*Trường hợp có lãi suất trần: Khối lượng tín phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ trúng thầu được xét chọn theo thứ tự tăng lên của lãi suất đặt thầu trong phạm vi lãi suất trần - Đấu thầu
Trang 1Đề tài: Phương thức và thực trạng phát hành trái phiếu (Chính phủ và doanh nghiệp) ở Việt Nam.
Danh sách nhóm:
5 Đào Nguyễn Đức Mạnh CQ522280
Trang 2I Phương thức phát hành trái phiếu (Chính phủ và doanh nghiệp).
1 Đấu thầu phát hành trái phiếu.
a Khái niệm: Đấu thầu trái phiếu là việc lựa chọn các tổ chức, cá nhân tham gia dự thầu, đáp
ứng đủ yêu cầu của tổ chức phát hành
b Hình thức đấu thầu:
- Đấu thầu cạnh tranh lãi suất: là hình thức đấu thầu mà các thành viên tham gia đưa ra các mức
lãi suất và khối lượng dự thầu để xác định lãi suất và khối lượng trúng thầu của thành viên trongphiên đấu thầu
*Trường hợp không có lãi suất trần: Khối lượng tín phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ
trúng thầu được xét chọn theo thứ tự từ mức lãi suất thấp nhất đến mức lãi suất đạt được khốilượng tín phiếu, trái phiếu thông báo phát hành
*Trường hợp có lãi suất trần: Khối lượng tín phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ trúng
thầu được xét chọn theo thứ tự tăng lên của lãi suất đặt thầu trong phạm vi lãi suất trần
- Đấu thầu không cạnh tranh lãi suất: là hình thức đấu thầu mà các thành viên tham gia chỉ đăng
ký khối lượng, không đưa ra mức lãi suất dự thầu Khối lượng trúng thầu của thành viên áp dụngtheo lãi suất trúng thầu trong đấu thầu cạnh tranh lãi suất
- Kết hợp giữa đấu thầu cạnh tranh lãi suất và đấu thầu không cạnh tranh lãi suất (trong đó khối
lượng trái phiếu đấu thầu không cạnh tranh lãi suất không vượt quá 30% tổng khối lượng tráiphiếu dự kiến phát hành của đợt đấu thầu đó)
c Nguyên tắc.
- Bí mật về thông tin của các tổ chức, cá nhân tham gia dự thầu
- Bảo đảm sự bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân tham gia đấu thầu
- Cạnh tranh về lãi suất giữa các tổ chức, cá nhân tham gia đấu thầu
d Ưu nhược điểm.
-Ưu điểm: Huy động vốn nhanh.
-Nhược điểm: Khó thực hiện khi cần huy động vốn nhiều.
2 Đại lý phát hành trái phiếu.
a Khái niệm: Đại lý phát hành trái phiếu là việc tổ chức phát hành ủy thác cho các tổ chức khác
thực hiện bán trái phiếu cho các nhà đầu tư Tổ chức nhận làm đại lý phát hành được huởng phíđại lý phát hành căn cứ theo khối lượng trái phiếu tiêu thụ được, lượng trái phiếu tiêu thụ khônghết của đợt phát hành, đại lý được quyền hòan trả lại cho tổ chức phát hành
b Ưu nhược điểm.
-Ưu điểm:
Trang 3- Bảo lãnh phát hành bao gồm cả việc tư vấn tài chính và phân phối chứng khoán.
- Tổ chức bảo lãnh được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định dựa trên số tiền thu được
b) Phân loại.
-Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: Tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng
khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán hay không
Thông thường các tổ chức bảo lãnh mua trái phiếu của tổ chức phát hành với giá chiết khấu và bán lại các trái phiếu theo giá chào bán ra công chúng và hưởng chênh lệch giá
-Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: Tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý cho tổ chức phát
hành với cam kết sẽ cố gắng hết sức bán trái phiếu ra thị trường Nếu không phân phối hết sẽ trảlại cho tổ chức phát hành và không chịu hình phạt nào
-Bảo lãnh theo phương thức tất cả hoặc không: Tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo
lãnh bán một số lượng trái phiếu nhất định, nếu không phân phối hết sẽ hủy toàn bộ đợt phát hành Tổ chức bảo lãnh phải trả lại số tiền cho các đầu tư đã mua chứng khoán
-Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu- tối đa: Tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh
được tự do chào bán trái phiếu đến mức tối đa quy định Nếu lượng trái phiếu bán được đạt tỷ lệthấp hơn mực sàn thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ
Trang 4-Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: TCBL cam kết là người mua cuối cùng hoặc chào
bán hộ số cổ phiếu của các quyền mua không thực hiện được
c Đối tượng.
