1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thuyết trình về bảo hiểm thương mại

23 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 172,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động BHTM chính là một hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để rồi có khả năng sẽ phải trả một khoản ti

Trang 1

Chương II – BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

I Khái niệm và nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại

Bảo hiểm thương mại (BHTM)- còn được gọi là bảo hiểm rủi ro hay bảo hiểm kinh doanh – được hiểu là sự kết hợp giữa hoạt động kinh doanh với việc quản lý các rủi ro của các cá nhân và các tổ chức trong xã hội Manh nha của hoạt động này có từ rất lâu trong lịch sử văn minh nhân loại, từ thưở con người biết săn bắn tìm kiếm thức ăn, đồ mặc, rồi tích trữ phòng không kiếm được hay khi có chiến tranh… Khi xã hội phát triển hơn, nhu cầu được đảm bảo an toàn cũng lớn hơn

Với những tác dụng vô cùng thiết thực đối với các cá nhân, các tổ chức và toàn cộng đồng, hoạt động BHTM ngày càng khẳng định sự có mặt kông thể thiếu đượctrong cuộc sống của con người

Cho đến nay, câu hỏi “bảo hiểm thương mại là gì?” có thể được trả lời theo nhiều các tiếp cận khác nhau Nếu xét từ góc độ pháp lý, “bảo hiểm là một thỏa thuận, qua đó bên tham gia bảo hiểm cam kết trả cho doanh nghiệp bảo hiểm một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm; ngược lại, doanh nghiệp bảo hiểm cũng cam kết sẽ chi trảhoặc bồi thường một khoản tiền khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra gây tổn thất”

Nhìn nhận bảo hiểm dưới góc độ quản lý rủi ro, một tập đoàn bảo hiểm lớn của

Mỹ cho rằng: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho doanh nghiệp bảo hiểm, công ty

đó sẽ chi trả bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm” (AIG)

Dưới góc độ kỹ thuật bảo hiểm, có thể hiểu BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người khi gặp một loại rủi ro dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người có cùng khả năng gặp rủi ro đó thông qua hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm Bằng cách chia nhỏ tổn thất như vậy, hậu quả lẽ ra rất nặng nghiêm trọng với một hoặc một số người sẽ trở nên không đáng kể có thể chấp nhận được đối với cả cộng đồng những người tham gia bảo hiểm BHTM, ở một phương diện khác, chính là tổng thể các mối quan hệ kinh tế giữa các đơn vị và các cá nhân tham gia bảo hiểm với các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm khắc phục hậu quả do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra để ổn định đời sống và khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh

Với tính chất của một hoạt động kinh doanh, BHTM đáp ứng cho các nhu cầu an toàn của con người và đồng thời nhằm đạt tới mục tiêu cao nhất là lợi nhuận Bởi vậy, việc tiến hành hoạt động BHTM phải tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản sau:

I.1 Nguyên tắc 1: Số đông bù số ít

Trang 2

Hoạt động BHTM chính là một hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để rồi

có khả năng sẽ phải trả một khoản tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Khoản tiền bồi

thường hay chi trả thường lớn hơn gấp nhiều lần so với khoản phí mà các doanh nghiệp bảo hiểm nhận được Để làm được điều này, hoạt động BHTM phải dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít Đây là nguyên tắc xuyên suốt, khôngthể thiếu được trong bất kỳ một nghiệp vụ BHTM nào, theo đó hậu quả cảu rủi

ro xảy ra đối với một hoặc một số ít người sẽ được bù đắp bằng số tiền huy động được từ rất nhiều người có khả năng cùng gặp rủi ro như vậy

Thông qua việc huy động đủ số phí cần thiết để giải quyết chi bồi thường cho các tổn thất có thể xảy ra trong cộng đồng những người tham gia bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm đã thực hiện việc bù trừ rủi ro theo quy luật số lớn

Theo nguyên tắc này, càng nhiều người tham gia bảo hiểm thì quỹ bảo hiểm tích tụ được càng lớn, việc hci trả càng trở nên dễ dàng hơn, rủi ro được san sẻ cho nhiều người hơn Thông thường, một sản phẩm bảo hiểm chỉ có thể được triển khai khi có nhiều nhu cầu về cùng một loại bảo đảm đó

