1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý

72 589 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,quốc phòng an ninh, hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham giacủa Nhà nước, ch

Trang 1

Khoa Đầu tư

ĐỀ ÁN MÔN HỌC

Đề tài: Cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý

Hoạt động đầu tư phát triển có vai trò rất quan trọng, nó liên quan đến nhiều ngành, nhiềulĩnh vực khác nhau, đồng thời đó cũng là một trong những yếu tố quyết định đến tăngtrưởng, phát triển kinh tế về số lượng cũng như chất lượng Cơ cấu đầu tư là khung xươngcủa đầu tư phát triển, với một cơ cấu đầu tư hợp lý và vững chắc thì hoạt động đầu tư pháttriển mới có thể đạt hiệu quả cao, góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng ngày càng hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước

Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang dần đi vào ổn định và sẽ có nhiều chuyển biếntích cực trong năm 2012 khi Chính phủ tiến hành tái cấu trúc nền kinh tế Song các chuyêngia kinh tế cho rằng, dưới tác động của những bất ổn kinh tế thế giới nói chung, năm 2012kinh tế Việt Nam sẽ vẫn phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức Tăng trưởng GDPnăm 2012 ở mức 6% do Chính phủ đặt ra là không dễ thực hiện, bởi lẽ, áp lực kiềm chế lạmphát sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến phát triển chung trong năm 2012 Việt Nam sẽ rất khó đạtđược tăng trưởng 6% GDP, nếu như chúng ta không chuyển vốn đầu tư vào khu vực kinh tế

tư nhân, chuyển phân bổ nguồn lực vào doanh nghiệp nhỏ và vừa và những lĩnh vực ngànhnghề có tác động lan tỏa cao

Một vấn đề nữa được đặt ra trong những năm gần đây là tình trạng thiếu hụt vốncũng như việc sử dụng vốn đang còn nhiều bất cập và hiện đang trở thành một vấn đề nhứcnhối Để giải quyết vấn đề trên thì việc chuyển đổi cơ cấu đầu tư hợp lý qua cách huy độngcũng như phân bổ vốn phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước chính

Trang 2

là yêu cầu quan trọng, cấp thiết hiện nay.

Đề tài “Cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý” được thực hiện nhằm tìm hiểu và

phân tích những vấn đề lý thuyết cơ bản cũng như thực trạng hiện nay để từ đó đưa ra một

số kiến nghị giải pháp đề hoàn thiện, chuyển dịch cơ cấu đầu tư một cách hợp lý hơn, thôngqua đó góp phần vào tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng sự nghiệp CNH -HĐH đất nước

Em xin chân thành cảm ơn: TS Nguyễn Thị Ái Liên đã hướng dẫn nhiệt tình giúp

em hoàn thiện đề tài này

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ BẢN 5

I Cơ cấu đầu tư 5

1 Khái niệm 5

2 Phân loại 5

3 Đặc điểm của cơ cấu đầu tư 9

4 Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu đầu tư 10

II Cơ cấu đầu tư hợp lý 11

1 Khái niệm 11

2 Ý nghĩa của cơ cấu đầu tư hợp lý 11

3 Thế nào là cơ cấu đầu tư hợp lý? 12

III Chuyển dịch cơ cấu đầu tư 14

1 Khái niệm 14

2 Tác động của chuyển dịch cơ cấu đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế 14

3 Sự cần thiết của việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư 15

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CƠ CẤU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 17

I Thực trạng cơ cấu đầu tư và chuyển dịch cơ cấu đầu tư của Việt Nam thời gian qua 17

1 Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn 17

1.1 Nguồn vốn nhà nước 20

1.2 Nguồn vốn dân cư và tư nhân 28

1.3 Nguồn vốn nước ngoài 29

2 Cơ cấu vốn đầu tư 39

2.1 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản 39

2.2 Vốn đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ 40

2.3 Vốn đầu tư phát triển nguồn nhân lực 41

2.4 Vốn đầu tư khác 42

3 Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành 42

3.1 Theo 2 nhóm ngành: Sản xuất sản phẩm xã hội và nhóm ngành kết cấu hạ tầng 43

3.2 Theo 3 nhóm ngành: Nông nghiệp - Công nghiệp và xây dựng -Dịch vụ 45

4 Cơ cấu đầu tư theo vùng lãnh thổ 54

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 59

I Quan điểm của Đảng trong chuyển dịch cơ cấu đầu tư 59

1 Quan điểm của Đảng 59

II Giải pháp khắc phục những hạn chế trong cơ cấu đầu tư ở Việt Nam 60

Trang 4

1 Giải pháp tổng hợp 60

2 Giải pháp đối với từng loại cơ cấu đầu tư 61

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 5

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ BẢN

I Cơ cấu đầu tư

1 Khái niệm

Cơ cấu đầu tư là cơ cấu các yếu tố cấu thành đầu tư như cơ cấu về vốn, nguồn vốn,

cơ cấu huy động và sử dụng vốn…quan hệ hữu cơ, tương tác qua lại giữa các bộ phận trongkhông gian và thời gian, vận động theo hướng hình thành một cơ cấu đầu tư hợp lý và tạo

ra những tiềm lực lớn hơn về mọi mặt kinh tế - xã hội.

2 Phân loại

2.1 Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn

Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn (cơ cấu nguồn vốn đầu tư) thể hiện quan hệ tỷ lệ củatừng loại nguồn vốn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội hay nguồn vốn đầu tư của doanhnghiệp và dự án

2.1.1 Vốn trong nước

a Vốn ngân sách nhà nước

Vốn ngân sách nhà nước được trích lập từ NSNN chi cho các hoạt động đầu tư; làmột nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốcgia Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,quốc phòng an ninh, hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham giacủa Nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn

b Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước

Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là nguồn vốn có vai trò phục vụ cho

công tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô Nó là một trong những nguồn vốn huy động kháhiệu quả để đáp ứng nhu cầu đầu tư của các Doanh nghiệp Thông qua nguồn tín dụng đầu

tư, Nhà nước thực hiện khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vựctheo đúng định hướng chiến lược đã đề ra; đồng thời, giảm đáng kể bao cấp vốn trực tiếpcủa Nhà nước

c Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước

Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chủ yếu bao gồm từ khấu hao tài sản cố định

và thu nhập giữ lại tại doanh nghiệp nhà nước

Vai trò chủ yếu của nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước là đầu tưchiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ của doanhnghiệp Hoạt động của doanh nghiệp góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy

Trang 6

động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồitrưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệuquả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, chống lạm phát

d Vốn đầu tư tư nhân và dân cư (khu vực dân doanh)

Vốn đầu tư tư nhân và dân cư bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy của

các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Quy mô nguồn vốn này phụ thuộc vào trình

độ phát triển của đất nước, tập quán tiêu dùng của dân cư, chính sách thuế và các khoảnđóng góp đối với xã hội

Nguồn vốn này đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển nôngnghiệp và kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp, thương mại, dịch vụ và vận tải trên các địa phương

2.1.2 Vốn ngoài nước

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của cá nhân, các doanhnghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá trình đầu tưphát triển của nước sở tại Xét trên phạm vi rộng hơn thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài làdòng lưu chuyển vốn quốc tế Đó là biểu hiện cụ thể của quá trình chuyển giao nguồn lựctài chính giữa các quốc gia trên thế giới Theo tính chất luân chuyển vốn, ta có thể phân loạicác nguồn vốn nước ngoài như sau:

a Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một nguồn vốn quan trọng cho đầu

tư và phát triển đối với cả các nước nghèo và các nước công nghiệp phát triển Nó có đặcđiểm cơ bản khác với các nguồn vốn nước ngoài khác đó là việc tiếp nhận nguồn vốn nàykhông gây nợ phát sinh cho nước tiếp nhận Nguồn vốn này có tác dụng to lớn đối với quátrình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhậnđầu tư

b Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là nguồn vốn phát triển do các tổchức quốc tế và các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đangphát triển Nguồn vốn ODA mang tính ưu đãi rất cao, về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khốilượng cho vay lớn, và có yếu tố không hoàn lại

Theo cách thức hoàn trả ODA có 3 loại:

+ Viện trợ không hoàn lại

+ Viện trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi)

+ ODA cho vay hỗn hợp

Khi xem xét trên góc độ nguồn vốn đầu tư, ODA là một trong những nguồn vốn đầu

tư nước ngoài Nhưng trong quản lý và sử dụng, một phần nguồn vốn này có thể được đưa

Trang 7

vào ngân sách đáp ứng mục tiêu chi đầu tư phát triển của Nhà nước, một phần có thể dùng

để thực hiện theo các dự án độc lập

c Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế

Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế là những khoản vay mượn

do các ngân hàng thương mại cung cấp để tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu và hoạtđộng đầu tư cơ bản nước ngoài Khi sử dụng nguồn vốn này, các nước đi vay không phảichịu bất cứ ràng buộc nào về chính trị - xã hội, tuy nhiên, mức lãi suất lại tương đối cao,thủ tục vay vốn thường khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, đây là những khó khăn, trởngại không nhỏ đối với các nước nghèo Vì vậy để có thể dùng cho đầu tư phát triển thì nềnkinh tế phải tăng trưởng ổn định trong thời gian dài, đặc biệt là có ưu thế hơn về lĩnh vựcxuất khẩu

d Nguồn vốn huy động qua thị trường vốn quốc tế

Nguồn vốn huy động qua thị trường vốn quốc tế là những khoản tiền được huy động

từ thị trường chứng khoán quốc tế thông qua các hoạt động mua bán trái phiếu và cổ phiếucủa chính phủ, các công ty trong nước ra nước ngoài Việc trực tiếp tham gia thị trường vốnquốc tế là cơ hội để thúc đẩy thị trường chứng khoán trong nước phát triển trong tương lai

2.2 Cơ cấu vốn đầu tư

Cơ cấu vốn đầu tư thể hiện quan hệ tỷ lệ giữa từng loại vốn trong tổng vốn đầu tưtoàn xã hội, vốn đầu tư của doanh nghiệp hay của một dự án Trong thực tế, có một số cơcấu đầu tư quan trọng cần được chú ý xem xét như: cơ cấu kỹ thuật của vốn, cơ cấu vốnđầu tư cho hoạt động xây dựng cơ bản, công tác triển khai nghiên cứu khoa học - côngnghệ, vốn đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực, tái tạo tài sản lưu động và những chi phíkhác…, cơ cấu vốn đầu tư theo quá trình lập và thực hiện dự án như chi phí chuẩn bị đầu

tư, chi phí thực hiện đầu tư…

2.2.1 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản

Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí dành cho việc tái sản xuất giản đơn

và tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế, bao gồm: chi phí cho việc khảo sát, quy hoạch xâydựng chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc thiết

bị và các chi phí khác ghi trong tổng mức đầu tư của dự án

Vốn đầu tư cơ bản được chia thành: vốn đầu tư xây lắp; vốn đầu tư mua sắm thiết bị

và vốn đầu tư cơ bản khác

- Vốn đầu tư xây lắp (vốn xây lắp) là phần vốn đầu tư cơ bản dành cho công tác xâydựng và lắp đặt thiết bị, máy móc gồm: vốn đầu tư dành cho xây dựng mới, mở rộng và xâydựng lại nhà cửa, vật kiến trúc; vốn đầu tư để lắp đặt thiết bị, máy móc

- Vốn đầu tư mua sắm thiết bị (vốn thiết bị) là phần vốn đầu tư cơ bản dành cho việcmua sắm thiết bị, máy móc, công cụ, khí cụ, súc vật, cây con đủ tiêu chuẩn là tài sản cố

Trang 8

định bao gồm cả chi phí vận chuyển, bốc dỡ và chi phí kiểm tra, sửa chữa thiết bị máy móctrước khi lắp đặt.

