1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị

67 764 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 6,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị

Trang 2

“Sự vĩ đại của một quốc gia và sự tiến bộ về đạo đức của nó có thể được đánh giá thông qua cách thức họ đối xử với động vật.”

Mahatma Gandhi

Trang 3

MỤC LỤC:

I MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Tính cấp thiết của đề tài 2

3 Nguyên nhân chọn đề tài 3

4 Mục tiêu nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Đối tượng, giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Tài liệu nghiên cứu 5

8.1 Các số liệu cần thu thập cho việc nghiên cứu 5

8.2 Nguồn và cách thu thập số liệu 5

9 Kế hoạch nghiên cứu 5

II THUYẾT MINH 6

1 Cơ sở nghiên cứu 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

1.2 Cơ sở thực tiễn 6

a Thu thập số liệu 6

b Xử lý tổng hợp và phân tích dự báo 8

2 Những nhân tố tác động đến đời sống của động vật trog đô thị 12

2.1 Ánh sáng nhân tạo 12

a Mất tính đồng bộ trong thói quen hoạt động giữa các loài 13

b Thay đổi chu trình sinh lý bên trong cơ thể sinh vật 13

c Ảnh hưởng đến quá trình sinh sản 15

d Xác định sai thời điểm trong năm 16

e Mất khả năng định hướng 16

2.2 Tiếng ồn 17

a Các nguồn gây tiếng ồn trong đồ thị 17

b Tác động của tiếng ồn đến đời sống động vật trong đô thị 20

2.3 Sự săn bắt của con người 21

2.4 Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, không gian đô thị 22

2.5 Kết luận 22

3 Một số loài tiêu biểu được nghiên cứu 23

3.1 Bồ câu 23

a Đặc điểm sinh học 23

Trang 4

b Ý nghĩa của loài 24

c Môi trường sống hiện tại 25

d Xây dựng môi trường sống cho bồ câu trong đô thị 26

e Phương án quản lý, chăm sóc 29

3.2 Chim sẻ nhà 30

a Đặc điểm sinh học 30

b Ý nghĩa của loài 31

c Môi trường sống hiện tại 31

d Xây dựng môi trường sống 32

3.3 Sóc 32

a Đặc điểm sinh học 32

b Ý nghĩa của loài 34

c Môi trường sống hiện tại 34

d Xây dựng môi trường sống cho loài sóc trong đô thị 35

e Phương án quản lý, chăm sóc 36

3.4 Cá chép Nhật (Koi) 36

a Đặc điểm sinh học 36

b Ý nghĩa của loài 38

c Môi trường sống hiện tại 39

d Xây dựng môi trường sống 39

e Phương án quản lý, chăm sóc 41

4 Ban quản lý động vật hoang dã đô thị 42

III KẾT LUẬN 43

1 Kết luận 43

2 Hướng phát triển của đề tài 44

Lời cảm ơn 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC 47

Trang 5

DANH MỤC BẢNG:

Bảng 1: Kế hoạch nghiên cứu 5

Bảng 2: Kế hoạch khảo sát 7

Bảng 3: Nhóm đối tượng khảo sát 8

Bảng 4: Mức ồn của một số máy móc trong xây dựng 18

Bảng 5: Mức ồn của một số hoạt động sản xuất trong công nghiệp 19

Bảng 6: Tổng hợp mức ồn trung bình tại các khu vực sản xuất của Tp.HCM 19

DANH MỤC BIỂU ĐỒ: Biểu đồ 1: Thành phần nhóm đối tượng khảo sát 9

Biểu đồ 2: Thói quen đến công viên của các nhóm đối tượng 10

Biểu đồ 3: “Anh (chị) có thích nơi mình sống gần với công viên không ?” 10

Biểu đồ 4: Mức độ yêu thích của người dân đối với một số loài động vật 11

Biểu đồ 5: Nhiệt độ cơ thể giảm xuống vào ban đêm khi không có thức ăn 14

Biểu đồ 6: Giảm nhận thức về thay đổi ánh sáng làm giảm số lượng thay đổi và làm chậm sự thay đổi nhiệt độ cơ thể 15

Biểu đồ 7: Diễn biến mức ồn khu vực gần giao thông và khu dân cư ở một số đô thị phía Nam qua các năm 18

DANH MỤC HÌNH ẢNH: Hình 1: Quá trình khảo sát 7

Hình 2: Ánh sáng nhân tạo từ các đèn chiếu sáng trong đô thị 12

Hình 3: Vào đầu mùa xuân, một con chim có thể đẻ nhiều trứng trong một tổ (hình bên trái); và số lượng trứng ít hơn vào cuối mùa hè (hình bên phải) 15

Hình 4: Côn trùng bị mất định hướng do nhầm ánh đèn là mặt trăng 17

Hình 5: Nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn từ các hoạt động kinh doanh 19

Hình 6: Chim én bị bắt để bán cho những người phóng sinh 21

Hình 7: Bẫy chim cu gáy 22

Hình 8: Chim bồ câu 24

Hình 9: Chim bồ câu được lấy làm biểu tượng của nhiều ý nghĩa khác nhau 25

Hình 10: Bồ câu được nuôi tự do ở công viên Hoàng Văn Thụ, Q.Tân Bình 26

Hình 11: Khách du lịch và người dân cho bồ câu ăn 26

Hình 12: Các công viên tại trung tâm thành phố - nơi thích hợp bố trí tập trung các nhà chim 27

Hình 13: Một số mẫu chuồng bồ câu trong công viên 28

Hình 14: Chim sẻ nhà 30

Hình 15: Chim sẻ uống nước và tắm ở những chỗ có nước đọng 31

Hình 16: Hộp gỗ để chim sẻ đến làm tổ 32

Hình 17: Sóc trong công viên 33

Hình 18: Sóc tại công viên Tao Đàn 34

Hình 19: Cá chép Nhật 37

Hình 20: Sơ đồ một hồ nuôi cơ bản 40

Hình 21: Hồ nuôi cá và kết hợp với thiết kế cảnh quan xung quanh hồ 40

Trang 6

I MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Tại sao chúng ta phải bảo vệ sự đa dạng giống loài của thiên nhiên ?

Nhìn thoáng qua thì có vẻ câu trả lời khá đơn giản Chúng ta bảo vệ thiên

nhiên để bảo vệ chính chúng ta Có lẽ điều đó không sai Nhưng sự việc không

đơn giản như thế Hiện nay, hổ Siberia, hưu đùi vằn, gấu trúc, đười ươi, và một

số loài cá voi là đại diện tiêu biểu cho hàng ngàn loài động vật khác trước nguy

cơ tuyệt chủng của các loài sinh vật trong hệ sinh thái Chính phủ các quốc gia

và các tổ chức liên quan đã rất nỗ lực trong việc bảo vệ các loài này trước nguy

cơ tuyệt chủng Song, việc tồn tại hay không tồn tại loài hổ Siberia có ảnh hưởng

đến môi trường sống của con người ? Hậu quả về lâu dài thì chưa rõ, nhưng

hầu như sự tiêu vong của một số loài không nhất thiết dẫn đến những hậu quả to

lớn Hoàn toàn có thể chỉ cần một số loài cây thôi cũng đủ để duy trì chu trình

carbon1 trong các cánh rừng nhiệt đới Sự đầu độc nguồn nước và phá hủy tầng

ozone bảo vệ Trái Đất mới làm tổn hại lớn đến vòng tuần hoàn sinh học của

thiên nhiên, chứ sự diệt vong của hổ, hưu đùi vằn, gấu trúc, đười ươi, cá voi

không hề gây ra điều đó

Giả thiết rằng thế giới là một chiếc máy bay thì các động, thực vật đóng vai

trò gì ? Một quan điểm cho rằng, mỗi loài là một đinh tán đặc chủng, góp phần

gắn các phần của máy bay với nhau Mỗi loài mất đi sẽ làm yếu công năng bay,

cho đến khi nào đó ruốt cuộc máy bay sẽ rơi Quan điểm thứ hai thì khác hẳn

Đối với họ, nhiều loài chỉ như những hành khách thừa trong một chiếc máy bay,

và nó hoàn toàn có thể tiếp tục bay với vài người ít ỏi trong phi hành đoàn Hay

một giả thiết khác không đặt nặng về vấn đề công năng lắm, đó là ví toàn bộ hệ

sinh thái giống như một quyển sách lớn, mỗi một loài tuyệt chủng cũng tương tự

như xé mất một trang sách chưa đọc, đó hẳn là một mất mát lớn trong một thời

đại khao khát sự hiểu biết như ngày nay

Chúng ta nhất định muốn bảo vệ các loài động thực vật khỏi bị tuyệt chủng,

mặc dù chúng không cần thiết đối với hệ sinh thái mà chúng ta sống trong đó

Vậy, tại sao chúng ta phải bảo vệ sự đa dạng giống loài của thiên nhiên ?