Đối tượng tham gia bảo lãnh phát hành phát hành trái phiếu là các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, công ty tài chính, các ngân hàng và các định chế tài chính khác được Bộ Tài chính chấp thuận
d Ưu nhược điểm
-Ưu điểm:
+Tốc độ huy động vốn nhanh hơn bán lẻ và qua đại lý phát hành
+Khối lượng trái phiếu được đảm bảo tiêu thụ từ phía nhà bảo lãnh
-Nhược điểm:
+Thời gian lâu
+Chi phí bảo lãnh cao
4 Phát hành trực tiếp qua hệ thống Kho bạc Nhà nước: ( Bán lẻ trái phiếu chính phủ)-Chỉ
áp dụng đối với phát hành trái phiếu chính phủ.
a Khái niệm
- Kho bạc Nhà nước sẽ huy động lực lượng nhân sự tại chỗ của đơn vị tự tổ chức tiêu thụ trái phiếu thông qua hệ thống Kho bạc Nhà nước và thông qua hệ thống văn phòng đại diện ở nước ngoài
b Ưu nhược điểm.
-Ưu điểm:
+Lượng vốn huy động được chuyển ngay tức thời vào NSNN
+Kho bạc nhà nước trực tiếp kiểm soát được tiến độ huy động vốn, trực tiếp tiêu thị trái phiếu mà không phải thông qua TTCK hoặc thị trường tiền tệ
-Nhược điểm:
+Gây xáo trộn cho hoạt động quản lý quỹ hàng ngày của kho bạc nhà nước
+Chi phí tiêu thụ cao, tốc độ huy động vốn chậm
+Trái phiếu chính phủ chỉ được xem là công cụ huy động vốn qua KBNN chứ không phải
là một hàng hóa trên thị trường
Trang 5II.Thực trạng phát hành trái phiếu ở Việt nam hiện nay.
II.1 Trái phiếu chính phủ.
Ở Việt Nam, trái phiếu chính phủ được phát hành bởi 3 chủ thể chính là kho bạc Nhà
nước( KBNN), ngân hàng phát triển Việt Nam( VDB) và ngân hàng Nhà nước với hình thức đấu thầu là phổ biến nhất, bảo lãnh phát hành hoặc bán lẻ qua hệ thống Kho bạc nhà nước Mục tiêu của trái phiếu là để đầu tư vào các dự án trọng điểm, bù đắp thâm hụt ngân sách và là công cụ để can thiệp vào thị trường tiền tệ Phương thức đấu thầu trái phiếu được áp dụng chủ yếu do thời gian huy động vốn nhanh, lãi suất thấp, hợp với nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay
Quy mô của trái phiếu nói chung và trái phiếu chính phủ nói riêng hiện chiếm tỉ lệ rất thấp trong tổng tài sản tài chính cả nước với chỉ bằng 17% so với GDP(quá thấp so với Nhật Bản, Hàn quốctrên 100%) con số này khoảng 5 tỷ USD rất nhỏ bé nếu so với mức đủ để đạt tính thanh khoản 100-200 tỷ USD Khối lượng phát hành mỗi đợt tương đối nhỏ chỉ khoảng 20 - 30 triệu USD/đợtkhó thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư có tổ chức và vì vậy cũng làm giảm sức hấp dẫn của trái phiếu chính phủ Huy động vốn thông qua loại hình trái phiếu hiện chưa phải là kênh phổ biến
mà chủ yếu là thông qua hệ thống ngân hàng với tổng tài sản chiếm đến 80% cơ cấu tài sản tài chính Điều này tạo sự bất cân xứng trong kỳ hạn huy động vốn và cho vay của hệ thống ngân hàng, thiếu một kênh huy động vốn dài hạn để phục vụ cho các mục tiêu phát triển lâu dài Cả hai yếu tố này đều góp phần làm tăng chi phí vốn cho nền kinh tế
Trang 6Trái phiếu CP ở Việt nam gồm có: trái phiếu công trình trung ương, trái phiếu đầu tư, trái phiếu kho bạc, tín phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ, công trái xây dựng tổ quốc.