- Vốn đầu tư cơ bản khác là phần vốn đầu tư cơ bản dùng để giải phóng mặt bằngxây dựng, đền bù hoa màu và tài sản của nhân dân, chi phí cho bộ máy quản lý của bankiến thiết, chi phí cho xây dựng công trình tạm loại lớn

2.2.2 Vốn đầu tư vào tài sản lưu động

+ Theo hình thái biểu hiện:

- Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán

- Vốn vật tư hóa (hay còn gọi là hàng tồn kho): NVL, CCDC,…

- Vốn về chi phí trả trước: Chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, chi phí thuê tài sản,chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật,…

+ Theo vai trò đối với quá trình sản xuất kinh doanh:

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất

- Vốn lưu động trong khâu sản xuất

- Vốn lưu động trong khâu lưu thông

2.2.3 Vốn đầu tư cho công tác nghiên cứu, triển khai khoa học công nghệ

Bao gồm: các khoản chi cho xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác nghiêncứu khoa học; các khoản chi cho bộ phận quản lý và nghiên cứu, chi cho đào tạo nguồnnhân lực, các công trình nghiên cứu công nghệ trọng điểm

2.2.4 Vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực

Bao gồm: các khoản chi cho các trường học giáo dục và đào tạo nghề cho các côngnhân, thợ nghề; các khóa huấn luyện, đào tạo và nâng cao nghiệp vụ thường xuyên cho cáccán bộ công nhân viên

2.2.5 Vốn đầu tư khác

Bao gồm: Chi phí thăm dò, khảo sát và qui hoạch ngành, vùng lãnh thổ, chi phí thực

hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, việc làm, y tế, môi trường,dân số và kế hoạch hóa gia đình

2.3 Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành

Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành là cơ cấu thực hiện đầu tư cho từng ngành trong

nền kinh tế quốc dân, thể hiện việc thực hiện chính sách ưu tiên phát triển, chính sách đầu

tư đối với từng ngành trong một thời kỳ nhất định

Có thể xem xét cơ cấu đầu tư 3 cách:

- Theo 2 nhóm ngành: sản xuất sản phẩm xã hội và nhóm kết cấu hạ tầng

- Theo 3 nhóm ngành: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ

- Theo 2 khối ngành: khối chủ đạo và khối các ngành còn lại

Trang 9

2.4 Cơ cấu đầu tư phát triển theo địa phương, vùng lãnh thổ

Cơ cấu đầu tư phát triển theo địa phương, vùng lãnh thổ là cơ cấu đầu tư theo khônggian, phản ánh tình hình sử dụng nguồn lực địa phương và việc phát huy lợi thế cạnh tranhcủa từng vùng Cơ cấu này thể hiện thông qua mối tương quan tỷ lệ và mối quan hệ giữaviệc phân bổ và sử dụng các nguồn lực cho các vùng, lãnh thổ trên cơ sở vận dụng các thểchế chính sách và cơ chế quản lý phù hợp Cơ cấu đầu tư theo lãnh thổ phải phù hợp vớiyêu cầu phát triển, chiến lược phát triển kinh tế xã hội, lợi thế sẵn có của từng vùng đồngthời vẫn đảm bảo hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chung của các vùng khác,đảm bảo sự phát triển thống nhất và cân đối giữa các vùng, các ngành

3 Đặc điểm của cơ cấu đầu tư

3.2 Tính lịch sử và xã hội nhất định

Những bộ phận cấu thành của hoạt động đầu tư xác lập được mối quan hệ hữu cơ,tương tác qua lại lẫn nhau theo không gian và thời gian Sự tồn tại về số lượng thì có thểchung cho mọi nền sản xuất, nhưng khác nhau về nội dung, cách thức thực hiện các nộidung mối quan hệ đó Sự khác nhau đó là do các quy luật kinh tế đặc thù của mỗi phươngthức sản xuất, trước hết là quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất ấy quy định.Ngay trong các hình thái kinh tế xã hội giống nhau tồn tại ở các nước khác nhau vẫn có sựkhác nhau trong hình thành cơ cấu đầu tư Do đặc điểm riêng của quá trình lịch sử pháttriển của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, những xu thế thay đổi cơ cấu chung sẽđược thể hiện qua hình thái đặc thù trong từng giai đoạn lịch sử phát triển của mỗi nước Vìvậy cơ cấu đầu tư luôn luôn thay đổi trong từng giai đoạn phù hợp với sự phát triển của nềnkinh tế - xã hội Sự thay đổi đó gắn với sự biến đổi, phát triển không ngừng của bản thâncác yếu tố, bộ phận trong hoạt động đầu tư và của những mối quan hệ giữa chúng

3.3 Tính động

Cơ cấu đầu tư, dù là cơ cấu theo nguồn vốn, cơ cấu vốn, cơ cấu phát triển theongành hay cơ cấu phát triển theo địa phương, vùng, lãnh thổ, thì luôn chuyển động khôngngừng theo các kế hoạch, định hướng phát triển của Nhà nước Các con số thể hiện cơ cấuđầu tư luôn thay đổi theo từng thời kỳ, từng khu vực Nó có thể là một cơ cấu đầu tư hợp

lý, phù hợp với chiến lược phát triển quốc gia; hoặc cũng có thể là một cơ cấu bất hợp lý,

Trang 10

tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cần phải được điều chỉnh vàxây dựng lại cho phù hợp hơn

4 Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu đầu tư

4.1 Nhóm nhân tố trong nội bộ nền kinh tế

4.1.1 Nhân tố thị trường và tiêu dùng của xã hội

Thị trường là nhu cầu xã hội không chỉ quy định về số lượng mà cả về chất lượngcác loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, nên nó có tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ pháttriển của các vị trí, tỉ trọng các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế trong cơ cấu đầutư

Thị trường là yếu tố hướng dẫn và điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp phải xuất phát từ nhu cầu thị trường, hướng ra thị trưởng

để xây dựng và phát triển chiến lược sản xuất kinh doanh của mình, muốn vậy cần xâydựng chiến lược đầu tư hợp lý Sự hình thành và thay đổi chiến lược đầu tư của mỗi doanhnghiệp, mỗi ngành hay vùng lãnh thổ để thích ứng với các điều kiện thị trường đã từngbước góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước

4.1.2 Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là động lực phát triển của xã hội Sự phát triển của lực lượng sảnxuất sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, thay đổi công nghệ, thiết bị, hình thành các ngànhnghề mới, biến đổi lao động từ giản đơn thành lao động phức tạp, từ ngành này sang ngànhkhác Do đó sự cân đối cũ bị phá vỡ, một cơ cấu đầu tư mới cần được hình thành với một vịtrí, tỉ trọng vốn trong các ngành, các vùng lãnh thổ thích ứng được với nhu cầu phát triểncủa xã hội

Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động, trong đó tư liệu sảnxuất lại gồm đối tượng lao động, tư liệu lao động

Nếu trong một nền kinh tế, người lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ càngcao, khả năng chuyên môn hóa càng cao thì phân công lao động hợp tác quốc tế càng pháttriển Từ đó hình thành cơ cấu kinh tế mở ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển ngànhnghề

Trang 11

4.1.4 Quan điểm, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong mỗi giai đoạn

Cơ cấu đầu tư vừa mang tính khách quan, vừa mang tính lịch sử xã hội nhưng nócũng chịu sự điều chỉnh của nhà nước thông qua các công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô Cơ chếquản lý của nhà nước qua mỗi thời kì lại có những thay đổi nhất định để thực hiện mục tiêuphát triển kinh tế xã hội của đất nước, do đó tác động trực tiếp đến quá trình phát triển,chuyển dịch cơ cấu đầu tư

4.1.5 Vị trí địa lý

Vị trí địa lý có vai trò quan trọng trong việc phân bổ đầu tư và chuyển dịch cơ cấuđầu tư Các nhân tố này tạo nên lợi thế so sánh giữa các vùng lãnh thổ bởi vậy nó chi phốimột phần cơ cấu đầu tư theo vùng và lãnh thổ, cơ cấu đầu tư đặt ra cho từng vùng, lãnh thổphải phù hợp với điều kiện tự nhiên thì mới phát huy tối đa lợi thế của vùng, lãnh thổ đó.Như thế mới hình thành nên một cơ cấu đầu tư hợp lý và có hiệu quả

4.2 Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài

Ngoài các nhân tố từ nội bộ nền kinh tế, cơ cấu đầu tư còn chịu tác động bởi cácnhân tố bên ngoài như xu thế chính trị, xã hội và kinh tế của khu vực, kinh tế thế giới Xuthế quốc tế hóa giúp nước ta hội nhập dễ dàng hơn nhưng cũng phải cảnh giác để đảm bảonăng lực cạnh tranh nhằm hội nhập an toàn

II Cơ cấu đầu tư hợp lý

1 Khái niệm

Cơ cấu đầu tư hợp lý là cơ cấu đầu tư phù hợp với các qui luật khách quan, các điềukiện kinh tế - xã hội của từng cơ sở, ngành, vùng và toàn nền kinh tế, có tác động tích cựcđến việc đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hợp lý hơn, khai thác và sử dụnghợp lý các nguồn lực trong nước, đáp ứng nhu cầu hội nhập, phù hợp với xu thế kinh tế -chính trị của thế giới và khu vực

2 Ý nghĩa của cơ cấu đầu tư hợp lý

Cơ cấu đầu tư hợp lý là một nội dung cơ bản trong chiến lược phát triển kinh tế xãhội của Việt Nam những năm gần đây Tăng trưởng kinh tế được quyết định bởi việc sửdụng yếu tố đầu vào và công tác sử dụng vốn đầu tư có hợp lý và hiệu quả hay không Một

cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Từ đó,góp phần tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng và pháttriển nhanh, bền vững Cơ cấu đầu tư hợp lý cũng góp phần phát huy tiềm năng, lợi thế của

cả nền kinh tế, của đất nước để phát triển sản xuất, làm cho dân giàu, nước mạnh Thêmnữa, nó còn thúc đẩy tăng nhanh năng suất, chất lượng hàng hóa, đáp ứng nhu cầu thịtrường; tạo công ăn việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, thu hẹp hố ngăn cách giàunghèo trong xã hội, giữa các vùng miền trong cả nước Tóm lại, cơ cấu đầu tư hợp lý có ýnghĩa quan trọng không chỉ với nền kinh tế của đất nước mà cả nhiều lĩnh vực khác Do đó,

Trang 12

xác định thế nào là cơ cấu đầu tư hợp lý, làm thế nào để đạt được cơ cấu đó là điều cầnthiết.

3 Thế nào là cơ cấu đầu tư hợp lý?

3.1 Cơ cấu đầu tư hợp lý theo nguồn vốn

Cơ cấu đầu tư hợp lý theo nguồn vốn là cơ cấu phản ánh khả năng huy động tối đamọi nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, phản ánh khả năng sử dụng hiệu quả cao mọinguồn vốn đầu tư, là cơ cấu thay đổi theo hướng giảm dần tỷ trọng của nguồn vốn đầu tư từngân sách, tăng tỷ trọng nguồn vốn tín dụng ưu đãi và nguồn vốn của dân cư

Trong điều kiện của nước ta hiện nay, định hướng chiến lược cho cơ cấu đầu tư theonguồn vốn đó là: từng bước điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng giảm dần đầu tư công,tăng cường huy động các nguồn vốn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để đầu

tư vào các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có khả năng thu hồi vốn Xác định rõ quanđiểm: vốn trong nước là quyết định và vốn nước ngoài là quan trọng Phải đảm bảo mốitương quan hợp lý giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài để từ

đó có chính sách huy động vốn một cách hiệu quả Ví dụ như mở rộng huy động tín dụngđầu tư phát triển của Nhà nước từ khu vực dân cư qua hình thức phát hành trái phiếu với lãisuất và thời gian hấp dẫn; thành lập các quỹ đầu tư dưới nhiều hình thức khác nhau; huyđộng vốn nước ngoài nhằm tận dụng tối đa các lợi thế so sánh của đất nước; tiến tới tíchcực gia nhập thị trường vốn quốc tế để huy động vốn cho đầu tư phát triển

Từ đó, có thể khái quát những đặc điểm cần thiết của một cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn hợp lý đối với nước ta như sau:

- Đảm bảo nguyên tắc vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng

- Đối với nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, tập trung vào các ngành then chốt củanền kinh tế, những ngành có tính đột phá tạo đà cho các ngành khác phát triển Nhà nướcthực hiện chính sách quản lý và điều tiết nền kinh tế theo nguyên tắc nền kinh tế thị trường

- Phản ảnh khả năng huy động tối đa mọi nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển,đảm bảo sử dụng hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư

- Thay đổi theo hướng giảm dần tỷ trọng của nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, tăng

tỷ trọng nguồn vốn tín dụng ưu đãi và nguồn vốn của dân cư

- Tích cực thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn nước ngoài, tránh lãng phí thấtthoát nguồn vốn trong nước