1.2 Nguyên tắc 2: Rủi ro có thể được bảo hiểm

Hoạt động BHTM cung cấp các dịch vụ bảo hiểm cho những cá nhân và tổ chức có nhu cầu Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp, doanh nghiệp bảo hiểmđều chấp nhận các yêu cẩu bảo đảm Hiếm có doanh nghiệp bảo hiểm nào đồng ý thỏathuận bồi thường cho các trường hợp tổn thất gây ra do sự cố ý của người được bảo hiểm Cũng vậy, doanh nghiệp bảo hiểm thật khó chấp nhận bảo đảm cho những thiệt hại vật chất của một chiếc xe ô tô ở trong tình trạng không an toàn về kỹ thuật hay không được phép lưu hành

Đây là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm Theo nguyên tắc này, các rủi ro đã xảy ra, chắc chắn hoặc gần như chắc chắn sẽ xảy ra thì bị từ chối bảo hiểm: hao mòn vật chất tự nhiên, hao hụt thương mại tự nhiên, xe vi phạm nghiêm trọng luật giao thông, cố ý tự tử,… Nói các khác, những rủi ro có thể được bảo hiểm phải là những rủi ro bất ngờ, không lường trước được Với rủi ro bị chết là rủi ro chắc chắn xảy ra thì yếu tố ngẫu nhiên được xem xét để bảo hiểm là thời điểm chết Thêm vào đó, nguyên nhân gây ra rủi ro

có thể được bảo hiểm phải là nguyên nhân khách quan, không cố ý Tính đồng nhất của rủi ro là một yếu tố khác giúp doanh nghiệp bảo hiểm có thể xem xét rủi ro có thểđược bảo hiểm hay không Trên cơ sở tính đồng nhất của rủi ro, doanh nghiệp bảo hiểm có thể tính toán được phí bảo hiểm một cách chính xác và khoa học dựa vào các phương pháp toán học

Để đảm bảo nguyên tắc này trong đơn vị bảo hiểm luôn có các rủi ro loại trừ tùy thuộc vào từng nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau Đối với các rủi ro được nhận bảo hiểm lại có thể xem xét để phân loại, sắp xếp theo từng mức độ khác nhau (nếu cần

Trang 3

thiết) và áp dụng các mức phí thích hợp Đối với các rủi ro có xác suất xảy ra lớn hơn thì mức phí phải nộp cao hơn Chẳng hạn trong bảo hiểm nhân thọ (BHNT), những người không ở cùng độ tuổi sẽ có xác suất tử vong khác nhau do đó phải đóng mức phí khác nhau Chính vì vậy, một yêu cầu đặt ra đối với người tham gia bảo hiểm là phải trung thực tuyệt đối khi khai báo rủi ro để doanh nghiệp bảo hiểm có thể chấp nhận bảo hiểm hay không, nếu có thì với mức phí như thế nào.

Nguyên tắc rủi ro có thể được bảo hiểm nhằm tránh cho doanh nghiệp bảo hiểmphải bồi thường cho những tổn thất thấy trước mà với nhiều trường hợp như vậy chắc chắn sẽ dẫn đến phá sản Đồng thời nguyên tắc này cũng giúp các doanh nghiệp bảo hiểm có thể tính được các mức phí chính xác, lập nên được một quĩ bảo hiểm đầy đủ

để bảo đảm cho công tác bồi thường Không chỉ đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp mà ngay chính những người tham gia bảo hiểm cũng thấy công bằng hơn khi nguyên tắc này được áp dụng

1.3 Nguyên tắc 3: Phân tán rủi ro

Là người nhận các rủi ro được chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm, nhà bảo hiểm lúc này sẽ là người phải đối mặt với những tổn thất có thể rất lớn nếu rủi ro xảy ra Mặc dù quỹ bảo hiểm là một quỹ tài chính lớn, được lập bởi sự đóng góp của nhiều người theo nguyên tắc số đông và như vậy, với tư cách là người huy động và quản lý quĩ, các doanh nghiệp bảo hiểm có khả năng thực hiện nhiệm vụ chi trả bảo hiểm Nhưng trên thực tế, không phải lúc nào doanh nghiệp bảo hiểm cũng luôn đảm bảo được khả năng này Điều này có thể thấy rất rõ đối với những trường hợp quĩ bảo hiểm huy động được còn chưa nhiều (doanh nghiệp bảo hiểm mới thành lập hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có qui mô nhỏ) trong khi đó giá trị bảo hiểm (GTBH) lại rất lớn hoặc với những trường hợp có rủi ro liên tiếp xảy ra gây tổn thất lớn

