ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- VÀNG THỊ NGA TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG VỀ GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA NGƯỜI NÙNG DÍN Ở THÔN TÙNG LÂU, XÃ TUNG CHUNG PHỐ, HUYỆN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VÀNG THỊ NGA
TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG VỀ GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA NGƯỜI NÙNG DÍN Ở THÔN TÙNG LÂU, XÃ TUNG CHUNG PHỐ, HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG,
TỈNH LÀO CAI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Dân tộc học
Mã số: 60 22 70 Người hướng dẫn: TS Nguyễn Trường Giang
Hà Nội - 2015
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Trường Giang, giảng viên khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Các thông tin, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Vàng Thị Nga
Trang 3
Lời cảm ơn
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong bộ môn Dân tộc học - khoa Nhân học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là Tiến sĩ Nguyễn Trường Giang đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Trong quá trình điều tra điền dã tại huyện Mường Khương (Lào Cai), tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của ông Vàng Thung Chúng (Trưởng phòng Xây dựng Nếp sống văn hóa & Gia đình, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai), ông Vàng Thung Sáng (Trưởng thôn Tùng Lâu II, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương) và gia đình ông Vàng Thung Phong trong việc thu thập thông tin, tư liệu tại địa phương Tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn đến đồng bào Nùng Dín tại hai thôn Tùng Lâu I, Tùng Lâu II, thị trấn Mường Khương đã nhiệt tình cung cấp thông tin cần thiết và đặc biệt là gia đình ông Vàng Thung Phong (Người dân thôn Tùng Lâu II, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương) đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và đông viên tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Vàng Thị Nga
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Bố cục luận văn 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NGƯỜI NÙNG DÍN Ở LÀO CAI 6
1 1.Những tiền đề lý thuyết và tổng quan về tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 11
1.1.3 Cơ sở lý thuyết 17
1.2 Tổng quan về người Nùng Dín ở Lào Cai 21
1.2.1 Dân tộc và địa bàn cư trú của người Nùng Dín tại Lào Cai 21
1.2.2 Đặc điểm kinh tế và xã hội 23
1.2.2.1 Đặc điểm kinh tế của người Nùng Dín 23
1.2.2.2 Đặc điểm xã hội của người Nùng Dín tại Lào Cai 27
Tiểu kết chương 1: 29
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA NGƯỜI NÙNG DÍN LÀO CAI 30
2.1 Quan niệm về trẻ em nói chung và ở người Nùng Dín nói riêng 30
2.1.1 Khái niệm về trẻ em 30
2.1.2 Quan niệm về trẻ em và vai trò của trẻ em trong gia đình của người Nùng Dín 33
2.1.3 Quan niệm về giáo dục trẻ em của người Nùng Dín 35
Trang 5
2.2 Hệ thống tri thức địa phương về giáo dục trẻ em của người Nùng Dín 36
2.2.1 Nội dung giáo dục 36
2.2.1.1 Giáo dục ngôn ngữ và chữ viết 36
2.2.1.2 Giáo dục đạo đức, lối sống và ứng xử 37
2.2.1.3 Giáo dục kỹ năng lao động sản xuất 46
2.2.1.4 Giáo dục các giá trị văn hóa tinh thần 52
2.2.2 Phương thức giáo dục 58
2.2.2.1 Giáo dục theo độ tuổi 58
2.2.2.2 Giáo dục theo giới tính 62
2.2.2.3 Cách thức giáo dục “quen tay hay làm”, truyền dạy qua quan sát 67
2.3 Các thực hành văn hóa của gia đình và cộng đồng hướng tới đời sống tinh thần, hoạt động vui chơi giải trí cho trẻ em 68
Tiểu kết chương 2: 73
CHƯƠNG 3 BIẾN ĐỔI TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA NGƯỜI NÙNG DÍN LÀO CAI HIỆN NAY 75
3.1 Trường học 75
3.2 Sự phát triển đời sống kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại hóa dẫn đến những biến đổi trong gia đình, cộng đồng người Nùng Dín 80
3.3 Tác động từ các chính sách của Nhà nước 84
Tiểu kết chương 3: 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 6(Tổ chức thương mại quốc tế)
(Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới) UNESCO The United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization (Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc)
Trang 7Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc của Việt Nam, giáp ranh giữa vùng Tây Bắc và vùng Đông Bắc Phía Bắc Lào Cai giáp Trung Quốc, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu, phía đông giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái Thành phố Lào Cai có cửa khẩu quốc tế Lào Cai – Hà Khẩu khiến cho việc giao lưu hợp tác về kinh tế - văn hóa giữa hai nước ngày càng được tăng cường Với lợi thế về vị trí địa lý cũng như điều kiện tự nhiên, kinh tế Lào Cai phát triển mạnh mẽ ở các các ngành thương nghiệp, du lịch và khai khoáng Những biến đổi này đã tác động mạnh mẽ đến các tộc người thiểu số ở đây Vì vậy, giữ gìn bản sắc văn hóa của tộc người đã và đang trở thành một vấn đề cấp thiết Do
đó, việc giáo dục những thế hệ trẻ – những người “giữ lửa” của tộc người trở thành một vấn đề đang được sự quan tâm của toàn xã hội trong đó có người Nùng Dín Ở Lào Cai, người Nùng Dín đã có mặt từ lâu đời, là một trong số 25 ngành nhóm tộc người của tỉnh có số lượng dân số tính đến hết năm 2010 là trên 27000 người, xếp thứ 7 trong số các dân tộc trong tỉnh [20, tr 40] Đến nay, người Nùng Dín vẫn còn lưu giữ được khá đầy đủ những giá trị văn hóa truyền thống của mình Bởi người Nùng Dín luôn đề cao vấn đề giáo dục nhất là giáo dục trẻ em từ khi còn nhỏ, thông qua quá trình giáo dục này để trẻ em từng bước thích nghi và phát triển hoàn thiện
Trang 8
2
trong môi trường văn hoá của tộc người nói riêng và xã hội nói chung Hiện nay, tuy những biến đổi kinh tế - xã hội mới có ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của người Nùng Dín ở đây nhưng họ vẫn giữ gìn và phát huy những kinh nghiệm, tri thức giáo dục trẻ em truyền thống bởi vai trò tích cực của chúng trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa Nùng Dín Chính vì thế, tôi đã lựa chọn nghiên cứu về tri thức giáo dục trẻ em và những biến đổi của nó trong bối cảnh hiện nay của người Nùng Dín ở
Lào Cai với đề tài “Tri thức địa phương về giáo dục trẻ em của người Nùng Dín ở
thôn Tùng Lâu, xã Tung Chung Phố, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tập trung vào các nội dung sau:
- Hệ thống tri thức địa phương của người Nùng Dín trong việc giáo dục trẻ
em, truyền thống và biến đổi
- Những yếu tố tích cực của gia đình và cộng đồng trong việc giáo dục trẻ em của người Nùng Dín
- Bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay và sự tác động của nó đối với hệ thống tri
thức địa phương về giáo dục trẻ em của người Nùng Dín
Tất cả những thông tin thu thập được chỉ tập trung để làm rõ những nội dung nêu trên, đồng thời hệ thống hóa những tri thức địa phương của người Nùng Dín ở Lào Cai trong việc giáo dục trẻ em, truyền thống và những biến đổi trong hoàn cảnh hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu: Thôn Tùng Lâu II, xã Tung Chung Phố, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai (nay là thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai)
Thôn Tùng Lâu hay làng Tùng Lâu là một làng cổ truyền có lịch sử lâu đời, theo nhiều tư liệu thu thập được từ Phòng Di sản văn hóa (Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch Lào Cai) thì làng đã hình thành được ít nhất là 6 đời (120 năm) hoặc lâu hơn thế Làng có vị trí gần khu chợ trung tâm của huyện khoảng 200m và cách khu trung tâm huyện khoảng 1km Vì thế hiện nay làng cũng có sự thay đổi về cả kinh tế
Trang 9Luận văn chọn thôn Tùng Lâu II làm địa bàn điền dã và nghiên cứu chính vì thôn Tùng Lâu II là nơi trung tâm của thôn Tùng Lâu cũ, còn thôn Tùng Lâu I chủ yếu là các hộ gia đình mới với địa bàn được mở rộng ra về phía trung tâm thị trấn Hiện nay, thôn Tùng Lâu II có 107 hộ gia đình với 479 nhân khẩu, trong đó có 98 % người dân ở đây là người Nùng Dín 1
Đối tượng nghiên cứu : Tri thức của người Nùng Dín về giáo dục trẻ em truyền thống và hiện nay, những biến đổi và nguyên nhân của những biến đổi đó Phạm vi nghiên cứu: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những tri thức của người Nùng Dín ở thôn Tùng Lâu về giáo dục trẻ em cùng những biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: đóng góp vào ngành dân tộc học/nhân học những tri thức
cụ thể, làm rõ hơn văn hóa của một ngành, một nhóm tộc người – người Nùng Làm