3.2 Cơ cấu vốn đầu tư hợp lý

Cơ cấu vốn đầu tư hợp lý là cơ cấu mà vốn đầu tư được ưu tiên cho bộ phận quantrọng nhất, phù hợp với yêu cầu và mục tiêu đầu tư và nó thường chiếm một tỷ trọng khácao

Trang 13

Trong điều kiện, hoàn cảnh kinh tế đất nước hiện nay đòi hỏi thực hiện công nghiệp

hóa - hiện đại hóa, một cơ cấu vốn đầu tư hợp lý cần xây dựng theo định hướng:

- Về cơ cấu kĩ thuật của vốn: vốn xây lắp và vốn thiết bị trong tổng vốn đầu tưchiếm tỉ trọng lớn, do yêu cầu hiện đại hóa quá trình sản xuất, nâng cao chất lượng cơ sởvật chất - kĩ thuật cho sản xuất sản phẩm

- Về cơ cấu vốn đầu tư cho các khâu trong hoạt động sản xuất, kinh doanh: Dànhphần lớn ngân sách Nhà nước cho đầu tư cho xây dựng cơ bản, chú trọng kết cấu hạ tầng kĩthuật nhằm huy động một cách tập trung nguồn lực cho việc củng cố cơ sở hạ tầng, tạo nềntảng cho sự phát triển của các ngành sản xuất, cung ứng hàng hóa - dịch vụ; ngày càngnâng cao tỷ trọng vốn đầu tư cho đào tạo nhân lực và nghiên cứu khoa học công nghệ nhằmđáp ứng nhu cầu ngày một lớn về lao động có trình độ cao và nâng cao năng suất sản xuất,chất lượng sản phẩm Điều này thể hiện sự tương quan giữa các lĩnh vực Khoa học côngnghệ phát triển dựa trên sự vững chắc về cơ sở hạ tầng, đội ngũ nhân lực có trình độ đápứng được yêu cầu của sự phát triển của khoa học công nghệ và hạ tầng; đối với các doanhnghiệp, vốn đầu tư tăng tài sản lưu động là rất quan trọng, yêu cầu đặt ra là phải chủ độngđảm bảo nguồn vốn va, giúp cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục, không bị gián đoạn

3.3 Cơ cấu đầu tư phát triển hợp lý theo ngành

Đối với nước ta hiện nay, cơ cấu đầu tư theo ngành hợp lý là:

- Theo 2 nhóm ngành: Cơ cấu đầu tư hợp lý theo ngành là đầu tư xây dựng kết cấu

hạ tầng phải đi trước một bước nhưng cần có một tỷ lệ hợp lý vì nếu quá tập trung cho cơ

sở hạ tầng, không chú ý đúng mức cho đầu tư sản xuất kinh doanh thì sẽ khó hoặc không cótăng trưởng kinh tế cho nền kinh tế quốc dân

- Theo 3 nhóm ngành: Thực hiện đường lối CNH-HĐH, ưu tiên đầu tư phát triểncông nghiệp và dịch vụ nhưng vẫn chú ý đầu tư phát triển nông nghiệp hợp lý, đảm bảo anninh lương thực cho quốc gia Mặt khác, trong nội bộ ngành kinh tế, đó chính là xu hướngtăng dần tỷ trọng vào các ngành có trình độ kỹ thuật cao, mang lại nhiều giá trị gia tăng;giảm dần tỷ trọng vào các ngành có trình độ công nghệ thấp, năng suất thấp Từ đó chuyểndịch cơ cấu kinh tế từ đơn giản đến phức tạp, từ trạng thái có trình độ công nghệ thấp tớitrình độ công nghệ cao

- Theo 2 khối ngành: Cơ cấu đầu tư hợp lý theo ngành là cơ cấu đầu tư phải đảm bảotương quan hợp lý giữa hai khối ngành này để nền kinh tế vừa có những sản phẩm chủ đạo,tạo thế và lực cho sự phát triển lâu dài, đảm bảo sự phát triển tổng hợp, nhằm đáp ứng yêucầu tăng trưởng nhanh, bền vững và hiệu quả

3.4 Cơ cấu đầu tư theo địa phương hay vùng lãnh thổ

Cơ cấu đầu tư theo địa phương hay vùng lãnh thổ được xem là hợp lý nếu nó phùhợp với yêu cầu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội, phát huy lợi thế sẵn có của vùng trongkhi vẫn đảm bảo hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chug của các vùng khác,đảm bảo sự phát triển thống nhất và những cân đối lớn trong phạm vi quốc gia và giữa cácngành

Trang 14

Định hướng xây dựng cơ cấu đầu tư phát triển theo địa phương, vùng lãnh thổ hợp lý ở nước ta hiện nay đó là: Phát triển kinh tế vùng trọng điểm là đòn bẩy trung tâm,

tạo động lực cho phát triển tất cả các vùng, phát huy lợi thế so sánh của từng vùng

- Ở vùng trung du và miền núi phía Bắc: chú trọng đầu tư vào lĩnh vực nôngnghiệp, nhất là chú trọng trồng cây lâu năm và các trang trại chăn nuôi

- Đồng bằng sông Hồng: tập trung phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ, chútrọng phát triển nông nghiệp tạo nên vành đai phát triển xung quanh các thành phố lớn

- Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung: đầu tư các khu vực kinh tế trọng điểmcủa vùng, đồng thời đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến thủy sản

- Tây Nguyên: đầu tư phát triển cây công nghiệp lâu năm, bên cạnh đó phát triểnngành công nghiệp chế biến thực phẩm

- Phát triển các khu vực mậu dịch thương mại gần các cửa khẩu biên giới

- Đông Nam Bộ: tập trung phát triển khu vực kinh tế, thương mại

- Đồng bằng sông Cửu Long: ứng dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp, đẩynhanh mức sản lượng và chất lượng của cây trồng, trở thành cái nôi xuất khẩu lương thực,thực phẩm của cả nước

III Chuyển dịch cơ cấu đầu tư

1 Khái niệm

Chuyển dịch cơ cấu đầu tư là sự thay đổi của cơ cấu đầu tư (thực chất là điều chỉnh

cơ cấu vốn, nguồn vốn) từ mức độ này sang mức độ khác, phù hợp với môi trường và mụctiêu phát triển Sự thay đổi không chỉ bao gồm thay đổi về vị trí ưu tiên mà còn là sự thayđổi về chất trong nội bộ cơ cấu và các chính sách áp dụng

2 Tác động của chuyển dịch cơ cấu đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Định hướng đầu tư có tác động đến cơ cấu nền kinh tế Quyết định đầu tư làm thayđổi số lượng tuyệt đối của sản phẩm các ngành, từ đó làm thay đổi quy mô ngành và tỉtrọng các ngành đó Cùng với quyết định đầu tư, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học côngnghệ khiến cho các ngành công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao phát triểnmạnh hơn trong khi một số ngành khác lại giảm vai trò, tỷ trọng do nhu cầu của xã hộigiảm hoặc không còn sức cạnh tranh Do đó tỷ trọng các ngành, tiểu ngành trong cơ cấukinh tế có sự thay đổi, thứ tự ưu tiên khác nhau và kết quả là hình thành nên một cơ cấungành mới Chính sách đầu tư vào các ngành có tốc độ phát triển khác nhau sẽ tạo ra sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế tuỳ mức độ chuyển đổi cơ cấu đầu tư và hiệu quả đầu tư cácngành đó Cơ cấu kinh tế thay đổi là để nhằm thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế -

xã hội đã đặt ra, và những mục tiêu đó có đạt được hay không chính là thước đo cơ bảnnhất xác định kết quả, hiệu quả của đầu tư đổi mới cơ cấu kinh tế và nó cho thấy tầm quantrọng của đầu tư đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 15

Sau đó sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư làm thay đổi mối quan hệ giữa các bộ phậntrong nền kinh tế theo xu hướng ngày càng hợp lý hơn Các nguồn lực trong nền kinh tếđược sử dụng hợp lý Các ngành liên kết, liên hệ với nhau chặt chẽ Trong cùng một ngành,các bộ phận cũng có mối quan hệ với nhau và ngày càng hợp lý trong việc phân phối nguồnlực Các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng nhiều làm tănghiệu quả cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bởi việc đầu tư vào ngành nào sẽ giúp một phầnquan trọng cho ngành đó phát huy lợi thế để cạnh tranh và phát triển.

Đầu tư cũng có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùnglãnh thổ, đưa vùng kém phát triển ra khỏi tình trạng nghèo đói, phát huy tối đa lợi thế sosánh về tài nguyên, chính trị, của những vùng phát triển hơn, làm bàn đạp thúc đẩy nhữngvùng khác cùng phát triển Đầu tư vào cùng kinh tế trọng điểm giúp phát huy thế mạnh vàtiềm năng của vùng

Cuối cùng, đầu tư làm tăng hiệu quả từng bộ phận của kinh tế nói riêng và nền kinh

tế nói chung Hiệu quả trực tiếp là khi đầu tư vào một bộ phận thì bộ phận đó đạt được sựtăng trưởng nói riêng, như tăng giá trị sản lượng, tạo thêm công ăn việc làm Hiệu quả giántiếp là các bộ phận khác cũng có tiềm lực phát triển theo hoặc ngược lại, do cạnh tranh vềnguồn lực sản xuất mà những bộ phận khác lại bị kìm hãm, kém phát triển hơn

3 Sự cần thiết của việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư

Đầu tư là chìa khoá trong chiến lược và kế hoạch phát triển Điều này được cụ thểhoá trong mối tương quan giữa tăng trưởng vốn đầu tư với tăng trưởng thu nhập Thực tiễn

đã chứng minh một nền kinh tế muốn giữ được tốc độ tăng trưởng GDP ở mức trung bìnhthì phải giữ được tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư thoả đáng (15% - 25% GDP)

Trong lý thuyết “Đầu tư và mô hình số nhân” Keynes đã chứng minh: tăng đầu tư sẽtăng thu nhập, từ đó tăng thu nhập làm tăng sức mua, tăng sức mua làm tăng đầu ra của nềnkinh tế, do đó tạo ra sự tăng trưởng

Lý thuyết gia tốc của các nhà kinh tế Mỹ lại chứng minh mối liên hệ giữa tăng sảnlượng làm tăng đầu tư: mỗi sự gia tăng đầu tư đều kéo theo việc gia tăng bổ sung lao động,nguyên vật liệu sản xuất,…dẫn đến gia tăng sản phẩm Sản lượng gia tăng dẫn đến gia tăngtiêu dùng (do thu nhập người tiêu dùng tăng), tăng cầu hàng hóa và dịch vụ nên lại đòi hỏigia tăng đầu tư mới Gia tăng đầu tư mới đó lại dẫn đến gia tăng sản lượng… Quá trình nàydiễn ra liên tục, dây chuyền Như vậy đầu ra của nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào việctăng vốn đầu tư

Tuy nhiên tăng vốn đầu tư cũng không đảm bảo tăng lên về số lượng sản phẩm đầu

ra, cũng như sự tăng lên về các yếu tố quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế Muốn việcđầu tư có hiệu quả, cần xây dựng một cơ cấu đầu tư hợp lý Bên cạnh đó, cơ cấu kinh tếhợp lý là cơ sở để xây dựng nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững Mối quan hệ giữa đầu

tư và cơ cấu kinh tế là mối quan hệ tác động qua lại Định hướng đầu tư để đổi mới cơ cấukinh tế dựa trên cơ sở sự tác động của yếu tố đầu tư và những nhân tố ảnh hưởng khác Mặtkhác sự thay đổi và phát triển của các bộ phận nền kinh tế sẽ quyết định sự thay đổi cơ cấuđầu tư hiện tại

Cơ cấu đầu tư có ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đối với quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế Kết quả của đầu tư đổi mới cơ cấu kinh tế là sự thay đổi số lượng cũng nhưchất lượng của các ngành trong nền kinh tế quốc dân theo hướng xuất hiện nhiều ngànhmới, giảm tỷ trọng những ngành không phù hợp, tăng tỷ trọng những ngành lợi thế; là thay

Trang 16

đổi mối quan hệ giữa các bộ phận của một ngành, của nền của nền kinh tế theo xu hướngngày càng lợi thế hơn; là việc nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội cho từng bộ phận cũng nhưtoàn bộ nền kinh tế quốc dân Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế khi đó sẽ tạo điều kiện thuậnlợi cho hoạt động đầu tư.

