Phan Bội Châu, là một “con người đã hy sinh cả gia đình và của cải để xa lánh khỏi thấy mặt bọn cướp nước mình, sống xa lìa quê hương, luôn bị lũ này săn đuổi, bị chúng nhử vào muôn ngàn cạm bẫy, bị chúng kết án tử hình vắng mặt, và giờ đây đang bị, vẫn chúng, đeo gông lên vai, đày đọa trong nhà giam, ngày đêm bị bóng dáng của máy chém như một bóng ma ám kề bên cổ” [105, 172] và ông được coi là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng” [105, 172]
Đầu thế kỷ XX, một phong trào yêu nước khá nổi bật, mang sắc thái nhân văn ảnh
hưởng từ các nhà khai sáng Pháp đó là phong trào Duy Tân mà người khởi xướng là Phan Châu Trinh (1872-1926) Ông mạnh dạn đề ra chủ thuyết Dân quyền, hô hào
các hạng người Pháp có lương tâm giúp đỡ người An Nam đánh đổ cường quyền áp chế Nhưng kết quả chẳng được bao nhiêu, “cái khát vọng tự do, bình đẳng, bác ái mà Môngtexkiơ (Montesquieu, 1689-1775) và Rútxô khởi xướng, chẳng nhỏ một giọt nào trên đất An Nam” [26, 695-696] Phan Châu Trinh kịch liệt lên án bọn vua quan
phong kiến thối nát và tích cực đề xướng khẩu hiệu chấn dân khí, khai dân trí, hậu
dân sinh để nhằm nâng cao sức dân, nâng cao dân trí và phát triển kinh tế, cải thiện
đời sống nhân dân Ông nổi tiếng là người suốt đời kiên trì chủ trương dựa vào Pháp
để thực hiện cải cách dân chủ, đánh đổ nền quân chủ quyên chế, xác lập dân quyền tự do “Tư tưởng đó như sợi chỉ đỏ xuyên suốt các tác phẩm chính luận, các hoạt động của Phan Châu Trinh từ đầu thế kỷ cho đến lúc ông qua đời” [143, 205] Phương
châm của ông là không bạo động và không trông chờ bên ngoài, đối lập với Phan Bội Châu buổi ban đầu là dựa vào Nhật Bản để đánh đuổi thực dân Pháp
Kế thừa những yếu tố tích cực của tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ 1871), Nguyễn Lộ Trạch (1853 -?), Phan Châu Trinh đã táo bạo tuyên chiến với thể chế phong kiến, đề ra đường lối dân quyền Ông đã nhận thức rõ về xu hướng của thời đại dân quyền bởi nó bao hàm khả năng tiến đến nền độc lập dân tộc Cho đến lúc cuối đời, Phan Châu Trinh luôn kiên định đường lối dân quyền, sử dụng độc nhất phương pháp cách mạng ôn hòa, tránh bạo động và không dùng lực lượng vũ trang Con đường cách mạng ôn hòa của Phan Châu Trinh xuất phát từ điều kiện thực tế của đất nước chứ không phải từ việc ông lo sợ trước thực dân Pháp Đấu tranh trực diện với kẻ thù để mở mang dân trí là phương pháp vô cùng mới lạ đối với một dân tộc đã có truyền thống sử dụng bạo lực để giành độc lập Ưu điểm căn bản của Phan Châu Trinh là ở việc khẳng định yêu nước đó chính là tính trời (truyền thống dân tộc) và con đường đi của Phan Châu Trinh là hoàn toàn đúng đắn, có thể xoay chuyển dần tâm thức nhân dân mà không phải đổ máu Nhưng khi đặt niềm tin vào việc có thể thực hiện công cuộc liên hiệp Pháp - Việt, dùng kế sách “khổ nhục kế” để đấu tranh với cường quyền, ông đã nhầm lẫn nước Pháp văn minh Tự do - Bình đẳng - Bác ái với chính quyền thực dân Pháp cướp nước tại Đông Dương
(1830-Hạn chế cơ bản của Phan Châu Trinh là ở chỗ không nhận rõ mâu thuẫn cơ bản của
xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn thực dân Pháp xâm lược; trong
khi tập trung công kích bọn quan lại sâu mọt hại dân, ông có phần tỏ ra nương nhẹ việc công kích nguyên lý quân chủ và sự hiện hữu của nó là triều đình Huế; ông còn
Trang 28tỏ thái độ công kích những ai chủ trương dùng phương pháp bạo động cách mạng Do vậy, đường lối của Phan Châu Trinh đã không bắt rễ được vào cuộc sống, không được nhân dân chấp nhận, mặc dù ông là một chí sĩ yêu nước có uy tín và danh vọng lớn Mặc dù có những hạn chế nhất định, song tư tưởng và hoạt động của Phan Châu Trinh đã góp phần quan trọng tạo nên bước chuyển trong tư duy dân tộc Việt Nam, đó là làm cuộc vận động từng bước về tư tưởng từ chế độ quân chủ sang chế độ dân chủ, tư duy thời phong kiến sang tư duy thời cận - hiện đại, tạo tiền đề cho những bước chuyển tiếp theo, đặc biệt là bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc vào những năm 20 của thế kỷ XX
Một trong những phong trào yêu nước Việt Nam mang sắc thái văn hóa xuất hiện vào năm 1907 là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, xuất hiện tại Hà Nội do một nhóm sĩ phu tiến bộ thành lập, đứng đầu là Lương Văn Can và Nguyễn Quyền Trường Đông Kinh Nghĩa Thục có nhiệm vụ tuyên truyền cải cách xã hội, vận động học chữ quốc ngữ, hô hào thực nghiệp, bài trừ hủ tục mê tín dị đoan, chống lối học từ chương, phê phán những nhà Nho thủ cựu, đả kích tham quan ô lại, cổ vũ lòng yêu nước, đoàn kết Đây có thể xem như là một trung tâm văn hóa mang tính chất dân tộc dân chủ, đồng thời là một tổ chức cách mạng dùng hình thức mở trường dạy học để tập hợp lực lượng yêu nước, đào tạo nhân tài, chấn hưng công nghệ, phát triển báo chí, tuyên truyền văn hóa Việt Nam, kể cả cái tinh túy của Hán học và Tây học Những hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục thường kết hợp với những hoạt động của Đông du và Duy tân
Đông Kinh Nghĩa Thục hình thành, tồn tại và phát triển nhằm giải quyết nhiệm vụ lịch sử đánh đổ đế quốc phong kiến và cải cách xã hội Kế thừa chủ nghĩa yêu nước truyền thống hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc, xây dựng một nền văn minh mới cho nước nhà bằng nhiều hình thức đấu tranh, kết hợp phương pháp bất bạo động của Phan Châu Trinh và phương pháp cách mạng bạo động của Phan Bội Châu Ở đấy đã hình thành tủ sách với nhiều tài liệu Đông Tây kim cổ rất phong phú phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của trường Có thể nói, Đông Kinh Nghĩa Thục là “đại biểu cho ý chí tiến bộ nhất thời ấy” [143, 99]