cơ sở tài liệu cho các nhà khoa học sau đó tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này
Ý nghĩa thực tiễn: Làm cơ sở khoa học để các nhà hoạch định chính sách và cán bộ công tác văn hóa đề ra những chủ trương, chính sách và biện pháp bảo tồn bản sắc văn hóa người Nùng Dín nói riêng và đồng bào dân tộc thiểu số nói chung cho phù hợp với tình hình của từng địa phương
1 Theo lời ông Vàng Thung Sáng, trưởng thôn Tùng Lâu II, 2013
Trang 10
4
5 Phương pháp nghiên cứu
Để viết luận văn này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong ngành nhân học là:
- Phương pháp nghiên cứu quan sát tham gia: Tác giả đã thực hiện nghiên cứu điền dã tại thôn Tùng Lâu II trong thời gian 1 tuần (23 – 30/12/2013) Trong quá trình điền dã, tác giả đã ở tại nhà ông Vàng Tờ Phủ - thầy mo thôn Tùng Lâu II, đây là gia đình có 4 thế hệ (ông – bố mẹ - con cháu chắt) và vẫn giữ được nhiều nếp sống truyền thống của người Nùng Dín ở đây Bằng cách tham gia vào sinh hoạt cũng như các thực hành văn hóa của gia đình để tìm hiểu môi trường văn hóa, môi trường gia đình cũng như phân tích ảnh hưởng của nó đối với việc giáo dục trẻ em Ngoài thời gian 1 tuần điền dã, trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến 2015, tác giả đã có nhiều dịp nghiên cứu điền dã trong thời gian ngắn (1- 2 ngày) tại thôn Tùng Lâu I, II, và các thôn người Nùng Dín ở huyện Mường Khương như thôn Na
Bủ, Mã Tuyển, Sảng Chải
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện một số cuộc phỏng vấn nhóm về vấn đề giáo dục trẻ em trong gia đình cũng như hệ thống trường học, Ngoài ra, thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng khác nhau (về giới, về lứa tuổi, về nghề nghiệp) để tìm hiểu những thông tin đa chiều và toàn diện
- Phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua, bảng hỏi: Lập những bảng hỏi cho những nhóm người khác nhau về lứa tuổi để thu thập những thông tin khác nhau, đa chiều về quan niệm, cách thức giáo dục trẻ em Dựa trên việc tổng hợp những thông tin từ bảng hỏi, phân tích để đưa ra những đánh giá, nhận xét sát thực, chính xác
Các phương pháp trên cho phép thu thập được nguồn thông tin chính xác và chân thực để trên cơ sở đó, tôi có điều kiện hệ thống hoá những thông tin thu thập được và đưa ra được những kết luận đúng đắn cho nghiên cứu của mình
Trang 12
6
CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN
NGHIÊN CỨU VỀ NGƯỜI NÙNG DÍN Ở LÀO CAI
1 1.Những tiền đề lý thuyết và tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Khái niệm “tri thức địa phương”
Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu, nhưng cho tới nay khái niệm tri thức bản địa hay tri thức truyền thống vẫn chưa được thống nhất Nói cách khác, tri thức bản địa - tri thức truyền thống được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn và theo các mục đích sử dụng thuật ngữ khác nhau
Năm 1978, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã tiến hành nghiên cứu
và lần đầu tiên đưa ra khái niệm “tri thức truyền thống” Ban đầu, khái niệm này chỉ
giới hạn ở một loại tri thức (được coi là truyền thống) là “các hình thức thể hiện
văn hóa dân gian” (Expressions of Folklore) Vào năm 1982, “các quy định mẫu dành cho luật quốc gia về bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa dân gian chống lại việc khai thác trái phép và những hành vi xâm phạm khác” đã được WIPO phối
hợp với UNESCO soạn thảo và công bố, trong đó có định nghĩa về “các hình thức
thể hiện văn hóa dân gian”
Đến nay thuật ngữ “tri thức truyền thống” không chỉ giới hạn ở “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian” mà còn bao gồm các đối tượng khác như tri thức bản địa, kiến thức cổ truyền, kinh nghiệm dân gian… Để thống nhất về cách dùng thuật ngữ, trong Báo cáo về các cuộc khảo sát về sở hữu trí tuệ và tri thức truyến thống
(1998-1999), dưới góc độ sở hữu trí tuệ, WIPO đã định nghĩa “tri thức truyền
thống” là các sản phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học dựa trên truyền thống;
sự biểu diễn; các sáng chế; các phát minh khoa học; các kiểu dáng; các nhãn hiệu, tên và biểu tượng; các thông tin bí mật, và tất cả các sáng kiến hoặc sản phẩm sáng tạo khác là thành quả của hoạt động trí tuệ dựa trên truyền thống trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật Cụm từ “dựa trên truyền thống” được hiểu là các hệ thống tri thức, các sản phẩm sáng tạo, sáng kiến và các hình
Trang 13
7
thức thể hiện văn hóa được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thường thuộc
về hoặc gắn liền với một nhóm người cụ thể hoặc vùng lãnh thổ cụ thể nơi nhóm người đó sinh sống, được phát triển thường xuyên để thích nghi với môi trường biến đổi
Trong “Cẩm nang về tri thức bản địa” (tài liệu dịch), được NXB Nông nghiệp
ấn hành năm 2000, một định nghĩa cũng đã được đưa ra: Tri thức bản địa (còn có
thể gọi bằng những tên khác như "kiến thức địa phương", "kiến thức kỹ thuật bản địa" hay "kiến thức truyền thống") là kiến thức mà người dân ở một cộng đồng đã
tạo nên và đang phát triển dần theo thời gian Ngoài các khái niệm kể trên, một số
nước cũng có các quy định riêng về thuật ngữ tri thức bản địa - tri thức truyền thống
Ở Việt Nam, vấn đề này cũng được nhiều nhà khoa học thuộc cả hai lĩnh vực
- khoa học tự nhiên và khoa học xã hội - như Lê Trọng Cúc, Đào Trọng Hùng, Phạm Quang Hoan, Ngô Đức Thịnh… quan tâm Tuỳ theo cách hiểu của mình, họ cũng đưa ra nhiều kháí niệm với những nội hàm khác nhau
PGS.TS Lê Trọng Cúc đồng nhất tri thức địa phương với văn hoá truyền
thống Theo ông, “tri thức địa phương được tích luỹ qua kinh nghiệm to lớn nhờ
tiếp xúc chặt chẽ với thiên nhiên, dưới áp lực chọn lọc, trong quá trình tiến hoá của sinh quyển và dần dần trở thành văn hoá truyền thống” [24, tr 231]
GS.TS Ngô Đức Thịnh lại gọi tri thức địa phương là “tri thức dân gian”
(Folklore Knowledge) và cho rằng, “đó là kinh nghiệm của con người tích luỹ được
qua quá trình hoạt động lâu dài nhằm thích ứng và biến đổi môi trường tự nhiên và
xã hội, phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần cho bản thân” [90, tr 35]
PGS.TS Phạm Quang Hoan cho rằng:
Tri thức địa phương được hiểu ở các cấp độ khác nhau Một là, “tri thức địa phương” (hay tri thức bản địa), “tri thức dân gian”, “tri thức tộc người” là toàn bộ những hiểu biết, những kinh nghiệm của một tộc người nhất định được tích lũy, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Vốn tri thức đó phản ánh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng đồng để mỗi tộc người sinh tồn,
Trang 14
8
phát triển và thích nghi trước những biến đổi đã và đang diễn ra Nói cách khác, tri thức địa phương là phương thức ứng xử, là đặc tính thích nghi với những điều kiện sinh thái nhân văn của mỗi tộc người Cũng có thể coi là bản sắc văn hóa tộc người Hai là, “tri thức địa phương” là tri thức của các cộng đồng tộc người cùng cộng cư trên một vùng sinh thái hay một vùng văn hóa nhất định Trong trường hợp này, tri thức địa phương cũng phản ánh xu hướng giao lưu và biến đổi văn hóa hay thích nghi văn hóa giữa các tộc người [42, tr 87]
Tuy nhiên, trên thực tế, các khái niệm “kiến thức bản địa” (Indigenouse Knowledge), “tri thức địa phương” (Local Knowledge), “tri thức truyền thống” (Traditional Knowledge) và “tri thức dân gian” (Folklore Knowledge) được quan niệm gần như đồng nghĩa và thường được sử dụng hoán đổi cho nhau mà không gây nên sự hiểu lầm Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ sử dụng tri thức địa phương để chỉ những nội dung trên
Một cách khái quát có thể hiểu: Tri thức bản địa, tri thức truyền thống hay tri thức địa phương là hệ thống tri thức mà người dân ở một cộng đồng tích lũy và phát triển dựa trên kinh nghiệm, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn và thường xuyên thay đổi để thích nghi với môi trường văn hóa, xã hội
- Khái niệm gia đình
Có rất nhiều khái niệm về gia đình tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu, xem xét, hướng tiếp cận, …mà có các khái niệm khác nhau:
Tập thể các nhà khoa học do GS.TS Trần văn Bính chủ biên có khái niệm về gia đình như sau: “Gia đình là một hình thức cộng đồng người, chủ yếu xây dựng trên quan hệ hôn nhân và huyết thống”
Liên hợp quốc định nghĩa: “Gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên”
Từ điển bách khoa Việt Nam đưa ra khái niệm: “Gia đình là thiết chế xã hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hoá, xã hội, tín ngưỡng,… là đơn vị kinh