Một kinh nghiệp trong hoạt động của các nhà BHTM là không nhận những rủi ro quá lớn, vượt quá khả năng tài chính của công ty Tuy nhiên, để tránh được điều tối kị là phải từ chối bảo hiểm đồng thời vẫn đảm bảo được hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng nguyên tắc phân tán rủi ro Có hai phương thức phân tán rủi

ro được sử dụng: đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm Nếu trong đồng bảo hiểm, nhiều nhàbảo hiểm cùng đảm nhận cho một rủi ro lớn thì tái bảo hiểm lại là phương thức trong

đó, một nhà bảo hiểm nhận bảo đảm cho một rủi ro lớn, sau đó nhượng bớt một phần rủi ro cho một hoặc nhiều nhà bảo hiểm khác

1.4 Nguyên tắc 4: Trung thực tuyệt đối

Nguyên tắc này được thể hiện ngay từ khi doanh nghiệp bảo hiểm nghiên cứu đểsoạn thảo một HĐBH đến khi phát hành, khai thác bảo hiểm và thực hiện giao dịch kinh doanh với khách hàng (người tham gia bảo hiểm)

Trước hết, nguyên tắc trung thực tuyệt đối đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm phải

có trách nhiệm cân nhắc các điều kiện, điều khoản để soạn thảo hợp đồng đảm bảo cho quyền lợi của hai bên Sản phẩm cung cấp của nhà bảo hiểm là sản phẩm dịch

vụ nên khi mua, người thma gia bảo hiểm không thể cầm nắm nó trong tay như các

Trang 4

sản phẩm vật chất khác để đánh giá chất lượng và giá cả… mà chỉ có thể có được một hợp đồng hứa sẽ bảo đảm Chất lượng sản phẩm bảo hiểm có bảo đảm hay không, giá cả (phí bảo hiểm) có hợp lý hay không, quyền lợi của người được bảo hiểm có đảm bảo đầy đủ, công bằng hay không… đều chủ yếu dựa vào sự trung thựccủa phí doanh nghiệp bảo hiểm.

Ngược lại, nguyên tắc này cũng đặt ra một yêu cầu với người tham gia bảo hiểm

là phỉa trung thực khi khai báo rủi ro khi tham gia bảo hiểm để giúp doanh nghiệp bảo hiểm xác định mức phí phù hợp với rủi ro mà họ đảm nhận

Thêm vào đó, các hành vi gian lận nhằm trục lợi bảo hiểm khi thong báo, khai báo các thiệt hại để đòi bồi thường (khai báo lớn hơn thiệt hại thực tế; sửa chữa ngàytháng của HĐBH…) sẽ được xử lý theo pháp luật

1.5 Nguyên tắc 5: Quyền lợi có thể được bảo hiểm

Nguyên tắc này yêu cầu người tham gia bảo hiểm phải có lợi ích tài chính bị tổn thất nếu đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro Nói cách khác người tham gia bảo hiểmphải có một số quan hệ với đối tượng được bảo hiểm và được pháp luật công nhận

Nguyên tắc này nhằm loại bỏ khả năng bảo hiểm cho tài sản của người khác, hoặc cố tình gây thiệt hại hoặc tổn thất để thu lợi từ một đơn bảo hiểm

Ngoài các nguyên tắc kể trên, trong mỗi một loại hình bảo hiểm lại có them những nguyên tắc khác phù hợp với đặc điểm của từng loại như: nguyên tắc bồi thường, nguyên tắc khoán,…

II – Phân loại bảo hiểm thương mại

Tùy theo 3 tiêu thức sau để ta phân loại bảo hiểm thương mại

1 Theo phương thức quản lý

 Bảo hiểm tự nguyện

 Phần lớn các sản phẩm BHTM đều là tự nguyện

 Khách hàng tham gia mua bảo hiểm tùy nhu cầu

 Doanh nghiệp bảo hiểm đáp ứng tùy thuộc khả năng tài chính và trình độ kĩ thuật nghiệp vụ của công ty đó