Khi thực hiện phong trào dân tộc dân chủ trên mặt trận công khai hợp pháp, Đông Kinh Nghĩa Thục còn là nơi tụ hội của các bậc sĩ phu tài giỏi đầy tâm huyết với đất nước, sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình trên mặt trận bí mật bạo động chống kẻ thù Chỉ trong một thời gian ngắn mà danh tiếng của trường cùng những hiệu quả mà trường tạo ra được đã lan truyền trong khắp mọi miền đất nước Một số tư tưởng tiến bộ của giai cấp tư sản phương Tây thế kỷ XVIII đã thâm nhập vào tâm thức của nhân dân Việt Nam, thức tỉnh những người tiên tiến Việt Nam, là động lực thúc đẩy họ tham gia, tìm về với cách mạng, góp phần quan trọng trong việc xây dựng truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, cũng như các lãnh tụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh với hai xu hướng cải cách và bạo động, các nhà lãnh đạo trường Đông Kinh Nghĩa Thục còn những hạn chế của ý thức hệ phong kiến, của hai phương pháp đấu tranh nói trên, của sự nhận thức về nền văn minh phương Tây cùng với những tư tưởng và thể chế chính trị của nó Vì vậy, phong trào chỉ tồn tại trong một thời gian thì bị thực dân Pháp tiêu diệt Những người sáng lập ra phong trào này bị đày đi Côn Đảo
Trang 29trong lòng nhân dân ta những tình cảm sâu sắc Sự thất bại của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đã làm cho những nhà yêu nước say sưa với lý thuyết dân chủ tư sản như các cụ Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, v.v không thể giải thích
nổi vì sao nước Pháp có những khẩu hiệu đẹp đẽ như Tự do, Bình đẳng, Bác ái lại giải
tán trường Đông Kinh Nghĩa Thục của Việt Nam Sự thất bại của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục càng làm cho phong trào yêu nước Việt Nam lâm vào tình thế khó khăn, lúng túng
Thể nghiệm cuối cùng của phong trào cách mạng theo ý thức hệ tư sản ở nước ta do
Việt Nam Quốc dân Đảng thực hiện cũng nhanh chóng bị thất bại Cương lĩnh và lý
luận của tổ chức này không được xác định rõ ràng, nhất quán Bản Điều lệ đầu tiên được thông qua ngày 24-12-1927 xác định: trước làm quốc gia cách mạng, sau làm thế giới cách mạng Đến năm 1928, chủ nghĩa xã hội dân chủ được bổ sung thêm vào Điều lệ; đến năm 1929 lại được thay bằng ba nguyên tắc của cách mạng tư sản Pháp:
Tự do, Bình đẳng, Bác ái; cuối cùng lại lấy chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn
làm tôn chỉ của Đảng
Những hạn chế trong đường lối và phương pháp cách mạng của Việt Nam Quốc dân
Đảng sau này được Phạm Tuấn Tài, một trong những người sáng lập, viết trong Di chúc, đề ngày 30-11-1936, như sau: “Trong lúc ấy các đồng chí không phân biệt hoàn
cảnh của mỗi giai cấp nên không định rõ giai cấp nào là chủ lực quân, giai cấp nào là phụ lực quân Đã vậy, đảng viên là phần tử của mọi giai cấp, địa vị và quyền lợi phức tạp, thì cố nhiên tư tưởng và chủ trương cũng lung tung, không thống nhất Hầu hết mọi người trong đảng chỉ nhìn thấy một cái mục đích gần nhất là làm cho nước được độc lập rồi, lập nên một chế độ công bình và nhân đạo Mà các nguyên tắc công bình và nhân đạo thì không giải thích ở đâu hết” [43, 587-588]
Thất bại của Việt Nam Quốc dân Đảng với hành động chủ quan, phiêu lưu, manh
động của những người lãnh đạo khởi nghĩa Yên Bái cũng chỉ là cố gắng cuối cùng của một đường lối chủ quan hoàn toàn bất lực rồi rơi vào bế tắc
Có thể nói, phong trào Đông du, phong trào Duy tân, Đông Kinh Nghĩa Thục do các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can … khởi xướng, vừa bùng lên đã
bị thực dân Pháp dập tắt Các cụ muốn tìm con đường cứu nước dựa trên lý luận dân chủ tư sản, qua con đường học tập nước Nhật Bản duy tân, qua cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, qua chế độ nghị viện tư sản ở các nước phương Tây Nhưng hệ tư tưởng dân chủ tư sản đã lỗi thời về mặt lịch sử, không thể là thứ lý luận đúng đắn có thể
vạch ra con đường giải phóng cho dân tộc ta Thực tiễn đó đòi hỏi phải có một trình
độ tư duy lý luận cao hơn, không thể dừng lại ở thế giới quan về cơ bản là duy tâm và
phương pháp luận cơ bản là siêu hình, và xét trên bình diện triết học, các phong trào yêu nước, cách mạng đó vẫn chưa thoát khỏi triết hệ của tam giáo mà Nho giáo là nòng cốt
Thất bại của phong trào Cần Vương, và tiếp đó là thất bại của các phong trào đấu tranh theo ý thức hệ dân chủ tư sản là lời phán quyết của lịch sử về sự cáo chung của đường lối cứu nước do đại diện của giai cấp phong kiến, của các nhà chí sĩ cấp tiến
Trang 30nêu ra và thực hiện, đồng thời báo hiệu nhu cầu và mầm mống những tiền đề dẫn đến sự xuất hiện một đường lối cách mạng mới ở nước ta
Sự thất bại của các phong trào yêu nước và phong trào cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, theo chúng tôi, xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau đây:
Thứ nhất, các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng lúc bấy giờ kể cả
phong trào đấu tranh của công nhân đều chưa có đường lối đúng đắn nghĩa là chưa có một lý luận khoa học, cách mạng soi đường;
Thứ hai, những lãnh tụ của các phong trào này chưa phân biệt rõ địch - ta, bạn -
thù; chưa nắm được bản chất của kẻ thù dân tộc, đó là chủ nghĩa đế quốc, chưa nhận thức được rằng đế quốc Pháp xâm lược Việt Nam không phải là một hiện tượng riêng lẽ, mà là một vấn đề thời đại gắn liền với toàn bộ giai đoạn lịch sử của chủ nghĩa tư bản thống trị thế giới;
Thứ ba, họ cũng chưa nhận rõ nhiệm vụ cách mạng Việt Nam lúc này là phải
đánh đuổi chủ nghĩa đế quốc Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc; đồng thời đánh đổ địa chủ phong kiến giành quyền dân chủ cho nhân dân, trong đó giành quyền ruộng đất cho nông dân nghèo là quan trọng nhất Hai nhiệm vụ này phải gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể tách rời;
Thứ tư, họ càng chưa thể thấy lực lượng cách mạng chủ yếu là công nông, trong
đó giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo Trái lại, những cá nhân và chính đảng theo đường lối dân chủ tư sản chỉ dựa vào thiểu số để làm cách mạng, vì thế các phong trào đã không huy động được lực lượng hùng hậu của nhân dân