Theo luật định nhà nước quy định:
+ Tín phiếu kho bạc: Phát hành đấu thầu qua sở giao dịch chứng khoán nhà nước
+Trái phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ: Đấu thầu qua SDGCK nhà nước, bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành và bán lẻ qua hệ thống kho bạc nhà nước
+Công trái xây dựng Tổ quốc: bản lẻ qua hệ thống kho bạc Nhà nước
Lượng trái phiếu phát hành bằng đồng nội tệ hiện chủ yếu được giao dịch hoặc nắm giữ bởi cácngân hàng hoặc các tổ chức tài chính tương đương cũng làm cản trở sự phát triển của thị trườngtrái phiếu Điều này tạo sự đơn điệu trong danh mục đầu tư, dẫn đến giá trái phiếu có mức biếnđộng đáng kể khi các nhà đầu tư này thực hiện bán ra hoặc mua vào
Cụ thể, chúng ta sẽ tìm hiểu thực trạng tình hình phát hành Trái phiếu chính phủ trong giai đoạn2009-2013 để nắm rõ vấn đề hơn:
Năm 2005 :
Trái phiếu quốc tế phát hành lần đầu tiên của Việt Nam (loại trái phiếu Chính phủ có thờihạn 10 năm với tổng trị giá phát hành là 750 triệu USD) đã được Tạp chí Tài chính quốc tế vàcác nhà đầu tư khu vực châu Á đánh giá là trái phiếu phát hành thành công nhất của năm 2005
Trang 7Đây là một đợt phát hành trái phiếu quốc tế tạo bước ngoặt đặc biệt và tạo nền tảng quan trọngcho các đợt phát hành sau vì sự thành công của đợt phát hành này đã có ý nghĩa tác động đến cácnhà đầu tư quốc tế để họ xây dựng các hạn mức tín dụng đầu tư vào ViệtNamtrongtươnglai.
Lượng phát hành trái phiếu ban đầu dự định là 500 triệu USD sau tăng lên 750 triệu USD Lượngđặt mua đạt tới 1 tỷ USD trước khi công bố định hướng về giá trái phiếu, lượng đặt mua cuốicùng lên đến 4,5 tỷ USD.Lãi suất là 7,125% nằm dưới mức định hướng 7,25% lúc đầu
Năm 2009
Tháng 9/2009: Hệ thống giao dịch Trái phiếu Chính phủ chuyên biệt chính thức được Sở GDCK Hà Nội (HNX) đưa vào vận hành và ra mắt vào ngày 24/09/2009 tới với mục tiêu phát huy tối đa tầm quan trọng của kênh huy động vốn này đối với nền kinh tế.Mục tiêu xây dựng và phát triển Thị trường TPCP là mở rộng thị trường, tăng cường tính thanh khoản trên thị trường TPCP, liên kết thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, và tăng cường công tác giám sát thị trường
Theo Bộ Tài chính, trong năm 2009, nhu cầu huy động vốn bằng trái phiếu chính phủ cho ngân sách vào khoảng 200.000 tỉ đồng Song, tổng khối lượng trái phiếu chính phủ đã phát hành trong năm chỉ được khoảng 20.000 tỉ đồng, đạt 14% kế hoạch đề ra.Phần lớn số tiền phát hành (2.000 tỷ đồng) được tập trung ở kỳ hạn ngắn 2 năm (kỳ hạn ngắn nhất) thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội, phát hành trong tháng 6 với lãi suất bình quân là 8,93%/năm
- Đấu thầu trái phiếu chính phủ bằng nội tệ đạt kết quả thấp 2009, Sở giao dịch chứng khoán đã tổ chức 51 đợt đấu thầu trái phiếu chính phủ bằng nội tệ, nhưng chỉ huy động được 2578 tỷ/ 62700 tỷ đồng theo kế hoạch Tỷ lệ thành công là 4% tập trung ở các hàng hóa trái phiếu kì hạn ngắn
- Trái phiếu quốc tế do Việt Nam phát hành bằng ngoại tệ phát hành trong những đợt gần đây, đặc biệt trong năm 2009 đều không thu được kết quả như mong muốn cơ bản cũng liên quan đến vấn đề lãi suất.(Tổng khối lượng trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh đã phát hành khoảng 2.700 tỉ đồng-1 con số khá khiêm tốn nếu so với con số 750 triệu USD năm 2005 )
