Theo những quan điểm nói trên về quỹ nói chung thì quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những ng
Trang 1BÀI TẬP NHÓM
Đề tài Một số vấn đề về quản lý quỹ BHXH
I Quỹ Bảo hiểm xã hội
1.1 Khái niệm và vai trò của quỹ BHXH đối với hệ thống BHXH.
1.1.1 Khái niệm
Trong đời sống kinh tế- xã hội người ta thường nói đến rất nhiều loại quỹ khác nhau Tất cả các loại quỹ này đều có điểm chung đó là tập hợp các phương tiện tài chính hay vật chất khác cho những hoạt động nào đó theo những mục tiêu và định hướng trước Quỹ lớn hay nhỏ biểu thị khả năng và điều kiện vật chất để thực hiện các hoạt động BHXH
Theo những quan điểm nói trên về quỹ nói chung thì quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những người được BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm
Như vậy, Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước, mang bản chất vừa là một quỹ tiêu dùng vừa là một quỹ dự phòng.Điều kiện quyết định để một hệ thống BHXH hoạt động được là phải hình thành được nguồn quỹ tiền tệ tập trung để rồi nguồn quỹ này được dùng để chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH
1.1.2 Vai trò của quỹ BHXH đối với hệ thống BHXH.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, người lao động luôn phải gánh chịu, đương đầu với vô vàn các rủi ro Những rủi ro đó có thể làm cho người lao động mất khả năng lao động tạm thời hay vĩnh viễn, mất nguồn sống hay chết người, con cái mất nơi nương tựa, hoặc lúc
về già không còn khả năng lao động để có thu nhập đảm bảo cuộc sống Vì vậy, để có nguồn thu nhập duy trì, ổn định cuộc sống của bản thân và gia đình họ trong lúc gặp rủi ro hoặc tuổi già thì tất yếu phải lập quỹ dự trữ bảo hiểm thích hợp, đủ lớn để có thu nhập ổn định đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình trong tương lai
Mặt khác do quy luật bảo toàn nòi giống, duy trì lức lượng lao động cho tương lai của
xã hội, những người lao động nữ họ còn phải làm nghĩa vụ sinh con, nuôi con và chăm sóc khi con ốm đau cũng đòi hỏi phải có quỹ bảo hiẻm giúp đỡ Việc tạo lập quỹ BHXH cho
Trang 2người lao động những lúc gặp rủi ro bất ngờ hoặc lúc tuổi già có thể được tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau Do vậy, quỹ BHXH có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của người lao động
Trong thực tế không ai muốn mất việc làm hoặc mất, giảm khả năng lao động để được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH, do đó nó phù hợp với nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” Nguyên tắc này thể hiện việc phân phối lại thu nhập giữa những người lao động có thu nhập khác nhau, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc và những người đang ốm đau phải nghỉ việc hay giữa những người đang hưởng trợ cấp BHXH khác nhau Từ đó cũng thấy rằng khả năng, vai trò của quỹ BHXH trong việc phân phối lại thu nhập và công bằng xã hội, động viên người lao động hăng hái làm việc: Khi người lao động đang làm việc sẽ có thu nhập, còn khi mất khả năng lao động thì họ lại được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH Như vậy, họ đã có “van
an toàn” để đảm bảo cuộc sống cho họ, đó là chỗ dựa vững chắc khi họ không có khả năng lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn và làm cho người lao động yên tâm gắn bó với công việc
Bên cạnh đó quỹ BHXH đầu tư một phần vào các hoạt động kinh tế - xã hội, khoản này không những tạo thêm khả năng mở rộng quỹ BHXH mà còn góp phần phát triển kinh tế
-xã hội
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết hậu quả của rủi ro cho người tham gia, đảm bảo an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ, giảm thiểu tối
đa thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm cho ngân sách Nhà nước Quỹ sử dụng để trợ cấp cho người lao động và gia đình họ khi họ gặp phải rủi ro và một phần chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