tế và là tế bào của xã hội”
Trang 15
9
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh lại khẳng định: “Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì và củng cố trên cơ sở hôn nhân và huyết thống”
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2009 khẳng định: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình”; “là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người,
là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc”
Chỉ thị 49/CT-TW ngày 21/02/2005 của Ban bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) cũng đưa ra: “Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành , nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, là nơi bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo về Tổ quốc”
Trong nghiên cứu xã hội hội học, các nhà nghiên cứu cho rằng: “Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc được nuôi dưỡng tuy không có quan hệ máu mủ Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm…) Giữa
họ có những ràng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ đồng thời có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan
hệ tình dục giữa các thành viên gia đình”
Dưới khía cạnh xã hội học và về quy mô các thế hệ trong gia đình, cũng có thể phân chia gia đình thành hai loại:
Gia đình lớn (gia đình ba thế hệ hoặc gia đình mở rộng) thường được coi là gia đình truyền thống liên quan tới dạng gia đình trong quá khứ Đó là một nhóm người ruột thịt của một vài thế hệ sống chung với nhau dưới một mái nhà, thường từ
ba thệ hệ trở lên, tất nhiên trong phạm vi của nó còn có cả những người ruột thịt từ tuyến phụ Dạng cổ điển của gia đình lớn là gia đình trưởng lớn, có đặc tính tổ chức chặt chẽ Nó liên kết ít nhất là vài gia đình nhỏ và những người lẻ loi Các thành
Trang 16
10
viên trong gia đình được xếp đặt trật tự theo ý muốn của người lãnh đạo gia đình mà thường là người đàn ông cao tuổi nhất trong gia đình Ngày nay, gia đình lớn thường gồm cặp vợ chồng, con cái của họ và bố mẹ của họ nữa Trong gia đình này, quyền hành không ở trong tay của người lớn tuổi nhất
Gia đình nhỏ (gia đình hai thế hệ hoặc gia đình hạt nhân) là nhóm người thể hiện mối quan hệ của chồng và vợ với các con, hay cũng là mối quan hệ của một người vợ hoặc một người chồng với các con Do vậy, cũng có thể có gia đình nhỏ đầy đủ và gia đình nhỏ không đầy đủ Gia đình nhỏ đầy đủ là loại gia đình chứa trong nó đầy đủ các mối quan hệ (chồng, vợ, các con); ngược lại, gia đình nhỏ không đầy đủ là loại gia đình trong nó không đầy đủ các mối quan hệ đó, nghĩa là trong đó chỉ tồn tại quan hệ của chỉ người vợ với người chồng hoặc chỉ của người cha hoặc người mẹ với các con Gia đình nhỏ là dạng gia đình đặc biệt quan trọng trong đời sống gia đình Nó là kiểu gia đình của tương lai và ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại và công nghiệp phát triển
Mặc dù khái niệm về gia đình diễn đạt có khác nhau tuỳ thuộc ở góc độ nhìn nhận, song xem xét một cách chung nhất, nội hàm khái niệm về gia đình bao gồm các yếu tố sau: là một đơn vị xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hoá, tín ngưỡng.…Các thành viên quan hệ với nhau trên cơ sở những định ước, quy định
rõ ràng về đạo lý, bổn phận, nghĩa vụ, trách nhiêm, đối với các việc cần làm, được phép, cấm đoán; có mối liên hệ gắn bó với nhau về tình cảm, quyền lợi, trách nhiệm
và có những giàng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận, bảo vệ (khi xã hội có nhà nước)
- Khái niệm giáo dục
Trong tiếng Anh, từ “giáo dục” được biết đến với từ “education”, đây là một
từ gốc Latin được ghép bởi hai từ là “Ex” và “Ducere” – “Ex-Ducere” Có nghĩa là dẫn (“Ducere”) con người vượt ra khỏi (“Ex”) hiện tại của họ để vươn tới những gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn
Trang 17
11
Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáo dục
là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người” Định nghĩa này nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không
đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó
Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ, ông cho rằng cá nhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà
cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của
sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội Ngoài ra, ông John Dewey cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy
ấy Như vậy, theo quan điểm của ông John Dewey, ông cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn về mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục, là dạy dỗ
Như vậy, có thể kết luận rằng, “giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn.Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hình thành, do nhu cầu của
xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài người, phát triển xã hội Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển
con người và phát triển xã hội
1.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Những nghiên cứu về tri thức địa phương ở Việt Nam
Đề tài nghiên cứu về tri thức địa phương không phải là một đề tài nghiên cứu mới ở trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Tuy chưa đưa ra khái niệm tri thức địa phương nhưng nhiều nghiên cứu dân tộc học, nhân học, văn hoá học, … về phong tục tập quán, văn hoá dân gian, ứng xử với môi trường tự nhiên của các cộng
Trang 18vực như: Lê Trọng Cúc trong cuốn Vai trò của tri thức địa phương trong phát triển
bền vững vùng cao-1999 đã đưa ra vai trò của kiến thức bản địa và những ứng dụng
của nó trong các dự án về hợp tác và phát triển trong bối cảnh hiện nay; Tiến sĩ
khoa học Trần Công Khánh với bài viết Cây thuốc dân tộc và vấn đề bảo tồn tri
thức bản địa về cách sử dụng cây thuốc in trên tạp chí Y học và Đời sống online-
4/2005 đã cho biết những thông tin đầy hiệu quả của những tri thức bản địa về y học hay là y học cổ truyền,…
Đối với các nhà dân tộc học thì trước đây đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tri thức bản địa dưới dạng là một bộ phần hợp thành của nền văn hoá của mỗi tộc người Những nghiên cứu này đã đề cập khá chung chung tới những tri thức bản địa chưa thành hệ thống kiến thức riêng biệt và kỹ lưỡng trong văn hoá tộc
người, như là tác phẩm: Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam của Cầm Trọng, Người
Dao ở Việt Nam của Bế Viết Đằng, …
Hiện nay, nhiều tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu tri thức địa phương của một
tộc người như tác giả Mai Văn Tùng (2011) với luận văn tiến sĩ Tri thức địa
phương, về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của người Mường ở huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa; hai tác giả Nguyễn Ngọc Thanh và Trần Hồng
Thu (2003) với cuốn sách Tri thức địa phương của người Mường trong sử dụng và
quản lý tài nguyên thiên nhiên của NXB Khoa học xã hội; …
Có thể thấy rằng, nghiên cứu về tri thức địa phương đã trở thành một đề tài được nhiều nhà dân tộc học, nhân học quan tâm và nghiên cứu sâu sắc, đa dạng, phong phú
Nghiên cứu về vấn đề giáo dục trẻ em ở Việt Nam
Vấn đề giáo dục trẻ em cũng là vấn đề được nhiều nhà chính sách, nhà pháp luật và nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu Nhiều chính sách phát triển kinh tế -
Trang 19
13
văn hóa – xã hội cũng đề cập đến việc phát triển giáo dục trẻ em nhất là trẻ em dân tộc thiểu số ở miền núi, vùng sâu, vùng xa Nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề giáo dục trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa hiện nay như Thấu suốt đường lối của Đảng đưa sự nghiệp giáo dục tiến lên
mạnh mẽ vững chắc của Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu xuất
bản năm 1972; Đề tài nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ Nghiên cứu các giải pháp
quản lý giáo dục trong môi trường hội nhập WTO do PGS.TS.Nguyễn Công Giáp
làm chủ nhiệm (2006-2008); Đề tài độc lập cấp nhà nước “Phát triển Giáo dục Việt
Nam trong nền Kinh tế Thị trường và trước Yêu cầu Hội nhập Quốc tế” do PGS.TS
Trần Quốc Toản làm chủ nhiệm (2007-2009); Tác giả Nguyễn Kim Dung với đề tài
nhánh cấp nhà nước “Đa ́ nh giá thực trạng phát triển giáo dục Viê ̣t Nam trong nền kinh tế thi ̣ trường và trước yêu cầu hội nhập quốc tế” … Ngoài ra, hàng loạt các
luật, nghị quyết, văn bản hướng dẫn pháp luật được Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền ban hành như Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Luật lao động,…Các nhà giáo dục học lại nghiên cứu quá trình phát triển tâm, sinh lý của trẻ