Ngày nay, những lợi ích từ các loài động vật về mặt cân bằng sinh thái,

đóng góp về y học, lợi ích nông nghiệp, nguồn cung thực phẩm, giá trị thẩm mỹ,

cảm hứng nghệ thuật, ý tưởng cho những phát kiến khoa học,… đã được thừa

nhận Tuy nhiên, không nhất thiết dựa trên những lợi ích đó để làm cơ sở cho

1 Chu trình cacbon là một chu trình sinh địa hóa học, trong đó cacbon được trao đổi giữa sinh

quyển, thổ nhưỡng quyển, địa quyển và khí quyển của Trái Đất Nó là một trong các chu trình quan trọng

nhất của Trái Đất và cho phép cacbon được tái chế và tái sử dụng trong khắp sinh quyển và bởi tất cả

các sinh vật của nó (Wikipedia)

Trang 7

giá trị của một loài, và kèm theo đó là những lý do cần phải bảo vệ loài đó Vì

không phải ở bất kỳ một loài động vật nào người ta cũng tìm thấy một lợi ích nào

đó đối với loài khác, và nếu chỉ xét giá trị của một loài theo công năng của nó đối

với vòng tuần hoàn sinh học thì sẽ dẫn đến những kết luận khủng khiếp: bởi một

số vi khuẩn giữ vai trò đối với hệ sinh thái quan trọng hơn hẳn con người Việc

động vật được đối xử thế nào có ý nghĩa lớn tới cả động vật và cả con người

Không chỉ là quan hệ “cộng sinh” giữa con người thiên nhiên, đây là một phần

của hiểu biết rộng lớn hơn về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các sinh vật

Chính vì thế, Liên hiệp quốc đang trong quá trình tiến tới thông qua

một Tuyên ngôn chung về quyền lợi động vật nhằm khuyến khích các chính phủ

và cơ quan liên chính phủ trên toàn thế giới hành động để mang lại lợi ích cho

động vật, con người và cũng như môi trường Những lợi ích đó rất quan trọng

cho các thành viên của Liên hiệp quốc và mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hiệp

quốc Đó là một thỏa thuận giữa con người với nhau và giữa các quốc gia để

thừa nhận rằng động vật có tri giác (sentient) và có thể phải chịu đựng, nhằm tôn

trọng các nhu cầu quyền lợi (welfare needs) của chúng và chấm dứt vĩnh viễn

việc đối xử tàn nhẫn với động vật Chúng ta cần phải đặt câu hỏi về những hành

động của chúng ta có ảnh hưởng thế nào tới động vật và làm thế nào chúng ta

có thể giảm thiểu sự đau đớn cho động vật Vì lý do đó, Tổ chức Thú y thế giới

(OIE) đã yêu cầu rằng “Việc sử dụng động vật phải được gắn liền với trách

nhiệm đạo đức để đảm bảo quyền lợi của động vật đó đạt tới mức cao nhất có

thể được” (Bộ luật quốc tế về thú y, 2006)

Công năng của động vật trong hệ sinh thái, giá trị, quyền lợi của chúng và

mối quan hệ của chúng với con người, những thỏa thuận luân lý giữa con người

với nhau về nhận thức về động vật, đó là những vấn đề đầu tiên mà chúng tôi đề

cập đến khi nghiên cứu đề tài này Đó cũng là cơ sở để trả lời cho câu hỏi, việc

bảo vệ động vật đem lại tác dụng gì cho con người, và làm cách nào để những

nỗ lực của chúng ta trong việc bảo vệ động vật trở nên hiệu quả, cũng như tạo

một môi trường sống cho chúng trong không gian đô thị có mang đến lợi ích gì

hay không ?

2 Tính cấp thiết của đề tài

Năm 1973, hội nghị CITES2 lần đầu tiên được diễn ra tại Washington Tuy

nhiên, từ năm 1973 đến nay, con người đã thản nhiên hủy diệt mất một nửa số

lượng động thực vật còn sinh sống tại thời điểm đó, một sự tuyệt chủng hàng

loạt ở quy mô khủng khiếp Trong những thập kỷ gần đây, con người đã làm tổn

hại Trái Đất nhiều hơn từ ngày đầu xuất hiện loài người đến Thế chiến II Mỗi

năm có 5% diện tích đất đai trên Trái Đất bị lửa thiêu trụi Hiện nay, chỉ 6% diện

tích còn được rừng nhiệt đới bao phủ, là nơi tập trung nhiều giống loài động thực

2 CITES: Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora – Công

ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã có nguy cơ tuyện chủng

Trang 8

vật nhất quả đất Trong vòng chưa đầy 30 năm, rừng bị co hẹp lại quá nửa Với

tốc độ đốn gỗ không đổi như hiện nay, đến năm 2045 cây nhiệt đới cuối cùng sẽ

bị chặt

Tốc độ tuyệt chủng hiện nay cao hơn khoảng 1 triệu lần so với tốc dộ hình

thành các loài Mỗi một loài tuyệt chủng là mất đi vĩnh viễn vật liệu di truyền

phức tạp của một đến 10 tỷ cặp cơ sở3 Theo thống kê của các tổ chức quốc tế

nghiên cứu về môi trường, những loài sinh vật hiện có trên Trái Đất chỉ còn

chiếm 2% so với khi sự sống xuất hiện, tức là 98% các loài sinh vật đã bị tuyệt

chủng qua các thời kỳ

Hơn 16.000 loài động, thực vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng trên

toàn cầu Và với tốc độ phá hủy nơi cư trú như hiện nay thì trong vòng 10 năm

tới, mỗi năm sẽ có khoảng 25.000 loài động, thực vật bị tuyệt chủng Con số này

thực tế còn có thể cao hơn nhiều vì khoa học vẫn chưa thể thống kê đầy đủ tất

cả các loài sinh vật sinh sống trên Trái Đất Trái Đất đang bước vào cuộc tuyệt

chủng hàng loạt lần thứ sáu4 Sự biến mất của các loài động, thực vật sẽ dẫn tới

sự sụp đổ dây chuyền của các loài khác sống phụ thuộc vào chúng, trong đó có

loài người

Công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự

tham gia rộng rãi của các tầng lớp trong xã hội, khởi đầu từ nhận thức đến hành

động Hiện Việt Nam là một trong số 10 quốc gia giàu đa dạng sinh học nhất trên

thế giới, với sự hiện diện của 10% số loài được biết đến trên thế giới, trong khi

diện tích lãnh thổ chỉ chiếm chưa đến 1% diện tích trái đất Do sự phát triển kinh

tế nhanh, Việt Nam đang gặp phải sự suy giảm đáng kể về diện tích các khu cư

trú tự nhiên, dẫn tới sự giảm số lượng, thậm chí tuyệt chủng một số loài

3 Nguyên nhân chọn đề tài

Từ những vấn đề cấp thiết đó, cùng với những biến đổi to lớn về khí hậu

và hệ sinh thái, ngày nay, trong quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, chúng

ta đã quan tâm hơn tới việc xây dựng một môi trường sống bền vững Với xu

hướng thiết kế “thân thiện thiên nhiên”, môi trường sống tự nhiên đã được chú

trọng hơn trong quan điểm thiết kế các đô thị mới và cải tạo các đô thị hiện hữu

Tuy nhiên, xu hướng này mới chỉ dừng lại trong việc quan tâm, nghiên cứu đối

3 Base pair: là cặp đôi liên kết giữa một nucleotide và một nucleotide khác đối diện, trong các ADN

hay RNA (Wikipedia)

4 Lịch sử địa chất Trái Đất từng ghi nhận 5 đợt tuyệt chủng hàng loạt (TCHL): Cuối kỷ Ordovic, Kỷ

Devon muộn, Cuối kỷ Permi, Cuối kỷ Triat, Cuối kỷ Creta Trong đó phải kể đến đợt tuyệt chủng lớn nhất

kết thúc vào kỷ Permi, cách đây 250 triệu năm Nó đã tuyệt diệt 90% các loài sinh vật biển và 75% các

loài động, thực vật trên cạn, để lại một châu Âu gần như không còn sự sống Các đợt tuyệt chủng hàng

loạt khác xảy ra vào các kỷ Cambri, Triat, Creta, Tertiary của thời tiền sử đã “xóa sổ” nhiều loài động

vật mà ngày nay chúng chỉ được biết đến qua tên và những hóa thạch như khủng long siêu bộ, khủng

long có cánh, voi ma mút, thằn lằn rùa cổ rắn, thằn lằn cá (Wikipedia)