 Bảo hiểm bắt buộc

Các sản phẩm bảo hiểm mà luật pháp quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí, số tiền tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và các doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện

Thường gắn với rủi ro gây hậu quả ảnh hưởng đến lợi ích của xã hội

2 Theo kĩ thuật bảo hiểm

 Bảo hiểm theo kĩ thuật phân chia

Trang 5

Các bảo hiểm có thời hạn ngắn (thường là 1 năm) bảo đảm cho rủi ro có tínhchất tương đối ổn định và độc lập với tuổi thọ con người

 Bảo hiểm theo kĩ thuật tổn tích

Điển hình: bảo hiểm nhân thọ

Thời hạn dài, quỹ dc tích tụ qua nhiều năm mới dc dùng để chi trả

Bảo đảm cho các rủi ro có tính chất thay đổi rõ rệt theo thời gian và đối tượng, thường gắn liền với tuổi thọ con người

3 Theo đối tượng được bảo hiểm

 Bảo hiểm tài sản

Đối tượng: tài sản (cố định hoặc lưu động) của người được bảo hiểm

a Nguyên tắc bồi thường

Số tiền bồi thường mà người được bảo hiểm nhận được trong mọi trường hợp không được vượt quá thiệt hại thực tế trong sự cố bảo hiểm

b Nguyên tắc thế quyền hợp pháp

Khi xuất hiện người thứ ba có lỗi và do đó có trách nhiệm đối với thiệt hại của người được bảo hiểm thì sau khi DNBH trả tiền bồi thường, DNBH sẽ được thay quyền của người được bảo hiểm để thực hiện việc truy đòi trách nhiệm củangười thứ ba có lỗi

Ngoại lệ: người thứ ba gây lỗi là trẻ em, hoặc con cái, vợ chồng, cha mẹ của người được bảo hiểm

c Bảo hiểm trùng

Nếu một đối tượng bảo hiểm đồng thời được bảo đảm bằng nhiều hợp đồng bảohiểm cho cùng một rủi ro với những doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau, những HDBH này có điều kiện giống nhau, thời hạn bảo hiểm trùng nhau và tổng STBH từ tất cả những hợp đồng này lớn hơn giá trị của đối tượng bảo hiểm thì

đó gọi là bảo hiểm trùng

Thông thường bảo hiểm trùng liên quan đến sự gian lận của người tham gia bảohiểm nhằm mục đích trục lợi bảo hiểm Do đó về nguyên tắc, DNBH có thể hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm nếu phát hiện bảo hiểm trùng có gian lận

Nếu các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bồi thường thì trách nhiệm mỗi công ty đối với tổn thất sẽ được chia theo tỉ lệ trách nhiệm họ đảm nhận Cụ thể:

STBTcủa HDBH A = giá trị thiệt hại thực tế x STBHcủa HDBH A / ∑STBH

d Các chế độ bồi thường bảo hiểm

a Chế độ bảo hiểm theo mức miễn thườngTrong chế độ này, nếu rủi ro thiệt hại tài sản được bảo hiểm xảy ra:

i Dưới mức miễn thường: DNBH không chi trả

ii Trên mức miễn thường: DNBH chi trả

1 Không khấu trừ: STBT = giá trị thiệt hại

2 Có khấu trừ: STBT = giá trị thiệt hại – mức miễn thường

Trang 6

b Chế độ bảo hiểm theo tỉ lệ

Trong các trường hợp bảo hiểm dưới giá trị

STBT = Giá trị thiệt hại thực tế x STBH / GTBH

Trong các trường hợp khai báo không chính xác rủi ro thì bên bảohiểm thường áp dụng tỷ lệ “số phí bảo hiểm đã nộp / số phí bảo hiểm lẽ ra phải nộp” để thanh toán (trường hợp chấp nhận bồi thường)

STBT = Giá trị thiệt hại thực tế x phí BH đã nộp / phí BH lẽ ra phải nộp

c Chế độ bảo hiểm theo rủi ro đầu tiên

DNBH trả STBH theo một giới hạn đã thỏa thuận Các tổn thất của người được bảo hiểm nằm trong giới hạn này gọi là tổn thất thuộc rủi ro đầu tiên (tổn thất đầu tiên) Tổn thất vượt quá giới hạnthỏa thuận có thể sẽ được bảo hiểm bằng một đơn bảo hiểm vượt quá