Sự thất bại của các phong trào yêu nước và phong trào cách mạng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã đặt ra một nhu cầu khách quan về một ý thức hệ mới đủ sức vạch ra một đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, chẳng những đem lại thắng lợi cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc mà còn mở ra con đường phát triển của đất nước trong tương lai Đó là câu hỏi lớn đang đặt ra cho cả dân tộc và những người Việt Nam yêu nước đương thời
Sau này, khi trả lời nhà văn Mỹ Anna Luy Xtơrông (Anna Louise Strong) về ý định xuất dương, Hồ Chí Minh đã nói về thời kỳ này như sau: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi - lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ Tôi thì thấy phải đi ra nước ngoài để xem cho rõ Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi” [99, 47-48]
Các nhà yêu nước trong các phong trào dân tộc, hoặc theo hệ tư tưởng phong kiến hoặc theo chủ nghĩa dân chủ tư sản đều không hiểu được rằng, trong thời đại mới, một giai cấp khác đã trở thành giai cấp đang lên, trong một phạm vi lịch sử rộng lớn đứng ở trung tâm, quyết định phương hướng, nội dung phát triển của thời đại, đã không phải là giai cấp địa chủ quý tộc phong kiến, cũng không phải là giai cấp tư
sản, mà chính là giai cấp công nhân
Chúng tôi rất tán thành với nhận xét của nguyên Tổng Bí thư Lê Duẩn về thời kỳ này: “Vào những năm 20 của thế kỷ này, sau khi cuộc khởi nghĩa Cần Vương bị dập
Trang 31sâu sắc về đường lối” [23, 35] Thực chất cuộc khủng hoảng ấy là khủng hoảng về vai
trò lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến đối với xã hội nước ta Giữa lúc “tình hình đen
tối như không có đường ra”, Nguyễn Ái Quốc đã nhanh chóng nắm bắt nhu cầu của đất nước và kịp thời đáp ứng đòi hỏi bức thiết của lịch sử
Tóm lại, sự chuyển biến của xã hội Việt Nam cùng những biến đổi của thế giới vào đầu thế kỷ XX và sự bế tắc lý luận về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc là những điều kiện cơ bản dẫn đến bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc
Ngoài ra, có thêm một nhân tố khác có tác động quan trọng và mạnh mẽ đến nhận thức, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cứu nước và sự chuyển biến tư tưởng của Người chính là sự xuất hiện của một lực lượng xã hội hoàn toàn mới trong
xã hội Việt Nam Đó chính là giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất (công nghiệp hóa cưỡng bức) của thực dân Pháp ngay từ đầu thế kỷ XX, đã nhanh chóng trở thành chủ thể của lịch sử và từng bước thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình
Khác với phương Tây, công nhân Việt Nam chủ yếu xuất thân từ những người nông dân còn gắn bó nhiều với ruộng đất Họ trở thành công nhân bằng nhiều con đường khác nhau Một số bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất phải tự đến hầm mỏ, xí nghiệp để tìm kiếm công ăn việc làm, hoặc thông qua bọn cai thầu mộ phu mới có việc làm Một số khác là “công nhân theo mùa” Họ tranh thủ ra hầm mỏ làm thuê kiếm thêm
ít đồng lương để bổ sung cho thu hoạch nông nghiệp vốn rất thấp kém Số khác là những “phu” hay công nhân bị cưỡng bức, số người này bị thực dân câu kết với phong kiến bắt các làng xã giao nộp đủ theo quy định để làm đường sắt, đường bộ, công sở Có cả một số tù nhân cũng bị đẩy đi làm
Suốt thời kỳ từ năm 1897 đến chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ (1914), những công trình lớn như đặt đường xe lửa, vét sông, đào kênh, làm đường, bắc cầu đã được tiến hành khắp Bắc - Trung - Nam, huy động một số công nhân khá đông Đồng thời, một số ngành công nghiệp của tư bản Pháp cũng được phát triển, như nhà máy xay, máy rượu, xà phòng, máy diêm, máy dệt, máy giấy, ; còn có những xưởng ô tô, đóng tàu, sửa chữa đường xe lửa, làm cầu cống, xưởng làm và chữa vũ khí,… cũng nối tiếp nhau được thành lập và hoạt động vào thời kỳ này Đặc biệt nhất là ngành khai mỏ, số mỏ được khai thác từ năm 1910 trở đi ngày càng nhiều và đủ loại Theo các tài liệu sử học, số công nhân mỏ năm 1904 là 4.000, 1908 là 9.000; 1910 là 16.000 [130, 591] Ba nhà máy dệt ở Hà Nội, Nam Định và Hải Phòng năm 1910 đã có 1.800 công nhân Nhà máy xi măng Hải Phòng có 1.500 công nhân Bốn nhà máy rượu lớn của Pháp ở Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Chợ Lớn có 1.200 công nhân Nhà máy Ba Son, Sài Gòn có trên 1.000 công nhân Các nhà máy gạo ở Sài Gòn, Chợ Lớn có 3.000 công nhân Các đồn điền trồng cà phê, chè, cao su, tuy mới ở thời kỳ thí
nghiệm nhưng cũng đã có một số lượng công nhân đáng kể
Như vậy, những lớp công nhân đầu tiên này đã có những nét chung cơ bản, trước hết là tính tập trung ngày càng mạnh trong quá trình phát triển về số lượng Năm 1906, số công nhân thường xuyên làm việc trong 200 xí nghiệp của tư bản Pháp ở Đông Dương là 55.000 người [130, 591] Họ là cốt lõi đầu tiên của giai cấp công nhân công
Trang 32nghiệp Việt Nam, trong đó đã có một số đạt trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định, biểu hiện rõ tính chất của giai cấp công nhân công nghiệp hiện đại Năm 1906, ở Nam Kỳ có 25.000 công nhân, trong đó 900 công nhân chuyên môn Ở Trung Kỳ có 45.000 công nhân, trong có 100 công nhân chuyên môn Ở Bắc Kỳ có 20.000 công nhân, trong đó có 800 công nhân chuyên môn Còn tổng số nhà máy, xí nghiệp trong toàn quốc năm 1906 là 200 nhà máy với tổng công suất 26.000 mã lực, riêng ở Bắc Kỳ có 85 nhà máy Số lượng công nhân ngày một tăng: năm 1909 tổng số công nhân toàn quốc đã lên tới 55.000 người Riêng công nhân Bắc Kỳ năm 1908 là 15.308, năm 1912 là 17.050 người Cả Việt Nam, năm 1906 ở các sở công nghiệp, đồn điền và thương mại có 49.500 công nhân, trong đó có 1.800 thợ chuyên môn [46, 627] Đặc biệt, trong thời gian diễn ra chiến tranh thế giới thứ nhất, số lượng công nhân tăng lên 100.000 người (1918) [63, 17]