em cũng như những phương pháp giáo dục trẻ em trong gia đình, trong nhà trường mang tính khoa học Nghiên cứu về giáo dục trẻ em dân tộc thiểu số vùng sâu vùng
xa, trong cuốn Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp
cận Nhân học, quyển II, TS Trương Huyền Chi có viết “Họ nói đồng bào không
biết quý sự học” nghiên cứu về những mâu thuẫn trong giáo dục ở vùng đa dân tộc
Tây Nguyên Việt Nam năm 2010 Đến năm 2011,Nguyễn Thu Hương và Nguyễn
Trường Giang có nghiên cứu với đề tài “Học không được hay học để làm gì Trải
nghiệm học tập của thanh thiếu niên dân tộc thiểu số” (Nghiên cứu trường hợp tại
Yên Bái, Hà Giang, Điện Biên) Tác giả Nguyễn Ngọc Thanh với cuốn Một số vấn
đề về chính sách giáo dục ở vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam… Trong đó,
chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu vấn đề giáo dục của người Nùng nói chung và người Nùng Dín Lào Cai nói riêng
Những nghiên cứu về người Nùng và giáo dục trẻ em của người Nùng ở Việt Nam
Trang 20
14
Nghiên cứu về văn hóa người Nùng ở Việt Nam cũng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đề cập Nghiên cứu đầu tiên về người Nùng phải kể đến tác
phẩm “Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” của hai
tác giả Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn do NXB Khoa học xã hội in năm 1968 Sau đó là tác giả Nông Minh Châu sưu tầm các bài dân ca trong đám cưới của hai
dân tộc Tày – Nùng tập hợp trong cuốn sách “Dân ca đám cưới Tày – Nùng” do
NXB Việt Bắc in năm 1973 Sau đó, người Nùng cũng được giới thiệu khái quát
trong cuốn sách “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” của Viện Dân tộc học do NXB Khoa học xã hội in năm 1978 Đến năm 1979, tác giả Vi Hồng trong cuốn sách“Sli,
lượn dân ca trữ tình Tày, Nùng” của NXB Văn hóa ngoài việc nghiên cứu thể loại
Sli, lượn của hai dân tộc Tày, Nùng còn đưa ra nhận xét về nguồn gốc và ngữ nghĩa của từ “Lượn ” Tác giả đưa ra nhiều ý kiến giải thích khác nhau, nhưng đáng chú ý
là ý kiến của cụ Nông Văn Mô ở huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng Theo cụ Mô thì
“lượn” hay “vén” cùng có một nghĩa - xưa kia người Tày vẫn nói “lượn lục” hay
“vén lục” đều có nghĩa là “ru con”
Năm 1984, NXB Văn hoá ra cuốn sách Văn hoá Tày – Nùng của Lò Văn Lô
và Hà Văn Thư, đến năm 1992 ra cuốn sách Dân tộc Nùng ở Việt Nam của Hoàng
Nam Hai tác phẩm này đã đưa ra những nghiên cứu khá toàn diện về mọi khía cạnh đời sống và văn hoá của người Nùng ở Việt Nam từ ăn mặc, đi lại, nhà ở đến những phong tục tập quán như cưới xin, tang ma, lễ hội cũng như những hoạt động kinh tế nông nghiệp của họ Đó là hai cuốn sách mang tính tổng quát chung và chi tiết hơn những cuốn sách trước đó về tộc người Nùng ở Việt Nam Hai cuốn sách này không
có một mục riêng dành cho vấn đề giáo dục trẻ em của người Nùng ở Việt Nam nói chung
Ngoài ra, nghiên cứu về văn hóa Tày – Nùng còn có cuốn sách “Văn hóa
truyền thống Tày – Nùng” của nhiều tác giả Hoàng Quyết, Ma Khách Bằng, Hoàng
Huy Phách, Cung Văn Lược, Vương Toàn in tại NXB Văn hóa dân tộc năm 1993 Xuất phát từ mối quan hệ mật thiết của hai tộc người, giai đoạn đầu các tác giả chủ yếu nghiên cứu hai dân tộc Tày, Nùng bởi sự tương đồng trong văn hóa Ngoài ra,
Trang 21
15
phương hướng nghiên cứu chủ yếu là phương pháp dân tộc học, trình bày một cách khái quát và chung chung toàn bộ văn hóa của hai tộc người Ở đây, vấn đề giáo dục cũng chưa được đưa ra như một vấn đề riêng biệt, quan trọng mà chỉ được nhắc tới trong đôi câu, vài lời
Những nghiên cứu sau đó về người Nùng thường đi sâu vào một khía cạnh
nào đó trong nền văn hoá một cách chi tiết và kỹ lưỡng Đỗ Thuý Bình với cuốn
Hôn nhân và gia đình các tộc người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam của NXB Khoa
học xã hội năm 1994 đã tập trung nghiên cứu và đi sâu về những phong tục trong cưới xin và những mối quan hệ trong gia đình của người Nùng ở Việt Nam trong cả
sự so sánh với tộc người Tày và người Thái Lê Văn Bé với bài viết Trang phục
người Nùng ở Việt Nam in trên tạp chí Dân tộc học số 4 năm 1997 chỉ tập trung
miêu tả bộ trang phục của người Nùng ở Việt Nam với biểu tương văn hoá của nó
Đến năm 2004, hai đề tài cấp bộ “Văn hoá dân tộc Nùng ở Cao Bằng” của tác giả Đàm Thị Uyên và “Tang ma của dân tộc Nùng ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Thị Ngân đã đi sâu vào nghiên cứu một tộc người Nùng tại một vùng cụ thể là huyện Cao Bằng và một trong những phong tục của tộc người là phong tục ma chay của người Nùng ở Việt Nam
Cuốn sách Người Nùng của tác giả Chu Thái Sơn (chủ biên) và Hoàng Hoa Toàn của Nhà xuất bản Trẻ in năm 2006 là tập mới thuộc bộ sách “Việt Nam - Các
dân tộc anh em” Bộ sách gồm 48 tập giới thiệu một cách giản lược từng dân tộc
trên các miền đất nước, từ lịch sử tộc người, các hoạt động kinh tế, phong tục, tập quán của từng dân tộc đến những tập tục trong hôn nhân, sinh đẻ Bộ sách cũng đi sâu vào nghiên cứu và khai thác những nét đặc sắc riêng của từng dân tộc Cuốn sách này sẽ giới thiệu những nét chính yếu về bản sắc văn hóa riêng của dân tộc Nùng, bao gồm nhiều nội dung về lịch sử tộc người; hoạt động dân tộc như săn bắt, hái lượm, trồng trọt, chăn nuôi…; văn hóa vật chất như ăn uống, nhà cửa, trang phục, phương tiện giao thông; ứng xử cộng đồng như gia đình, dòng họ, làng bản, phong tục…; đời sống tinh thần như tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội…
Trang 22
16
Luận văn Thạc Sỹ của Hoàng Thị Lê Thảo với đề tài Những biến đổi trong
việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em của người Nùng : nghiên cứu ở xã Đại An, huyện Văn Quan, tỉnh lạng Sơn năm 2009 đã nghiên cứu quan niệm, ứng xử truyền
thống của người Nùng trong việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, cụ thể là quan niệm về ốm đau, các nguyên nhân gây ốm đau và cách ứng xử khi bị ốm đau Trình bày thực trạng những biến đổi trong hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại địa bàn, từ nhận thức đến ứng xử cũng như những yếu tố tác động gây nên sự biến đổi này Miêu tả thực trạng về các hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em của Đại An, đưa ra nhận xét và những vấn đề đặt ra đối với sự biến đổi trong hoạt động này, đó là lối sống, phong tục tập quán và việc sử dụng các sản phẩm công nghiệp; yếu tố kinh tế và khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; kết hợp đông y và tây y trong chăm sóc sức khỏe; nhận thức của người dân về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cùng một số biện pháp phòng ngừa khác
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Nùng ở Việt Nam có dân số 968.800 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 7 tại Việt Nam, có mặt trên tất
cả 63 tỉnh, thành phố Người Nùng lại được phân gồm nhiều ngành khác nhau là: Nùng Inh, Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo, Nùng An, Nùng Dín, Nùng Lòi, Nùng Tùng Slìn, Nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu vào nghiên cứu các nhóm ngành
người Nùng này Triệu Thị Mai trong cuốn Văn hoá truyền thống của người Nùng
Khèn Lài ở Cao Bằng in ở NXB ĐHQGHN năm 2011 đã nghiên cứu khá tổng quát
và bước đầu về nền văn hoá của ngành Nùng Khèn Lài ở vùng Cao Bằng, cuốn sách
đã trình bày một cách kỹ lưỡng về những bài hát dân ca về nhiều chủ đề theo tiếng Nùng và dịch sang tiếng Việt ở phần cuối sách
Nguyễn Thị Ngân trong luận án tiến sĩ với đề tài: Tang ma của người Nùng Phàn Slình ở tỉnh Thái Nguyên (2011) đã khảo cứu có hệ thống về các nghi lễ tang
ma, quan niệm sinh tử, các yếu tố ảnh hưởng đến tang ma, các quy tắc ứng xử gia đình, cộng đồng liên quan đến đạo hiếu, đạo nghĩa, của người Nùng Phàn Slình ở tỉnh Thái Nguyên Luận án đã cung cấp thêm nguồn tư liệu điền dã mới, qua đó góp phần nhận diện đầy đủ hơn về tang ma truyền thống và những biến đổi trong tang
Trang 23
17
ma của người Nùng Phàn Slình ở tỉnh Thái Nguyên Từ đó góp phần khẳng định các giá trị văn hoá trong tang ma tộc người, làm cơ sở khoa học cho việc định hướng các chính sách văn hoá, xã hội phù hợp với đời sống mới trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả Vàng Thung Chúng (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai) trong cuốn Phong tục tập quán của người Nùng Dín ở Tùng Lâu in năm 2003 lại tập trung