1.2 Nguồn hình thành và các mục đích sử dụng của quỹ BHXH.
Quỹ BHXH là một yếu tố mang tính chất sống còn đối với sự nghiệp BHXH
1.2.1 Nguồn hình thành
1.2.1.1 Sự đóng góp của người lao động
Người tham gia BHXH phải đóng góp cho quỹ BHXH mới được hưởng trợ cấp BHXH Thực chất ở đây người lao động đã dàn trải rủi ro theo thời gian
1.2.1.2 Sự đóng góp của người sử dụng lao động
Người sử dụng lao động đóng góp cho quỹ BHXH để bảo hiểm cho người lao động mà mình thuê mướn Sự đóng góp này thể hiện trách nhiệm của họ đối với người lao động.Và vì
Trang 3quá trình sản xuất kinh doanh của họ không bị ảnh hưởng khi người lao động có nhu cầu BHXH
1.2.1.3 Nhà nước đóng góp và hỗ trợ.
Sự tham gia của Nhà nước thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với các thành viên trong xã hội
1.2.1.4 Các nguồn thu khác.
Bao gồm các nguồn thu chủ yếu sau:
- Tiền lãi, tiền lời từ các hoạt động đầu tư nhằm bảo toàn và phát triển quỹ BHXH
- Các nguồn tài trợ và viện trợ khác ở trong nước, ngoài nước và cộng đồng quốc tế,
kể cả các tổ chức phi Chính phủ và các cá nhân hảo tâm
- Giá trị các tài sản cố định của BHXH được đánh giá lại theo các quy định của Nhà nước
- Các nguồn thu khác: Tiền phạt do nộp chậm BHXH so với thời gian quy định, tiền truy thu khi các đơn vị sử dụng lao động và người lao động đóng thiếu tiền BHXH hoặc nhận thừa so với chế độ được hưởng thụ
Thông thường sự đóng góp của ba bên: Người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước tạo ra nguồn quỹ cơ bản nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất Tùy theo điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước mà tỷ lệ đóng góp của mỗi bên được quy định khác nhau
Nguyên tắc hoạt động của quỹ BHXH là cân đối thu - chi
1.2.2 Mục đích sử dụng:
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho hai mục đích sau
- Chi trả và trợ cấp các chế độ BHXH
- Chi phí cho sự ngiệp quả lý
1.3 Phân loại quỹ BHXH.
Để quản lý và sử dụng quỹ BHXH một cách có hiệu quả cần phải phân loại quỹ BHXH Có nhiều cách phân loại quỹ BHXH theo các tiêu thức khác nhau, có thể phân loại như sau:
* Phân loại theo tính chất sử dụng.
Trang 4- Quỹ ngắn hạn: Chi trả cho các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp nhẹ
- Quỹ dài hạn: Chi trả trợ cấp hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp nặng Quỹ này chịu ảnh hưởng của tài chính tiền tệ
* Phân loại theo các chế độ.
- Quỹ hưu trí, tử tuất
- Quỹ TNLĐ và BNN
- Quỹ thất nghiệp
- Quỹ ốm đau, thai sản
* Phân loại theo đối tượng.
