Phân tích thực trạng sản xuất và xuất khẩu lúa gạo việt nam sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của bài viết này phân tích thực trạng ngành sản xuất và xuất khẩu lúa gạo Việt Nam sau khi trở thành thành viên chính thức của Tổ Chức Thương mại thế giới WTO từ đó đề xuất những giải pháp phát triển ngành sản xuất lúa gạo trong môi trường hội nhập Các bài viết trước đây chỉ đề cập đến vấn đề làm như thế nào để tăng sản lượng gạo để xuất khẩu, trong khi đó gạo được xem là thế mạnh xuất khẩu nhưng giá gạo xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn ở mức rất thấp Chính vì thế bài viết này sẽ đề ra một số biện pháp nhằm bình ổn giá và ngày càng nâng cao giá trị xuất khẩu của hạt gạo Viêt Nam Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, an ninh lương thực đang trở nên vấn đề cần được quan tâm và đó là lý do chúng tôi chọn đề tài này
2 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu thứ cấp trên các báo, tạp chí chuyên ngành kinh tế, trên các báo điện tử và các tài liệu có liên quan đến tình hình sản xuất gạo ở Việt Nam
Phương pháp phân tích số liệu: chủ yếu là phương pháp phân tích và so sánh, thống kê
mô tả, mô hình hóa và ma trận SWOT
3 Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Nghiên cứu trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam
Thời gian: Số liệu liên quan chủ yếu lấy từ năm 1990 đến năm 2010
Nguồn số liệu: Số liệu thứ cấp, tổng cục thống kê, bộ nông nghiệp
Đối tượng nghiên cứu: tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo Việt Nam
4 Câu hỏi cần giải đáp
1 Những thuận lợi và khó khăn trong ngành xuất khẩu gạo sau khi Việt Nam gia nhập tổ
chức WTO ?
2 Các nhà sản xuất và xuất khẩu cần làm gì để đẩy giá xuất khẩu gạo Việt Nam tương
đương với giá thế giới ?
3 Cần có những giải pháp nào để ngành sản xuất và xuất khẩu gạo trở nên bền vững hơn ?
Trang 2PHẦN NỘI DUNG
I Hôi nhập kinh tế
Vì sao cần phải hội nhập kinh tế quốc tế?
Hội nhập kinh tế quốc tế là một đòi hỏi tất yếu, bức thiết của đất nước ta Nhận rõ lợi thế
và thách thức để chủ động hội nhập là điều hết sức cần thiết Có vậy chúng ta mới đẩy nhanh quá trình hội nhập với quy mô rộng hơn, trình độ cao hơn
Trên thực tế kinh tế Việt Nam đã hội nhập kinh tế thế giới từ lâu, nhưng vẫn ở trình độ thấp, sơ khai Hiện nay, tuy kinh tế Việt Nam tham gia vào AFTA, ASEAN, nhưng sự tham gia
đó vẫn dừng ở phạm vi hẹp, nhỏ cả về lĩnh vực lẫn quy mô, khối lượng Trước yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước yêu cầu của phát triển kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, chúng ta không thể không đẩy nhanh tốc độ, quy mô hội nhập kinh tế quốc tế
Chỉ có hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả thì chúng ta mới tạo ra được thế đứng mới trên thương trường quốc tế, mới hạn chế được những đối xử không công bằng Hiện nay Tổ chức thương mại thế giới WTO đã thao túng tới 95% kim ngạch buôn bán thế giới, nếu chúng ta còn đứng ngoài tổ chức này, thì tất nhiên sẽ rất yếu thế trong giao thương
Chỉ có hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta mới tranh thủ được nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để đáp ứng với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Chỉ có hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta mới mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm Mở cửa hội nhập do đó, không chỉ là để các doanh nghiệp của ta vươn ra, mà còn để các doanh nghiệp nước ngoài đi vào sản xuất và kinh doanh ở nước ta