Trang 17

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CƠ CẤU ĐẦU TƯ Ở VIỆT

NAM HIỆN NAY

I Thực trạng cơ cấu đầu tư và chuyển dịch cơ cấu đầu tư của Việt Nam thời gian qua

1 Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn

Bảng 1 Vốn đầu tư xã hội từ 2000-2011

Kinh tế nhànước

Kinh tếngoài nhànước

Khu vực có vốnđầu tư nướcngoài

Nguồn: Niên giám thống kê

Từ bảng 1 ta có thể thấy tỷ lệ vốn đầu tư xã hội/GDP của Việt Nam đã tăng lên khánhanh Trước năm 2004, tỷ lệ này còn ở dưới mức 40% GDP, còn từ năm 2004 đến nay, đãliên tục ở mức trên 40%, năm đỉnh cao nhất là 2007 (46,5%) - thuộc nhóm cao nhất thếgiới Mặc dù năm 2011 tỷ lệ vốn đầu tư/GDP giảm xuống chỉ còn 34,6% do Nghị quyết 11

về rà soát, cắt giảm, điều chuyển vốn đầu tư nhưng vốn đầu tư cũng đã góp phần làm tăngtrưởng kinh tế của Việt Nam thuộc loại cao, tăng liên tục và tăng trong thời gian dài (tínhđến nay đã đạt 32 năm)

Trang 18

Tổng mức đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2006-2010 có xu hướng tăng mạnh, bằng42,7% GDP, gấp 2,5 lần so với giai đoạn 2001-2005 và đến giai đoạn 2011-2015 dự kiến là33,5-35% GDP (theo dự thảo kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư).

Bảng 2 Cơ cấu vốn đầu tư xã hội từ 2000-2011

Đơn vị: %

Chia ra

Kinh tế nhànước

Kinh tế ngoàinhà nước

Khu vực có vốnđầu tư nướcngoài

Nguồn: Niên giám thống kê

Xem qua bảng trên ta cũng có thể thấy, tỉ trọng khu vực kinh tế nhà nước nhìn chung

có xu hướng giảm (từ 59,1% vào năm 2000 xuống còn 38,9% vào năm 2011, thấp nhất lànăm 2008 với 33,8% ); tỉ trọng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực ngoài nhànước có xu hướng tăng (Khu vực kinh tế ngoài nhà nước từ 22,9% năm 2000 lên 35,2%năm 2011; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài từ 18% năm 2000 lên 25,9% năm 2011)

Như vậy, cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực

(giảm tỷ trọng nguồn vốn nhà nước, tăng tỷ trọng nguồn vốn dân doanh và nước ngoài),song tốc độ chuyển dịch còn chậm Nguồn vốn nhà nước tuy có giảm nhưng vẫn ở mức rấtcao, 38,9% vào năm 2011 Nguồn vốn dân doanh thường có hiệu quả cao nhưng tỷ trọngtrong những năm gần đây lại không được cải thiện nhiều, có thể thấy rõ trong giai đoạn

Trang 19

2006-2010 chỉ khoảng trên dưới 35% Nguồn vốn nước ngoài từ năm 2003 liên tục tăng tỷtrọng nhưng đang bị chững lại trong khoảng 3 năm gần đây.

Bảng 3 Kết quả hoạt động của 3 khu vực kinh tế

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính, Quỹ Tiền tệ quốc tế

Nhìn vào kết quả hoạt động của 3 khu vực kinh tế, ta thấy:

Khu vực DNNN chiếm dụng rất nhiều nguồn lực nhưng đóng góp cho tăng trưởngGDP, tạo việc làm mới, gia tăng sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu lại khôngtương xứng

Nguồn lực được dồn quá nhiều cho khu vực nhà nước đã khiến cho khu vực dândoanh dù rất năng động, hoạt động có hiệu quả nhưng lại bị chèn ép, không đủ nguồn lực

để phát triển

Vốn FDI cũng là một nguồn vốn quan trọng góp phần bổ sung lượng vốn thiếu hụtcho nền kinh tế nhưng hiệu quả hoạt động của khu vực này cũng không cao, tỉ trọng vốncũng không lớn, chưa phát huy được hết vai trò của mình Nguyên nhân của điều này mộtphần là xuất phát từ năng lực quản lý của Nhà nước

Tóm lại, cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn hiện nay vẫn là một cơ cấu đầu tư chưa hợp

lý, chưa làm cho các khu vực kinh tế phát huy được hết khả năng của mình cũng như hoạt

động một cách thuận lợi nhất, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, để

từ đó, thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế

Sau đây ta cùng phân tích để thấy những thay đổi và sự chưa hợp lý của cơ cấu đầu

tư trong từng loại nguồn vốn cụ thể:

Trang 20

Như vậy, đầu tư công vẫn tập trung vào một số ngành mà khu vực tư nhân có khảnăng và sẵn sàng đầu tư, trong khi đầu tư vào phát triển nguồn lực con người còn hạn chế,chưa tương xứng với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Nhà nước.

Điều này đang đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản cho đầu tư công Theo đó,chức năng chính của nhà nước phải là xây dựng các nền tảng phát triển và tăng trưởng,đồng thời tập trung vào các lĩnh vực mà khu vực tư nhân không thể hoạt động hoặc hoạtđộng không hiệu quả

Bảng 4 Cơ cấu đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước phân theo nguồn vốn

Trang 21

ép rất lớn lên chi tiêu NSNN trong khi quy mô chi NSNN đã rất lớn cũng như NSNN đang

bị thâm hụt nặng nề (mức thâm hụt trung bình 5,6% GDP, mức cao so với các nước trongkhu vực)

Các công trình trọng điểm, dự án chuyển tiếp chưa thực sự được ưu tiên bố trí vốn

để sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả, trong khi nhiều dự án mới chưathật sự cấp bách vẫn được khởi công Việc phân bổ do kế hoạch chưa sát với thực tiễn, một

số công trình dự án chưa hoàn tất thủ tục đầu tư song vẫn đưa vào danh mục bố trí vốn.Việc giải quyết vốn cho các bộ, ngành, địa phương tự quyết định điều chỉnh quy mô vốnđầu tư nhưng thiếu kiểm tra, giám sát dẫn đến nhiều sai sót Các dự án lấy vốn NSNN baogồm những đại dự án như các khu kinh tế, đường bộ cao tốc trị giá hàng tỷ USD đếnnhững dự án rất nhỏ như lợp lại mái cho lớp học ở vùng sâu Năm 2009, trong 19.956 dự án

sử dụng ngân sách có báo cáo giám sát đầu tư, có đến 5.021 dự án bị chậm tiến độ Tỷ lệcác dự án chậm tiến độ của năm ngoái so với tổng số dự án đang đầu tư cao hơn hẳn so vớicác năm 2006-2008 Đặc biệt là chiều hướng này đang ngày một tăng trong bốn năm gầnđây Tình trạng chậm tiến độ, đầu tư dàn trải ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả đầu tư củamỗi dự án, do tăng chi phí lãi vay tín dụng trong thời gian xây dựng, chi phí trả cho banquản lý dự án, tăng rủi ro về biến động giá nguyên vật liệu Đặc biệt là nó làm hạn chế tốc

độ tăng trưởng kinh tế, do không huy động được năng lực sản xuất theo kế hoạch Tất cảnhững hệ lụy trên đều là mầm mống nguy hại cho sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế

Nó đồng thời cũng là nguyên nhân hàng đầu gây nên tình trạng lạm phát cao, đe dọa sự ổnđịnh kinh tế vĩ mô Ví dụ ngay trước mắt có thể nhìn thấy là 2 tòa nhà của trường Đại họcKinh tế Quốc dân chúng ta

Trang 22

Cơ cấu vốn NSNN đổ cho các lĩnh vực cũng thể hiện sự chưa hợp lý Năm 2012 dựkiến vốn đổ cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn chiếm 40,9% (khoảng 343.108 tỉđồng) song có đến 70% trong số đó là để phát triển hạ tầng nông thôn, xây dựng đường sá,kênh mương, hệ thống thủy lợi Điều này tốt nhưng không cần thiết Ở những quốc giakhác, nguồn vốn đầu tư vào hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được tính vào lĩnh vực đầu tưxây dựng cơ bản của xã hội Việc Nhà nước chỉ tập trung đầu tư cho hạ tầng nông thôn,nông nghiệp đã làm mất cơ hội phát triển của nhiều lĩnh vực khác trong ngành Ví dụ đầu

tư cho các ngành trong nông nghiệp năm 2011 ước chỉ đạt 275,36 tỉ đồng Trong đó, vốnđầu tư cho chương trình công nghệ sinh học nông nghiệp, thủy sản chỉ ở mức 10,94 tỉ đồng,đầu tư giống cây lâm nghiệp là 8,15 tỉ đồng và đầu tư phát triển giống cây nông nghiệpcũng chỉ ở mức 27,72 tỉ đồng Tương tự, chương trình đầu tư giống thủy sản chỉ có 49,28 tỉđồng và đầu tư giống vật nuôi ở mức 19,21 tỉ đồng Điều này thực sự đã gây ra sự lãng phírất lớn, những lĩnh vực tiềm năng bị hạn chế phát triển vì được cấp quá ít vốn, trong khi đó,vốn đổ cho hạ tầng nhiều nhưng hiệu quả không tương xứng

Trong vòng 12 năm qua (từ 1998-2010), Nhà nước tăng dần đầu tư GD-ĐT từ mứchơn 13% lên 20% tổng chi ngân sách nhà nước Với tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục nhưtrên, Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ chi cho giáo dục cao nhất thế giới Đầu tư choGD- ĐT là khoản đầu tư có lãi nhất, nhưng với Việt Nam, khoản đầu tư này chưa thực sựđạt hiệu quả như mong muốn Trong khi đó, GD- ĐT là lĩnh vực có thể thu hút vốn từ tưnhân để giảm bớt gánh nặng cho NSNN thì công tác xã hội hóa giáo dục vẫn diễn ra chậmchạp

Mức đầu tư của NSNN cho lĩnh vực y tế năm 2010 là 43.200 tỷ đồng, tăng 30,9% sovới dự toán Dù đã được cải thiện so với nhiều nước thì đây vẫn là mức chi thấp Tỷ lệ chitiêu công trong tổng chi tiêu cho y tế chỉ chiếm 43,2% Theo đó, mức chi tiêu tư cho y tếvẫn còn cao, ảnh hưởng đến mục tiêu công bằng trong y tế

Để đáp ứng yêu cầu đầu tư, nhất là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, Nhà nước đã tăngđầu tư từ NSNN, đồng thời đi vay để trực tiếp đầu tư hoặc cho vay lại nên nợ công cũng đãtăng mạnh trong giai đoạn 2006-2010 Tỷ trọng vay vốn trong đầu tư công đã tăng vọt từgần 20% giai đoạn 1995-1996 lên khoảng 30% giai đoạn 1998-2003 rồi giảm xuống cònkhoảng 15% giai đoạn 2006-2009 và đạt mức kỷ lục 36,6% vào năm 2010

Có thể thấy, nhiều quyết định đầu tư từ vốn NSNN chưa căn cứ vào nhu cầu của thịtrường Hiệu quả kinh tế chưa phải là ưu tiên so với các mục tiêu về chính trị, xã hội, pháttriển đồng đều các vùng miền Chất lượng quy hoạch thấp, thiếu tầm nhìn, sớm lạc hậu vàthiếu đồng bộ; quy hoạch ngành thường chậm so với vùng lãnh thổ Kết quả là tình trạngkhông tuân thủ quy hoạch khá phổ biến Việc bố trí dự án khi chưa có quy hoạch chung nênphải điều chỉnh nhiều lần Số dự án được phê duyệt quá nhiều, vượt quá khả năng củanguồn lực hiện có, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra nhiều năm Những điều này dẫn đến đầu

tư dàn trải, kéo dài; cơ cấu đầu tư thiếu cân đối nên chưa tạo ra sức mạnh tổng hợp; việctheo dõi, giám sát còn yếu nên hiệu quả đầu tư chưa cao

Trang 23

Từ đó thấy rằng, cơ cấu đầu tư vốn NSNN còn bất hợp lý: Nguồn vốn NSNN chiếm vai trò quan trọng lại có hiệu quả đầu tư rất thấp Số lượng dự án đầu tư lớn nhưng tiến độ thực hiện chậm, tốc độ giải ngân thấp Đầu tư dàn trải, không đúng trọng tâm trọng điểm dẫn đến lãng phí Phân bổ vốn cho các ngành, lĩnh vực còn nhiều bất cập Việc kiểm tra,quản lý sử dụng vốn thiếu chặt chẽ dẫn đến thất thoát lượng vốn không nhỏ.