nghiên cứu những phong tục tập quán, đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của người Nùng Dín ở tỉnh Lào Cai và đưa ra những đánh giá bước đầu về các giá trị văn hoá cũng như đưa ra biện pháp bảo tồn cho nền văn hoá của tộc người
này Ngoài ra, tác giả cũng có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí như: Hội cúng
rừng của người Nùng in trên Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật số 11 năm 1998; Lễ tết
cổ truyền mùng 1 tháng 7 của người Nùng ở Mường Khương đăng trên tạp chí Dân
tộc học số 11 năm 1998; Tục ăn tết nguyên đán cổ truyền của người Nùng Lào cai đăng trên Tạp chí Văn hóa - TT Lào cai, Lào cai số 1 năm 2000; Tri thức dân gian
về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của người Nùng Dín Lào Cai đăng trên Tạp
chí Phansipăng, Số 139/ tháng 9 – 2012… Những bài viết này chỉ trình bày một cách ngắn gọn và khái quát một nét văn hóa của người Nùng Dín ở Lào Cai
Tuy có rất nhiều nghiên cứu về người Nùng ở Việt Nam nhưng có thể thấy rằng vấn đề giáo dục trẻ em còn là một vấn đề chưa được các nhà dân tộc học đề cập hay quan tâm
1.1.3 Cơ sở lý thuyết
Luận văn sử dụng lý thuyết chức năng làm cơ sở lý thuyết chính trong việc tiếp cận và phân tích vấn đề, từ đó đưa ra những kết luận chính xác và có giá trị khoa học
Các nhà nhân học theo thuyết chức năng – cấu trúc cho rằng: Xã hội như là một cơ thế sống trong đó mọi cơ quan có liên quan chặt chẽ với nhau
Thuyết chức năng – cấu trúc được khởi xướng từ G Spencer và E Durkheim trong bối cảnh của xã hội châu Âu đầu thế kỷ XX đầy những loạn ly và khủng
Trang 24Người ta cho rằng, giống như các bộ phận khác nhau trong cơ thể con người, mỗi thiết chế xã hội như nhà nước, tôn giáo, gia đình, trường học… đều giữ những chức năng khác nhau, song lại luôn có sự liên hệ mật thiết với nhau theo cơ chế phân công - hợp tác và chính điều này tạo cho xã hội sự cân bằng trong vận động Với những tiền đề xuất phát đó, thuyết chức năng không chỉ định hướng vào việc giải thích, mà còn xác định cần nghiên cứu văn hóa - xã hội của mỗi dân tộc như là một chỉnh thể thống nhất
Nghiên cứu văn hóa như một chỉnh thể thống nhất cần chia tách chỉnh thể (văn hóa) thành ra các bộ phận, các yếu tố và vạch ra những mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng Ở đây, mỗi tế bào hay yếu tố (một khuôn mẫu, một vai trò, một thể chế…) của văn hóa đều có một chức năng xã hội nhất định, mỗi yếu tố riêng lẻ vừa là chính nó, vừa như một khâu, một mắt xích, mà nếu thiếu chúng thì văn hóa không thể tồn tại như một chỉnh thể
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều nhân nhân học tiêu biểu chịu ảnh hưởng từ những quan điểm của thuyết chức năng – cấu trúc trên như Bronislaw Malinowski, A Radcliffe – Brown, Talcott Parsons
Bronislaw Malinowski (1884 - 1942) sinh ra ở Ba Lan, lúc đầu Malinowski học vật lý và toán, về sau trở thành giáo sư nhân học tại Trường Đại học Tổng hợp Luân Đôn
Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ quan điểm của Spencer coi xã hội như một tổ chức sinh học đặc biệt, Malinowski phản đối cả thuyết khuếch tán lẫn thuyết tiến hóa và
Trang 25
19
triển khai các phân tích văn hóa của mình trên cơ sở những nhu cầu cơ bản của con người (như ăn, mặc, sinh đẻ, nghỉ ngơi) hay các nhu cầu về an sinh xã hội (như trao đổi kinh tế, giáo dục, kiểm soát xã hội, v.v…) Theo ông, sự khác nhau giữa các nền văn hóa chính là ở cách thức làm thỏa mãn các nhu cầu đó Khái niệm chức năng, với Malinowski, giống như một công cụ để khám phá và giải thích các hiện tượng văn hóa cụ thể Ông cho rằng, văn hóa là tổng thể những đáp ứng đối với các nhu cầu sống cơ bản và nhu cầu sản xuất của con người, trong đó bao gồm từ những dụng cụ nhà bếp và những sản vật tiêu dùng đến những pháp điền tổ chức việc nhóm họp xã hội, từ những tư tưởng và nghệ thuật đến những tín ngưỡng phong tục, đạo đức, v.v… Đó là một hệ thống cân bằng, trong đó mỗi yếu tố hoặc bộ phận đều thực hiện chức năng của nó Trong cái chỉnh thể đó, nếu triệt tiêu đi bất cứ một yếu
tố nào (như cấm đoán một nghi lễ hay một chuẩn mực đạo đức) thì toàn bộ hệ thống
xã hội sẽ không vận hành được, nó sẽ bị suy thoái và hủy diệt Nói cách khác, mỗi yếu tố hay thể chế xã hội đều tạo ra sự thống nhất chức năng với các yếu tố hay thể chế khác, và như vậy chúng đều có những đóng góp nhất định vào sự tồn tại của nền văn hóa mà chúng xuất hiện Chính vì lý do đó, ông chủ trương xã hội nào cũng cần phải được bảo tồn và mở rộng các yếu tố của hệ thống với các chức năng cụ thể của chúng, bởi mỗi chức năng như thế đều nhằm thỏa mãn một nhu cầu cụ thể của con người Công việc của các nhà nhân học, theo ông là "hòa nhập" vào nền văn hóa đó, bao gồm cả việc học bản ngữ, để khám phá các chức năng đó Đó là lý do
mà cách tiếp cận của ông được đặt tên là trường phái Chức năng
A Radcliffe - Brown (1881 - 1955) học Nhân học ở Đại học Tổng hợp Cambridge, từ 1931 đến 1937 là giáo sư đại học Chicago, năm 1939 làm Chủ nhiệm
Bộ môn Nhân học xã hội thuộc Đại học Tổng hợp Oxford
Về học thuật, Radcliffe - Brown chịu ảnh hưởng và kiên trì quan điểm của E Durkheim, coi văn hóa và xã hội như một cơ thể sống, trong đó mọi bộ phận đều có quan hệ hữu cơ với nhau để tạo ra một cơ chế cân bằng và thống nhất Quan điểm này nhấn mạnh rằng nếu văn hóa và xã hội tồn tại như tổng thể các chức năng, thì nhà nghiên cứu cần làm rõ mối quan hệ giữa các thành tố mang chức năng cụ thể
Trang 26
20
trong chỉnh thể, đồng thời cũng cần làm rõ cấu trúc chung của chỉnh thể với tư cách
là một thực thể chứa đựng tổng thể các chức năng Nói gọn lại, với Radcliffe - Brown, thuyết chức năng đã được nhấn mạnh thêm ở mối liên hệ giữa chức năng với cấu trúc chung của tổng thể Người ta đã gọi đó là thuyết chức năng - cấu trúc
Talcott Parsons (1902 – 1979) Chủ nhiệm Khoa Quan hệ xã hội ở Trường Đại học Harward Ông từng du học ở Đức và chịu ảnh hưởng rất nhiều của Max Weber Đối với ông, cấu trúc (hay là kết cấu) là tổng thể những quan hệ nội tại tương đối bền vững của các cá thể, các thành tố, còn chức năng là thứ vốn có của mọi sự vật, hiện tượng Ông cho rằng mọi thứ trong thế giới đều có chức năng của nó, còn sự phụ thuộc giữa các chức năng đem lại không chỉ tính thống nhất mà cả sự cân bằng
và trật tự cho tổng thể “Nhiệm vụ của Xã hội học - theo Parsons - là tìm ra cái gì được ấn định sẵn cho cái gì trong hệ thống xã hội, có nghĩa là vạch ra vai trò của yếu tố này hay yếu tố kia của cấu trúc trong sự sắp xếp, bảo tồn và hoạt động của hệ thống”
Ba tác giả B Malinowski, Radcliffe - Brown, Talcott Parsons đều thống nhất với nhau ở chỗ coi lý thuyết chức năng - cấu trúc như một công cụ quan trọng trong việc tiếp cận nghiên cứu văn hóa và xã hội Theo cách nhìn này, mỗi hiện tượng văn hóa hay xã hội đều được cấu thành bởi những bộ phận hay yếu tố nhất định, trong
đó mỗi bộ phận hay yếu tố đều phải đảm bảo một hoặc nhiều chức năng Khi các chức năng này bị rối loạn sẽ dẫn tới sự bất ổn định của cấu trúc tổng thể, thậm chí
có thể phá vỡ cấu trúc tổng thể Còn việc thực hiện đúng chức năng của các thành phần tạo nên cấu trúc sẽ đảm bảo cho cấu trúc tổng thể (hệ thống) vận hành một cách ổn định và bền vững Vì coi văn hóa như một hệ thống mang tính hợp nhất và
ổn định cao qua thời gian nên thuyết chức năng cấu trúc có tác dụng gợi mở trong việc sắp xếp cấu trúc chung của văn hóa ra sao để nó có thể đáp ứng các nhu cầu của con người một cách tốt nhất
Trang 27
21
Luận văn sử dụng lý thuyết chức năng làm cơ sở lý luận là chỉ trường phái Chức năng của Bronislaw Malinowski (1884 - 1942), ông được coi là người đặt nền tảng "thực chứng" cho nghành Nhân học ở Anh
Áp dụng lý thuyết về chức năng giáo dục của gia đình vào nghiên cứu này để làm sáng tỏ vai trò giáo dục của các gia đình người Nùng Dín đối với trẻ em trong gia đình:
Nhiềunghiên cứu về gia đình đã phân tíchnhiều chức năng của gia đình như chức năng kinh tế, chức năng sinh đẻ, chức năng xã hội hóa, chức năng tâm lý tình cảm và chức năng giáo dục tác giả sử dụnglý thuyết về chức năng giáo dục của gia đình để làm hướng tiếp cận chính trong nghiên cứu tri thức địa phương của người Nùng Dín về giáo dục trẻ em
Đó là tiếp cận theo các mặt:
Nội dung giáo dục: giáo dục đạo đức, giáo dục lao động – nghề nghiệp, giáo dục giới tính, giao tiếp với người khác giới, …
Phương pháp giáo dục: nêu gương, kiểm soát, trừng phạt,…
Mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong chức năng giáo dục xã hội hóa cho trẻ em
Gia đình là một kiến tạo xã hội, mọi mối quan hệ trong gia đình là do ý thức