Rõ ràng, hội nhập kinh tế quốc tế là nhu cầu nội sinh của bản thân nền kinh tế nước ta, chứ không phải do chúng ta bị o ép, bị bắt buộc Thời cơ đang đến, yêu cầu của chính bản thân đòi hỏi, không còn sự lựa chọn ưu việt nào hơn Vấn đề đặt ra là chúng ta lựa chọn như thế nào để vẫn hội nhập phát triển mà vẫn bảo toàn trọn vẹn độc lập tự chủ, vẫn hội nhập mà không đánh mất truyền thống, hội nhập mà an ninh trật tự xã hội được bảo đảm, hội nhập mà xã hội lành mạnh và phát triển
Trang 3II Tổ chức WTO
1 Giới thiệu về tổ chức WTO
WTO là tên viết tắt từ tiếng Anh của Tổ chức thương
mại thế giới (World Trade Organization) WTO được thành
lập theo Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới ký
tại Marrakesh (Marốc) ngày 15-4-1994 WTO chính thức đi
vào hoạt động từ ngày 1-1-1995
WTO ra đời trên cơ sở kế tục tổ chức tiền thân là
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại ( The General Agreement on Tariffs and Trade - GATT) Đây là tổ chức quốc tế duy nhất đề ra những nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới Trọng tâm của WTO chính là các hiệp định đã và đang được các nước đàm phán và
ký kết
Có thể hình dung một cách đơn giản về WTO như sau :
WTO là nơi đề ra những quy định:
WTO là một diễn đàn để các nước, các thành viên đàm phán:
WTO gồm những quy định pháp lý nền tảng của thương mại quốc tế:
WTO giúp các nước giải quyết tranh chấp
2 Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam
Từ năm 1996 đến năm 2001, đàm phán tập trung chủ yếu vào việc làm rõ chế độ và chính sách thương mại của ta, với việc ta phải trả lời hơn
2.000 câu hỏi có liên quan đến chính sách thương
mại, kinh tế, đầu tư
Đến tháng 8/2001, Việt Nam chính thức đưa
ra Bản chào ban đầu về hàng hoá và dịch vụ
Trang 4(Ininitial offer) để bước vào giai đoạn đàm phán thực chất về mở cửa thị trường với các nước thành viên Ban Công tác
Về đàm phán song phương: Với việc Việt Nam và Hoa Kỳ ký thoả thuận chính thức kết thúc đàm phán song phương về gia nhập WTO của Việt Nam (TP Hồ Chí Minh, ngày 31/5/2006),
ta đã chính thức hoàn tất đàm phán với toàn bộ 28 đối tác yêu cầu đàm phán với ta Ta đang tích cực vận động Quốc hội Hoa Kỳ sớm thông qua quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn
(PNTR) cho Việt Nam
Về đàm phán đa phương: Cho đến nay, Việt Nam đã tiến hành 15 phiên họp với Nhóm Công tác về Việt Nam gia nhập WTO Từ phiên 9 (tháng 12/2004), Việt Nam cùng với Ban Công tác đã bắt đầu xem xét và thảo luận Dự thảo Báo cáo (DR) của Nhóm Công tác Tại các phiên 14
và 15 (10/2006), chúng ta đã giải quyết được toàn bộ các vấn đề đa phương còn tồn đọng giữa Việt Nam với một số đối tác, hoàn tất về cơ bản đàm phán gia nhập WTO, hoàn chỉnh toàn bộ các tài liệu, chuẩn bị cho phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng WTO thông qua việc gia nhập của Việt Nam được tổ chức vào ngày 7/11
Tại lễ gia nhập ngày 7/11, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm và các thành viên WTO đã chứng kiến việc ký Nghị định thư gia nhập giữa Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển và Tổng Giám đốc WTO Pascal Lamy Sau đó, văn kiện này sẽ được trình lên Quốc hội để xem xét thông qua (theo lịch trình, phiên họp của Quốc hội Việt Nam sẽ kết thúc vào 5/12), và gửi lại cho Ban Thư ký WTO 30 ngày kể từ sau khi Ban Thư ký WTO nhận được văn bản phê chuẩn này của Quốc hội Việt Nam, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO
3 Cam kết giữa Việt Nam và WTO
3.1 Cam kết đa phương
Theo kết quả đàm phán, Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định và quy định mang tính ràng buộc của WTO từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên do nước ta đang phát triển ở trình độ thấp lại đang trong quá trình chuyển đổi nên ta yêu cầu và được WTO chấp nhận cho hưởng một thời gian chuyển đổi để thực hiện một số cam kết có liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp phi nông nghiệp, quyền kinh doanh
Các cam kết chính trong vấn đề đa phương là: Việt Nam chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm tức là không muộn hơn 31/12/2018
Trang 5Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu ta chứng minh được với đối tác nào là kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó ngừng áp dụng chế độ “phi thị trường” đối với ta Chế độ “phi thị trường” chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán phá giá
Và các thành viên WTO không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đối với hàng xuất khẩu nước ta dù ta bị coi là nền kinh tế phi thị trường
3.2 Cam kết về thuế nhập khẩu
Mức cam kết chung của Việt Nam là đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế (10.600 dòng) Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% thực hiện dần trung bình 5 - 7 năm Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9% thực hiện trong khoảng 5 năm Với hàng công nghiệp từ 16,8% xuống còn 12,6% thực hiện chủ yếu trong vòng 5 - 7 năm
Mức cam kết cụ thể: sẽ có khoảng hơn 1/3 dòng số dòng thuế sẽ phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20% Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô - xe máy… vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định
Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử Bên cạnh đó, Việt Nam đạt được mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất là phương tiện vận tải
Cam kết của Việt Nam sẽ cắt giảm thuế theo một số hiệp định tự do theo ngành của WTO (giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp) Đây là hiệp định tự nguyện của WTO nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành Ngành mà ta cam kết tham gia là sản phẩm công nghệ thông tin, dệt may và thiết bị y tế Ta cũng tham gia một phần với thời gian thực hiện từ 3 - 5 năm đối với ngành thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng
Về hạn ngạch thuế quan, ta bảo lưu quyền áp dụng với đường, trứng gia cầm, thuốc lá và muối
3.3 Cam kết về mở của thị trường dịch vụ
Về diện cam kết, trong Hiệp định thương mại song phương (BTA) với Hoa Kỳ ta đã cam kết 8 ngành dịch vụ (khoảng 65 phân ngành) Trong thỏa thuận WTO, ta cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng 110 ngành Về mức độ cam kết, với hầu hết các ngành dịch
vụ, trong đó có những ngành nhạy cảm như bảo hiểm, phân phối, du lịch… ta giữ được mức độ cam kết gần như trong BTA Riêng viễn thông, ngân hàng và chứng khoán, để sớm kết thúc đàm
Trang 6phán, ta đã có một số bước tiến nhưng nhìn chung không quá xa so với hiện trạng và đều phù hợp với định hướng phát triển đã được phê duyệt cho các ngành này.