Nói chung mức độ tập trung ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ cao, còn Nam Kỳ tuy tổng số công nhân đông hơn, nhưng phân tán hơn Tuy có sự tập trung, nhưng cũng chỉ diễn ra trong công nhân công nghiệp Đối với công nhân nông nghiệp, đây mới chỉ là bước đầu; vị trí các đồn điền nông nghiệp so với các ngành khác vẫn còn kém, số lượng công nhân nông nghiệp đồn điền còn ít Ngoài ra, còn nhiều công nhân ít tập trung hơn như công nhân vận tải, công nhân khuân vác ở các bến tàu Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Bến Thủy, Hòn Gai ngày càng phát triển Cũng phải kể tới những người thợ, viên chức phụ thuộc các ty thương mại lớn nhỏ Đó là chưa kể tới số công nhân lẻ tẻ và công nhân các xưởng nhỏ, số công nhân làm việc trên hàng vạn chiếc thuyền xuôi ngược trên những sông rạch chằng chịt như mạng nhện khắp Bắc - Trung - Nam
Như vậy là đến thời kỳ này, ba miền Bắc, Trung, Nam, vùng nào cũng có công nhân công nghiệp tập trung làm nòng cốt cho số công nhân lẻ tẻ khác Họ sớm có tinh thần đoàn kết đấu tranh chống áp bức, bóc lột Họ đã đứng lên đấu tranh bằng nhiều hình thức, từ bỏ trốn tập thể, công khai bỏ việc, đấu tranh bằng bạo lực phối hợp với các phong trào yêu nước, đưa đơn tố cáo, cử đại biểu đi khiếu tố, mít tinh trước văn phòng chủ mỏ tới phát động đình công, bãi công, những hình thức đấu tranh mới chưa từng có trong lịch sử Việt Nam
Theo các tài liệu sử học, chỉ trong 2 năm 1904 -1905 đã có 10 cuộc đấu tranh của công nhân Ngày 20-10-1904, công nhân ở Bắc Ninh trên công trường đường sắt Yên Bái gửi đơn lên tổng đốc Bắc Ninh tố cáo việc bắt công nhân làm khoán Tháng 11-
1904, công nhân công trường đường sắt Lào Cai cử đại biểu trực tiếp đến đồn điền khiếu tố về việc bạc đãi công nhân Tháng 12-1904, công nhân ở Hải Dương gửi đơn cho công sứ Hải Dương tố cáo việc thực dân và tay sai chửi bới, đánh đập tàn tệ công nhân Năm 1906, công nhân mới làm việc ở mỏ Hà Tu nghỉ việc đấu tranh đòi chủ phải trả tiền đi đường, công nhân cũ đã được giúp đỡ nên những cuộc đấu tranh bước đầu giành được thắng lợi Năm 1908, công nhân mỏ thiếc Tĩnh Túc, Cao Bằng bỏ việc phản đối việc chủ trả lương quá chậm Ngày 01-5-1909, nữ công nhân nhà máy chai Nam Định bỏ việc, phản đối bọn Pháp khám xét nữ công nhân Tháng 05-1909,
200 công nhân viên chức hãng Liên hiệp Thương mại Đông Dương (LU.C.I - Union Commercial Indochina) bãi công Cuộc bãi công ở hãng này đã bắt đầu xuất hiện yếu tố đấu tranh chính trị Năm 1910, nổ ra cuộc bãi công của công nhân mỏ Dandolo ở
Trang 33Bách nghệ Sài Gòn và của công nhân xưởng Ba Son (trong 2 cuộc bãi công này đã có Tôn Đức Thắng tham gia tổ chức và lãnh đạo); năm 1913, công nhân hãng mỏ Lang Hít, Cao Bằng bãi công phản đối việc chủ mỏ bớt tiền công,… [46, 647, 649- 650] Những cuộc bãi công kể trên, chứng tỏ rằng từ năm 1900 trở đi, cho đến chiến tranh thế giới thứ nhất, không những giai cấp công nhân hình thành mà hơn nữa, đã bắt đầu
có một phong trào công nhân Hiện tượng bãi công là một trong những hiện tượng đặc
sắc của giai đoạn lịch sử này Ngoài các cuộc bãi công, công nhân đều có tham gia
tích cực các phong trào yêu nước khác Sau này, trong tác phẩm “Bản án chế độ thực
dân Pháp”, Nguyễn Ái Quốc đã đánh giá “… khắp nơi giai cấp công nhân cũng bắt
đầu giác ngộ về lực lượng và giá trị của mình”… “đây là lần đầu tiên, một phong trào như thế đã nhóm lên ở thuộc địa Chúng ta hãy ghi lấy dấu hiệu đó của thời đại” [105, 114]
Với số lượng phát triển khá cao, với chất lượng biểu hiện rõ ở tính tập trung, có tinh thần đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung, công nhân Việt Nam đã có các điều kiện cần và đủ để hình thành một giai cấp Tuy vậy, vì chưa có lý luận tiên tiến soi đường, họ chưa quan niệm được mình là một giai cấp riêng, có quyền lợi và nguyện vọng riêng, chưa nhận được rõ vị trí và vai trò của mình trong lịch sử xã hội, giai cấp công nhân tuy đã ra đời, nhưng còn ở trình độ tự phát và mới chỉ là giai cấp “tự nó” Sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam trước giai cấp tư sản dân tộc là một đặc điểm lịch sử quy định những nét đặc thù của sự phát triển sau này của cách mạng Việt Nam
Trước những diễn biến tích cực trong phong trào công nhân, Nguyễn Ái Quốc với sự quan tâm theo dõi tình hình xã hội, với một tư duy độc lập, sáng tạo, một tinh thần luôn luôn hướng theo cái mới, cái tiến bộ, từ rất sớm đã chú ý tới mầm non này đang phát triển phù hợp với xu thế tiến bộ của xã hội Rõ ràng chính trên nền tảng tinh thần yêu nước mãnh liệt với tính nhân văn cao cả, luôn hướng về những người cùng khổ, những thân phận thiệt thòi trong xã hội, bằng trí tuệ thiên tài và tầm nhìn thời đại, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định hướng đi mới sang các nước phương Tây mà
Trang 34không sang Nhật Bản, Trung Quốc như nhiều thanh niên khác, nơi có tư tưởng tự do, dân chủ và có khoa học, kỹ thuật hiện đại Và chính nhờ xác định đúng hướng đi và cả cách đi bằng sức lao động của bản thân, bằng lòng tin, ý chí và nhiệt quyết của mình, bằng việc thâm nhập vào quần chúng lao khổ những nơi Người đặt chân tới, mà cuối cùng Nguyễn Ái Quốc đã có điều kiện trở thành người Việt Nam yêu nước đầu tiên tìm thấy con đường giải phóng đúng đắn giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc
Như vậy, sự xuất hiện của giai cấp công nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX dù còn là giai cấp “tự nó” và phong trào đấu tranh của công nhân còn mang tính tự phát, nhưng đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức, tư tưởng và tình cảm giai cấp của Nguyễn Ái Quốc, giúp Người nhanh chóng tiếp thu chân lý của thời đại và tìm ra con đường đúng đắn để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người