cá nhân lựa chọn Mỗi gia đình có quan hệ do nền tảng xã hội quyết định, do đó nó luôn biến đổi theo hoàn cảnh xã hội, không phải là bất biến Vì vậy, chức năng gia
đình cũng biến đổi tùy theo từng thời đại, trong đó có chức năng giáo dục
Đây cũng là những hướng tiếp cận những tri thức địa phương về giáo dục trẻ
em của người Nùng Dín ở Lào Cai
1.2 Tổng quan về người Nùng Dín ở Lào Cai
1.2.1 Dân tộc và địa bàn cư trú của người Nùng Dín tại Lào Cai
Người Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái với địa bàn cư trú chủ yếu là
vùng Lưỡng Quảng và một phần vùng Đông Nam tỉnh Vân Nam thuộc Trung Quốc
và vùng Đông Bắc Bắc Bộ Việt Nam Theo các nhà sử học và dân tộc học, người
Trang 28Ở tỉnh Lào Cai, người Nùng Dín đã có mặt từ lâu đời trước cả người Nùng
An Người Nùng Dín gọi mình là “pphuw noong” hay “noong lảy” tức là “người Nùng” hay nhóm “Nùng sót” Theo tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Lào Cai năm
2009, Người Nùng Dín là một trong số 25 ngành nhóm tộc người của tỉnh có lượng dân số tính đến hết năm 2010 là trên 27000 người, xếp thứ 7 trong số các dân tộc trong tỉnh
Tuy dân số đứng thứ 7 trong số các dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai song người Nùng Dín cũng chỉ cư trú tập trung trên địa bàn 4 huyện là: Mường Khương,
Si Ma Cai, Bắc Hà và Bảo Thắng trong phạm vi 148 thôn bản của 40 xã, thị trấn (tính theo cộng đồng làng bản) Trong đó, người Nùng Dín tập trung đông nhất ở huyện Mường Khương chiếm tỷ lệ trên 50% dân số người Nùng toàn tỉnh, gồm 12.354 người, huyện Bắc Hà 4.761 người; huyện Bảo Thắng là 2.914 người; huyện
Si Ma Cai là 3.095 người [20, tr.40] Người Nùng Dín còn rải rác ở các huyện, thành phố khác nhưng không cư trú tập trung thành làng bản, nghề nghiệp không đồng nhất gồm cán bộ, công nhân viên chức, công nhân trong các doanh nghiệp, hợp tác xã và sản xuất kinh doanh…
Người Nùng Dín thường sống tập trung thành làng bản (lủng, ban), có nơi gọi
là làng, có nơi gọi là bản, tùy theo cách gọi của mỗi người Mỗi làng có số hộ gia đình ít nhất từ 15 – 20 hộ, đông nhất là trên 100 hộ Làng người Nùng Dín thường lập ở dưới các chân núi phía trước có suối nước hoặc cánh đồng hoặc gò đồi xung quanh có núi cao bao bọc Dù ở vị trí nào cũng đều tuân theo nguyên lý : trước mặt
Trang 29
23
có tầm nhìn xa trông rộng, sau lưng có điểm tựa vững chắc và có nguồn nước phục
vụ sinh hoạt thuận lợi Thông thường, làng bản của người Nùng Dín thường nằm ở thung lũng dọc theo các con sông, nơi có đất đai màu mỡ cũng như có nguồn nước thuận tiện sinh hoạt Các gia đình trong làng bản người Nùng Dín không theo kiểu
“gần nhà xa ngõ” của người Kinh, hoặc cách xa nhau theo kiểu người H’mông mà thường nằm kề sát với nhau theo kiểu như phố xá hiện nay Điển hình nhất là làng Tùng Lâu, Na Bủ, Ba Đẩy xã Tung Chung Phố; làng Mã Tuyển, Sảng Chải xã Mường Khương; làng Lao Táo xã Pha Long; làng Pạc Ngam xã Nấm Lư (huyện Mường Khương); làng Nàn Vái xã Nàn Sán; làng Bản Mế xã Bản Mế (huyện Si Ma Cai)… Nhiều thôn, bản người Nùng Dín ngày càng phát triển đông đúc nên hiện nay đã phải phân tách thành 2 thôn, bản Điều này cũng phản ánh trình độ phát triển của tộc người Nhờ lối sống quần tụ tập trung mà người Nùng Dín đã xây dựng làng bản vẫn còn tồn tại hiện nay
1.2.2 Đặc điểm kinh tế và xã hội
1.2.2.1 Đặc điểm kinh tế của người Nùng Dín
Đặc điểm địa bàn cư trú của người Nùng Dín bao gồm cả vùng thấp lẫn vùng cao Nơi vùng thấp thường là vùng có địa hình bẳng phẳng, tầm nhìn xa trông rộng,
có khí hậu tốt đẹp, nguồn nước thuận lợi cho canh tác Tại đây, người Nùng Dín đã định cư, khai khẩn và hình thành những cánh đồng rộng lớn như Mường Khương, Tùng Lâu, Nấm Lư, Lùng Vai, Bản Làu, Bản Sen (huyện Mường Khương); Bản
Mế, Nàn Sán (huyện Si Ma Cai); Na Hối, Tà Chải (huyện Bắc Hà); … Nơi vùng cao hay trên các ngọn đồi người Nùng Dín canh tác, tạo ra các tràn ruộng bậc thang
để trồng lúa nước, nâng cao sản lượng lương thực cung cấp cho nhóm người sinh tồn và phát triển
Do môi trường sống thuận lợi nên sản xuất kinh tế chính của người Nùng Dín
là sản xuất nông nghiệp là chính bao gồm trồng trọt và chăn nuôi Ngoài ra, người Nùng Dín còn phát triển một số nghề thủ công khai thác tài nguyên sẵn có của địa phương phát triển kinh tế, phục vụ cho nhu cầu ăn, ở, đi lại cũng như nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhóm người
Trang 30
24
Về trồng trọt, cây trồng chủ yếu của người Nùng Dín là lúa, ngô và một số
loại hoa màu như đậu tương, khoai, sắn, lạc khác trên đồng ruộng nương rẫy, gò đồi Ngoài lúa, ngô, người Nùng Dín trồng nhiều nhất là cây đậu tương và cây lạc, 100% số hộ gia đình các thôn bản đều trồng đậu tương và lạc Số lượng nhiều hay ít tuỳ vào diện tích canh tác nhằm mục đích không chỉ phục vụ ăn uống sinh hoạt mà còn đem bán ở chợ để trao đổi hàng hoá Đậu tương người Nùng Dín trồng gồm 2
vụ : vụ xuân - hè ở ruộng và vụ thu ở nương, đồi; họ trồng chủ yếu là 3 loại giống : đậu tương xanh (Trăng looc), đậu tương vàng (tsăng hên), đậu tương lông trắng (màu tảu) Lạcchủ yếu được trồng trên đất đồi, nương (hiện nay vùng thấp trồng cả
ở ruộng) nhưng chỉ trồng 1 vụ vào tháng 2, thu hoạch tháng 6
Ngoài ra đồng bào còn trồng nhiều loại cây thực phẩm rau quả ở đồi, nương, vườn, ruộng như rau cải, bắp cải, su hào, bầu, bí, su su, mướp; các loại cây ăn quả công nghiệp như chuối, bưởi, đào , mận, mía, cam, quýt, lê, hồng - trong đó cây mận và cây mía được chú trọng trồng nhiều hơn cả Điển hình như mận tam hoa, lê, mía, mía sương gà ở Bắc Hà, Si Ma Cai, Mường khương đã trở thành cây đặc sản hoa quả của địa phương
Thời kì phong kiến người Nùng Dín Lào Cai còn trồng bông dệt vải Thời kì pháp thuộc cây bôngbị xoá bỏ mà thay vào đó là trồng cây anh túc, làm thành thuốc phiện bán rẻ cho bọn thực dân và quan lại địa phương Sau ngày giải phóng các huyện và tỉnh 1950, với chính sách phát triển văn hoá kinh tế mới của Đảng, Chính phủ,cây anh túc bị xoá bỏ thay bằng trồng cây đậu tương
Về chăn nuôi, đồng bào thường nuôi trâu, ngựa Bình quân 1,5 - 2 con trâu,
0,7 con ngựa/ 1 hộ để cày bừa, kéo gỗ, thồ củi và làm phân bón cho nông nghiệp Ngoài ra, họ còn nuôi lợn, gà, vịt, ngan, chó nhưng chủ yếu là lợn, gà để góp phần thu nhập kinh tế nâng cao đời sống gia đình Hiện nay do phát triển giao thông nông thôn, đường xá đi lại thuận lợi nên đồng bào ở các khu vực thị trấn, thị tứ, vùng thấp đã thay ngựa thồ bằng xe máy, xe công nông…do đó số lượng đàn ngựa và các hộ nuôi ngựa đã có xu hướng giảm và thay vào đó là chăn nuôi trâu, bò đàn, cá làm sản phẩm hàng hoá bán ở thị trường
Trang 31
25
Người Nùng Dín Lào Cai vẫn duy trì loại hình kinh tế hái lượm và săn bắt các sản phẩm tự nhiên sẵn có Đồng bào thường hái lượm các loại: măng vầu, măng nứa, củ mài, mộc nhĩ, hoa chuối, rau sương cá, rau rớn, rau rền dại, nấm đất, nấm hương, …; săn bắt các loại côn trùng, động vật như: châu chấu, con dế, nòng nọc, tôm tép, cá suối, con ốc, con ếch, con dúi, sâu măng, chuột rừng, cầy hương, tổ ong, các loại chim…Tuy nhiên các loại động vật, thú rừng quý hiếm hiện nay đã bị cấm
và mai một, đồng bào chỉ còn săn bắt các loại côn trùng, động vật thứ cấp làm thức
ăn lạ miệng cài xen trong bữa ăn
* Về các ngành thủ công truyền thống:
Bên cạnh việc sản xuất kinh tế nông nghiệp là chính, người Nùng Dín còn làm nhiều nghề thủ công truyền thống tiêu biểu là: đan lát, nghề mộc, làm tranh cắt giấy, thêu hoa văn, làm ngói máng được khái quát như sau:
Nghề đan lát:
Đồng bào trong các làng bản đều có ít nhất từ 3 đến 5 người biết đan lát các
đồ dùng lao động sản xuất và sinh hoạt gia đình như: bồ đựng thóc bằng nứa; gùi địu (củi, phân, lúa, ngô, rau lợn…) bằng vầu, nứa; dần sàng, thúng, mẹt, rổ rá, lồng
gà bằng vầu; đồ dùng bắt tôm cá bằng cước dây sắn, tre, vầu; cót phơi bằng mây, nứa…Các sản phẩm đan lát thường được dùng trong gia đình là chính, ngoài ra có thể bán trao đổi hàng hóa ở chợ Đồng bào thường đan lát vào thời gian nhàn rỗi (chiều, tối) sau các giờ lao động và ngày chủ nhật nghỉ ngơi
Nghề làm mộc:
Người Nùng Dín chủ yếu dùng gỗ để làm nhà lầu, làm công cụ sản xuất như cày, bừa,… Nếu làm nhà, nghề mộc được tổ chức theo kép thợ, mỗi làng đều có một kép thợ gồm thợ cả và các thợ phụ (chàng máy) Thợ cả chuyên tính toán, đo vẽ kích thước, thợ phụ chuyên thực hiện Từ thời bao cấp trở về trước, các thợ mộc chủ yếu làm theo phương thức đổi công là chính, gia đình chỉ bồi dưỡng bằng công sức bằng nửa ngày công Sang cơ chế thị trường, người Nùng Dín cũng đã chuyển phương thức khoán gọn Các sản phẩm mộc khác như công cụ sản xuất (cày, bừa),