Áp dụng trong bảo hiểm trộm cắp

 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Đối tượng: trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ

Áp dụng nguyên tắc bồi thường khi giải quyết bồi thường bảo hiểm

 Bảo hiểm con người

Đối tượng: tuổi thọ, tính mạng, tình trạng sức khỏe con người hoặc các sự kiện liên quan đến cuộc sống và có ảnh hưởng tới cuộc sống con ngườiNguyên tắc “khoán”: với ý nghĩa là tính mạng và tình trạng sức khỏe của con người là vô giá, không thể bồi thường khi có thiệt hại xảy ra, DNBH sẽ thanh toán chi trả bảo hiểm (trong trường hợp xảy ra rủi ro) khoản tiền đượcthỏa thuận trong hợp đồng kí kết, số tiền chỉ mang tính trợ giúp tài chính cho người được bảo hiểm và thân nhân hoặc hoàn lại khoản tiền tích lũy được của người được bảo hiểm (bảo hiểm nhân thọ)

Đối tượng trong bảo hiểm con người có thể được đồng thời được bảo hiểm bằng nhiều hợp đồng bảo hiểm khác nhau, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, việctrả tiền bảo hiểm của từng hợp đồng độc lập nhau

Không có sự thế quyền hợp pháp của người bảo hiểm, điều đó có nghĩa DNBH sau khi đã thanh toán, chi trả STBH, không được phép thế quyền

Trang 7

người tham gia bao hiểm hay người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để khiếu nại người thứ 3 truy đòi số tiền bồi thường trách nhiệm tương ứng

 Phân loại chi tiết hơn còn có bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm phi hàng hải, bảo hiểm trách nhiệm pháp lí, bảo hiểm xe cơ giới

III Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm thương mại

3.1 Khái niệm

Hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) là một văn bản pháp lý qua đó doanh nghiệp bảohiểm cam kết sẽ chi trả hoặc bồi thường cho bên được bảo hiểm khi có sự kiện bảohiểm xảy ra gây tổn thất, ngược lại bên mua bảo hiểm cam kết trả khoản phí phù hợpvới mức trách nhiệm và rủi ro mà doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận

Như vậy, trong HĐBH sẽ có hai bên: bên bảo hiểm, chính là các doanh nghiệpbảo hiểm, sẽ được nhận phí bảo hiểm để thiết lập quỹ tài chính và chịu trách nhiệmchi trả hoặc bồi thường bảo hiểm; bên mua bảo hiểm, là người tham gia bảo hiểm, sẽchịu trách nhiệm về việc ký kết và nộp phí bảo hiểm Nguời tham gia bảo hiểm phải

là người có đủ tư cách pháp lý khi tham gia bảo hiểm Sự kiện bảo hiểm là các sự kiệnkhách quan do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật qui định mà khi sự kiện đó xảy rathì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồithường cho người được bảo hiểm Các HĐBH có thể được ký kết một cách trực tiếpgiữa người tham gia bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm hoặc ký kết gián tiếp thôngqua môi giới, đại lý

HĐBH tài sản là văn bản thỏa thận giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người thamgia bảo hiểm nhằm đảm bảo cho tài sản của người được bảo hiểm bao gồm vật cóthực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản Thông thường trongHĐBH tài sản, người tham gia bảo hiểm chính là người được bảo hiểm Điều này phùhợp với nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm

HĐBH trách nhiệm dân sự là văn bản thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm

và người tham gia bảo hiểm nhằm bảo đảm cho các trách nhiệm dân sự có thể phátsinh của người được bảo hiểm đối với người thứ ba theo qui định của pháp luật.Tương tự HĐBH tài sản, người tham gia bảo hiểm trong HĐBH trách nhiệm dân sựcũng thường là người được bảo hiểm

Trang 8

HĐBH con nguời là văn bản thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm và ngườitham gia bảo hiểm nhằm đảm bảo cho tuổi thọ, tính mạng, tình trạng sức khỏe củangười được bảo hiểm và tai nạn đó có thể xảy ra đối với người được bảo hiểm TheoLuật Kinh doanh bảo hiểm ban hành ngày 22 tháng 2 năm 2000, trong HĐBH conngười, người tham gia chỉ có thể mua bảo hiểm cho: (a) chính bản thân họ; (b) cho vợ(chồng), con, cha, mẹ; (c) cho anh, chị, em ruột, người có quan hệ nuôi dưỡng và cấpdưỡng; (d) hoặc cho những người mà người tham gia bảo hiểm có quyền lợi có thểđược bảo hiểm.