1.1.2 Vốn doanh nghiệp nhà nước

Đối với khu vực DNNN, mặc dù đã được cải cách tương đối mạnh mẽ trong giaiđoạn 1995-2010, song đầu tư của các DNNN vẫn đạt hiệu quả thấp so với loại hình doanhnghiệp khác Tính đến cuối năm 2010, cả nước có 1.207 DNNN là công ty TNHH mộtthành viên và 1.900 doanh nghiệp mà Nhà nước có cổ phần chi phối Hàng năm có khoảng12% DNNN bị lỗ trong sản xuất kinh doanh, trong khi khu vực doanh nghiệp nói chung là25% Tuy nhiên, mức lỗ bình quân của một DNNN lại cao hơn 12 lần so với các doanhnghiệp khu vực khác Chỉ tiêu hệ số thu nhập trên tài sản và hệ số thu nhập vốn cổ phần củacác tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 20,8%, thua xa khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.Quy mô vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 540.701 tỷ đồng (tăng11,75% so với năm 2009); tổng lợi nhuận trước thuế là 70.778 tỷ đồng; chỉ tiêu lợi nhuậntrước thuế trên vốn chủ sở hữu chỉ đạt khoảng 13,1%, thấp hơn nhiều so với lãi suất vayngân hàng thương mại Đặc biệt, có đến 80% tổng số lợi nhuận trước thuế đến từ 4 tậpđoàn: dầu khí, viễn thông quân đội, bưu chính viễn thông và cao su, nghĩa là ở các tậpđoàn, tổng công ty còn lại, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu còn thấp hơn nữa Ví dụ:Tập đoàn Điện lực năm 2010 lỗ 8.500 tỷ đồng chưa kể lỗ lũy kế từ các năm trước Kết quảkiểm toán năm 2009 cho thấy, Tổng công ty Bưu chính lỗ 1.026 tỷ đồng; Tổng công ty Lắpmáy lỗ 103 tỷ đồng; Tổng công ty Xây dựng Sông Hồng lỗ 20 tỷ đồng (lũy kế là 121 tỷđồng)…

Theo Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, DNNN chiếm 70% tổng tài sản cốđịnh của nền kinh tế, chi phối 20% vốn đầu tư của toàn xã hội, sử dụng 60% tín dụng của

hệ thống ngân hàng thương mại, 50% vốn đầu tư Nhà nước và 70% nguồn vốn ODA nhưngtạo ra 25% doanh thu, 37% lợi nhuận trước thuế và 20% giá trị sản xuất công nghiệp củađất nước Tỷ lệ sử dụng vốn để tạo ra doanh thu của DNNN cao hơn hẳn các doanh nghiệpkhác (DNNN sử dụng 2,2 đồng vốn/1 đồng doanh thu, trong khi doanh nghiệp ngoài quốcdoanh sử dụng 1,2 đồng vốn và doanh nghiệp FDI là 1,3 đồng vốn) Tuy nhiên sự đóng gópcủa các DNNN cho nền kinh tế hoàn toàn không tương xứng, xét về tỷ trọng đóng góp choGDP (khoảng 27-28% GDP), giải quyết việc làm, hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất (đấtđại, tiền vốn, nguyên vật liệu )

Quy mô đầu tư của DNNN có thể còn lớn hơn vốn đầu tư từ NSNN, do khu vực nàycòn sử dụng các nguồn vốn khác đã được hạch toán riêng như ODA, tín dụng đầu tư, tíndụng ngân hàng Tỷ lệ huy động đầu tư lớn nhưng phân bổ dàn trải Nền kinh tế với GDPhơn 100 tỷ USD nhưng có tới 266 cảng biển, trong đó có 20 cảng quốc tế, 22 sân bay, trong

đó có 8 sân bay quốc tế, 15 khu kinh tế, 28 khu kinh tế cửa khẩu, 260 khu công nghiệp, 650cụm công nghiệp… Tỷ trọng đầu tư của khu vực DNNN trong tổng đầu tư công không

Trang 24

tương xứng với vai trò của khu vực này Giai đoạn 1995-2010, các DNNN chỉ chiếm từ 1/4đến 1/3 đầu tư công, thậm chí lại có xu hướng giảm từ 35,5% năm 1995 xuống 23,3% năm

2005 và từ 31,4% năm 2006 xuống mức thấp kỷ lục là 18,6% tổng đầu tư công năm 2010

Hoạt động của nhiều tập đoàn KTNN luôn đi cùng với lãng phí và tốn kém, thậm chívới mức độ ngày càng nặng nề, làm gia tăng nhiều hệ quả tiêu cực to lớn và kéo dài khác về

ép lạm phát, mất cân đối vĩ mô –trong đó có cân đối ngành, sản phẩm, cán cân xuất - nhậpkhẩu, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối và tích lũy-tiêu dùng, cũng như mất cân đối vàgia tăng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, địa phương và bộ phận dân cư trong

xã hội; tăng tình trạng tham nhũng và bóp méo cơ chế kinh tế thị trường; hạn chế sức cạnhtranh và chất lượng phát triển của nền kinh tế trong hội nhập… Đầu tư của DNNN chủ yếudựa vào nguồn vay trong nước và vay nước ngoài gây ra gánh nặng nợ lớn Theo báo cáocủa Bộ Tài chính, dư nợ của khu vực này bằng 54,2% GDP, không kể 9 Tập đoàn, Tổngcông ty Nhà nước chưa có số liệu Hệ số an toàn tài chính thấp: 30-40% tổng số đơn vị có

tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu vượt ngưỡng 3 lần, cá biệt cao gấp hơn 10 lần

Một vấn đề nữa là trong quản lý DNNN vẫn còn sự nhập nhằng giữa mục tiêu lợinhuận và phi lợi nhuận, quản trị kém hiệu quả và chưa đảm nhận được vai trò sự can thiệpmang tính chủ đạo của lực lượng kinh tế nhà nước ngay cả trong cung cấp hàng hoá vàdịch vụ công cộng và các ngành kinh tế có hiệu quả sinh lời thấp, nhưng cần thiết cho quátrình công nghiệp hóa, như cơ khí chế tạo, công nghiệp phụ trợ, thị trường bất động sản thứcấp, ứng dụng và phát triển công nghiệp công nghệ cao… Hiện tượng phổ biến trong khuvực DNNN là tư tưởng chụp giựt, tranh thủ “đục nước béo cò”, lạm dụng đầu tư không hợp

lý, thiếu tập trung và dứt điểm cho các công trình trọng điểm có khả năng lan tỏa, dẫn dắtchuyển đổi cơ cấu kinh tế; cơ chế quản lý kém, thiếu minh bạch, khép kín, nạn tham nhũng,lợi ích cục bộ, phe nhóm, địa phương, sự nể nang cảm tính và tư duy nhiệm kỳ; thiếu kiểmsoát và chế tài kịp thời, nghiêm khắc, trách nhiệm chưa rõ ràng và nhất là do thiếu phối hợpđồng bộ các chính sách, các cấp, ngành và các bên hữu quan… Ví dụ tiêu biểu cho sự thấtbại trong quản lý có thể kể đến tập đoàn Vinashin

Hiện nay nhiều Tập đoàn, DNNN đang tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh ngoàingành mặc dù lĩnh vực chính chưa chắc đã đạt được hiệu quả tốt nhất Nguyên nhân củaviệc này là một số lãnh đạo Tập đoàn, DNNN có động cơ tốt, họ thấy các lĩnh vực khác làm

ăn có lợi, siêu lợi nhuận (như một thời là chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng kể cả lĩnh vựcviễn thông) nên nghĩ đó là một cơ hội Vì thế, họ tổ chức các doanh nghiệp tham gia vàokinh doanh ngoài ngành nhằm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Thứ hai, do lãnh đạoTập đoàn, DNNN vụ lợi, muốn bành trướng thế lực của mình nên thành lập rất nhiều công

ty con của mình Họ lợi dụng vị thế, chức vụ, thẩm quyền của DNNN để thành lập nhiềudoanh nghiệp, tuyển dụng nhân sự, tạo các mối quan hệ, kể cả những mối quan hệ tài chính,lợi ích riêng, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ cũng như lo cho việc tiến thân của mình Đơn cửnhư Vinashin trong vòng 5 năm, sau khi thành lập, đã thành lập tới 200 công ty con Một ví

dụ nữa là tập đoàn Điện lực (EVN), sau một thời gian đầu tư sang lĩnh vực viễn thông bị

Trang 25

thua lỗ đã buộc phải chuyển nhượng hoạt động kinh doanh cho Tập đoàn viễn thông quânđội Viettel và Hà Nội Telecom.

Như vậy, cơ cấu đầu tư của DNNN còn rất nhiều vấn đề thể hiện sự chưa hợp lý, gây thất thoát, lãng phí tài sản quốc gia, mà lại không phát huy được vai trò quan trọng của mình trong phát triển kinh tế đất nước Do đó, tái cơ cấu DNNN là vấn đề cấp thiết hiện nay để có một cơ cấu đầu tư hợp lý.

1.1.3 Vốn tín dụng ưu đãi đầu tư

Nguồn vốn tín dụng ưu đãi đầu tư ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế.Hiện nay cơ quan phụ trách cấp vốn này là Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB) đượcthành lập năm 2006 trên cơ sở Quỹ hỗ trợ phát triển VDB đang áp dụng 3 hình thức tíndụng ưu đãi đầu tư là cho vay đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư và bảo lãnh tín dụng đầu tư

Bảng 5 Doanh số và dư nợ cho vay tín dụng đầu tư

Đơn vị: tỷ đồng

Cho vay tín dụng đầu tư 9.870 21.877 18.600 21.686 24.295 27.345

Dư nợ VND* 46.351 60.166 63.171 72.686 87.308 90.405

* Chưa bao gồm dư nợ các chương trình của Chính phủ như cho vay dự án Lọc dầu Dung

Quất, cho vay dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng…

Nguồn: Chinhphu.vn

Tổng số vốn VDB đã giải ngân các dự án đầu tư trong giai đoạn 2006-2010 là96.328 tỷ đồng (năm 2006 là 9.870 tỷ đồng), dư nợ đến 31/12/2010 là 87.308 tỷ đồng (chưabao gồm dư nợ các Chương trình của Chính phủ như cho vay Nhà máy Lọc dầu DungQuất; đường ôtô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng), tăng hơn hai lần so với thời điểm đi vào hoạtđộng 01/7/2006, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm và chiếm khoảng 3% tổng vốnđầu tư toàn xã hội Doanh số cho vay tín dụng xuất khẩu đến 31/12/2010 là 97.632 tỷ đồng(năm 2006 là 8.200 tỷ đồng), dư nợ 31/12/2010 là 16.105 tỷ đồng

Tính đến 30/06/2011 VDB đang quản lý 2.445 dự án với tổng vốn vay theo hợpđồng tín dụng, 168.846 tỷ đồng trong đó có 106 dự án nhóm A với số vốn vay 73.583 tỷđồng; Quản lý các nguồn vốn ODA cho vay lại, Quỹ quay vòng với 412 dự án tươngđương 9,5 tỷ USD Tổng doanh số huy động trong 5 năm là 185.050 tỷ đồng, riêng doanh

số huy động năm 2010 là 48.370 tỷ đồng

Đối tượng được vay vốn tín dụng ưu đãi là các dự án thuộc danh mục các ngànhnghề do Chính phủ quy định đang được thu hẹp dần Chính sách mới về đầu tư đã mangtính trọng điểm nhằm vào các dự án lớn mang tính chất dịch chuyển cơ cấu ngành, vùnglãnh thổ; các dự án an sinh xã hội có tổng mức đầu tư lớn/quy mô lớn, trang bị thiết bị hiệnđại nhằm đáp ứng theo yêu cầu phát triển xã hội hoặc những dự án tầm cỡ quốc gia mang ýnghĩa như cú huých, là động lực cho phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp chiến lược pháttriển của đất nước trong giai đoạn mới hội nhập

Trang 26

Ví dụ như chương trình kiên cố hóa kênh mương, nâng cấp đường giao thông nôngthôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản và cơ sở hạ tầng làng nghề nông thôn được ưu tiênvay vốn tín dụng ưu đãi Theo đó, hàng năm các địa phương được vay vốn tín dụng đầu tưcủa Nhà nước thông qua VDB với lãi suất 0% để thực hiện chương trình này Mức vốn vaytín dụng ưu đãi để thực hiện chương trình này từ năm 2012-2015 đã được nâng lên 3.000 tỷđồng/năm.