III Thực trạng ngành sản xuất và xuất khẩu gạo ở Việt Nam
1.Tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo trước khi gia nhập WTO
Với cơ chế kế hoạch hoá sản xuất tập trung trong thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80, ngành lúa gạo đã lâm vào cảnh trì trệ, năng suất lúa giảm và các nguồn tiềm năng tự nhiên phục vụ cho sản xuất lúa gạo không được khai thác hết Kể từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu sự nghiệp đổi mới kinh tế Hộ gia đình đã thực sự được coi là một đơn vị sản xuất quan trọng trong nông thôn và được trao quyền tự chủ trong các quyết định sản xuất và tiêu thụ nông sản Cơ chế khoán hộ cùng với những cải cách về chế độ sử dụng ruộng đất và thuế đã tạo ra một bước nhảy vọt trong nông nghiệp Sản xuất lúa gạo tăng mạnh bắt đầu từ đầu thập kỷ 90
Bên cạnh chính sách đổi mới nhằm khuyến khích phát triển sản xuất trong nước, hoạt động thương mại quốc tế đối với ngành hàng lúa gạo cũng đã được đẩy mạnh Một trong những bước thay đổi quan trọng nhất trong chính sách thương mại đó là việc xoá bỏ hạn ngạch xuất khẩu và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất khẩu gạo, và cũng nhờ đó
mà đã tăng nhanh được lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam Không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà hàng năm còn xuất khẩu được 3-4 triệu tấn gạo Trong giai đoạn 1997-
2001, Việt Nam xuất khẩu trung bình hàng năm khoảng 3,8 triệu tấn, cung cấp gạo cho hơn 120 quốc gia trên thế giới, thuộc tất cả các Châu lục khác nhau, tuy nhiên chủ yếu vẫn là xuất sang Châu Á (52%), Châu Âu (20%) và Trung Đông (12,7%) 5 nước đứng đầu trong danh sách nhập khẩu gạo của Việt Nam trong giai đoạn 1997-2001 đó là: In-đô-nê-xi-a (14,8%), Phi-li-pin
(12,6%), Xin-ga-po (9,9%), Irắc (9,8%) và Thuỵ sĩ (8,4%)
Bảng 1: Gạo XK của Việt Nam, bình quân hàng năm giai đoạn 1997-2001
Trang 7Hà Lan 2,8 108478 24839738 229
Gạo xuất khẩu của Việt Nam (1997-2001) phân theo khu vực, %
Cơ cấu luợng XK Cơ cấu Giá trị XK
*Nguồn của Tổng cục Thống Kê, 2001
2 Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam từ khi gia nhập WTO:
2.1 Kim ngạch xuất khẩu:
Công tác xuất khẩu “gạo” trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tích đáng khích
lệ Qui mô xuất khẩu “gạo” ngày càng mở rộng với khối lượng và kim ngạch tăng với tốc độ khá cao Xét về cơ cấu ngành hàng xuất khẩu từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO, bên cạnh một
số sản phẩm nông sản mang tính truyền thống như lạc nhân, hạt tiêu, cà phê, đỗ tương, gạo đã trở thành một mặt hàng nông sản mang về cho đất nước một nguồn ngoại tệ xuất khẩu rất lớn Tốc độ tăng trưởng về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo tăng lên một cách đáng kinh ngạc
Năm 2007,
Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, lượng gạo cả nước xuất khẩu đến nay đã đạt mức 4,5 triệu tấn với kim ngạch trị giá 1,5 tỷ USD Đặc biệt trong năm này, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã tăng đáng kể và lần đầu tiên ngang giá với gạo Thái Lan Năm 2008 xuất khẩu gạo đạt 4,7 triệu tấn, kim ngạch đạt 2,9 tỉ đô la Mỹ (tính ra, giá bán bình quân 617,02 đô la Mỹ/tấn)