1.2 CÁC TIỀN ĐỀ DẪN ĐẾN BƯỚC CHUYỂN TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TỪ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC ĐẾN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
Tư tưởng là hình thái ý thức xã hội, vừa phản ánh tồn tại xã hội, vừa có tính độc lập tương đối Cho nên, bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin còn có sự đóng góp của những tiền đề tư tưởng - lý luận, mà cơ bản là chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, tư tưởng dân chủ - nhân văn phương Tây và chủ nghĩa Mác - Lênin; cùng với phẩm chất cá nhân con người Nguyễn Ái Quốc
1.2.1 Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam và yêu cầu bức thiết của sự nghiệp giải phóng dân tộc
Yêu nước là thuộc tính phổ biến ở mọi dân tộc Không một dân tộc nào trên thế giới lại không yêu mến Tổ quốc của họ Tuy nhiên, trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, do trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau, nên tình cảm và
tư tưởng yêu nước của mỗi dân tộc có sự khác nhau về nguồn gốc lý luận, về quá trình hình thành và phát triển, cũng như về nội dung và bản chất của nó Đó là mối quan hệ giữa tính phổ biến và tính đặc thù của tư tưởng yêu nước
Dưới góc độ tâm lý học, yêu nước được coi là một tình cảm bậc cao Tình yêu nước xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển cộng đồng quốc gia dân tộc Là một
Trang 35tộc, khi đã hình thành, tình cảm yêu nước không chỉ là mục tiêu, mà còn trở thành một bộ phận quan trọng, một động lực thúc đẩy hành động của mỗi cá nhân và toàn thể cộng động Tình cảm yêu nước phát triển là cơ sở để hình thành nên tư tưởng yêu nước, ý thức yêu nước
Trên phương diện lý luận, tình cảm yêu nước được nâng lên thành chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước là hệ thống lý luận về những nguyên tắc đạo đức và chính trị mà nội dung cốt lõi của nó là tình yêu và lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc Nội dung này được biểu hiện thành những quan điểm về con đường và biện pháp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, về quan hệ giữa nước với dân, về nghĩa vụ với đồng bào Chủ nghĩa yêu nước đã được đúc kết thành triết lý nhân sinh sâu sắc trong tâm thức và hành động của mỗi người Chủ nghĩa yêu nước không chỉ thể hiện trên lời nói, ý thức mà còn thể hiện bằng hành động thực tiễn xả thân, hy sinh vì sự tồn vong của đất nước
Yêu nước là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước, trở thành tình cảm thiêng liêng trong mỗi người Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ thời cổ đại đến hiện đại Chủ nghĩa yêu nước giữ vị trí chuẩn mực cao nhất của đạo lý và đứng đầu trong bậc thang giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam, là động lực nội sinh to lớn của cộng đồng dân tộc Việt Nam, tạo nên sức mạnh vô địch trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và trong công cuộc xây dựng đất nước Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn Lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam đã ghi những trang oanh liệt của nhân dân đấu tranh để xây dựng nước nhà và bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc mình” [112, 313]
Nét đặc thù trong hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam là phải chống giặc ngoại xâm liên tục trong nhiều nghìn năm, trong nhiều thời đại với nhiều đế quốc lớn và hùng mạnh
Chính vì vậy, tinh thần yêu nước ở đây như một “tôn giáo” chính thống của dân tộc
Nhưng nó còn hơn cả một tôn giáo bởi nó có chiều sâu tâm linh, chiều cao của niềm tin, chiều rộng của cộng đồng, có sức lôi cuốn mạnh mẽ mọi người, toàn dân đánh
giặc, sẵn sàng “tử vì đạo” yêu nước Đạo yêu nước này không viển vông cao xa, thoát
tục mà rất đời thường, nhưng cũng hết sức thiêng liêng Khắp đất nước ta đã có nhiều đền thờ các anh hùng dân tộc, những người đã có công, đã xả thân hy sinh vì nước Nói chung, người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước, dù có hay không theo bất kỳ một tôn giáo nào, cũng đều bị thu hút bởi chủ nghĩa yêu nước Và chủ nghĩa yêu nước ấy đã trở thành điểm sáng và sức sống chủ yếu trong tâm hồn họ
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không đơn giản là ý thức, tinh thần, mà còn là khí phách dân tộc, là hành động đoàn kết, bất khuất, kiên cường, quật khởi trong hành động Điều đó tạo thành chủ nghĩa anh hùng Việt Nam Chủ nghĩa anh hùng Việt Nam là hành động thực của chủ nghĩa yêu nước Trong sự nghiệp chiến thắng thiên nhiên xây dựng đất nước, nhất là sự nghiệp chiến thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ quyền tự quyết, quyền độc lập tự do của dân tộc, thì không chỉ nảy sinh hành động anh hùng ở một số ít người, một tầng lớp đặc biệt nào đó, mà là ở tất cả mọi tầng lớp
Trang 36người, và ở trong tất cả các dân tộc của cộng đồng Việt Nam trong các giai tầng, trong các giới Anh hùng vô danh hoặc anh hùng có tên tuổi hoặc hành động anh hùng đều đã trở thành phổ biến trong nhiều thời kỳ lịch sử đã hun đúc nên phẩm chất anh hùng của dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam Phẩm chất ấy được lưu giữ,
di truyền trong “gen” của nhiều thế hệ Hình tượng Thánh Gióng là một hình tượng thần thoại hóa, dã sử hóa của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam Trong thời chiến tranh cứu nước, khi nói rằng “ra ngõ gặp anh hùng” là hoàn toàn chính xác Vì vậy, không chỉ yêu nước thành chủ nghĩa, mà anh hùng cũng thành chủ nghĩa, tuy hai mà một
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam còn là trí tuệ của dân tộc Việt Nam trong hoàn cảnh
phải đối đầu chống giặc ngoại xâm trong nhiều nghìn năm, trong nhiều thời đại, dù có lúc thắng, lúc bại nhưng cuối cùng đều đánh đổ được giặc ngoại xâm, giành độc lập cho dân tộc Môi trường thực tiễn đó đã tạo ra một kho tàng kinh nghiệm và trí