Trang 9

với cây xanh (thực vật), và hầu như chưa đề cập đến môi trường sống và sự có

mặt của động vật trong đô thị Chính vì thế, khái niệm “thiên nhiên” một phần vẫn

chưa hoàn chỉnh

Trước bối cảnh đó, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài này, nhằm góp

phần xây dựng một đô thị với môi trường sống hòa hợp, bền vững giữa con

người và thiên nhiên

4 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích, đánh giá được những tác động hai chiều giữa các nhân tố tồn

tại trong đô thị và đời sống của các loài động vật Dựa trên phân tích đó làm cơ

sở xác địch những tiêu chuẩn cơ bản trong việc xây dựng một môi trường sống

cho một số loại động vật trong đô thị Từ đó, các hoạt động sinh sống của con

người trong đô thị ngày càng được dung hòa với tự nhiên, góp phần tạo nên một

sự phát triển bền vững đích thực

- Sự hiện diện của động vật trong không gian đô thị làm phong phú thêm

đời sống tinh thần của người dân sống trong đô thị, đưa con người gần gũi hơn

với tự nhiên

- Bên cạnh đó, nó cũng giúp giáo dục cho các thế hệ người dân ý thức hơn

về công cuộc bảo vệ môi trường sống của tự nhiên, qua đó là bảo vệ chính sự

phát triển bền vững của con người

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích được vai trò của môi trường thiên nhiên đối với đời sống của đô

thị

- Đánh giá, dự đoán được tâm lý, ứng xử của người dân với sự xuất hiện

các loài động vật trong không gian đô thị

- Lập được phương án tạo ra môi trường sống thích hợp cho các loài động

vật trong phạm vi nghiên cứu

- Đề ra được các giải pháp quản lý, chăm sóc, duy trì môi trường sống cho

chúng

6 Đối tượng, giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Một số loài động vật điển hình trong đô thị: bồ câu, chim sẻ,

sóc, cá

- Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Môi trường sống của các loài động vật tại

khu vực Trung tâm Tp.HCM (quận 1, quận 3)

Trang 10

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Dùng với mục đích lý luận, tìm hiểu mối

quan hệ giữa động vật với môi trường tự nhiên, giữa động vật với sinh hoạt của

đô thị, và với đời sống của người dân trong đô thị

- Phương pháp sử dụng bảng hỏi, mẫu điều tra: Được sử dụng để tìm hiểu

ý kiến của người dân về tác động tích cực - tiêu cực của sự xuất hiện các loài

động vật trong đô thị

- Phương pháp phỏng vấn: Được sử dụng để tìm hiểu hiện trạng khu vực

thiết kế và sự quan tâm của người dân về môi trường sống hiện tại

- Phương pháp quan sát, theo dõi: Dùng để tìm hiểu thói quen sống của một

số loài động vật điển hình trong môi trường đô thị nghiên cứu

- Nhóm Phương pháp thống kê, phân loại, phân tích, so sánh: Sẽ giúp nhóm

có thêm cứ liệu thực tế, để có đánh giá và rút ra kết luận cần thiết và chọn được

phương án thiết kế tối ưu nhất

8 Tài liệu nghiên cứu

8.1 Các số liệu cần thu thập cho việc nghiên cứu

- Số liệu thứ cấp: Sách báo, và tạp chí, internet

- Số liệu sơ cấp: Các số liệu được thu thập từ việc khảo sát, đánh giá hiện

trạng, phỏng vấn ý kiến người dân, theo dõi thói quen sống của một số loài động

vật điển hình tại khu vực Trung tâm Tp.HCM (quận 1, quận 3)

8.2 Nguồn và cách thu thập số liệu

- Nguồn: Khảo sát thực tế

- Cách thức thu thập dữ liệu: Lập báo cáo kết quả quan sát, theo dõi thói

quen sống của một số loài động vật; khảo sát ý kiến của người dân tại khu vực

trung tâm Tp.HCM

9 Kế hoạch nghiên cứu

Kế hoạch nghiên cứu được thực hiện như sau:

2 28/12/2012 - 10/01/2013 Soạn thảo đề cương tóm tắt

3 11/01/2013 – 26/02/2013 Soạn thảo đề cương chi tiết

4 27/02/2013 – 11/03/2013 Khảo sát thực tế

5 12/03/2013 – 19/03/2013 Thống kê số liệu khảo sát

6 20/03/2013 – 20/04/2013 Nghiên cứu ý tưởng, giải pháp của đề tài

7 21/04/2013 – 29/04/2013 Hoàn thiện báo cáo, thuyết minh

Bảng 1: Kế hoạch nghiên cứu

Trang 11

II THUYẾT MINH

1 Cơ sở nghiên cứu

1.1 Cơ sở lý luận

Xây dựng và phát triển đô thị là một trong những mục tiêu quan trọng của

công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Trong đó, phát triển kinh tế

đô thị là nhân tố có tính chất quyết định đến sự phát triển của đô thị Kèm theo

đó, đô thị hóa và các hoạt động công nghiệp là một tất yếu của sự phát triển kinh

tế xã hội Tuy nhiên quá trình đó cũng luôn mang lại những hậu quả xấu đến môi

trường sinh thái

Tăng trưởng kinh tế và môi trường đô thị có mối quan hệ biện chứng, ảnh

hưởng và tác động qua lại với nhau Một mặt, tăng trưởng kinh tế làm thay đổi

diện mạo đô thị, tạo nên những không gian mới, kết cấu hạ tầng mới, môi trường

mới cho con người, mặt khác, chúng làm ảnh hưởng không nhỏ vào việc gây ô

nhiễm, suy thoái môi trường sinh thái, đồng thời góp phần vào việc tách biệt con

người sống trong đô thị với môi trường sinh thái tự nhiên Ngược lại, một môi

trường tốt tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển của xã hội, cũng như

những biến động xấu của môi trường dẫn đến những hệ lụy to lớn cho con

người

Vì vậy, việc bảo vệ và giữ gìn chất lượng môi trường sống của con người

là yêu cầu cấp thiết của chiến lược phát triển đô thị Song song đó là những nỗ

lực nhằm tạo ra cơ hội để những sinh hoạt của con người trở nên gần gũi hơn

với môi trường sinh thái Từ đó tạo nên một môi trường sống với chất lượng

được nâng cao hơn, đồng thời góp phần đáng kể trong việc cải thiện nhận thức

của con người đối với vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học nói chung và bảo vệ động

vật nói riêng

1.2 Cơ sở thực tiễn

Để chứng minh tính thực tiễn của đề tài, nhóm nghiên cứu đã tiến hành

một cuộc khảo sát thực tế Chúng tôi lựa chọn phương pháp thống kê và phỏng

Để thu thập được số liệu thực tế, nhóm đã sử dụng phương pháp thống

kê: Điều tra chọn mẫu Cụ thể, nhóm thực hiện khảo sát lấy ý kiến của 300

người dân sống trong thành phố (qua bảng câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp), bao

gồm đủ các ngành nghề và lứa tuổi Chi tiết kế hoạch khảo sát như sau:

Trang 12

với người dân

Khu vực trung tâm thành phố: các công viên, đường phố có nhiều cây xanh tại quận 1, quận 3

16 – 22

22 – 60 Trên 60

- Học sinh, sinh viên

- Công nhân, viên chức

- Nghỉ hưu

2 Khảo sát thông

qua internet

Các trang mạng xã hội đang phát triển mạnh tại Việt Nam hiện nay

(Facebook, Google+, Twitter,…)

14 – 22

22 – 40

- Học sinh, sinh viên

- Công nhân, viên chức

Bảng 2: Kế hoạch khảo sát

Thực hiện phương pháp điều tra chọn mẫu, nhóm tận dụng được một số

ưu điểm của nó như:

 Tiến hành điều tra nhanh gọn, bảo đảm tính kịp thời của số liệu thống kê

 Tiếp kiệm nhân lực và kinh phí trong quá trình điều tra

 Cho phép thu thập được nhiều chỉ tiêu thống kê, đặc biệt là những chỉ tiêu

phức tạp, và việc tiếp xúc trực tiếp với người dân giúp nhóm thu thập

được thêm nhiều thông tin hữu ích

Tuy nhiên, phương pháp điều tra chọn mẫu cũng có hạn chế luôn tồn tại

đó là “Sai số chọn mẫu” – Sai số do tính đại diện Sai số chọn mẫu phụ thuộc

vào độ đồng đều của chỉ tiêu nghiên cứu, vào cỡ mẫu và phương pháp tổ chức

chọn mẫu Nhóm đã cố gắng khắc phục hạn chế này bằng cách mở rộng phạm

vi điều tra về số lượng và phạm vi, lựa chọn các nhóm đại diện hợp lý và có sức

ảnh hưởng lớn, đồng thời tập trung vào đối tượng có nhạy cảm với vấn đề nhất

(người dân sống trong khu trung tâm)

Hình 1: Quá trình khảo sát

Trang 13

b Xử lý tổng hợp và phân tích dự báo

Dựa trên số liệu thu thập được, nhóm lập bảng thống kê kết quả tổng hợp

như sau:

(Xem Phụ lục 2, trang 50)

Bên cạnh đó, để phân tích tâm lý, thái độ ứng xử của từng thành phần

trong đô thị: công nhân, học sinh, sinh viên, nhân viên văn phòng, nội trợ, người

nghỉ hưu,… nhóm đã thống kê phân loại theo từng nhóm đối tượng

(Xem Phụ lục 3, trang 51)

Trong hệ thống những câu hỏi, Câu 1 (khảo sát về nghề nghiệp) được sử

dụng để phân nhóm đối tượng điều tra Nhóm nghiên cứu lựa chọn tiêu chí nghề

nghiệp để phân tích bởi nét tương đồng trong môi trường làm việc thường dẫn

đến những ứng xử giống nhau và ảnh hưởng lẫn nhau Không những thế, với

tiêu chí nghề nghiệp, ta có thể xác định khá chính xác độ tuổi, trình độ học thức,

xu hướng và thói quen sinh hoạt của người được khảo sát,… những điều này rất

có ý nghĩa đối với việc phân tích, đánh giá Dựa theo nghề nghiệp của đối tượng

được khảo sát, chúng tôi chia thành 4 nhóm như sau:

Bảng 3: Nhóm đối tượng khảo sát

Trang 14

Biểu đồ 1: Thành phần nhóm đối tượng khảo sát

Dựa vào câu trả lời theo từng thành phần nghề nghiệp các đối

tượng được khảo sát, về cơ bản, chúng tôi phân tích được những đặc

điểm riêng của từng nhóm đối tượng như sau:

 Thông qua thói quen đến công viên, ta có thể kết luận: Hầu hết

các thành phần người dân trong đô thị đều quan tâm và mong

muốn một môi trường sống thân thiện với thiên nhiên Đặc biệt

là những người cao tuổi (Xem biểu đồ 2, 3)

 Hầu hết số người được khảo sát có nhận định tích cực về

những hiệu quả mà đề tài mang lại:

o Tạo môi trường sống thân thiện với thiên nhiên hơn (50% ý kiến được khảo sát)

o Nâng cao ý thức bảo vệ thiên nhiên cho mọi người (33% ý kiến được khảo sát)

o Tăng vẻ mỹ quan cho thành phố (16% ý kiến được khảo sát)

Trang 15

Biểu đồ 2: Thói quen đến công viên của các nhóm đối tượng

Biểu đồ 3: “Anh (chị) có thích nơi mình sống gần với công viên không ?”

 Một số người dân vẫn còn thói quen ăn thịt các con vật trong

thành phố như bồ câu, chim sẻ, sóc, dẫn đến nguy cơ các con

Trang 16

vật này có thể bị săn bắt Tuy nhiên, với các biện pháp quản lý tốt, chúng ta có thể ngăn chặn được vấn nạn này

 Bên cạnh đó, khi đánh giá về mức độ “gần gũi” với các con vật, với câu hỏi “Anh (chị) đã từng cho các con vật như bồ câu, chim

sẻ, sóc, ăn bào giờ chưa ?”, phần nhiều kết quả nhận được là

“Chưa bao giờ” Tuy nhiên, người dận cũng giải thích thêm là vì

“chưa có cơ hội” Nhìn chung, căn cứ vào mức độ “thân thiện”

với các loài động vật trong thành phố, kết quả khảo sát cho thấy

đa số người dân có ý thức tốt trong việc gìn giữ môi trường sống của các loài động vật nếu đề tài được triển khai thực tế

(Xem kết quả khảo sát câu hỏi 3 và 4, Phụ lục 2, trang 50)

 Nếu việc ưu tiên phát triển từng giai đoạn các loài động vật trong phạm vi nghiên cứu được xét đến, thì bồ câu được lựa chọn phát triển trước tiên

Biểu đồ 4: Mức độ yêu thích của người dân đối với một số loài động vật

 Tuy nhiên, đối tượng được khảo sát là những người sống định

cư trong thành phố, họ có ý thức rõ ràng trong việc bảo vệ môi trường sống xung quanh mình Nhóm nghiên cứu chưa thể đánh giá được tâm lý, ứng xử của những người tạm trú, vãng lai

Ngoài những kết luận rút ra được từ số liệu thống kê như trên, trong quá

trình trao đổi, trò chuyện, chúng tôi còn ghi nhận được một số vấn đề sau:

Trang 17

 Đa số người dân mong muốn được nghe tiếng chim hót nhiều hơn

 Những người trung niên, lớn tuổi tỏ thái độ rất nhiệt tình, và đánh giá cao mục tiêu mà đề tài hướng đến

 Nhiều người được phỏng vấn từng sinh sống tại nước ngoài chia sẻ nên học tập những mô hình ở các thành phố hiện đại tại nước ngoài

 Vì hiện trạng ý thức của người dân, một số ý kiến lo ngại về tính khả thi của đề tài

2 Những nhân tố tác động đến đời sống của động vật trog đô thị

2.1 Ánh sáng nhân tạo

Tất cả các sinh vật sống trên hoặc gần bề mặt trái đất đều có một “đồng

hồ sinh học”5 Đồng hồ sinh học chi phối các hoạt động của sinh vật theo chu kỳ

ngày – đêm, hay nói cách khác, đồng hồ sinh học thiết lập thói quen hoạt động

của sinh vật

Việc thiết lập đồng hồ sinh học của cơ thể sinh vật chủ yếu dựa vào sự

khác nhau về cường độ ánh sáng giữa ngày và đêm Trong môi trường chiếu

sáng nhân tạo được tạo ra bởi các đèn chiếu sáng, cơ thể sinh vật bị nhầm lẫn

giữa ánh sáng nhân tạo (từ đèn) với ánh sáng tự nhiên (từ mặt trời, mặt trăng,

sao)

Hình 2: Ánh sáng nhân tạo từ các đèn chiếu sáng trong đô thị

Điều đó gây nên những xáo trộn đồng hồ sinh học của các cá thể và kèm

theo đó là những phản ứng nhầm lẫn, tác động tiêu cực đối với đời sống của các

loài sinh vật Cụ thể:

5 Trừ một số loài sống ở đáy đại dương, hốc đá sâu, hang động, khu vực gần cực của Trái Đất Đối

với các loài này, cơ thể chúng không có đồng hồ sinh học hoặc được thay đổi, đồng bộ để phù hợp với

môi trường sống đặc biệt

Trang 18

a Mất tính đồng bộ trong thói quen hoạt động giữa các loài

Một trong những tính năng của đồng hồ sinh học là đồng bộ hóa giữa loài

này với loài khác trong hệ sinh thái Ví dụ, loài này muốn ra ngoài tìm kiếm thức

ăn tại thời điểm con mồi cũng ra ngoài hoạt động, như vậy cơ hội tìm được thức

ăn sẽ cao hơn; tương tự chúng muốn ngủ (ẩn mình) trong khi kẻ săn mồi hay kẻ

thù của chúng đang lùng sục đi săn

Với môi trường đô thị được chiếu sáng liên tục, trong khi khả năng điều

chỉnh lại đồng hồ sinh học của mỗi loài là khác nhau, điều đó dẫn đến sự mất

đồng bộ về thói quen hoạt động trong ngày - đêm giữa các loài Tác động sau

cùng của nó là làm cho một số loài ra ngoài vào thời điểm kẻ săn mồi đang hoạt

động, dẫn đến nguy cơ bị tiêu diệt nhiều hơn; hoặc là chúng ra ngoài tiềm kiếm

thức ăn trong khi con mồi đang ẩn, dẫn đến lãng phí năng lượng, không tìm

được thức ăn, đói và chết

Vấn đề này cũng có thể xảy ra đối với cùng một loài Cá thể này có khả

năng điều chỉnh đồng hồ sinh học của mình, trong khi cá thể khác thì không Nó

dẫn đến việc con đực và con cái không cùng ra ngoài do đó mất đi các cơ hội

sinh sản của cùng một loài

b Thay đổi chu trình sinh lý bên trong cơ thể sinh vật

Một chức năng khác của đồng hồ sinh học là đồng bộ hóa các hoạt động

bên trong cơ thể sinh vật với môi trường bên ngoài Bằng cách căn cứ vào các

chu kỳ bên ngoài của ánh sáng và bóng tối, cơ thể sinh vật phân bổ chức năng

sinh hóa và sinh lý khác nhau vào các thời điểm khác nhau trong ngày Do đó

giúp tiết kiệm năng lượng cho cơ thể Điều này hết sức cần thiết trong một môi

trường sống mà khi nguồn thức ăn khan hiếm – đô thị

Mức độ sản xuất và sử dụng năng lượng của cơ thể - sự trao đổi chất - có

thể được đo đối với động vật máu nóng bằng cách đo nhiệt độ cơ thể của chúng

Thông thường, nhiệt độ cơ thể có chu trình theo ngày Đồng hồ sinh học thúc

đẩy chu kỳ này Ví dụ, các bộ phận trên cơ thể của chúng lạnh nhất vào lúc bình

minh, và nóng nhất vào buổi chiều tối Có hoặc không có thức ăn ảnh hưởng

đến việc nhiệt độ cơ thể sẽ giảm bao nhiêu trong đêm Một con vật đói sẽ tiết

kiệm năng lượng bằng cách giảm nhiệt độ cơ thể vào ban đêm nhiều hơn so với

một con vật tìm đủ thức ăn Tuy nhiên, nhiệt độ cơ thể của nó sẽ tăng lên mức

bình thường vào ngày hôm sau nhằm cung cấp đủ năng lượng (và tốc độ phản

ứng) để săn mồi hiệu quả

Trang 19

Biểu đồ 5: Nhiệt độ cơ thể giảm xuống vào ban đêm khi không có thức ăn

Ánh sáng ảnh hưởng quá trình sinh lý này của cơ thể động vật Nếu không

có sự khác biệt về cường độ ánh sáng giữa ngày và đêm, ví dụ, trong phòng thí

nghiệm trong bóng tối liên tục, nhiệt độ cả ban ngày và ban đêm sẽ ở trạng thái

“động vật đói” - chúng sẽ trở nên quá chậm chạp và yếu ớt để có thể tìm thức

ăn Nhưng ánh sáng liên tục có tác dụng ngược lại – cơ thể động vật bị giữ ở

mức nhiệt độ cao, tức là, không cho phép con vật ở trạng thái đói để tiết kiệm

năng lượng Sự mất cân bằng năng lượng, đặc biệt là đối với những loài động

vật có kích thước cơ thể nhỏ (năng lượng dự trữ ít), có thể nhanh chóng dẫn

đến tình trạng cạn kiệt năng lượng và chết đói

Trang 20

Biểu đồ 6: Giảm nhận thức về thay đổi ánh sáng làm giảm số lượng thay đổi và làm chậm sự

thay đổi nhiệt độ cơ thể (hình trên - thị lực bình thường; hình dưới – khi chắn ánh sáng tới mắt động vật)

c Ảnh hưởng đến quá trình sinh sản

Theo thống kê khoa học, một số loài cóc chỉ giao phối vào ban đêm đã

biến mất dần vì ánh sáng nhân tạo

Ngoài việc ảnh hưởng đến việc tìm bạn tình để giao phối như đã trình bày

ở trên, ở một số loài chim, độ dài ngày giúp chúng xác định số lượng trứng được

sinh sản trong mùa đó

Hình 3: Vào đầu mùa xuân, một con chim có thể đẻ nhiều trứng trong một tổ (hình bên trái); và

số lượng trứng ít hơn vào cuối mùa hè (hình bên phải)

Nếu nhận thức về độ dài ngày bị sai lệch do ảnh hưởng của ánh sáng

nhân tạo, dẫn đến việc phán đoán sai về thời điểm trong năm, những loài chim

này có thể sinh sản quá nhiều vào mùa không thích hợp (như ở hình trên là vào

cuối mùa hè) Điều đó làm tiêu hao năng lượng của cá thể bố mẹ, đồng thời có

quá nhiều chim non được sinh ra nhưng không có đủ thức ăn cho chúng vào

thời điểm đó trong năm

Trang 21

d Xác định sai thời điểm trong năm

Tương tự như vấn đề được nêu ở trên, một số loài sinh vật căn cứ vào độ

dài, cường độ ánh sáng của ngày để xác định thời điểm trong năm Từ đó tiến

hành các quá trình như lột xác, sinh sản, di trú, ngủ đông,… Ở một số loài,

chúng căn cứ vào “ngày dài cuối cùng” để xác định các thời điểm trên Thông

thường, những phán đoán đó chính xác đến kinh ngạc Tuy nhiên, khi cảm nhận

về ánh sáng bị sai lệch do tác động của ánh sáng nhân tạo, những chu trình đó

không còn chính xác nữa Điều đó dẫn đến việc chúng liên tục di trú, liên tục sinh

sản, lột xác,… Tất cả những điều đó làm tiêu hao trầm trọng năng lượng của mỗi

cá thể và cuối cùng là chết hoặc bị tiêu diệt

e Mất khả năng định hướng

Ở một số loài côn trùng, chúng dựa vào mặt trăng và mặt trời để xác định

phương hướng Chúng ta biết rằng mặt trăng, mặt trời di chuyển trên bầu trời

Nếu một loài côn trùng bay trong thời gian dài, dựa vào bản năng của mình,

chúng sẽ thay đổi góc bay để bù vào sự di chuyển đó của mặt trăng, mặt trời

Nhưng nếu thay vì căn cứ vào mặt trăng, chúng lại bắt gặp một đèn sáng Chúng

bắt đầu sử dụng ánh đèn đó để định hướng Khi đến gần ánh đèn, chúng thay

đổi góc bay với một góc không đổi như đã trình bày ở trên Và như vậy, sau khi

bay qua ánh đèn, nó sẽ quay trở lại, quá trình đó lặp lại liên tục theo hình xoắn

ốc cho đến khi chúng chạm vào ánh đèn Khi chạm vào đèn, ánh sáng đèn trông

giống mặt trời hơn mặt trăng, đồng hồ sinh học của côn trùng đó được đặt lại

thành “ngày”, và chúng chuyển sang trạng thái “ngủ” và dễ dàng bị những loài

săn mồi khác tiêu diệt Mặt khác, việc bay theo hình xoắn ốc liên tục xung quanh

ánh đèn làm tiêu hao năng lượng Sự va đập vào đèn có nhiệt độ cao cũng làm

chết các côn trùng này Các nhà khoa học phát hiện, một bảng đèn quảng cáo

nhỏ một năm có thể giết chết 35 vạn côn trùng Nếu cứ tiếp tục kéo dài tình trạng

này, rất có thể tính đa dạng của thế giới tự nhiên sẽ bị nguy hại nghiêm trọng

Trang 22

Hình 4: Côn trùng bị mất định hướng do nhầm ánh đèn là mặt trăng

Một số loài rùa biển ở bờ biển Đại Tây Dương cũng giảm dần bởi những

chú rùa nhỏ mới nở thường căn cứ vào bóng trăng phản chiếu trên mặt nước để

tìm ra đại dương, nhưng vì ánh sáng trên mặt đất mạnh hơn ánh sáng mặt trăng

khiến cho chúng tưởng nhầm lục địa là đại dương và bò vào đất liền rồi thiếu

nước mà chết

Một trong những loài dễ bị gây nhiễu bởi ánh sáng nhân tạo nhất là loài

chim di cư Chúng vốn định hướng bằng các vì sao Nhưng ánh sáng của những

bóng đèn thành thị thường làm cho chúng mất phương hướng Theo thống kê

của các nhà sinh vật học Mỹ, hàng năm có tới 400 vạn con chim chết vì những

vụ va đập vào đèn quảng cáo trên các nhà cao tầng

2.2 Tiếng ồn

a Các nguồn gây tiếng ồn trong đồ thị

- Giao thông: Ở các đô thị lớn, trong các nguồn sinh ra tiếng ồn thì các

phương tiện giao thông vận tải đóng vai trò chủ yếu: 60 - 80% Phần lớn tại các

điểm đo trên các trục giao thông chính của các đô thị lớn ở nước ta, nơi có mật

Trang 23

độ giao thông đông đúc, cường độ xe tải lớn đều vượt quá Quy chuẩn Việt Nam

về tiếng ồn (TCVN 5949 : 1998)6, đặc biệt vào các giờ cao điểm

Hiện nay phương tiện giao thông đang ngày càng tăng, mật độ xe lưu

thông trên đường phố gây nên ô nhiễm về tiếng ồn do động cơ, tiếng còi cũng

như tiếng phanh xe Bên cạnh đó, máy bay cũng là 1 nguồn gây ô nhiễm lớn

Biểu đồ 7: Diễn biến mức ồn khu vực gần giao thông và khu dân cư ở một số đô thị phía Nam