Hình 2 Cơ cấu cho vay đầu tư theo các ngành kinh tế chủ yếu tính đến 31/12/2011

Nguồn: Tổng hợp từ bài tập nhóm môn kinh tế đầu tư

Qua biểu đồ trên, có thể nhận thấy, vốn tín dụng đầu tư chủ yếu tập trung cho ngànhnăng lượng, tiếp đến là ngành công nghiệp Việc tập trung cho 2 ngành này là một là gópphần tạo ra nguồn năng lượng dồi dào đáp ứng nhu cầu phát triển trong nước như nhu cầu

sử dụng điện, nước cho sản xuất đang ngày càng tăng cao; hai là hướng tới mục tiêu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong tương lai gần Một số dự án trọng điểm quốc giađược đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng ưu đãi đầu tư có thể kể đến là công trình thủy điệnSơn La, nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy Đạm Cà Mau, các dự án sản xuất phân bónDAP ở Hải Phòng, ở Lào Cai, đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng,…

Tuy nhiên, tỷ trọng nguồn vốn này trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội còn thấp (giaiđoạn 2006-2010 chỉ chiếm 10%), thêm vào đó là các vấn đề về chiếm dụng vốn, sử dụngkhông hiệu quả, thất thoát, nên hiệu ứng kinh tế mà nguồn vốn này mang lại còn hạn chế,chưa tác động lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay Ví dụ như các dự ánsản xuất điện được cấp vốn nhiều nhưng chưa phát huy hiệu quả Hàng năm, đến mùa khô,nước ta vẫn rơi vào tình trạng thiếu điện, phải cúp điện thường xuyên, phải đi mua điện từnước ngoài

Trang 27

Hình 3 Cơ cấu cho vay đầu tư theo loại hình doanh nghiệp tính đến 31/12/2011

Nguồn: Tổng hợp từ bài tập nhóm môn kinh tế đầu tư

Biểu đồ trên cho thấy, DNNN là đối tượng được cấp vốn tín dụng ưu đãi nhiều nhất.Một phần là do dự án của các DNNN thường là các dự án có quy mô vốn lớn như các dự ánthủy điện, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đường bộ, trường học,… Tỷ trọng vốn được cấpcho các doanh nghiệp tư nhân là rất nhỏ Điều này chứng tỏ việc tiếp cận nguồn vốn nàycủa doanh nghiệp tư nhân còn rất hạn chế Nguyên nhân là dự án của tư nhân phần lớn cóquy mô nhỏ, đòi hỏi vốn ít hơn nhiều so với DNNN Thêm nữa các điều kiện thẩm định dự

án để được vay vốn, bảo lãnh vay vốn hay hỗ trợ sau đầu tư của VDB rất nghiêm ngặt Cácdoanh nghiệp tư nhân chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể đáp ứng được.Gần đây, Chính phủ đã có yêu cầu VDB nới lỏng điều kiện cho vay Do đó, có thể hi vọngcác doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được nguồn vốn này ngày càng nhiều hơn, huy độngđược sự đóng góp của khu vực tư nhân trong phát triển các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, nănglượng,… giảm gánh nặng cho NSNN

Nói chung, nguồn vốn tín dụng ưu đãi nhà nước đang ngày càng tập trung, hướng tới các mục tiêu phát triển chiến lược của Đảng và Nhà nước, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Song tỷ trọng còn thấp so với yêu cầu, hiệu quả sử dụng, khả năng quản lý còn hạn chế, gây ra thất thoát, lãng phí nguồn lực Đó là những điểm chưa hợp lý của cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn này.

Một cách tổng quát, cơ cấu đầu tư từ nguồn vốn nhà nước chưa đạt được sự hợp lý Gánh nặng đầu tư của NSNN còn quá lớn, trong khi nguồn vốn từ DNNN và tín dụng ưu đãi chưa phát huy hết hiệu quả như khả năng của chúng cũng như xã hội mong đợi Đầu tư dàn trải, nhưng lại nghiêng về các lĩnh vực kinh tế- là lĩnh vực mà những thành phần kinh tế khác có thể làm tốt Nguyên nhân của vấn đề này một phần quan trọng xuất phát từ cơ chế quản lý quan liêu và tâm lý bao cấp, ỷ lại vào Nhà nước còn tồn tại; phân định mục tiêu, kiểm soát đầu tư chưa đạt yêu cầu, bao đồng

Trang 28

1.2 Nguồn vốn dân cư và tư nhân

Tỷ trọng vốn đầu tư khu vực tư nhân so với tổng vốn đầu tư xã hội thời gian qua đãtăng tương đối mạnh mẽ Giai đoạn 1996-2000, tỷ trọng này là 22,49% đã tăng hơn 10điểm lên 35% vào giai đoạn 2006-2010 Đây là một bước chuyển dịch quan trọng cho thấyhiệu quả thu hút vốn đầu tư khu vực tư nhân bằng việc tạo cơ sở pháp lý (ban hành LuậtDoanh nghiệp) cho khu vực này phát triển

Bảng 6 Tỷ trọng vốn đầu tư khu vực tư nhân so với tổng vốn đầu tư xã hội

Đơn vị : %

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ niên giám thống kê

Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân cư và tư nhân ngày càng tăng, đặc biệt là sau khiViệt Nam gia nhập WTO Số doanh nghiệp đăng ký mới liên tục tăng nhanh, kể cả trongnhững năm nền kinh tế gặp khó khăn

Bảng 7 Phát triển doanh nghiệp dân doanh thời kỳ 2006-2011

Nguồn: Cục Phát triển Doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và đầu tư

Vốn đầu tư của khu vực dân doanh tăng trưởng nhanh vào năm 2007, đạt 26,9%(năm 2006 là 16,0%) Tuy nhiên, do ảnh hưởng của lạm phát cao trong năm 2008 và khủnghoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới năm 2009, thực hiện vốn đầu tư của khu vực dândoanh giảm 3,5% vào năm 2008 và chỉ tăng nhẹ (3,9%) vào năm 2009 Nhưng như đã nói ởtrên, tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực này giai đoạn 2006-2010 vẫn rất cao, đạt 35% so với27% giai đoạn 2001-2005 và 22,49% giai đoạn 1996-2000 Như vậy, khu vực kinh tế dân

cư và tư nhân, chủ yếu là các doanh nghiệp chịu tác động khá mạnh từ những biến độngcủa tình hình kinh tế thế giời và trong nước trong bối cảnh hội nhập

Bảng xếp hạng FAST500 đã cho thấy cốt lõi của sức mạnh tăng trưởng và sáng tạocủa nền kinh tế Việt Nam chính là khu vực kinh tế tư nhân Trong vòng 4 năm 2007-2010,lao động và vốn chủ sở hữu của khối doanh nghiệp tư nhân tăng lần lượt là 11% và 43%,trong khi khu vực DNNN hầu như không tăng Giai đoạn 2006-2010, đóng góp của khuvực DNDD cho GDP là 46,1%, cao nhất trong 3 khu vực kinh tế

Hiện nay, nhiều lĩnh vực kinh doanh mà khu vực tư nhân có thể liên kết để đầu tưnhưng lại gặp phải những rào cản ngầm trong gia nhập thị trường (mặc định ưu thế thuộc

Trang 29

về khu vực nhà nước) Điều này đã hạn chế sự đóng góp của khu vực tư nhân cho sự pháttriển kinh tế đất nước, làm tăng gánh nặng cho khu vực nhà nước, trong khi định hướnghiện tại là giảm dần vốn nhà nước, chỉ tập trung vào những lĩnh vực mà tư nhân khôngmuốn hoặc không thể làm (như quốc phòng, an ninh, cơ sở hạ tầng,…) Hình thức đầu tưcông-tư (PPP) ra đời thời gian gần đây đã mở cửa khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vàokết cấu hạ tầng, dần giảm bớt các rào cản ngầm Song, bên cạnh đó, trong một số lĩnh vực

sự xuất hiện doanh nghiệp tư nhân chiếm phần lớn, thậm chí 100% như lĩnh vực cơ khí chếtạo (9/9 doanh nghiệp)

Nhiều tập đoàn tư nhân lớn đã ra đời và phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua Họđầu tư vào nhiều lĩnh vực kinh tế từ sản xuất kinh doanh đến phi sản xuất, đóng góp lớnvào sự phát triển kinh tế đất nước Không những thế họ còn đầu tư ra nước ngoài như sangLào, Cam-pu-chia, Anh,… Ví dụ dễ thấy tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, tập đoàn Hòa Phát,tập đoàn Mai Linh,… Tuy nhiên có một số lĩnh vực quan trọng như công nghiệp phụ trợ thìkhông được nhiều doanh nghiệp quan tâm Nguyên nhân là do Nhà nước chưa đưa ra đượcnhưng chính sách khuyến khích ưu đãi và dung lượng thị trường thì lại quá nhỏ

Một vấn đề nữa được đặt ra với đầu tư của khu vực tư nhân, đó là tình trạng đầu tưtheo phong trào Thời mà BĐS, chứng khoán, ngân hàng đều bùng nổ hàng chục hồ sơ xinthành lập ngân hàng được đề xuất, hàng chục ngân hàng nông thôn được chuyển đổi nhanhchóng lên ngân hàng đô thị, hàng chục công ty chứng khoán ra đời, nhà nhà đổ xô vào BĐSmong kiếm lời nhanh chóng Kết quả là trên thị trường có trên 50 ngân hàng lớn nhỏ, gần

100 công ty chứng khoán, bong bóng BĐS ngày càng lớn Hậu quả như chúng ta cũng đãthấy thời gian gần đây BĐS trầm lắng, chứng khoán ảm đạm, ngân hàng khó khăn Nhữngnhà đầu tư nhỏ lẻ và nền kinh tế đất nước phải hứng chịu hậu quả nghiêm trọng Đó chỉ làmột trong rất nhiều phong trào đầu tư ở nước ta Nhà nước cũng phớt lờ không để ý chođến khi những nguy cơ trong các lĩnh vực đó quá lớn, gây áp lực lên bất ổn kinh tế vĩ mô,nhưng lúc này có lẽ là quá muộn

Như vậy có thể thấy sự bất hợp lý trong cơ cấu đầu tư, đó là: Khu vực tư nhân có hiệu quả kinh tế cao, có đóng góp chính trong phát triển kinh tế nhưng tỷ trọng vốn có cao song chưa tương xứng Nhà nước chưa quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng đầu tư chộp giựt, phong trào…

1.3 Nguồn vốn nước ngoài

Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế,nguồn vốn trong nước là quyết định và nguồn vốn nước ngoài đóng vai trò quan trọng.Nước ta có lợi thế là nhiều lao động với giá rẻ nhưng thiếu vốn, thiếu công nghệ để đầu tưphát triển sản xuất kinh doanh, cũng như phát triển cơ sở hạ tầng, do đó, nguồn vốn nướcngoài có ý nghĩa rất lớn

Bảng 8 Tỷ trọng vốn đầu tư khu vực nước ngoài với tổng vốn đầu tư xã hội

Đơn vị: %

Trang 30

Tỷ trọng 24,44 23.92 23.59 25.01

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ niên giám thống kê

Dòng vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng trưởng, đóng vaitrò như một kênh cấp vốn cho nền kinh tế, phổ biến công nghệ và kỹ thuật hiện đại; tạoviệc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tạo thị trường và nguồn thu cho ngân sách; thúcđẩy giao thương đối ngoại , đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007.Tuy có vai trò to lớn như thế nhưng vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn chiếm một tỷ trọngkhông cao trong tổng vốn đầu tư xã hội (giai đoạn 2001-2005 là 23,59%, giai đoạn 2006-

2010 cũng chỉ tăng lên 24,55%), cần tiếp tục thu hút thêm theo hướng có tinh lọc, hạn chếcác dự án khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều đất, tiêu hao nhiều năng lượng và gây ônhiễm môi trường

1.3.1 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

FDI là nguồn vốn có ý nghĩa không chỉ về mặt bổ sung nguồn vốn cho nước nhậnđầu tư mà còn có ý nghĩa cả về mặt chuyển giao công nghệ Nhờ các dự án FDI mà nước ta

có thể tiếp thu các công nghệ mới trong nhiều lĩnh vực

Bảng 9 Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 2001-2011

Số dự án Tổng vốn đăng ký

(Triệu đô la Mỹ)