Năm 2009, thị trường hàng hoá thế giới chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế nghiêm trọng, trong đó có lúa gạo Dưới sự điều hành xuất khẩu linh hoạt của Chính phủ, năm qua, cả nước đã xuất khẩu được 6,052 triệu tấn gạo, kim ngạch XK gần 2,7 tỉ USD, đây
là năm có số lượng xuất khẩu nhiều nhất từ trước đến nay; trong đó chủng loại gạo cao cấp chiếm đến 40, 25% Tổng giá trị xuất khẩu đạt 2,463 tỉ USD (giá FOB); về số lượng tăng 29,35% so
Trang 8năm 2008 Đặc biệt, tỷ lệ gạo cao cấp XK đã đạt 50% (những năm trước chỉ khoảng 34%) Như vậy, mặc dù năm 2009 xuất khẩu nhiều hơn năm 2008 đến 1,352 triệu tấn gạo, nhưng kim ngạch xuất khẩu giảm 200.000 đô la Mỹ, giá bán giảm 183,69 đô la Mỹ/tấn
Tháng 4/2010 cả nước xuất khẩu 725.620 tấn gạo các loại, đạt 361,4 triệu USD, giảm 49,71% về lượng và giảm 54,41% về trị giá so với tháng 3/2010 Tính chung cả 4 tháng đầu năm lượng xuất khẩu đạt 2,2 triệu tấn, đạt kim ngạch 1,15 tỷ USD, giảm 12,81% về lượng và giảm nhẹ 0,33% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2009 Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam gần như thấp nhất so với những nước xuất khẩu gạo khác, giá bình quân 4 tháng đạt 532USD/tấn, tăng hơn 14% so với cùng kỳ năm 2009 nhưng vẫn thấp hơn giá bình quân 3 tháng đầu năm là 549USD/tấn Theo thống kê của Tổng cục Hải quan cho biết, dù vẫn giảm 7,3% về lượng, xuất khẩu gạo 5 tháng đầu năm đã tăng 0,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước Cụ thể, xuất khẩu gạo từ đầu năm đến nay đã đạt trên 2,9 triệu tấn với kim ngạch xấp xỉ 1,5 tỷ USD, bằng 58,4% kế hoạch cả năm, đồng thời đứng thứ 5 trong các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu dẫn đầu cả nước, xếp sau dệt may, dầu thô, da giày và thủy sản Có được kết quả này là do giá gạo xuất khẩu đã tăng khá hơn trong năm nay Cụ thể, giá gạo xuất khẩu bình quân 5 tháng đầu năm đạt 513,43 USD/tấn, tăng khoảng 8,5% so với cùng kỳ năm trước (giá gạo xuất khẩu bình quân 5 tháng đầu năm 2009 chỉ đạt 473,37 USD/tấn)
Đơn vị: tấn
Trang 9.
Cơ cấu thị trường:
Có thể nói rằng công tác thị trường của ngành xuất khẩu gạo đã có những tiến bộ vượt bậc Cho đến nay, gạo Việt Nam đã xuất khẩu sang thị trường của trên 70 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có các thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ nhưng chủ yếu là sang Philippines; Malaysia; Cu Ba; Singapore Theo một chuyên gia trong lĩnh vực ngành hàng xuất khẩu, trong vài năm gần đây, sau khi đạt tới sự bão hòa về khối lượng tại các thị trường truyền thống, các hoạt động khai phá để tạo sự tăng trưởng ở các thị trường mới của các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu gạo là không đáng kể
Philippines vẫn dẫn đầu cả về lượng và kim ngạch, riêng tháng 4/2010 xuất sang Philippines 229.030 tấn gạo, trị giá 153,5 triệu USD (chiếm 31,56% về lượng và 42,48% về kim ngạch) Tính cả 4 tháng xuất sang Philippines hơn 1 triệu tấn gạo, trị giá 640,7 triệu USD (chiếm 46,64% về lượng và 55,5% về kim ngạch)
Trong tháng 4/2010 cũng có thêm 4 thị trường xuất khẩu gạo đạt trên 10 triệu USD là: Singapore 43,4 triệu USD; Đài Loan 28,4 triệu USD; Malaysia 21,6 triệu USD; Hồng Kông 11,3 triệu USD
Xuất khẩu gạo sang các thị trường trong tháng 4/2010 đa số đều giảm về lượng và trị giá