qua các năm (Nguồn: Các trạm QT&PTMT vùng Đất liền 3 – Mạng lưới QTMT quốc gia, 2010)

- Xây dựng: Hiện nay, việc sử dụng các loại máy móc trong xây dựng là khá

phổ biến Đây là 1 nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn đáng kể Các công trường xây

dựng ngay giữa lòng thành phố tiếng ồn được cho là quá hạn cho phép nhiều

lần, làm ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt của người dân trong các khu dân cư

đô thị cũng như của chính người lao động Chúng phát sinh ra từ các loại máy

nén khí, máy ủi, máy xúc, xe tải đổ, máy cắt vỉa hè, tiếng xe tải đổ nguyên vật

liệu,…

Theo kết quả khảo sát, một số máy móc sử dụng trong xây dựng gây tiếng

ồn đáng kể Khi đo ở khoảng cách 15m, máy trộn bê tông gây ồn ở mức 75 dBA,

máy ủi gây ồn ở mức 93 dBA, máy nghiền xi măng gây ồn tới 100 dBA

Bảng 4: Mức ồn của một số máy móc trong xây dựng

- Công nghiệp và sản xuất: Trong công nghiệp và sản xuất hiện nay, việc sử

dụng máy móc được xem là không thể thiếu Tuy nhiên do ý thức của các cơ sở

6 Hiện tại đã có QCVN 26 : 2010 thay thế TCVN 5949 : 1998 Tuy nhiên, do số liệu khảo sát trình bày

ở trên được lấy gần nhất là năm 2009, nên nhóm nghiên cứu vẫn dùng TCVN 5949 : 1998 để đánh giá

Đồng thời, việc đánh giá này chỉ nhằm mục đích cho thấy tình trạng ô nhiễm tiếng ồn của một số đô thị

lớn trong nước Những tiêu chuẩn này dựa trên tác động của tiếng ồn đối với con người, chứ chưa xét

đến tác động đối với động vật

Trang 24

sản xuất và của 1 số khu công nghiệp đã làm cho mức độ ô nhiễm tiếng ồn đang

ngày càng tăng cao

Bảng 5: Mức ồn của một số hoạt động sản xuất trong công nghiệp

- Sinh hoạt, dịch vụ: Hiện nay rất ở rất nhiều nơi, đặc biệt là tại các thành

phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Hiện trạng ô nhiễm tiếng ồn từ

các hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại các thành phố lớn là vấn đề khá nhạy cảm

Trong vài năm gần đây đã phổ biến tình trạng các siêu thị điện máy, cửa

hàng thời trang, điện thoại di động, máy vi tính, giày dép, luôn phát nhạc từ

dàn âm thanh với công suất lớn nhằm quảng cáo, gây chú ý và thu hút khách

hàng

Hình 5: Nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn từ các hoạt động kinh doanh

Trang 25

b Tác động của tiếng ồn đến đời sống động vật trong đô thị

- Tác động đến quá trình sinh sản: Trong tự nhiên, rất nhiều các loài động

vật sử dụng các dạng âm thanh do cơ thể chúng phát ra để thu hút và tìm bạn

tình trong mùa sinh sản Tuy nhiên, trong một môi trường đô thị ồn ào, các âm

thanh này của chúng bị át bởi tiếng ồn từ giao thông, xây dựng, sản xuất, Con

cái khó khăn hơn trong việc dựa vào tiếng thu hút của con đực Ngoài một số ít

loài chim có khả năng thay đổi tần số và cường độ tiếng hót của chúng lớn hơn

để thích nghi, thì hầu hết các loài khác đều phải gánh chịu tác động này

- Mất khả năng giao tiếp, định hướng: Nhiều loài sinh vật giao tiếp và định

hướng bằng các âm thanh có tần số cao, siêu âm như dơi, và các sóng âm có

tần số thấp như cá voi, các sinh vật biển,… Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng với

tần số thấp do các tàu hải quân và tàu thăm dò dầu tạo ra đã dẫn đến cái chết

của loài cá voi cũng như nhiều loài sinh vật biển khác Và mới đây, các nhà khoa

học đã tìm thấy bằng chứng để chứng minh được rằng loài mực khổng lồ cũng

bị ảnh hưởng bởi tình trạng ô nhiễm tiếng ồn Nguyên nhân là do các loài cá voi,

cá heo và các loài động vật có vú khác ở biển hầu như dựa vào âm thanh để

giao tiếp và định hướng nên những tiếng ồn sẽ khiến chúng bị “điếc”, mất

phương hướng, tự mắc cạn trên bờ rồi chết hay bị chết do thương tổn não bộ

Những trường hợp thương tâm như vậy đã được phát hiện từ hơn một thập kỷ

qua

- Tác động trực tiếp đến não bộ của các loài động vật: Theo một nghiên cứu

của các giáo sư đai học kĩ thuật Catalonia tại Barcelona, khi nghiên cứu được

thực hiện trên 87 cá thể thuộc 4 loài động vật thân mềm: hai loài mực ống, một

loài bạch tuộc, một loài mực nang Trong hai giờ chúng được nghe âm thanh với

cường độ mạnh từ 157 đến 175 dBA, tần số 50 đến 400 Hz (đây là loại ô nhiễm

tiếng ồn thường thấy trên biển do cuộc thử nghiệm của các mẫu tàu ngầm quân

sự hay hoạt động dò tìm giếng dầu hoặc khí tự nhiên) Tất cả chúng đều có dấu

hiệu tổn thương trên mô của túi thăng bằng và càng trở nên trầm trọng hơn nếu

chúng sống sót, đồng thời nguy cơ tử vong sau đó cũng rất cao do không xác

định được phương hướng sẽ khiến chúng đi lạc vào khu vực sâu đươi đáy biển

và bị tác động bởi sự chênh lệch nhiết độ nơi đó.7

Một phát hiện mới được đưa ra của các giáo sư đại học Úc là tiếng ồn của

máy bay còn ảnh hưởng tới các loài động vật có vú Theo đó họ đã tạo ra một

bản đồ tiếng ồn và nhận thấy tiếng ồn ảnh hưởng rất lớn đến hệ thần kinh, tới

sự di chuyển và hành vi thường ngày của chúng

Tuy rằng những dẫn chứng trên đây có phần nằm ngoài phạm vi của một

đô thị, nhưng chúng được nêu ra để chúng ta thấy rằng những tác động của

tiếng ồn đối với động vật là có Từ đó có những cân nhắc khi nghiên cứu tạo lập

môi trường sống cho chúng

7 Ngu ồn: Tổng cục Môi Trường Việt Nam

Trang 26

2.3 Sự săn bắt của con người

Ở những nước phát triển, quyền của các cá thể động vật được pháp luật

bảo hộ Mọi hành phi xâm phạm đến đời sống của động vật bị xem là phạm

pháp Hơn nữa, nhận thức của người dân về động vật cũng hết sức tiến bộ Họ

không nuôi nốt động vật, không ăn thịt các động vật hoang dã, cũng như hết sức

xem trọng đến sự an nguy của bất kỳ một cá thể động vật nào đó

Tuy nhiên thực tế đó lại khác ở Việt Nam hiện nay Chúng ta chưa có

những văn bản pháp luật thiết thực về vấn đề bảo vệ sự sống, quyền lợi của

động vật Bên cạnh đó là nhận thức vẫn chưa cao của một phần lớn người dân

Như đã đề cập đến trong phần phân tích kết quả khảo sát thực tế (Phần II, mục

1.2), đối với môi trường đô thị tại Việt Nam, một bộ phận người dân vẫn còn thói

quen ăn thịt các động vật trong thành phố như bồ câu, chim sẻ, sóc,… dẫn đến

việc các loài vật này bị săn bắt Nhóm đối tượng này chủ yếu là người dân nhập

Ngoài việc bị săn bắt làm thực phẩm, một số loại chim (chim sẻ, chim

én,…) còn bị săn bắt vào mục đích “phóng sinh”8

Hình 6: Chim én bị bắt để bán cho những người phóng sinh

(Ảnh chụp tại công viên Tao Đàn, Tp.HCM)