- Quỹ cho công chức
- Quỹ cho lực lượng vũ trang
- Quỹ cho người lao động trong các doanh nghiệp
- Quỹ cho các loại lao động khác
1.4 Quản lý quỹ BHXH.
Chính sách BHXH không phải là hoạt động tinh thần mà nó phải giải quyết quan hệ xã hội cụ thể Quản lý BHXH bao gồm hai phần khăng khít:
* Quản lý Nhà nước về BHXH (mặt vĩ mô)
* Quản lý BHXH về mặt nghiệp vụ (về mặt thu chi tài chính, quản lý và sử dụng quỹ)
Đứng trước thực trạng về quản lý quỹ BHXH như vậy nên ngày 16/2/1995 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 19/CP về việc thành lập BHXH Việt nam
II Thực trạng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trải qua một giai đoạn dài hình thành và phát triẻn quỹ BHXH ở việt nam đã từng bước ngày càng phù hợp hơn với xu thế của xãhội.Ngay Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hội đối công nhân viên chức Nhà nước ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/11/1961 của Chính phủ, quản lý bảo hiểm xã hội được giao cho Tổng Công đoàn Việt Nam cả về quản
Trang 5lý quỹ và toàn bộ sự nghiệp bảo hiểm xã hội Đây là thời kỳ hết sức khó khăn của đất nước, do
đó trong thời kì này BHXH chỉ là hình thức trợ cấp đối với công nhân viên chức nhà nước và lưcl lượng vũ trang quân đội.Còn lực lượng khác chưa được hưởng các chính sách của BHXH Và tiền chi trả chủ yếu do ngân sách nhà nước , sự đóng góp của các đối tượng được hưởng hầu như là không có.Nhưng chính nó lại làm tiền đề cho các giai đoạn sau ,theo quyết định số 62/CP ngày 10/04/1964 của chính phủ lí BHXH ddược phân cho hai ccấp phụ trách : (Đối với công nhân viên chức nhà nước)
+Tổng liên đoàn lao động Việt Nam quản lí và thực hiện ba chế độ ngắn hạn (Chế độ thai sản , ốm đau , TNLĐ và bệnh nghề nghiệp)
+Bộ lao động thương binh và xã hội quản lí ba chế độ dài hạn (Chế độ mất sức lao động , hưu trí , tử tuất )
Sự phân chia này kéo dài từ năm 1964 đến tận năm 1995
Từ năm 1962 đến quý II năm 1964
Theo quy định Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thu 4,7% tổng quỹ tiền lương của cán bộ công nhân viên chức làm việc trong khu vực Nhà nước (Riêng đối với công nhân viên chức và quân nhân phục vụ trong lực lượng vũ trang thì không thu bảo hiểm xã hội nhưng vẫn thuộc đối tượng hưởng chính sách bảo hiểm xã hội vì các đối tượng này được ngân sách đài thọ hoàn toàn)
Giai đoạn từ quý II năm 1964 đến năm 1986
Để phù hợp với yêu cầu quản lý mới, theo Quyết định số 62/CP ngày 10/04/1964 của Hội Đồng Bộ Trưởng giao bớt nhiệm vụ quản lý một phần quỹ bảo hiểm xã hội cho Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Trong đó tỷ lệ thu phí bảo hiểm xã hội là 4,7% quỹ tiền lương chỉ để lại cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam số thu 3,7% tổng quỹ tiền lương để chi trả cho 3 chế độ ngắn hạn và chi sự nghiệp khác, còn 1% do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thu Giai đoạn từ năm 1987 đến tháng 9 năm 1995 thực hiện theo Quyết định số 181/HĐBT ngày 30/10/1986 của Hội Đồng Bộ Trưởng nâng mức đóng góp của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý từ 3,7% tổng quỹ lương lên 5% tổng quỹ lương
Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2006 Quỹ BHXH được hình thành trên cơ sở 15% tổng quỹ lương của người sử dụng lao động, 5%tiền lương của người lao động, bên cạnh đó còn có
sự đóng góp của nhà nước, nguồn khác(lãi do đầu tư từ quĩ nhàn rỗi, tổ chức từ thiện ) Giai đoạn từ năm 2006 đến nay
Theo luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 thì người lao động phải đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi thì cứ 2 năm 1 lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%; đối với người sử dụng lao động thì hàng tháng người sử