Trang 32Nghề thêu hoa văn:
Làm nghề này chủ yếu là các nữ nghệ nhân trung tuổi, nếu gia đình nhà trai nào có đám đón dâu thách bộ trang phục cô dâu dân tộc mời các nghệ nhân đến thêu hoa văn trên khăn, áo, hài hoặc nhà gái nào nhờ giúp làm địu thêu hoa văn để đưa lễ mừng cháu ngoại đầy tháng Làm nghề này cũng do một nghệ nhân kinh nghiệm hơn chủ trì cùng 2-3 người phụ thực hiện Nghệ nhân chủ yếu là làm vào thời gian rỗi cách ngày,sử dụng 2 tuần đến một tháng và cũng làm theo phương thức giúp đỡ
là chính, gia đình chỉ bồi dưỡng chút ít lấy lệ
tự tổ chức sản xuất ngói máng tại chỗ để lợp nhà thay gianh vừa đẹp vừa bền vững Sản xuất ngói máng theo phương thức tổ hợp, thành lập 1 tổ gồm 7-8 người thực hiện dưới sự chỉ đạo của nghệ nhân (thợ kỹ thuật) Chất đốt (củi) do các gia đình đóng góp theo quy định, các chế độ của thợ (ăn uống, lao động vụ mùa) do làng bản
Trang 33
27
đóng góp bằng thóc và công sức Mỗi năm thợ sản xuất từ 3-4 lò ngói, mỗi lò 6000
- 7000 viên trị giá mỗi viên là 2000đ hiện nay đủ lợp cho 3 - 4 hộ
Ngói máng có ưu điểm là độ bền cao được nhiều người ưu chuộng Vì vậy chỉ
từ năm 1970 đến 1975 ở Mường Khương, Si Ma Cai đã xuất hiện nhiều làng bản nông thôn lợp ngói máng rất bề thế và kỳ vĩ như các thôn: Lỗ Sứ Thàng, Văng Leng, Pạc Trà, Nấm Lư, Nấm Oọc, Cốc Cáng, Sà Chải, Nàn Vái, Na Pên,… làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi vùng cao Hiện nay nghề này vẫn còn được duy trì ở xã Bản Mế (Si Ma Cai)
1.2.2.2 Đặc điểm xã hội của người Nùng Dín tại Lào Cai
Theo điều tra gia phả, lịch sử các dòng họ người Nùng Dín tại Lào Cai, đồng bào đều tự nhận có nguồn gốc từ các huyện Mã Quan, Vân Sơn, Hà Khẩu tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Và hiện nay, các dòng họ người Nùng Dín tại Lào Cai vẫn còn nhiều họ hàng và có mối quan hệ thân thiết với nhau ở các huyện trên
Theo số liệu khảo sát, thống kê sơ bộ người Nùng Dín có tới 21 dòng họ, cụ thể là: họ Vàng (Vương), họ Hoàng, họ Lù (Lục), họ Lùng (Long), họ Ly (Lý), họ Nùng (Nông), họ Chẩn, họ Cáo (Cao), họ Thền (Điền), họ Nghề, họ Sần (Trần), họ
Củ (Cù), họ Lèng (Lương), họ Tráng (Trương), họ Vùi, họ Chảo, họ Lò, họ Giàng (Dương), họ Tải, họ PPhừi (Bùi), họ Sùng Trong số đó, các dòng họ: Vàng, Hoàng,
Lù, Ly, Nùng, Lùng, Thền, Tráng,… phổ biến hơn cả bởi có số lượng hộ gia đình
và nhân khẩu đông hơn; đời sống kinh tế phát triển và trình độ dân trí cao hơn Tuy
số lượng như vậy, song trong khá nhiều dòng họ còn phân ra những chi khác nhau
do sự khác nhau về nguồn gốc, tập quán, ví dụ nhu: họ Vàng có Vàng dọc (Vàng tăng), Vàng Khangw (Vàng ngang); hai chi ngày được phân biệt bởi “Vàng dọc” thì khi làm lễ tang để quan tài dọc lòng nhà, còn “Vàng ngang” thì để quan tài ngang lòng nhà Họ Lù (Lục) thì phan làm hai chi là Tả lù (tức Đại lục) và Sêu lù (tức Tiểu lục) Họ Lùng cũng gồm có hai chi là Lùng tsow ắt (Lùng mồng một) và Lùng tsow slamw (Lùng mồng ba)…
Mặc dù nhiều dòng họ khác nhau, song các dòng họ người Nùng Dín sinh sống xen kẽ với nhau không biệt lập, không phân biệt và đều có mối quan hệ khăng
Trang 34
28
khít gắn bó với nhau Đặc biệt là các thế hệ gia đình trong cùng dòng họ dù cư trú ở các địa bàn khác nhau luôn quan tâm thăm hỏi giúp đỡ lẫn nhau nhất là chia sẻ vui buồn với nhau trong các việc đại sự như cưới xin, tang lễ, làm nhà … Trong cuộc sống thường ngày, các dòng họ cư xử với nhau bình đẳng Nếu cùng thế hệ thì người cao tuổi hơn bao giờ cũng được xưng hô bằng “anh, chị”; còn khác thế hệ thì
dù nhỏ tuổi hơn cũng phải xưng hô ngang vai trên “cô, chú, ông bà trẻ,…”
Gia đình truyền thống người Nùng Dín thường sinh sống theo cấu trúc xã hội gồm ba thế hệ: ông bà – cha mẹ - con cái Trong đó, ông bà – cha mẹ thường sống chung với con trai trưởng hoặc con trai út Người Nùng Dín có chế độ phụ quyền, con cháu trong gia đình theo họ cha Người đàn ông thường là người quyết định các vấn đề trọng đại trong gia đình Con cháu trong gia đình phải hiếu thảo, kính trọng, chăm sóc ông bà, cha mẹ; ông bà, cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, dạy bảo, thương yêu con cháu Đây là những đạo lý làm người cơ bản, những chuẩn mực đạo đức quan trọng trong gia đình cũng như cộng đồng người Nùng Dín
Các gia đình người Nùng Dín tuy thuộc nhiều dòng họ, chi nhánh dòng họ khác nhau vẫn luôn thực hiện theo tín ngưỡng văn hóa, phong tục tập quán chung tộc người như: xem bói tử vi, chọn ngày giờ tốt để tổ chức cưới xin, tang lễ, làm nhà, các phong tục và nghi lễ trong cưới xin, trong đám tang, trong làm nhà mới,… Các gia đình đều tin và thờ cúng tổ tiên, thờ táo quân, thờ thổ địa, thờ thần bản mệnh, … trong các dịp lễ tết của gia đình và làng bản
Hàng năm, các gia đình Nùng Dín Lào Cai cũng có nhiều lễ tết như: Tết Nguyên Đán; tết rằm tháng giêng; tết tháng 2; tết thanh minh; tết đoan ngọ; tết mùng 1 tháng 7 (khu vực Mường Khương); tết mùng 1 tháng 6 (ở Si Ma Cai, Bắc Hà); tết lúa mới; tết rằm tháng 7; tết 23 tháng chạp; tết tất niên (30 tháng chạp) Tính theo chu kỳ thời gian 1 năm, lễ hội văn hóa cổ truyền của người Nùng Dín có các lễ hội sau đây: Hội cúng rừng (hủi củng chứ) tổ chức vào ngày 30 tháng giêng; Hội thổ địa (hủi thu tỷ) tổ chức vào ngày mùng 2 tết nguyên đán hoặc ngày mùng 2 tết tháng 2; Hội xuống đồng (hủi loong toòng) tổ chức vào ngày thìn tháng giêng; Hội mừng chiến thắng và ăn tết mùng 1 tháng 6, tháng 7; Hội cúng làng cấm
Trang 35
29
bản (hủi pắt ban) tổ chức vào ngày 27 hoặc 29 tháng chạp Trải qua bao thăng trầm biến đổi của xã hội, hiện nay các lễ hội cổ truyền của người Nùng Dín đã bị mai một, chỉ còn bảo tồn được một số lễ hội chính là Hội cúng rừng, hội mừng chiến thắng, hội xuống đồng, hội thổ địa
Tiểu kết chương 1:
Nghiên cứu về bản sắc văn hóa tộc người nói chung và các tộc người ở Việt Nam nói riêng, đề tài tri thức địa phương của các tộc người thiểu số đang ngày càng được các nhà dân tộc học và nhân học quan tâm Ở Việt Nam, những nghiên cứu về
“tri thức địa phương” cũng mới phổ biến những năm gần đây song cũng đã có rất nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn và ý nghĩa khoa học cao
Người Nùng Dín Lào Cai là một chi nhánh của người Nùng ở Việt Nam, sinh sống và làm việc trên các huyện Bắc Hà, Mường Khương, Si Ma Cai… Họ đã sống
và định cư ở đây từ lâu đời, trong quá trình sinh tồn và phát triển nhóm người, người Nùng Dín đã xây dựng được một nền văn hóa riêng biệt, đậm đà bản sắc phản ánh quá trình thích nghi với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại nơi cư trú Cùng với điều kiện phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nước, môi trường kinh tế và môi trường xã hội nơi mà tộc người đang sinh sống cũng đang có
sự biến đổi mạnh mẽ, từ đó kéo theo sự biến đổi văn hóa của nhóm người Cũng như nhiều tộc người khác chịu ảnh hưởng của xã hội hiện đại, nền văn hóa của người Nùng Dín với nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang có nguy cơ bị mai một
Vì vậy, việc giáo dục trẻ em để bảo tồn, lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống cho trẻ em là một yêu cầu cấp thiết cho sự tồn tại của “văn hóa tộc người”
Nhiều nhà dân tộc học, văn hóa học, nhân học đã có nghiều nghiên cứu sâu sắc với nhiều quan điểm riêng về tộc người và văn hóa tộc người ở Việt Nam nói chung và người Nùng Dín nói riêng Dù vậy, có thể thấy rằng những nghiên cứu này còn chưa đi sâu vào nghiên cứu vấn đề giáo dục trẻ em như là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về mặt khoa học cũng như ứng dụng thực tiễn Chính vì vậy, luận văn này sẽ bước đầu phân tích hệ thống tri thức địa phương về giáo dục trẻ em của người Nùng Dín cũng như những biến đổi của hệ thống đó trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội hiện nay của đất nước
Trang 36
30
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA
NGƯỜI NÙNG DÍN LÀO CAI 2.1 Quan niệm về trẻ em nói chung và ở người Nùng Dín nói riêng
2.1.1 Khái niệm về trẻ em
- Khái niệm trẻ em trong khuôn khổ pháp luật quốc tế và Việt Nam
Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người Về mặt sinh học, trẻ em là con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh và tuổi dậy thì Định nghĩa pháp lý về một "trẻ em" nói chung chỉ tới một đứa trẻ, còn được biết tới là một người chưa tới tuổi trưởng thành Trẻ em là những người chưa trưởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi đời