tuệ của dân tộc được đúc kết trở thành lý luận, có tính khoa học, có hệ thống đủ sức
soi đường và trở thành vũ khí tinh thần của dân tộc, của toàn dân mà không có một thế lực nào, một vũ khí nào, có thể đè bẹp được Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được
nâng lên trình độ tự giác, nhưng không phải được lý luận theo kiểu hàn lâm mà theo
kiểu lý luận thực hành, và không chỉ bàn luận trong sách vở mà trở thành triết lý trong dân gian, trong các lời hịch cứu nước, trở thành cách suy nghĩ của cả một dân
tộc yêu nước Chẳng hạn, dân thì nói “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”; tướng lĩnh thì nói “bao giờ hết cỏ nước Nam, mới hết người đánh Tây” hoặc “Bệ hạ muốn đầu hàng
thì hãy cắt đầu thần trước”… Đó còn là cách nói có lý luận “nước mất nhà tan”, “thà
hy sinh tất cả, nhưng quyết không làm nô lệ” Đó là còn phương pháp “lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh”, “lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo”, dựa vào dân với kế sâu rễ bền gốc, dựa vào thế núi non hiểm trở, xây dựng
thành trong lòng dân hơn xây thành lũy bằng đất đá,… Chính vì vậy, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là kết tinh trí tuệ của dân tộc và luôn luôn được bồi đắp, mở rộng Có
thể nói, dân tộc ta đã đúc kết nên lý thuyết về chiến tranh nhân dân, khoa học về cứu
nước, khoa học về sự nghiệp giải phóng dân tộc mà thể hiện cao nhất trong tư tưởng
Nguyễn Ái Quốc của thời đại chúng ta Chủ nghĩa yêu nước như vậy có giá trị như
một triết lý nhân sinh cơ bản của người Việt Dù rằng, tư tưởng triết học trong lịch sử
Việt Nam chịu ảnh hưởng và có kế thừa nhiều dòng triết học Đông - Tây, nhưng chủ nghĩa yêu nước với tinh thần, trí tuệ là triết lý nhân sinh cơ bản của Việt Nam, trở thành cội nguồn, hạt nhân của các giá trị truyền thống Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam còn trở thành hệ quy chiếu, phương pháp nhìn nhận xem xét đâu là bạn đâu
là thù, đâu là chính đâu là tà, đâu là đạo đức đâu là phi đạo đức Nó là đạo lý của dân
tộc Việt Nam có sức bền vững, trở thành cội nguồn sức mạnh của dân tộc
Trong thời kỳ dựng nước, chủ nghĩa yêu nước được thể hiện qua các thần thoại, truyền thuyết Qua đó, chủ nghĩa yêu nước đã thể hiện ước mơ của dân tộc ta, quyết tâm bảo vệ non sông gấm vóc, cứu nước, thương nòi Thời kỳ Bắc thuộc, chủ nghĩa yêu nước được thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng, Mai Hắc Đế, Khúc Hạo, v.v Dù thành công hay không thành công, những cuộc khởi nghĩa đó đã nói lên rằng: đây là đất nước có chủ quyền và nhân dân ta quyết không chịu khuất phục trước sự đô hộ và đồng hóa của
Trang 37giành được độc lập, bọn xâm lược nhất định thất bại và phải cuốn gói về nước
Trong thời kỳ phong kiến Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước biểu hiện đường lối chính trị
được thể hiện rõ qua tác phẩm văn học trong thời kỳ đầu của các triều đại như “Chiếu
dời đô” của Lý Công Uẩn, “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, “Hịch tướng sĩ”
của Trần Quốc Tuấn, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, v.v Đặc biệt, ở Nguyễn
Trãi, lý luận về chủ nghĩa yêu nước đã có bước phát triển mới Ông cho rằng, dân tộc Việt Nam trưởng thành, có lãnh thổ riêng, phong tục tập quán riêng, lịch sử riêng với những anh hùng hào kiệt có đầy đủ khả năng bảo vệ và quản lý đất nước thì phải được độc lập, quốc gia phải có chủ quyền và phải ngang hàng với phương Bắc
Chủ nghĩa yêu nước còn được thể hiện thông qua công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân trong mọi thời đại, mà điển hình là dưới các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê Chủ nghĩa yêu nước chân chính đó vừa phong phú vừa tích cực, luôn được các thế hệ tiếp theo củng cố, kế thừa và nâng cao lên mãi Đánh giá về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, Giáo sư Trần Văn Giàu đã có nhận xét rằng: “Các bạn cho phép tôi không
đi vào những vấn đề lịch sử cụ thể mà nhìn chung toàn bộ quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhằm phát hiện sợi chỉ đỏ xuyên suốt qua tất cả các giai đoạn từ cổ đại đến hiện đại Tôi nghĩ rằng quả thật có một sợi chỉ đỏ như thế và sợi chỉ đỏ ấy là chủ nghĩa yêu nước” [41, 476] Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh một cách hùng hồn, chủ nghĩa yêu nước truyền thống, mà hạt nhân của nó là hệ tư tưởng tam giáo đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình trong các giai đoạn từ thế kỷ XVIII trở về trước Chúng ta có quyền tự hào về di sản tư tưởng của dân tộc Qua hàng mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, tổ tiên chúng ta đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc và chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã vươn lên ngang tầm với lịch sử trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước
Tiếp nối truyền thống yêu nước từ ngàn xưa, những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, trước sự xâm lăng và thống trị của thực dân Pháp, chủ nghĩa yêu nước đã nổi lên thành một làn sóng mới Làn sóng đó không chỉ đơn thuần là những cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp, nó còn là những áng văn, thơ yêu nước, những tư tưởng canh tân, cải cách nhằm chấn hưng đất nước Cuộc xâm lăng và thôn tính của thực dân Pháp đã đặt dân tộc ta trước những thách thức to lớn, mà muốn vượt qua nó không còn cách nào khác là phải vượt qua ý thức hệ phong kiến lỗi thời Các cuộc khởi
nghĩa dưới ngọn cờ Cần Vương, thể hiện tinh thần “vua còn, nước còn”, “trung quân
ái quốc” đã thất bại Cuộc đấu tranh vũ trang của Hoàng Hoa Thám sở dĩ tồn tại dai