3.2 Chủ thể và trách nhiệm của các bên trong hợp đồng bảo hiểm

3.2.1 Các chủ thể có liên quan

Trong hợp đồng BHTM có các chủ thể liên quan:

Doanh nghiệp bảo hiểm: là tổ chức hoặc cá nhân có đầy đủ tư cách pháp nhânđược Nhà Nước cho phép tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, được thu phí đểlập ra quĩ bảo hiểm và chịu trách nhiệm bồi thường xảy ra hay chi trả cho bên đượcbảo hiệm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra

Người tham gia bảo hiểm: Là tổ chức hoặc cá nhân ký kết HĐBH với doanhnghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm

Như đã đề cập trong nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm, người thamgia bảo hiểm phải là người có quyền lợi hợp pháp khi đối tượng được bảo hiểm gặprủi ro và bị tổn thất Ngoài trách nhiệm đóng phí bảo hiểm, người tham gia bảo hiểmcòn có trách nhiệm khai báo chính xác rủi ro khi ký kết HĐBH đồng thời phải nhanhchóng kịp thời thông báo thiệt hại khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra

Người được bảo hiểm: Là tổ chức hoặc cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự,tính mạng hoặc trình trạng sức khỏe được bảo hiểm theo HĐBH

Người thụ hưởng: Là tổ chức hoặc cá nhân được người tham gia bảo hiểm chỉđịnh trong HĐBH sẽ nhận sự trợ giúp và bồi thường từ doanh nghiệp bảo hiểm

Người thụ hưởng có thể được chỉ định đích danh hoặc không đích danh Nếuđược chỉ định đích danh thì trong HĐBH sẽ nêu rõ tên người được hưởng và mốiquan hệ với người được bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm

Trang 9

Ví dụ: HĐBH này được ký kết để cho con trai là Nguyễn Văn X… được hưởngSTBH nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Các trường hợp người thụ hưởng được chỉ định đích danh thường thấy trongcác BHNT Còn trong trường hợp không được chỉ định đích danh, người thụ hưởngvẫn có thể xác định được qua các điều khoản của HĐBH Chẳng hạn, đó là các nạnnhân trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự, là người thừa kế theo luật trong BHNT

Việc xác định các chủ thể trong một HĐBH là cần thiết để hiểu rõ được tráchnhiệm và quyền lợi của các chủ thể này Trong đa số các trường hợp, người tham giabảo hiểm hoặc người được hưởng bảo hiểm là một Trong một số trường hợp khác,người được bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm là một, còn người thụ hưởng lại làmột chủ thể khác Còn có những trường hợp, các chủ thể này hoàn toàn độc lập vớinhau

3.2.2 Trách nhiệm các bên trong hợp đồng bảo hiểm

Các bên trong HĐBH có một số trách nhiệm ràng buộc chủ yếu sau:

Đối với doanh nghiệp bảo hiểm trách nhiệm chính là giải quyết bồi thường chitrả khi sự kiện bảo hiểm xảy ra gây tổn thất việc thanh toán phải đảm bảo nhanhchóng kịp thời và hợp lý Khi soạn thảo hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm phải đảmbảo tính trung thực để bảo vệ quyền lợi cho cả 2 bên Khi giao kết hợp đồng, daonhnghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, trung thực, chính xác các thông tinliên quan đến HĐBH, đồng thời phải giải thích các thông tin liên quan đến HĐBH,đồng thời phải giải thích cá điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm.Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm còn có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin mà bênmua bảo hiểm đã cung cấp Trong quá trình thực hiện hợp đồng, doanh nghiệp bảohiểm phải có trách nhiệm đề phòng hạn chế các tổn thất có thể xảy ra Nếu có bất kỳ

sự thay đổi nào ảnh hưởng đến việc thực hiện HĐBH và quyền lợi của bên mua bảohiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải thông báo cho bên mua biết