Khái niệm trẻ em được quốc tế sử dụng thống nhất và đã được đề cập trong Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924, Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1968, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự
và chính trị năm 1966, Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989, Công ước 138 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về tuổi tối thiểu làm việc năm 1976 Theo Công ước Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em (1989), trẻ em là những người dưới
18 tuổi
Trẻ em có vai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội, vì vậy Đảng và Nhà nước ta cũng luôn quan tâm đến trẻ em, đến việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ
em Việt Nam hiện đã tham gia tất cả các điều ước quốc tế cơ bản về quyền trẻ em,
về lao động trẻ em Nhà nước ta đã ban hành nhiều bộ luật, văn bản pháp luật có liên quan đến trẻ em Tuy nhiên, có thể thấy rằng khái niệm trẻ em trong các văn bản pháp luật này còn chưa thống nhất
Theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em của Việt Nam, trẻ em được định nghĩa “là những người dưới 16 tuổi” Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính với quy định không xử phạt trẻ em dưới 14 tuổi thì độ tuổi của một người để được
Trang 37
31
coi là trẻ em đã khác – 14 thay vì 16 Trong khi đó, Điều 6 Bộ luật Lao động quy định: Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động Thông tư liên tịch số 21/2004/BLĐTBXH- BYT ngày 9-12-
2004 hướng dẫn quy định danh mục chỗ làm việc, công việc không được sử dụng lao động dưới 18 tuổi trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm
Về mặt dân sự, ở khía cạnh cơ bản nhất, Bộ luật Dân sự 2005 quy định:
“Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” Người chưa thành niên khi xác lập giao dịch dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật Tuy nhiên, cũng tại Bộ luật Dân sự 2005 lại quy định: Trong trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật Đã là người thành niên (đủ 18 tuổi) nhưng theo Luật Hôn nhân và gia đình thì các nam thanh niên chưa đủ 20 tuổi vẫn bị cấm kết hôn; nếu có quan hệ vợ chồng với người khác rất có nguy cơ bị tội tảo hôn
Về mặt hình sự, Bộ luật Hình sự quy định, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa
đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Người có hành vi giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì phạm tội giao cấu với trẻ em Giao cấu với người từ đủ 16 tuổi trở lên mà thuận tình thì pháp luật không điều chỉnh Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi đều phạm tội hiếp dâm trẻ em
Điểm qua các quy định pháp luật liên quan đến trẻ em, chúng ta thấy rằng, không dễ để mọi người trong xã hội hiểu chính xác về độ tuổi trẻ em mà pháp luật quy định Tuy nhiên, trong luận văn này sử dụng khái niệm trẻ em để chỉ những người từ 15 tuổi trở xuống
- Quan niệm về trẻ em trong nghiên cứu khoa học xã hội
Trang 38trường phái này cho rằng mỗi người bắt đầu sống „„khi trong tay có các trang bị
cũng giống như đấu thủ chơi một ván bài khi trong tay có các quân bài ‟‟ Trong
khi đó, nhà tâm lí học người Mĩ E Toocđai lại khẳng định: „„Tự nhiên ban cho mỗi
người một vốn nhất định, giáo dục cần phải làm bộc lộ vốn đó là vốn gì và sử dụng
nó bằng phương tiện tốt nhất ”
J.J Rutxô (1712-1778) - nhà triết học thuộc trào lưu Khai sáng có ảnh hưởng lớn tới Cách mạng Pháp 1789, sự phát triển của lý thuyết xã hội và sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc, ngay từ thế kỷ XVIII đã nhận xét rất tinh tế về những đặc điểm tâm lý của trẻ Theo ông, trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại và người lớn không phải lúc nào cũng có thể hiểu được trí tuệ, nguyện vọng, tình cảm độc đáo của trẻ em Bởi vì trẻ em có cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó
Sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn là sự khác nhau về chất
Những nghiên cứu của tâm lý học duy vật biện chứng đã khẳng định: Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại Trẻ em là trẻ em, nó vận động, phát triển theo quy luật của trẻ em Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, đứa trẻ đã là một con người, một thành viên của xã hội Việc nuôi nấng, dạy dỗ nó phải khác với con vật
Để nó tiếp thu được nền văn hóa xã hội loài người, đòi hỏi phải nuôi, dạy nó theo kiểu người (trẻ phải được bú sữa mẹ, được ăn chín, ủ ấm, nhất là cần được âu yếm, thương yêu…) Ngay từ khi ra đời, đứa trẻ đã có nhu cầu đặc trưng của con người – nhu cầu giao tiếp với người lớn Người lớn cần có những hình thức riêng, “ngôn ngữ” riêng để giao tiếp với trẻ
Điều kiện sống và hoạt động của các thế hệ người ở các thời kì lịch sử khác nhau là rất khác nhau Do vậy mỗi thời đại khác nhau lại có trẻ em của riêng mình
Trang 39Cũng như những tộc người khác, đồng bào Nùng Dín cũng coi trẻ em là thành viên quan trọng để cấu thành một gia đình Quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng chính là hai trong ba mối quan hệ cơ bản tạo nên gia đình và nhất là đối với các cặp vợ chồng mới cưới, một đứa trẻ ra đời không chỉ là niềm hành phúc lớn lao,
là sợi dây kết nối tình cảm duy trì hạnh phúc vợ chồng và các mối quan hệ trong gia đình chặt chẽ hơn đồng thời cũng đánh dấu sự trưởng thành của đôi vợ chồng trẻ trong vai trò là cha là mẹ Lập gia đình và sinh con đẻ cái là điều mà người Nùng Dín cho rằng là lẽ đương nhiên:
Tiếng Nùng Dín Tạm dịch là:
Máy lê chào khân rang Tre là phải mọc măng
Con chào mi lục lang Người rằng phải sinh con
Đồng bào quan niệm rằng người ta có con là do “mẹ Boóc” phân chia từ cây hoa vàng (con trai), hoa bạc (con gái) nên còn gọi là mẹ vàng - mẹ bạc Vì vậy, người Nùng Dín có tục thờ mẹ Boóc hay còn gọi là “Mề - pangw” (Hoa vương thánh mẫu), họ thờ trong một bàn thờ nhỏ tại buồng các bà mẹ từ lúc có con đầu lòng đến khi con cái trưởng thành đi xây dựng gia đình Đây là vị thần cai quản việc sinh nở và chăm sóc bảo vệ trẻ em Từ khi có mang được 3 tháng đồng bào đã làm
lễ báo mẹ Boóc, cầu mẹ phù hộ Khi đứa trẻ sinh được 3 ngày phải cúng mẹ Boóc
để tạ ơn và cầu phù hộ đứa trẻ luôn khỏe mạnh, chăm ngoan Bà Mụ được thờ cúng thường xuyên trong các dịp lễ tết cùng với gia tiên, song không mổ gà cúng riêng
mà chỉ chia phần các thức ăn cùng thờ cúng Nhưng các lễ vật chủ yếu là còng gà,
bộ cánh và các loại bánh trái
Người Nùng thường cho rằng có con là có phúc, có nhiều con là có nhiều phúc, việc xây dựng gia đình chính là để sinh con đẻ cái nối dõi tông đường, trong
Trang 40
34
các bài cúng gia tiên cũng như các bài mo trong tang lễ cổ truyền của người Nùng Dín thường nhắc đi nhắc lại điệp khúc tại đầu hoặc cuối rằng:
Giêng lục nối chang đangw Sinh con cái lo thân
Giêng lục lang changw ỷ Sinh con cháu sửa thể
Giêng lục nhinh thưw giai Sinh con gái giữ dòng
Giêng lục trai thưw đẩn Sinh con trai giữ giống
Nuôi con trẻ để mai sau này khi mình già rồi có con cháu nuôi dưỡng, chăm sóc; khi qua đời có người lo tang ma, thờ cúng; huyết mạch và dòng họ gia đình được tiếp tục kéo dài – đó là quan niệm chung của đồng bào Nùng Dín ở đây Có con là để “giữ dòng, giữ giống” Bởi người Nùng Dín ở đây cũng có tính phụ hệ cao, con cái đều theo họ bố vì vậy con trai thường được coi trọng hơn con gái, những gia đình nào có nhiều con trai không những có thể “giữ giống” mà còn có thể
“khai chi tán diệp” cho gia đình và dòng họ
Mặt khác, đồng bào Nùng Dín có tập quán sản xuất nông nghiệp từ bao đời nay, trong đó quan trọng nhất là trồng lúa tại ruộng và trồng ngô trên nương rẫy, lối canh tác lạc hậu đòi hỏi phải có nhiều nhân lực lao động, vì vậy việc sinh con đẻ cái nhất là sinh nhiều con trai còn để tăng thêm nguồn lực lao động trong gia đình Ngoài ra, trong cộng đồng tộc người, gia đình có thêm nhiều thành viên còn
có thể làm tăng sức mạnh của gia đình, tăng vị thế của gia đình đó trong dòng họ và cộng đồng tộc người, nhất là những gia đình sinh nhiều con trai
Từ đó, có thể thấy rằng trẻ em có vai trò hết sức quan trọng trong mỗi gia đình người Nùng Dín tại đây, nhất là trẻ em trai – điều này biểu hiện tính phụ hệ khá cao trong cộng đồng tộc người Có lẽ chính vì vậy, mỗi khi có cặp vợ chồng mới cưới sau một năm thường được ông bà, cha mẹ, anh em họ hàng và làng xóm quan tâm hỏi thăm xem “đã có gì chưa?” Nếu chưa có thì phải xem bói toán giải hạn hay tìm thuốc nam uống hoặc thử các mẹo vặt dân gian để có con cháu