Trang 6dụng lao động phải đóng 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;11% vào quỹ hưu trí vào tử tuất, cứ 2 năm một lần lại đóng them 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%
Từ khi có cơ chế mới này, nguồn thu của quỹ bảo hiểm xã hội đã không ngừng tăng lên và có thể đáp ứng được nhu cầu chi phí bảo hiểm xã hội Tuy nhiên nguồn thu quỹ này tăng là do hiện nay những người phải đóng góp bảo hiểm xã hội lớn trong khi những đối tượng hưởng mới chưa nhiều, số đang hưởng thì vẫn do ngân sách Nhà nước đảm nhận quỹ bảo hiểm xã hội mặc dù đã trở thành" xương sống" của hệ thống bảo hiểm xã hội, nhưng chưa thật sự vững chắc nếu không có sự điều chỉnh hợp lý của chính sách ngay từ bây giờ
2.2 Đánh giá thực trạng thu chi bảo hiểm xã hội Việt Nam
Từ ngày BHXH Việt Nam ra đời đến nay, quỹ BHXH đã đạt được những kết quả rất đáng mừng, số thu BHXH năm sau luôn cao hơn năm trước, công tác thu chi BHXH đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của người tham gia BHXH là chi đúng, chi đủ và kịp thời không còn tình trạng nợ đọng kéo dài như một số năm trước Công tác đầu tư để duy trì và phát triển quỹ được thực hiện một cách có hiệu quả đảm bảo được các nguyên tắc đầu tư Song bên cạnh quỹ BHXH vẫn còn một số điểm cần được khắc phục và giải quyết kịp thời để ngày một hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong thời đại mới Sau đây ta đi xét cụ thể từng khâu trong qúa trình quản lý duy trì và tăng trưởng quỹ BHXH để thấy được thực trạng quỹ BHXH Việt Nam
2.2.1 Đánh giá thực trạng thu BHXH
Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan chỉ đạo công tác quản lý bảo hiểm xã hội và thực hiện chính sách, chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội theo Điều lệ bảo hiểm xã hội hiện hành
Bảng 1:Kết quả công tác thu bảo hiểm xã hội từ năm 2009 đến năm 2012 thể hiện ở bảng sau Chỉ tiêu Đơn vị
Số tiền phải thu
BHXH
Tỷ đồng 40856.1 52125.8 72569.2 97623.5
Số tiền nợ đọng
BHXH
Tỷ lệ nợ đọng/
phải thu
Số Lao động tham
gia BHXH
Triệu người
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam)
Từ bảng trên ta thấy số thu của quỹ bảo hiểm xã hội tăng nhanh qua các năm Tính tháng
Trang 7cuối năm 2009 số tiền thu bảo hiểm xã hội chỉ thu được 2093.8 tỷ đồng, nhưng từ năm 2009 trở đi thì số thu này bắt đầu tăng lên qua các năm và cho tới năm 2012 thì số thu BHXH đã đạt 97623.5 tỷ đồng Sự tăng lên của con số đó là do các nguyên nhân sau:
- Do số người tham gia BHXH tăng từ 8.86 triệu người (cuối năm 2009) lên 10.6 triệu người (năm 2012)
- Công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao được thể hiện ở tỷ lệ nợ đọng/số tiền bảo hiểm phải thu giảm dần qua các năm, cụ thể: 5,13% năm 2009 giảm xuống còn 4,37% vào năm 2012
- Do mức tiền lương tối thiểu tăng, do vậy mà mức lương làm căn cứ đóng BHXH tăng theo làm cho số thu BHXH cũng tăng, cụ thể là từ 650 000 đồng/ tháng năm 2009 lên 1 050
000 đồng/tháng vào năm 2012
Như vậy, có thể nói từ sau khi được thành lập BHXH Việt Nam đã hoạt động rất có hiệu quả, góp phần ổn định đời sống cho người lao động trong hầu hết các thành phần kinh tế và giảm một phần gánh nặng từ Ngân sách Nhà nước
2.2.2 Đánh giá thực trạng chi Bảo hiểm xã hội
Quá trình chi trả bảo hiểm xã hội cho người lao động là một vấn đề quan trọng, vì hoạt động này tác động trực tiếp đến quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội, sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp bảo hiểm xã hội theo quy định để hưởng bảo hiểm xã hội Vì vậy, việc chi trả bảo hiểm xã hội phải tuân thủ theo nguyên tắc: Chi trả đủ, kịp thời, chính xác tới từng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và an toàn tiền mặt Nội dung chi trả bảo hiểm xã hội như sau:
- Trợ cấp ốm đau
- Trợ cấp thai sản
- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,
- Hưu trí
- Tử tuất
- Lệ phí chi
- Nộp Bảo hiểm Y tế theo quy định tại Điều lệ bảo hiểm xã hội
- Chi quản lý bộ máy
Bảng 2 :Bảng chi quỹ BHXH từ năm 2008 đến năm 2010 ( đơn vị : tỷ đồng)
ST
T Chỉ Tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Tổng chi BHXH 46.122,607 56.312,816 68.601,490
I Chi trả các chế độ 44.870,742 54.880,846 66.427,216
Trang 81 Chi nguồn NSNN đảm bảo 23.510,793 26.461,486 29.133,335
2 Chi từ nguồn quỹ đảm bảo 21.359,949 28.419,360 37.293,881 2.1 Quỹ BHXH bắt buộc
- Chi quỹ ốm đau và thai sản 2.979,111 3.716,100 4.762,718
- Chi quỹ hưu trí, tử tuất 18.235,887 24.522,145 31.701,227 2.2 Chi quỹ BHXH tự nguyện 0,003 0,598 36,755 2.3 Chi quỹ bảo hiểm thất nghiệp 546,470
II Chi quản lý bộ máy 1.076,032 1.346,201 1.909,274 III Chi đầu tư 175,833 85,769 265,000 (Nguồn : Bảo hiểm xã hội)
Theo điều 91 khoản 1 và điều 92 khoản 1 bộ luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 có quy định : Đối với người lao động :Hằng tháng phải đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%; người sử dụng lao động
Đối với người sử dụng lao động: Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của người lao bằng:
- 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó người sử dụng lao động giữ lại 2% để trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ quy định tại Mục 1 và Mục 2 Chương III của Luật này và thực hiện quyết toán hằng quý với tổ chức bảo hiểm xã hội;
- 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
- 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%
Số tiền chi cho nguồn quỹ đảm bảo tăng qua các năm từ 21.359,949 tỷ đồng năm 2008 lên 37.293,881 tỷ đồng năm 2010 Trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất là nguồn chi cho quỹ hưu trí
tử tuất chiếm khoảng 41,33% vào năm 2008 và 46,21% vào năm 2010 trong tổng số tiền chi của quỹ bảo hiểm xã hội Nguyên nhân do:
- Tình hình giá hóa dân số, số lượng người tham gia BHXH nghỉ hưu qua các năm tăng cao
- Số tuổi nghỉ hưu của nước ta còn thấp, đặc biệt là đối với nữ
2.2.3 Tình hình duy trì và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội đã và đang được phát triển ở hầu khắp các nước trên thế giới, không chỉ
Trang 9bởi mục đích an sinh xã hội mà còn có vai trò quan trọng trong việc góp phần phát triển, ổn định nền tài chính - tiền tệ quốc gia Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, thị trường vốn ngày càng được mở rộng, phát triển mạnh mẽ cả về quy mô hình thức và chất lượng, đòi hỏi Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải có những cố gắng vượt bậc để tham gia hoạt động đầu tư quỹ một cách có hiệu quả cao nhất nhằm bảo tồn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hoạt động của bảo hiểm xã hội xét về khía cạnh nguồn lực tài chính thì được coi là một quỹ tiền tệ lớn của nền kinh tế, thường xuyên có khối lượng tiền vốn lớn tạm thời nhàn rỗi trong khoảng thời gian dài; lượng tiền này phải được đưa vào để đầu tư để bảo tồn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội
Theo điều 97 luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam năm 2006, các hình thức đầu tư bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội theo nguyên tắc bảo đảm an toàn, hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất, có hiệu quả kinh tế xã hội, với các nội dung kinh tế bao gồm:
- Mua trái phiếu, tín phiếu của kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại của Nhà nước
- Cho vay đối với ngân sách Nhà nước, quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, các ngân hàng thương mại của Nhà nước
- Đầu tư vốn vào một số dự án và doanh nghiệp lớn của Nhà nước có nhu cầu về vốn được Thủ Tướng Chính phủ cho phép và bảo trợ
Mua trái phiếu chính phủ (tỷ
đồng)
NHTM của nhà nước vay (tỷ
Lãi từ hoạt động đầu tư ( tỷ
đồng)
Bảng trên cho thấy vào năm 2008, quỹ BHXH chỉ thu về gần 9000 tỷ tiền lãi với tỷ lệ lãi/vốn = 11.76%, số kết dư quỹ BHXH đạt 83973 tỷ đồng, số kết dư năm 2009 là 95163 tỷ đồng ( cộng dồn từ năm 2008) và thu được nguồn lãi khoảng 8400 tỷ đồng.Điều đó cũng phản ánh quỹ bảo hiểm xã hội là một tiềm năng tài chính không nhỏ; tiềm năng này nếu không sử dụng triệt để hoặc sử dụng không hiệu quả là một sự lãng phí, là chưa phát huy hết nguồn nội lực về tiền vốn, đặt biệt trong điều kiện đất nước ta còn thiếu vốn trầm trọng Xét về mặt kinh
Trang 10tế thì việc đem phần quỹ nhàn rỗi để đầu tư là hoàn toàn hợp lý Nhiều nước, vốn đầu tư là nhu cầu rất cần thiết đối với nền kinh tế Nếu việc đầu tư có hiệu quả thì cả nền kinh tế và quỹ bảo hiểm xã hội đều được lợi
Trong 4 nguyên tắc về đầu tư là an toàn, có hiệu quả, tính dễ lưu chuyển và có lợi cho xã hội, thì nguyên tắc an toàn luôn được đặt lên hàng đầu Điều này vô cùng quan trọng vì hậu quả của việc mất quỹ bảo hiểm xã hội là vô cùng nghiêm trọng Ngược lại, nếu quá thận trọng
mà không cho phép đầu tư hoặc không dám đầu tư thì cũng là một sai lầm Cái lợi thế của quỹ bảo hiểm xã hội là nguồn vốn cần được khai thác triệt để
Bên cạnh những thành tự nói trên thì hoạt động quản lý quỹ BHXH vẫn còn những hạn chế cần khắc phục
I II Những thuận lợi và tồn tại của việc quản lỹ Bảo hiểm xã hội
3.1 Thuận lợi.
- Số đối tượng áp dụng BHXH được mở rộng đến những người làm công ăn lương trong
các thành phần kinh tế theo nguyên tắc có đóng góp có hưởng thụ.Nhờ mở rộng được đối tượng tham gia BHXH và tăng mức phí BHXH nên các nguồn huy động quỹ BHXH không ngừng tăng lên và có thể đáp ứng nhu cầu chi phí BHXH
- Thành lập được quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nước và hình thành từ 3 nguồn (đóng góp của người của người lao động, người sử dụng lao động, hỗ trợ của Nhà nước) đã tạo điều kiện xây dựng cơ chế tài chính mới đúng đắn, tăng nguồn tài chính, tạo điều kiện hình thành, duy trì và tăng trưởng quỹ Đồng thời góp phần tiết kiệm các khoản chi cho ngân sách Nhà nước, khắc phục các hạn chế về tài chính chi cho BHXH trước đây và tác động tích cực vào các chính sách kinh tế xã hội khác
- Công tác thu chi BHXH luôn đạt kết quả cao Thu BHXH năm sau luôn cao hơn năm trước, đảm bảo được thu đúng, thu đủ và an toàn tiền mặt Mặc dù khối lượng tiền mặt lớn nhưng chưa bao giờ xảy ra tình trạng thất thoát Số tiền thu được đem đầu tư tạo được một khoản thu tương đối lớn cho BHXH và là nguồn đầu tư giúp các ngành kinh tế khác có vốn để phát triển, điều đó cũng có tác động ngược trở lại là giúp các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì công tác thu BHXH càng trở lên dễ dàng và có kết quả cao Việc chi trả cho các đối tượng hưởng chế độ đầy đủ, kịp thời tránh tình trạng nợ đọng kéo dài như một số năm về trước, giúp người lao động ổn dịnh cuộc sống để họ an tâm tham gia lao động sản xuất
- Khối lượng tiền mặt nhàn rỗi ở quỹ BHXH được đưa vào đầu tư phát triển các ngành kinh tế trọng yếu của đất nước tạo điều kiện cho nền kinh tế có thêm vốn để hoạt động và phát triển
Bên cạnh những thành tự nói trên thì hoạt động quản lý quỹ BHXH vẫn còn những hạn chế cần khắc phục