Bên tham gia bảo hiểm, trước hết, với tư cách là người đi mua sản phẩm bảohiểm nên phải trả phí đầy đủ, đúng kỳ hạn Khi khai báo rủi ro, người tham gia bảohiểm phải trả lời một cách trung thực, chính xác các câu hỏi có liên quan đến đốitượng được bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã yêu cầu Trong quá trình thựchiện hợp đồng, nếu có những thay đổi nào liên quan đến đối tượng được bảo hiểm, ví

dụ như gia tăng giá trị, gia tăng rủi ro, phát hiện bệnh truyền nhiễm,… mà có thể ảnhhưởng đến xác suất xảy ra rủi ro hoặc công tác bồi thường thì người mua bảo hiểm

Trang 10

phải kịp thời thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm để điều chỉnh sửa đổi người thamgia bảo hiểm phải có trách nhiệmh thực hiện các biện pháp cần thiết để đề phòng hạnchế tổn thất Nếu rủi ro được bảo hiểm xảy ra thì người tham gia bảo hiểm phải thôngbáo kịp thời và chính xác để thanh toán bồi thường.

3.3 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm

Giá trị bảo hiểm được hiểu là giá trị của đối tượng được bảo hiểm trong

BHTM có 3 nhóm đối tượng được bảo hiểm là tài sản, trách nhiệm dân sự, con người.trách nhiệm dân sự là một khái niệm trừu tượng, chưa được xác định cụ thể khi kýhợp đồng bảo hiểm, còn đối tượng được bảo hiểm là tính mạng, sức khỏe của conngười là vô giá, không được đánh giá thành tiền Do vậy, khái niệm GTBH khôngđược sử dụng trong BHTNDS cũng như trong BHCN mà được xem xét trong BHTS

Như vậy, GTBH chính là giá trị của các tài sản được bảo hiểm và nó được lấylàm căn cứ để xác định STBH và phí bảo hiểm Ví dụ giá trị bảo hiểm trong mộtHĐBH vật chất xe ô tô là giá trị của xe ô tô tính vào thời điểm nhận bảo hiểm, hoặcGTBH là của ngôi nhà trong bảo hiểm hỏa hoạn,…

Số tiền bảo hiểm là khoản tiền được xác định trong HĐBH thể hiện giới hạn

trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm Điều đó có nghĩa là, trong bất kỳ trường hợpnào, số tiền bồi thường hay số tiền chi trả cao nhất của doanh nghiệp bảo hiểm cũngchỉ bằng STBH

Trong BHTS, STBH được xác định theo 3 trường hợp

- STBH < GTBH: được gọi là bảo hiểm dưới giá trị Ví dụ, chủ một xe ô

tô chỉ tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giời cho phần thân vỏ xe, lúc này STBH đượcxác định căn cứ vào phần thân vỏ xe nhỏ hơn giá trị của chiếc xe được bảo hiểm

- STBH = GTBH: được gọi là bảo hiểm ngang giá trị

- STBH > GTBH: được gọi là bảo hiểm trên giá trị

Trên thực tế, hầu hết mọi trường hợp người tham gia bảo hiểm thường tham giadưới hoặc ngang giá trị Còn trong trường hợp bảo hiểm trên giá trị thường chỉ xảy rakhi có thỏa thuận trước giữa công ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, hay gặptrong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu

Đối với BHCN, STBH được xác định dựa trên sự thỏa thuận của 2 bên và khảnăng tài chính của người tham gia bảo hiểm Còn trong BHTNDS, STBH thườngđược xác định dựa trên sự thỏa thuận

Trang 11

3.4 Phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm (còn được gọi là giá cả của sản phẩm bảo hiểm) là số tiền màngười tham gia bảo hiểm phải trả cho công ty bảo hiểm để đổi lấy sự bảo đảm trướccác rủi ro chuyển sang cho công ty bảo hiểm

Cơ cấu phí bảo hiểm gồm 2 phần:

tố sau:

+ Xác suất xảy ra rủi ro: khả năng xảy ra tổn thất phải bồi thường

+ Cường độ tổn thất: tính khốc liệt, mức độ trầm trọng của tổn thất

+ STBH

+ Thời hạn bảo hiểm

+ Lãi suất đầu tư: đặc biệt chi phối phí thuần trong bảo hiểm nhân thọ

- Phụ phí (d) là khoản phí cần thiết để doanh nghiệp bảo hiểm đảm bảocho các khoản chi, trong hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm:

Ngày đăng: 26/02/2016, 12:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w