Tổng số vốn thực hiện(Triệu đô la Mỹ)

Nguồn:Niên giám thống kê

Kể từ khi Việt Nam ban hành Luật đầu tư nước ngoài (12/1987) tình hình thu hút FDIngày càng khả quan và có bước sự chuyển biến vượt bậc vào năm 2007, khi Việt Nam chínhthức gia nhập WTO Số dự án từ 987 dự án vào năm 2006 đã tăng lên đến 1544 dự án vào năm

2007 Số vốn đăng ký và số vốn thực hiện cũng tăng gần gấp đôi vào khoảng thời gian này.Vốn đăng ký và vốn thực hiện lần lượt từ 6839,8 triệu USD và 3308,8 triệu USD năm 2006tăng lên 12004,0 triệu USD và 8030,0 triệu USD năm 2007 Đặc biệt, vốn FDI đăng ký tăng

Trang 31

lên đỉnh điểm vào năm 2008 với 71726,0 triệu USD Năm 2009, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng

nề từ khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn tiếp tục là một điểm đến quantrọng của FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký là 23107,3 triệu USD Tuy nhiên cũng dễ thấy rằng,mặc dù số vốn đăng ký lơn nhưng tình hình thực hiện vốn FDI còn chậm Như năm 2008, chỉđạt khoảng 1/6 số vốn đăng ký

Nguồn vốn này ngày càng góp phần to lớn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

và sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa nước ta Từ chỗ chỉ đóng góp 2% GDP năm 1992đến năm 2010 đã đóng góp 18,72% GDP của Việt Nam Vốn FDI đã góp phần tạo nên nhiềungành nghề, sản phẩm mới góp phần làm tăng đáng kể năng lực của các ngành công nghiệpViệt Nam Nhiều công nghệ mới, hiện đại, thiết bị đồng bộ và có trình độ kỹ thuật tương đốicao đã được các nhà đầu tư đưa vào triển khai hoạt động ở nước ta, nhất là trong lĩnh vực dầukhí, viễn thông, hoá chất, điện tử, tin học, sản xuất ô tô tạo ra bước ngoặt về công nghệ, năngsuất lao động trong một số ngành công nghiệp - dịch vụ mũi nhọn của đất nước, góp phần nângcao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam Với các nhà đầu tư đến từ hơn 66 quốc gia,vùng lãnh thổ và hơn 100 tập đoàn xuyên quốc gia (trong tổng số 500 tập đoàn xuyên quốc gia

có tiềm lực công nghệ và tài chính mạnh nhất thế giới), quan hệ kinh tế đối ngoại và vị thế củaViệt Nam ngày càng được mở rộng và nâng cao

Xét lĩnh vực đầu tư, năm 2011, vốn FDI đổ vào lĩnh vực bất động sản đã giảm mạnh sovới 4-5 năm trước Vốn đăng ký thấp hơn rất nhiều so với 3 lĩnh vực đứng đầu là công nghiệpchế biến, chế tạo; sản xuất phân phối điện và xây dựng Cụ thể ở thời huy hoàng của bất độngsản năm 2008, vốn FDI vào lĩnh vực này đạt mức cao nhất trên 23 tỉ đô la Mỹ Ngay cả trongthời gian bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu của năm ngoái, bất động sảncũng chiếm phần lớn vốn FDI, đạt tổng cộng khoảng 6,84 tỉ đô la Mỹ và trở thành lĩnh vực thuhút nhiều vốn FDI nhất trong năm 2010 Tuy nhiên, ở thời điểm từ đầu năm 2011 đến nay thìtình hình đã thay đổi hoàn toàn Đây được coi là một biểu hiện tích cực khi mà BĐS là ngànhphi sản xuất, không tạo ra được giá trị gia tăng cho nền kinh tế và bong bóng BĐS của ViệtNam đang có nguy cơ đổ vỡ

Về địa bàn đầu tư, mặc dù cả 63 tỉnh thành của nước ta đều có vốn FDI nhưng nó lạikhông phân bổ đều mà chỉ tập trung ở các tỉnh thành có kinh tế-xã hội phát triển, cơ sở hạ tầngtốt, đứng đầu là TP Hồ Chí Minh, sau đó lần lượt là Bà Rịa- Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng Nai,Bình Dương, Ninh Thuận… Những tỉnh như Điện Biên, Lai Châu, Bắc Kạn,… có ít vốn FDI

đổ vào Điều này đã gây ra sự phát triển chênh lệnh giữa các vùng miền trong đất nước, khôngphù hợp với chủ trương của nước ta

Về quy mô, các dự án FDI ở nước ta thời gian qua chủ yếu là vừa và nhỏ Doanh nghiệpFDI hoạt động tại Việt Nam phần lớn đến từ các nước và lãnh thổ trong khu vực như Đài Loan,Hàn Quốc, Nhật Bản… với quy mô khá nhỏ nếu xét theo tiêu chuẩn quốc tế 75% số doanhnghiệp FDI có dưới 300 lao động, trong đó hơn một phần ba có dưới 50 lao động Các dự ánquy mô trên 1 tỷ USD ngày càng giảm dần Năm 2008 có đến 11 dự án FDI có quy mô đăng

ký từ 1 tỷ USD trở lên nhưng năm 2011 chỉ còn 2 dự án Hiện nay có đến 63% doanh nghiệpFDI có vốn dưới 2,5 triệu USD Hơn 85% số doanh nghiệp FDI ở Việt Nam là doanh nghiệp

Trang 32

100% vốn nước ngoài Mặt khác các doanh nghiệp này chủ yếu sản xuất để xuất khẩu hoặc bántrong thị trường nội địa nhưng cho các đối tác là cá nhân hoặc doanh nghiệp nước ngoài Cácdoanh nghiệp này cũng nhập khẩu một lượng lớn nguyên vật liệu từ bên ngoài, rất ít doanhnghiệp trong nước có thể cung cấp được các mặt hàng phụ trợ này cho họ Họ nhập khẩu tới56,5% giá trị hàng hóa, dịch vụ trung gian, còn mua trong nước chỉ khoảng 40% mà chỉ có 2%trong đó là từ khu vực tư nhân Chính vì những lý do như vậy nên hiệu ứng lan tỏa về côngnghệ, trình độ quản lý,… mà Việt Nam mong muốn khi mở cửa thu hút FDI là rất hạn chế.

Nguồn vốn FDI cũng có nhiều mảng tối ngày càng bộc lộ rõ Những bất cập trong việcquản lý các doanh nghiệp có vốn FDI cũng như những bằng chứng về những hậu quả xấu củachúng đối với phát triển kinh tế - xã hội xuất hiện với mật độ nhiều hơn, như đầu tư chưa phùhợp với quy hoạch phát triển ngành và vùng kinh tế, sử dụng công nghệ tiêu tốn nhiều nănglượng, lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường (VD điển hình là ô nhiễm sông Thị Vải, sông Cầu,sông Nhuệ), nguồn vốn đưa từ nước ngoài vào Việt Nam là rất hạn chế, mà chủ yếu là lợi dụngnguồn vốn ở trong Việt Nam (như dự án Keangnam với số vốn đăng ký lớn nhưng số vốn nhàđầu tư đưa sang Việt Nam không lớn mà được lấy từ việc bán nhà cho người dân, dùng tiềncủa chính người dân Việt để đầu tư), vay tín dụng của các ngân hàng ở nước nhận đầu tư rồirút về nước không trả nợ, không thực hiện đầu tư,…

Tóm lại, vốn FDI vào Việt Nam có xu hướng gia tăng , tỷ trọng cũng như cơ cấu của nguồn vốn này đang chuyển dịch theo hướng tích cực hơn, tuy nhiên sự thay đổi còn hạn chế, việc quản lý nguồn vốn này cũng gặp nhiều khó khăn do nước ta chưa có nhiều kinh nghiệm.

Cơ cấu đầu tư như vậy vẫn khó có thể bảo đảm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng bền vững và chưa phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế

xã hội của Việt Nam Do đó, để phát huy hiệu quả của nguồn vốn này trong quá trình phát triển của nước ta thì chúng ta còn phải nỗ lực nhiều, cần thu hút có chọn lọc chứ không thể tràn làn như giai đoạn trước

1.3.2 Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

Kể từ năm 1993 khi Việt Nam bắt đầu bình thường hóa quan hệ với các tổ chức tàichính quốc tế, nhiều Chính phủ và tổ chức đã nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam Các nhàtài trợ đa phương, song phương và các tổ chức phi chính phủ đã cam kết tài trợ cho ViệtNam 56,4 tỷ USD Những năm qua, mức tài trợ ngày càng tăng, từ mức chỉ có 1,8 tỷ USDcam kết trong năm 1993, đã nâng lên trên 8 tỷ USD trong năm 2009 và 7,9 tỷ USD trongnăm 2010 Nhưng khi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình (trên 1.000USD/người), thì chính sách của các nước hay các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Phát triểnchâu Á (ADB) cũng thay đổi Trước đây, tỷ lệ viện trợ không hoàn lại cao, nhưng giờ, tỷ lệcho vay sẽ tăng Nội dung viện trợ thay đổi, cấu trúc nguồn vốn ODA cũng thay đổi Ngaytrong nguồn vốn vay, cơ cấu vay cũng khác, phần vốn kém ưu đãi (OCR, IBRD) sẽ tăng lênnhiều hơn Vì vậy vấn đề đặt ra với Việt Nam hiện nay là làm sao để sử dụng có hiệu quảnguồn vốn này, phát huy được vai trò xúc tác của nguồn vốn này để huy động các nguồnvốn đầu tư khác từ khu vực tư nhân, FDI, không gây ra gánh nặng nợ công về sau

Theo Đề án thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức thời kỳ

2006-2010, 5 lĩnh vực ưu tiên thu hút và sử dụng ODA bao gồm:

Trang 33

- Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm nông nghiệp, thủy lợi, lâmnghiệp, thủy sản kết hợp xóa đói, giảm nghèo).

- Xây dựng hạ tầng kinh tế theo hướng hiện đại

- Xây dựng kết cấu hạ tầng XH (y tế, GD-ĐT, dân số và phát triển, một số lĩnh vựckhác)

- Bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên

- Tăng cường năng lực thể chế và phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao côngnghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai

Bảng 10 Cơ cấu ODA ký kết theo ngành và lĩnh vực thời kỳ 2006-2010

Ngành, lĩnh vực

Dự kiến ODA ký kết

2006-2010 theo Đề án ODA ký kết 2006-2010

Dự kiến cơ cấu ODA

Tổng ODA (tỷ USD)

Cơ cấu ODA

Tổng ODA (tỷ USD)

Nông nghiệp, thủy lợi, lâm

nghiệp và thủy sản kết hợp

phát triển nông nghiệp và

nông thôn, xóa đói giảm

nghèo

Giao thông, bưu chính viễn

thông, cấp thoát nước và đô

Y tế, giáo dục và đào tạo,

môi trường, khoa học công

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2010

Bảng trên cho thấy vốn ODA ký kết cơ bản phù hợp với định hướng ưu tiên đã nói.Những lĩnh vực như năng lượng và công nghiệp, phát triển giao thông, thông tin liên lạc vàcấp thoát nước đô thị đạt mức cao hơn về giá trị tương đối và đạt xấp xỉ về giá trị tuyệt đối

so với dự kiến Còn các lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn, y tế, giáo dục,… đạtthấp hơn dự kiến từ 3-5%

Phát triển nông nghiệp và nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo thời kỳ 2006-2010mặc dù tổng vốn ODA ký kết thấp hơn dự kiến, song nguồn vốn đã được tập trung để hỗtrợ phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn quy mô nhỏ (phát triển lưới điện nông thôn, xây dựnggiao thông nông thôn, trường học, các trạm y tế và bệnh viện, các công trình thủy lợi, cấpnước sinh hoạt và vệ sinh môi trường,…), phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnkết hợp xóa đói giảm nghèo, khuyến nông và chuyển giao công nghệ trồng trọt và chănnuôi, cung cấp tín dụng quy mô nhỏ, hỗ trợ tăng cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Trang 34

nông nghiệp và chăn nuôi, áp dụng các công nghệ sạch, nâng cao chất lượng sản phẩm, antoàn thực phẩm Nguồn vốn ODA đã góp phần xóa đói giảm nghèo đối với người dân ở cácvùng nông thôn, đã góp phần thực hiện cam kết của Việt Nam đối với mục tiêu phát triểnthiên niên kỷ của Liên hợp quốc giảm 50% hộ đói nghèo vào năm 2015.