dẳng, vì nó không quá lệ thuộc vào ngọn cờ Cần Vương Nó thất bại không phải vì tinh thần yêu nước và năng lực tổ chức kém, mà vì thế nước lúc ấy không còn làm chỗ dựa cho lãnh tụ Hoàng Hoa Thám và nghĩa quân được nữa Hơn nữa, chính cụ Hoàng Hoa Thám “vẫn còn nặng cốt cách phong kiến”
Để hồi sinh dân tộc cần có sự nhận thức lại, đánh giá lại truyền thống, tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc phù hợp với xu thế lịch sử Tư tưởng của các nhà yêu nước Việt Nam hình thành trong bối cảnh đó Họ đã thực hiện quá trình chuyển tiếp tư tưởng, dù đó là một quá trình hết sức khó khăn, từng bước gắn kết chủ nghĩa yêu nước truyền thống với các giá trị dân chủ, nhân văn từ phương Tây, hay đường hướng
đi mới cứu nước cứu dân Sự nhận thức lại này tạo nên quá trình chuyển tiếp tư tưởng,
Trang 38đưa đến các phong trào yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học, của những trí thức “Tây học” như Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, của các tổ chức xã hội như Duy tân hội, Đông Kinh Nghĩa Thục, Việt Nam Quốc dân đảng, v.v Đó là tính đa dạng hướng đến mục tiêu thống nhất của các phong trào yêu nước Việt Nam Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can vốn là những nho sĩ, họ nắm vững kinh điển Nho gia, uyên thâm và sâu sắc trong việc đánh giá thời cuộc Họ đã cố gắng vượt qua khuôn khổ của hệ tư tưởng Nho giáo, trở thành những nhà tư tưởng có đầu óc cải cách, biết tiếp thu kinh nghiệm và tinh hoa văn hóa của các nước để xác lập lý luận về giải phóng dân tộc theo quan điểm riêng, hoặc tiếp thu có chọn
lọc đường lối Duy tân Minh trị của Nhật Bản và chủ nghĩa Tam dân của Trung Quốc
Vốn gắn bó với phong trào Cần Vương, trong thời kỳ đầu của sự nghiệp, Phan Bội Châu chưa thể chấm dứt ngay những ràng buộc với tư tưởng trung quân, nghĩa là ông đặt tư tưởng dân chủ, cách tân của mình trên giá đỡ của ý thức hệ Nho giáo Đó cũng là nét tiêu biểu của tính chất chuyển tiếp trong tư tưởng: cái mới và cái cũ đan xen trong một nhà tư tưởng, cái mới không đủ sức vượt qua thói quen ý thức, nhưng cái lỗi thời thì đã không còn phát huy tác dụng định hướng cho hành động của con người, nó chỉ được sử dụng theo thói quen, mang tính hình thức Như chúng ta đã biết, từ thực tế thất bại của phong trào Cần Vương, Phan Bội Châu thành lập một tổ chức cách mạng lấy tên Duy tân hội, nhưng lại suy tôn ông hoàng Cường Để làm hội chủ, theo quan điểm phổ biến “suy tôn minh chủ”, với mục đích “khôi phục nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập” [8, 33], tiến đến “dân trí mở mang, dân khí lớn mạnh, dân quyền phát đạt, vận mệnh nước ta do dân ta nắm giữ” [5, 225] Chỉ sau thất bại của phong trào Đông du, Phan Bội Châu mới từ bỏ lập trường quân chủ, thành lập Việt Nam quang phục hội, chủ trương hướng tới cộng hòa dân chủ tại Việt Nam sau khi đánh đuổi thực dân Pháp [6, 135] Nhưng Phan Bội Châu cũng chỉ dừng lại ở đó, mặc dù đã để tâm nghiên cứu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa Mác - Lênin sau khi Quang phục hội thất bại Sự chuyển biến tư tưởng của Phan Bội Châu chưa đưa ông đến bước ngoặt cách mạng thật sự Tương tự như vậy đối với quá trình chuyển biến tư tưởng của Phan Châu Trinh, một trong những người khởi xướng phong trào Duy tân Cũng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cố gắng thoát khỏi ảnh hưởng, ràng buộc của ý thức hệ Nho giáo, chuyển dần sang tư tưởng dân chủ tư sản, đề ra thuyết Dân quyền theo tinh thần của cách mạng Pháp Tuy nhiên ảo tưởng kết
hợp thuyết Dân quyền với quan điểm “Pháp - Việt thỏa hiệp”, dùng khổ nhục kế để
đạt được độc lập bằng phương pháp hòa bình (bất bạo động) là sự thử nghiệm không thành công Giáo sư Trần Văn Giàu nhận xét khá thú vị rằng “nếu lúc đầu Phan Bội Châu mơ hồ về bản chất thực dân đế quốc của Nhật, thì từ đầu đến cuối Phan Châu Trinh mơ hồ về bản chất thực dân đế quốc của Pháp và của các cường quốc Âu Mỹ Ông Sào Nam mê rồi tỉnh Ông Tây Hồ thì kiên trì trong cái mê đó cho đến chết Thật là ngây thơ khi tưởng thực dân Pháp có thể “xót ruột đau lòng” vì nỗi khổ của dân Nam! Thật là mê muội khi tin rằng có thể dựa vào Pháp mà chống lại quân chủ và bộ máy cai trị của triều đình Huế” [43, 108-109]
Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh là những trường hợp điển hình, nhưng không phải duy nhất của tính chất chuyển tiếp trong tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Có thể tìm thấy tính chất này ở các nhà trí thức “Tây học” như Phan Văn
Trang 39của họ đơn giản hơn Họ hiểu biết nhiều về văn hóa Pháp, tiếp thu tư tưởng khai sáng Pháp khá đầy đủ, từ Môngtexkiơ, Vônte (F.M.Voltaire, 1694-1778) đến Rútxô,
Điđơrô (D Diderot, 1713-1784) và Hônbách (P.H Holbach, 1729-1789) Cả hai đều tràn đầy nhiệt huyết cách mạng, mong muốn dùng tâm lực và ngọn bút của mình để khơi dậy “nguồn năng lượng tiềm ẩn” của người Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì tự
do, độc lập, tự cường Trong các bài viết, Phan Văn Trường phê phán thực dân Pháp,
vạch ra tính chất không tưởng của chủ trương “Pháp - Việt đề huề”, thông qua Hội
đồng bào thân ái do mình sáng lập để tuyên truyền tư tưởng dân chủ cách mạng Còn
Nguyễn An Ninh sau khi về nước với bằng cử nhân luật, bắt đầu phổ biến công khai
tư tưởng Tự do - Bình đẳng - Bác ái, chủ trương khai sáng dân tộc, chấn hưng dân khí, kêu gọi thanh niên Việt Nam “dấn thân”, khôi phục lại những giá trị nhân văn, dân chủ của các nhà khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, vốn bị thực Pháp xuyên tạc Điểm chung của Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh là họ đã tiếp cận với thế giới quan duy vật biện chứng, đến gần với chủ nghĩa Mác - Lênin và có thiện cảm với chủ nghĩa xã hội, nhưng không trở thành người cộng sản
Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và Quốc dân đảng cũng nằm trong quá trình chung của phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đông Kinh Nghĩa Thục kết hợp những tinh hoa của Hán học và Tây học để giáo dục tư tưởng khai sáng Pháp và ý thức độc lập dân tộc cho người Việt Nam Thành công của trường Đông Kinh Nghĩa Thục là đã tạo nên một luồng sinh khí trong sinh hoạt tư tưởng, vượt qua định kiến Á Đông và mặc cảm của người dân mất nước để hướng đến nền văn hóa mới Song xét đến cùng, linh hồn của Đông Kinh Nghĩa Thục vẫn là những Nho sĩ danh tiếng đất Bắc, còn duyên nợ với quá khứ Ở một thái cực khác, Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học thể hiện tiếng nói của giai cấp tư sản dân tộc
và tiểu tư sản, lấy chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn làm chỗ dựa tư tưởng
Nhưng giai cấp tư sản và tiểu tư sản Việt Nam là một lực lượng nhỏ bé và dao động về tư tưởng Giá đỡ thực tiễn yếu ớt như vậy không thể đem lại thành công cho một phong trào đầy tham vọng
Điểm qua các phong trào yêu nước và phong trào cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trước khi Đảng Cộng sản ra đời và hệ tư tưởng tương ứng, có thể thấy rằng phần lớn đều cố gắng tìm tòi những hướng đi thích hợp trong cuộc đấu tranh
vì độc lập dân tộc, nhưng những sự chuyển tiếp tư tưởng ấy đều không đủ điều kiện để dẫn đến bước chuyển thật sự triệt để, hay bước ngoặt cách mạng trong tư tưởng, làm cột mốc chỉ đường cho các tầng lớp nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp “mở mang dân trí, thúc đẩy dân khí, phát đạt dân quyền, nắm giữ vận nước” như tâm nguyện của Phan Bội Châu Sự thất bại trong những tìm tòi, thể
nghiệm của họ - những người mở đường - đã để lại những bài học và những kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ sau
Có thể nói, ảnh hưởng của hệ tư tưởng phong kiến triều Nguyễn lấy Nho giáo làm nòng cốt đến chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã trở nên bất cập, không đủ sức soi sáng cho vấn đề cơ bản liên quan đến sự nghiệp kháng chiến cứu nước của dân tộc ta
hồi nửa cuối thế kỷ XIX Yêu cầu bức thiết của công cuộc giải phóng dân tộc, độc lập
dân tộc lúc này là phải có một ý thức hệ mới đủ sức vạch ra một đường lối và phương
Trang 40pháp cách mạng đúng đắn, chẳng những đem lại thắng lợi cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc mà còn mở ra con đường phát triển của đất nước trong tương lai
Nguyên nhân dẫn đến sự đánh giá lại tư tưởng truyền thống, nhất là tư tưởng Nho giáo của các nhà yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX mà hệ quả tất yếu của nó là sự chuyển biến tư tưởng của các nhà yêu nước Việt Nam, chính vì các
tư tưởng truyền thống, nhất là hệ tư tưởng Nho giáo đã bộc lộ tính tiêu cực ở một mức độ khá cao Dưới triều Nguyễn, Nho giáo được phục hưng và trở thành quốc giáo Tính chất đa dạng phong phú của Nho giáo triều Nguyễn thể hiện ở chỗ có sự cùng
tồn tại của nhiều xu hướng khác nhau Tư tưởng Hán Nho thiên nhân hợp nhất, vương
quyền thần phụ [12, 363-364] biểu hiện trong đường lối chủ trương của vua Minh
Mệnh, Tự Đức và của một số nho sĩ thời bấy giờ đã ảnh hưởng sâu đậm trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đường Nho cố gắng tạo nên tính đặc thù của hệ tư tưởng Nho giáo, thể hiện phổ biến qua các tác phẩm văn chương, thơ phú Tống Nho với sự kết hợp giữa Lão, Phật và Khổng mang màu sắc vũ trụ luận tác động không
nhỏ đến vua quan triều Nguyễn và các nho sĩ uyên bác Xu hướng Minh Nho với tri
hành hợp nhất, thôi cổ nhi chí tân (bỏ cũ theo mới), phản ánh xu thế phát triển của
lịch sử xã hội và nhu cầu giải phóng con người cá nhân trong thời điểm ấy
Có thể nói rằng phải đến triều Nguyễn thì các phạm trù của triết học Nho giáo mới được nghiên cứu lý giải một cách sâu sắc hơn Vấn đề bản thể của trời đất như lý, khí cũng được nhận thức một cách duy vật Về phương diện giáo dục “việc học tập và thi cử đã chú trọng tới thực học, coi trọng cả tri và hành, cố gắng vận dụng vốn học tập vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn của đất nước [70, 246] Tính tổng hợp của Nho giáo thời kỳ này được thể hiện trong xu thế phát triển chung của xã hội, nổi bật nhất là trong nhận thức và hoạt động của các vương triều, các tư tưởng Nho giáo đan xen vào nhau đồng thời kết hợp các hệ tư tưởng và các tôn giáo khác Tất cả các tư tưởng trên đã tác động vào tư duy của các vị vua triều Nguyễn với cường độ mạnh yếu khác nhau, mức độ đậm nhạt khác nhau, thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của lịch sử
Trên cơ sở hạ tầng phong kiến, mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo, triều Nguyễn đã thiết lập bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế, với một hệ thống pháp luật hà khắc, trong đó chính sách đối ngoại nhất là đối với các nước phương Tây, ngày càng xấu đi kể từ khi vua Gia Long mất Đường lối đối ngoại từ vua Minh Mệnh đã bắt đầu cứng rắn và khép kín trở thành một trong những nguyên nhân góp phần làm suy yếu triều Nguyễn
Hệ tư tưởng Nho giáo, lý luận chỉ đạo và thực hiện đường lối cai trị của triều Nguyễn, tuy vẫn còn một số mặt tích cực nhưng nhìn chung đã rơi vào tình trạng bảo thủ, lạc hậu không thể đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới Điều đáng nói là, tính chất bảo thủ và lạc hậu của Nho giáo lại được triều đình nhà Nguyễn đẩy
lên đến tột đỉnh Các nguyên tắc chuẩn mực Kính Thiên, Cần chính, Thân hiền, Ái dân
của Nho giáo tự nó không hề xoay chuyển được tình thế, cùng với việc tách rời giữa lý luận và thực tiễn cai trị của các vị vua triều Nguyễn đã thúc đẩy quá trình khủng hoảng kinh tế, xã hội và hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng trầm trọng hơn Nguyên tắc
Pháp tổ (cái gì đã an bài rồi thì không nên sửa đổi vì xưa bao giờ cũng hơn nay), tư
tưởng trọng vương kinh bá, nội hạ ngoại di (tự tôn tự đại, cho mình hơn người), hậu cổ