8 Phóng sinh là một cử chỉ hành thiện trong triết lý của Phật giáo Khi nhìn thấy các loại chúng

sinh có mạng sống đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại, kinh hoàng lúng túng,

mạng sống trong phút giây nguy ngập, liền phát lòng từ bi tìm cách cứu thoát Như vậy tức

là hành vi giải thoát, phóng thích, cứu lấy mạng sống (Nguồn: www.rongmotamhon.net)

Trang 27

Bên cạnh đó, một số loài động vật khác bị săn bắt làm vật nuôi (như sóc,

các loại chim: chim cu gáy, chích chòe, chào mào, chim sâu,…)

Hình 7: Bẫy chim cu gáy (Ảnh chụp tại sân thượng một căn hộ ở quận Tân Bình, Tp.HCM)

2.4 Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, không gian đô thị

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong đô thị, đặc biệt là hệ thống cây xanh, công

viên đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nơi cư trú cũng như nguồn thức ăn

cho các loài động vật Trong các đô thị nói chung và tại Tp.HCM nói riêng, các

công viên là nơi tập trung chủ yếu các loài động vật sinh sống Cách thức bố trí

cây xanh trong công viên, cây xanh trên các trục đường là cơ sở quan trọng tạo

nên sự liên kết giữa các không gian sống đối với động vật

2.5 Kết luận

Những phân tích, đánh giá, dẫn chứng trên đây có thể vẫn chưa đầy đủ

Song, nó cũng một phần giúp chúng ta nhìn nhận được những tác động từ các

hoạt động của một đô thị lên đời sống của các loài động vật Những nhân tố đó

trong một đô thị không thể thay đổi một sớm một chiều Tuy nhiên, trong khi chờ

đợi một tương lai với những đô thị “trong lành”, với ít những tác động đến môi

trường sống của động vật hơn, chúng ta hoàn toàn có thể lựa chọn phát triển

những loài động vật mà khả năng thích nghi của chúng cao, ít bị ảnh hưởng bởi

những nhân tố nêu trên cho các đô thị hiện tại ở Việt Nam nói chung và Tp.HCM

nói riêng

Từ nhận định đó, cùng với kết quả khảo sát thực tế đã trình bài ở phần I,

chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu cụ thể với các loài động vật sau đây:

Trang 28

3 Một số loài tiêu biểu được nghiên cứu

3.1 Bồ câu

a Đặc điểm sinh học

Họ Bồ câu (danh pháp: Columbidae) là một họ thuộc bộ Bồ câu

(Columbiformes), bao gồm khoảng 300 loài chim cận chim sẻ Tên gọi phổ biến

của các loài trong họ này là bồ câu, cu, cưu, gầm ghì

Các loài trong họ này phổ biến rộng khắp thế giới, ngoại từsa mạc Sahara

và châu Nam Cực, nhưng có sự đa dạng lớn nhất tại các khu vực sinh thái

Indomalayavà Australasia9

Thân nhiệt chim bồ câu ổn định trong điều kiện nhiệt độ môi trường thay

đổi; chim bồ câu là động vật hằng nhiệt

Thân chim hình thoi làm giảm sức cản không khí khi bay Da khô phủ lông

vũ Lông vũ bao phủ toàn thân là lông ống, có phiến lông rộng tạo thành cánh,

đuôi chim (vai trò bánh lái) Lông vũ mọc áp sát vào thân là lông tơ Lông tơ chỉ

có chùm sợi lông mảnh tạo thành lớp xốp giữ nhiệt và làm thân chim nhẹ

 Cánh chim khi xòe ra tạo thành một diện tích rộng quạt gió, khi cụp lại thì gọn áp vào thân

 Chi sau có bàn chân dài ba ngón trước, một ngón sau, đều có vuốt, giúp chim bám chặt vào cành cây khi chim đậu hoặc duỗi thẳng, xòe

rộng ngón khi chim hạ cánh

 Mỏ sừng bao bọc hàm không có răng, làm đầu chim nhẹ Cổ dài, đầu chim linh hoạt, phát huy được tác dụng của giác quan (mắt, tai),

thuận lợi khi bắt mồi, rỉa lông Tuyến phao câu tiết chất nhờn khi chim rỉa

lông làm lông mịn, không thấm nước

9Khu vực sinh thái Indomalaya trước đây được gọi là khu vực sinh thái Đông Dương Nó trải rộng từ

khu vực Makran ở miền nam Pakistan qua tiểu lục địa Ấn Độ và Đông Nam Á tới các vùng đất thấp ở

miền nam Trung Quốc, và qua Indonesia tới Java, Bali và Borneo, phía đông của nó nằm trên đường

Wallace, ranh giới sinh thái được đặt theo tên của Alfred Russel Wallace, là người đã tách Indomalaya ra

khỏi Australasia Indomalaya còn bao gồm cả Philipin, vùng đất thấp của Đài Loan và quần đảo Lưu

Cầu của Nhật Bản

Australasia là một thuật ngữ được sử dụng một cách không thống nhất để miêu tả một khu

vực của châu Đại Dương – bao gồm Úc, New Zealand và các đảo cận kề trên Thái Bình Dương

(Wikipedia)