Nguồn vốn ODA cho lĩnh vực năng lượng và công nghiệp được tập trung hỗ trợ pháttriển nguồn điện (xây dựng các nhà máy thủy điện, nhiệt điện); phát triển mạng lưới truyềntải và phân phối điện, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùngđồng bào dân tộc; phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng xanh (điện mặt trời, điện gió)

và sử dụng năng lượng tiết kiệm và có hiệu quả Điều này đã góp phần tăng sản lượng vàchất lượng cung cấp điện năng cho sản xuất và đời sống, xây dựng ngành điện theo địnhhướng thị trường và tăng cường năng lực quản lý ngành

Trong ngành giao thông vận tải, vốn ODA tập trung đầu tư phát triển và nâng cấp hệthống đường quốc lộ, xây dựng một số cảng biển, củng cố và tăng cường cơ sở hạ tầngngành đường sắt, cảng hàng không quốc tế, xây dựng giao thông nội đô ở một số thành phốlớn và phát triển giao thông nông thôn ODA cũng đã hỗ trợ tăng cường công tác quy hoạchphát triển giao thông, tăng cường năng lực quản lý ngành, nâng cao nhận thức, giáo dụcpháp luật và an toàn giao thông trong xã hội

Trong ngành bưu chính viễn thông, vốn ODA tập trung cho đầu tư phát triển một số

cơ sở hạ tầng kỹ thuật bưu chính viễn thông hiện đại có ý nghĩa quốc gia, phục vụ nhu cầukhai thác chung của mọi thành phần kinh tế, phát triển điện thoại nông thôn, phát triểnInternet cộng đồng, áp dụng công nghệ thông tin góp phần thực hiện chương trình cải cáchhành chính quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử

Trong ngành y tế, vốn ODA sử dụng để tăng cường trang thiết bị y tế cho một sốbệnh viện tuyến tỉnh và khu vực nhằm giảm tải cho tuyến Trung ương; phát triển mạng lưới

y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các vùng, nhất là các vùng nghèo ở nông thôn, miền núi

có nhiều khó khăn; hỗ trợ thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế như đẩymạnh công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình, giảm tỷ lệ tử vong và suy dinh dưỡng trẻ

em, phòng chống HIV/AIDS; hỗ trợ xây dựng chính sách và nâng cao năng lực quản lýngành

Trong lĩnh vực môi trường, nguồn vốn ODA được sử dụng cho công tác quản lý tàinguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro thiên tai, trồng rừng và quản lý nguồn nước, cải thiệnmôi trường ở các thành phố và các khu dân cư tập trung, các khu công nghiệp Đặc biệt,nguồn vốn ODA đã được huy động để hỗ trợ thực hiện mục tiêu quốc gia ứng phó với biếnđổi khí hậu

Trong lĩnh vực GD-ĐT, vốn ODA được dùng để hỗ trợ cải cách cách cấp học từgiáo dục tiểu học tới giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lượng và tiếp cận với nền giáodục và đào tạo tiên tiên trên thế giới, cung cấp các học bổng đào tạo ở nước ngoài,… Cuốithời kỳ 2006-2010, vốn ODA đã được huy động để xây dựng một số trường đại học đạtchuẩn quốc tế nhằm phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao

Trang 35

Nguồn vốn ODA còn được sử dụng trực tiếp hoặc lồng ghép trong nhiều chươngtrình, dự án khác về bình đẳng giới, an sinh xã hội, cấp thoát nước đô thị,…

Như vậy, các dự án sử dụng vốn ODA đều được đầu tư đúng định hướng nhằm pháttriển hạ tầng cơ sở, tạo điều kiện sống, môi trường tốt hơn cho nhân dân Tại các diễn đànquốc tế, các nhà tài trợ đều đánh giá cao Việt Nam sử dụng có hiệu quả vốn ODA, nhất làtrong các dự án liên quan trực tiếp đến việc nâng cao đời sống-lao động-giáo dục-y tế chovùng sâu, vùng xa và xóa đói giảm nghèo

Bảng 11 ODA ký kết phân theo vùng, lãnh thổ thời kỳ 2006-2011 Vùng

Tổng ODA (triệu USD)

ODA bình quân đầu người (USD/người)

Tỷ lệ ODA so với cả nước (%)

Đồng bằng sông Hồng:

- Không bao gồm Hà Nội

- Bao gồm Hà Nội

2.365,784.541,83

130,50233,62

11,47%22,03%

Bắc Trung Bộ và duyên hải Miền

41,39112,70

2,45%7,48%

thụ hưởng gián tiếp 55,81%

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2010

Trong điều kiện NSNN hạn hẹp như hiện nay, nguồn vốn ODA thực sự là nguồn bổsung vốn quan trọng cho việc phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các tỉnh, thành phố trênnhiều lĩnh vực, thực hiện các mục tiêu phát triển của địa phương trong giai đoạn vừa qua.Vốn ODA thu hút vào các tỉnh nghèo vào khó khăn về kinh tế, thường gánh chịu hậu quảcủa thiên tai đã được cải thiện đáng kể So với thời kỳ 2001-2005, vốn ODA bình quân đầungười thời kỳ 2006-2010 đã có xu hướng tăng lên ở hầu hết các vùng này Tuy nhiên, nhưchúng ta đã thấy ở bảng trên, việc thu hút vốn ODA vào các địa phương trong một vùng vàgiữa các vùng còn có sự khác biệt và không đồng đều, đặc biệt là đối với vùng TâyNguyên-không có cải thiện rõ rệt về chỉ số vốn ODA bình quân đầu người so với thời kỳ2001-2005 Đồng thời còn những vùng và địa phương (một số tỉnh Tây Nguyên và ĐôngNam Bộ,…) có mức ODA bình quân đầu người thấp hơn mức trung bình của cả nước

Như vậy,về cơ bản việc phân bổ vốn ODA tương đối hợp lý, một phần xuất phát từ yêu cầu chặt chẽ từ phía cấp vốn, song hiệu quả sử dụng nguồn vốn này vẫn là vấn đề nhức

Trang 36

nhối, chưa phát huy hết tác dụng to lớn trong phát triển cơ sở hạ tầng, an sinh xã hội,… Nguyên nhân là do năng lực quản lý yếu kém và tâm lý “cha chung không ai khóc” Khi đưa về các địa phương, vốn ODA được coi như là vốn từ NSNN, các địa phương sử dụng thoải mái, ít quan tâm đến hiệu quả, đẩy gánh nặng trả nợ trong tương lai cho NSNN Đây

là điều bất hợp lý của cơ cấu đầu tư vốn ODA.

1.3.3 Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế

Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế là một trong số nhữngnguồn vốn được tính đến để bổ sung nguồn vốn thiếu hụt cho Việt Nam trước tình hìnhngày càng khó khăn để thu hút vốn ODA, đặc biệt là ODA đa phương như hiện nay

Đối với Chính phủ Việt Nam, việc tiếp cận với nguồn vốn này vẫn còn khá hạn chế

do chúng ta vẫn chưa có những chính sách rõ ràng trong việc thúc đẩy huy động và sử dụngnguồn vốn này

Khi sử dụng nguồn vốn này, áp lực trả nợ sẽ lớn hơn ODA rất nhiều Do đó vấn đềđặt ra cho nước ta là phải làm sao để năng cao hiệu quả sử dụng vốn để không làm thấtthoát, lãng phí nguồn vốn này, đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai, tránh lâm vào tìnhcảnh vỡ nợ

Hiện nay có một số dự án lớn của quốc gia đã được sử dụng nguồn vốn này Gầnđây có thể kể đến là dự án phát triển điện gió ở đồng bằng sông Cửu Long Tháng 11/2011,

US Eximbank đã ký Thư cam kết với hạn mức 1 tỷ USD tài trợ cho Trung tâm điện gióđồng bằng sông Cửu Long Dự án đầu tiên được triển khai là dự án điện gió Bạc Liêu vớitổng mức vốn đầu tư hơn 200 triệu USD Hiện ADB đang đề nghị được tài trợ thêm vốncho dự án năng lượng sạch khác

Bên cạnh đó, các ngân hàng nước ngoài cũng đã có mặt tại thị trường Việt Namngay từ đầu những năm 1990 Tính đến cuối năm 2010, 53 ngân hàng 100% vốn nướcngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài như ngân hàng HSBC, Standard Chartered, ANZ,Shinhan và Hong Leong, Citibank, 5 ngân hàng liên doanh Hầu hết, các ngân hàng nướcngoài đều mở chi nhánh tại hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Vềphạm vi hoạt động của các ngân hàng nước ngoài chủ yếu tập trung tại trụ sở của chinhánh

Các ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài đang hoạtđộng tại Việt Nam đóng vai trò là cầu nối thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Các tổchức này là những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của các ngân hàng thương mại trong nước,nhưng cũng là kênh truyền dẫn vào Việt Nam những công nghệ ngân hàng hiện đại, nhữngthông lệ quốc tế về quản trị tốt nhất và là nguồn tài chính không nhỏ bổ sung cho thị trườngtài chính của Việt Nam

Theo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TPHCM, so với cuối năm 2010, kết quả kinhdoanh chung của các ngân hàng nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng

Ngày đăng: 26/02/2016, 12:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Tạp chí kinh tế phát triển Khác
5. Cổng thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và đầu tư 6. Báo điện tử vietbao.vn Khác
7. Tạp chí tài chính Khác
8. Báo điện tử baodautu.vn Khác
9. Cổng thông tin điện tử của Chính phủ Khác
10. Nghị quyết Hội nghị TƯ 4 về kết cấu hạ tầng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Vốn đầu tư xã hội từ 2000-2011 - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 1. Vốn đầu tư xã hội từ 2000-2011 (Trang 17)
Bảng 2. Cơ cấu vốn đầu tư xã hội từ 2000-2011 - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 2. Cơ cấu vốn đầu tư xã hội từ 2000-2011 (Trang 18)
Bảng 3. Kết quả hoạt động của 3 khu vực kinh tế - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 3. Kết quả hoạt động của 3 khu vực kinh tế (Trang 19)
Bảng 4. Cơ cấu đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước phân theo nguồn vốn - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 4. Cơ cấu đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước phân theo nguồn vốn (Trang 20)
Bảng 5. Doanh số và dư nợ cho vay tín dụng đầu tư - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 5. Doanh số và dư nợ cho vay tín dụng đầu tư (Trang 25)
Bảng 7. Phát triển doanh nghiệp dân doanh thời kỳ 2006-2011 - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 7. Phát triển doanh nghiệp dân doanh thời kỳ 2006-2011 (Trang 28)
Bảng 6. Tỷ trọng vốn đầu tư khu vực tư nhân so với tổng vốn đầu tư xã hội - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 6. Tỷ trọng vốn đầu tư khu vực tư nhân so với tổng vốn đầu tư xã hội (Trang 28)
Bảng 9. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 2001-2011 - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 9. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 2001-2011 (Trang 30)
Bảng 10. Cơ cấu ODA ký kết theo ngành và lĩnh vực thời kỳ 2006-2010 - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 10. Cơ cấu ODA ký kết theo ngành và lĩnh vực thời kỳ 2006-2010 (Trang 33)
Bảng 11. ODA ký kết phân theo vùng, lãnh thổ thời kỳ 2006-2011 Vùng - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 11. ODA ký kết phân theo vùng, lãnh thổ thời kỳ 2006-2011 Vùng (Trang 35)
Bảng 12. Vốn đầu tư chia theo khoản mục chi phí, giai đoạn 2005-2011 - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 12. Vốn đầu tư chia theo khoản mục chi phí, giai đoạn 2005-2011 (Trang 39)
Bảng 13. Cơ cấu chi NSNN cho một số lĩnh vực cơ bản - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 13. Cơ cấu chi NSNN cho một số lĩnh vực cơ bản (Trang 39)
Bảng 14. Vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư theo giá thực tế - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 14. Vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư theo giá thực tế (Trang 40)
Bảng 16. Vốn đầu tư theo giá thực tế phân theo ngành kinh tế - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 16. Vốn đầu tư theo giá thực tế phân theo ngành kinh tế (Trang 45)
Bảng 17. Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế giai đoạn 2006 – 2010 - Đồ án môn học cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý
Bảng 17. Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế giai đoạn 2006 – 2010 (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w