so với tháng 3/2010; trong đó dẫn đầu về sự sụt giảm là thị trường Cu Ba chỉ đạt 1.275 tấn, trị giá 0,51 triệu USD, giảm 98,7% về lượng và 98,84% về kim ngạch; đứng thứ 2 về mức sụt giảm là thị trường Tiểu vương Quốc Ả Rập thống nhất (-94,59% về lượng và -95,56% về kim ngạch); tiếp
Trang 10đến Italia (-86,06% về lượng và -87,33% về kim ngạch); Indonesia (-73,97% về lượng và -78,44% về kim ngạch); Philippines (-70,73% về lượng và 68,49% về kim ngạch); Malaysia (-58,01% về lượng và -59,66% về kim ngạch); Nga (-52,47% về lượng và -55,8% về kim ngạch)…
Chỉ có 5 thị trường tăng cả lượng và kim ngạch so với tháng 3/2010, dẫn đầu về mức tăng trưởng dương là thị trường Pháp (+118,15% về lượng và +78,84% về kim ngạch); thứ 2 là thị trường Hồng Kông (+113,61% về lượng và +70,95% về kim ngạch); tiếp theo là Australia (+73,37% về lượng và +25,74% về kim ngạch); Nam Phi (+61,26% về lượng và +49,66% về kim ngạch); Singapore (+34,75% về lượng và +17,57% về kim ngạch) Riêng lượng gạo xuất sang Ucraina trong tháng 4/2010 tăng 17,45% về lượng nhưng giảm 0,78% về kim ngạch so với tháng 3/2010
Trong tháng 4/2010 có 2 thị trường không tham gia xuất khẩu gạo là Tây Ban Nha và Hà Lan
Thị trường xuất khẩu gạo tháng 4/2010
giảm về
Tăng giảm Lượng
(tấn)
Trị giá(USD)
Lượng(tấn)
Trị giá(USD)Tổng cộng 725.620 361.359.655 2.168.597 1.153.924.498 -49,71 -54,41
Trang 11*Nguồn của Tổng cục Thống Kê, 2010
IV Ma trận kết hợp Swot của xuất khẩu gạo:
Từ khi Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương Mại Thế Giới – WTO, nền kinh tế nói chung cũng như ngành xuất khẩu “gạo” nói riêng đã có những bước phát triển không ngừng nhờ vào những điểm mạnh cũng như cơ hội mà WTO mang lại cho Việt Nam Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể không nhắc đến những khó khăn, thách thức mà WTO đã tác động tới Chính vì vậy chúng ta cùng nhau tìm hiểu: Ma trận kết hợp “SWOT” của ngành xuất khẩu “gạo” trong thời gian Việt Nam đã gia nhập vào WTO:
Ma trận kết hợp SWOT
của ngành xuất khẩu gạo
Việt Nam sau khi gia nhập
WTO
Cơ hội
1.Thị trường nước ngoài chưa bão hòa
2.Các rào cản thuế quan
và phi thuế quan được phá
vỡ nên cơ hội phát triển là rất lớn
3.Cơ hội tiếp xúc, làm
việc, học hỏi kinh nghiệm
và chuyển giao công nghệ với các nước phát triển như
Mỹ, Nhật
4 Thu hút được sự đầu
tư và quan tâm của các tổ chức ngân hàng lớn như WB
Thách thức:
1 Khủng hoảng tài chính toàn cầu
2 Do đồng Euro mất giá
nên thách thức lớn đặt ra cho việc xuất khẩu qua các nước châu Phi
3 Xuất hiện đối thủ cạnh
tranh mới như myanmar, pakistan
4 Xu hướng bảo hộ mậu dịch có chiều hướng gia tăng
Trang 12Điểm mạnh
1.Gia nhập WTO, Việt
Nam có nhiều cam kết tạo
nên thế mạnh cho ngành
xuất khẩu gạo hư cam kết
IRN, cam kết trợ cấp nông
nghiệp…
2 Được hưởng những ưu
đãi, đối xử công bằng như
các quốc gia trohg WTO
3 Thị trường tiềm năng
Phối hợp ST
Phát triển sản phẩm với chất lượng cao (S1, S3,S4, W1, W4)
Điểm yếu
1 Trợ cấp xuất khẩu trong
nông nghiệp bị phá bỏ trừ
trường hợp được hưởng ưu
đãi dành cho nước đang
phát triển
2 Cơ sở hạ tầng, máy
móc trang thiết bị đầu tư
cho nông nghiệp cũng như
hệ thống vận chuyển còn
thấp…
3 Năng lực tài chính còn
hạn hẹp, nguồn thông tin và
nhân lực như các chuyên
gia trình độ dự báo cung