Khu vực sinh thái Indomalaya Khu vực sinh thái Australasia

Trang 29

Hình 8: Chim bồ câu

b Ý nghĩa của loài

Vai trò làm thực phẩm

Một số loài chim bồ câu được sử dụng như một nguồn thực phẩm cho con

người Chim bồ câu săn bắn ngoài tự nhiên và chim bồ câu được thuần hóa đã

được sử dụng như một nguồn thức ăn từ thời cổ đại Trung Đông, La Mã và châu

Âu thời trung cổ

Theo quan điểm của Đông Y, chim bồ câu và các sản phẩm của nó còn là

dược liệu chứa bệnh liên quan đến nội tạng

Tuy nhiên, ở các nước phát triển hiện nay, người dân không sử dụng chim

bồ câu làm thực phẩm

Vai trò truyền thông

Từ rất lâu, người Ai Cập cổ đã nắm bắt được khả năng đưa thư của loài

chim bồ câu Trong lịch sử quân sự và cả hiện nay, do tính linh hoạt và khả năng

không bị phát hiện bởi các thiết bị rada, chim bồ câu được sử dụng rất nhiều

trong công tác truyền thông tin quân sự

Các nhà khoa học Anh đã chỉ ra rằng: Những con chim sẽ bay theo đường

nhỏ, tới đường quốc lộ, bay ngang qua những con phố và bay vòng quanh theo

đường vòng, thậm chí điều này có nghĩa khiến chuyến bay của chúng sẽ tăng

lên một vài dặm hải lý Một nghiên cứu gần đây nhận định: Loài chim bồ câu

nắm bắt rất hiệu quả những con đường khi chúng bay có đôi Nếu có bạn đồng

hành, chúng sẽ đủ thông minh để làm con đường ngắn lại hơn là khi bay một

Trang 30

mình Trong những cuộc hành trình dài, bồ câu tính toán hướng bay cần thiết

bằng cách so sánh vị trí của mặt trời với đồng hồ sinh học trong chúng

Ý nghĩa biểu tượng

Một điều hiển nhiên trong quan niệm thế giới ngày nay, chim bồ câu

là biểu tượng cho sự hòa bình, yên vui và hạnh phúc, và hình tượng đó ăn sâu

vào tiềm thức của tất cả mọi người, qua từng thế hệ và qua từng cuộc chiến

tranh, tuy rằng hình tượng chim bồ câu chỉ mới chính thức trở thành biểu

tượng hòa bình sau Chiến tranh thế giới II Trong các sự kiện phản chiến hay

đấu tranh vì tự do, hòa bình thì chúng ta không lạ khi thấy những con chim bồ

câu được trang trí trên những biểu ngữ, cờ và áo nó tượng trưng cho một sự

nỗ lực vì hòa bình của nhân loại

Trong Do Thái giáo và Kitô giáo, chim bồ câu là biểu tượng của hòa

bình bởi vì theo Kinh Thánh, nó đã đem cành ô liu báo hiệu cho con tàu Nô-ê,

rằng Thiên Chúa đã thôi cơn thịnh nộ Bên cạnh đó, Tân Ước cũng ghi nhận

chim bồ câu tượng trưng cho Chúa Thánh thần, xuất hiện như một biểu tượng

cơ bản của sự trong sáng, sự chất phác, sự hòa thuận, sự hy vọng Ngoài ra, bồ

câu còn biểu thị cho sự thăng hoa của bản năng và đặc biệt là sự thăng hoa của

ái tình

Chim bồ câu hiền hòa, gần gũi với con người Nhất là các loài bồ câu sinh

sống tại các đô thị, chúng tạo ra cảm giác thân thiện giữa con người và đời sống

của thiên nhiên

Hình 9: Chim bồ câu được lấy làm biểu tượng của nhiều ý nghĩa khác nhau

c Môi trường sống hiện tại

Nơi ở

Ở nước ta nói chung, bồ câu sống trong môi trường hoang dã không

nhiều, phần lớn là được nuôi dưới hình thức công nghiệp hoặc bán công nghiệp,

số ít nuôi làm cảnh và thời gian gần đây đã xuất hiện mô hình nuôi thả tự do ở

một số công viên

Trang 31

Trong mô hình nuôi thả tự do – mô hình mà chúng ta hướng đến, ban

ngày, bồ câu di chuyển tự do trong thành phố, đặc biệt là các khu vực thoáng,

quảng trường rộng ở trung tâm thành phố, khi trời tối, chúng trở về chuồng của

mình Hiện tại, các chuồng chim (nhà chim) bồ câu phân bố rải rác trong khu vực

nội thành với số lượng rất ít Chủ yếu ở các công viên, nhà thờ, chùa và một số

hộ gia đình

Hình 10: Bồ câu được nuôi tự do ở công viên Hoàng Văn Thụ, Q.Tân Bình

Nguồn thức ăn

Nguồn thức ăn chủ yếu của chim bồ câu là những sản phẩm nông nghiệp

như một số loại củ (sắn, khoai…), ngô, lúa, và các loại đậu Đối với lượng chim

bồ câu trong thành phố, nguồn thức ăn này khan hiếm và không cố định Chủ

yếu từ các sản phẩm rơi vãi trên đường phố, khách du lịch, một số người dân

tình nguyện cho chim ăn trong công viên,…

Hình 11: Khách du lịch và người dân cho bồ câu ăn

d Xây dựng môi trường sống cho bồ câu trong đô thị

Các yêu cầu kỹ thuật đối với việc tạo lập môi trường sống cho bồ câu

trong thành phố tương tự như các kỹ thuật nuôi bồ câu thả rông

Trang 32

Nhà chim phải có ánh nắng mặt trời, yên tĩnh, thoáng mát, sạch sẽ, khô

ráo Nên xây dựng theo hướng đông nam để hứng gió vào mùa hè Nên chia

chuồng thành các ô nhỏ cho mỗi cặp chim: Chiều cao 40cm, chiều sâu 40cm,

chiều rộng 50cm Mỗi ô chuồng cần 2 ổ đẻ trứng và ấp trứng đặt ở trên, 1 ổ nuôi

con đặt ở dưới Phía trước ô khoét lỗ để chim có thể ra vào Không nên phân tán

thành nhiều nhà chim, xây dựng theo quy mô lớn và tập trung sẽ giúp dễ dàng

quản lý hơn

Chim bồ câu là loài ưa cái đẹp và màu sắc, nếu chuồng chim không đẹp,

chúng có xu hướng sẽ bỏ đi đến chuồng đẹp hơn Đây là một tập tính khá thú vị

của bồ câu Cũng bởi vì lẽ đó mà trên thế giới người ta đã thiết kế rất nhiều loại

mẫu mã chuồng giành cho chim bồ câu nuôi thả

Trang 33

Hình 13: Một số mẫu chuồng bồ câu trong công viên

Ngày đăng: 26/02/2016, 11:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Những bài giảng về Xã hội học – Warren Kidd,… Nxb Thống kê, 2006 Khác
2. Wer bin ich – und wenn ja, wie viele ? – Richard David Precht, Wilhelm Goldmann Verlag, 2007 Khác
3. Nguyên lý quy hoạch xây dựng phát triển đô thị - Gs.Ts.Nguyễn Thế Bá, Nxb Xây Dựng, 2009 Khác
4. Chăn nuôi Bồ câu và Chim cút – Ts.Bùi Hữu Toàn, Nxb Nông Nghiệp, 2009 Khác
5. Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora – Công ước về buôn bán quốc các loài động thực, vật hoang dã nguy cấp, 1973 Khác
6. Luật đa dạng sinh học – Quốc hội khóa XII, kỳ thứ tư, 2008 Khác
7. QCXDVN 01 : 2008 – Quy chuẩn xây dựng Việt Nam – Quy hoạch xây dựng, bộ Xây Dựng, 2008 Khác
8. TCVN 5949 : 1998 – Âm học – Tiếng ồn khu vực công cộng và dân cư – Mức ồn tối đa cho phép, bộ Tài Nguyên Môi Trường, 1998 Khác
9. QCVN 26 : 2010 – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn, bộ Tài Nguyên Môi Trường, 2010 Khác
10. TCXDVN 362 : 2005 – Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế, bộ Xây Dựng, 2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Ánh sáng nhân tạo từ các đèn chiếu sáng trong đô thị - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 2 Ánh sáng nhân tạo từ các đèn chiếu sáng trong đô thị (Trang 17)
Hình 3: Vào đầu mùa xuân, một con chim có thể đẻ nhiều trứng trong một tổ (hình bên trái); và - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 3 Vào đầu mùa xuân, một con chim có thể đẻ nhiều trứng trong một tổ (hình bên trái); và (Trang 20)
Hình 4: Côn trùng bị mất định hướng do nhầm ánh đèn là mặt trăng - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 4 Côn trùng bị mất định hướng do nhầm ánh đèn là mặt trăng (Trang 22)
Hình 5: Nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn từ các hoạt động kinh doanh - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 5 Nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn từ các hoạt động kinh doanh (Trang 24)
Hình 6: Chim én bị bắt để bán cho những người phóng sinh - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 6 Chim én bị bắt để bán cho những người phóng sinh (Trang 26)
Hình 8: Chim bồ câu - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 8 Chim bồ câu (Trang 29)
Hình 9: Chim bồ câu được lấy làm biểu tượng của nhiều ý nghĩa khác nhau - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 9 Chim bồ câu được lấy làm biểu tượng của nhiều ý nghĩa khác nhau (Trang 30)
Hình 10: Bồ câu được nuôi tự do ở công viên Hoàng Văn Thụ, Q.Tân Bình - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 10 Bồ câu được nuôi tự do ở công viên Hoàng Văn Thụ, Q.Tân Bình (Trang 31)
Hình 11: Khách du lịch và người dân cho bồ câu ăn - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 11 Khách du lịch và người dân cho bồ câu ăn (Trang 31)
Hình 12: Các công viên tại trung tâm thành phố - nơi thích hợp bố trí tập trung các nhà chim - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 12 Các công viên tại trung tâm thành phố - nơi thích hợp bố trí tập trung các nhà chim (Trang 32)
Hình 13: Một số mẫu chuồng bồ câu trong công viên - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 13 Một số mẫu chuồng bồ câu trong công viên (Trang 33)
Hình 15: Chim sẻ uống nước và tắm ở những chỗ có nước đọng - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 15 Chim sẻ uống nước và tắm ở những chỗ có nước đọng (Trang 36)
Hình 16: Hộp gỗ để chim sẻ đến làm tổ - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 16 Hộp gỗ để chim sẻ đến làm tổ (Trang 37)
Hình 17: Sóc trong công viên - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 17 Sóc trong công viên (Trang 38)
Hình 21: Hồ nuôi cá và kết hợp với thiết kế cảnh quan xung quanh hồ - Bài nghiên cứu khoa học động vật trong đô thị
Hình 21 Hồ nuôi cá và kết hợp với thiết kế cảnh quan xung quanh hồ (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w