- Trái phiếu Kho bạc chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục trái phiếu nhưng tỷ lệ bán được cũng chỉ ở mức 15%, còn đa số các loại trái phiếu chỉ bán được dưới 7% so với kế hoạch Đặc biệt trái phiếu chính quyền địa phương hoàn toàn không thu hút được sự quantâm của nhà đầu tư Sở dĩ có tình trạng này là do sự chênh lệch quá lớn về lãi suất giữa hai thị trường sơ cấp và thứ cấp, trung bình từ 100-200 điểm Chính phủ không phải chịu
áp lực huy động vốn, các dự án sử dụng vốn trái phiếu có tình hình giải ngân chậm
Nguyên nhân trực tiếp là lãi suất không hấp dẫn Trong hầu hết các đợt phát hành, lãi suất trần
mà tổ chức phát hành đưa ra đều thấp hơn lãi suất thấp nhất mà các nhà thầu đăng ký Tính trungbình qua các đợt phát hành, mức chênh lệnh này là 0,88%/năm Trong khi đáng nhẽ lãi suất trái
Trang 8phiếu chính phủ < lãi suất huy động trên thị trường, lãi suất chuẩn để các công cụ nợ tham chiếu
Còn theo một nguồn tin khác, báo cáo của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, cho biết khối lượng trái phiếu chính phủ phát hành thành công trong năm qua là 15.000 tỉ đồng, tính cả giá trị quy đổicủa đợt phát hành bằng ngoại tệ.Cũng theo báo cáo này, năm 2009 có khoảng 15.000 tỉ đồng trái phiếu chính phủ đến hạn, như vậy về cơ bản Chính phủ không huy động thêm được vốn trong năm qua
=>> tình hình phát hành TP năm 2009 trên thị trường sơ cấp khá ảm đạm Báo cáo này cho
biết tính chung trong năm 2009 có khoảng 70 đợt phát hành bao gồm trái phiếu Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Phát triển, Ngân hàng Chính sách xã hội và trái phiếu TPHCM, tuy nhiên chỉ
có khoảng 5.000 tỉ đồng trái phiếu huy động được trên tổng số 71.400 tỉ đồng đưa ra gọi thầu
Năm 2010
Theo kho bạc nhà nước Việt Nam, 10 tháng đầu năm 2010 đã có 54 đợt tổ chức đấu thầu,bảo lãnh phát hành trái phiếu với số lượng thành viên tham gia khá lớn Theo báo cáo của Chính phủ, phát hành trái phiếu Chính phủ trong nước năm 2010 được 68.292 tỉ đồng Nhà nước chủ trương phát hành trái phiếu theo lô lớn, nhưng chỉ có từ 5-7 tổ chức lớn tham gia đấu thầu với số lượng huy động vốn thấp hơn nhiều so với kế hoạch
Năm 2011
Năm 2011 có thể coi là năm thành công nhất từ trước đến nay trong huy động vốn cho ngân sách nhà nước thông qua đấu thầu trái phiếu chính phủ tại HNX Lượng vốn huy động đượclớn nhất và tỷ lệ huy động thành công/kế hoạch huy động cao nhất Qua 130 phiên đấu thầu đã huy động được 81.715,8 tỷ đồng (gấp gần 3 lần khối lượng trúng thầu năm 2010), trong đó huy động trái phiếu kho bạc đạt 62.153,8 tỷ đồng, đạt khoảng 80% kế hoạch huy động Lãi suất phát hành tuy ở một mặt bằng mới cao hơn năm trước, song vẫn thấp hơn khoảng 2% so với lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng
Toàn bộ trái phiếu Chính phủ phát hành qua kênh đấu thầu và bảo lãnh đều được thực hiện niêm yết trên thị trường trái phiếu Chính phủ chuyên biệt theo quy định
Năm 2012
Nhìn chung, trong quý 1/2012, hoạt động đấu thầu trên thị trường sơ cấp đã diễn ra rất
thành công Điều đó cho thấy mức độ quan tâm của nhà đầu tư tăng mạnh so với quý trước Trong quý I Kho bạc Nhà nước đã phát hành thành công 29,2 nghìn tỷ đồng trái phiếu,
vượt mục tiêu đề ra là 25 nghìn tỷ đồng.Dự báo, nguồn cung hạn chế, trong khi lãi suất vẫn
theo xu hướng giảm dần sẽ là nhân tố quan trọng giúp duy trì lượng cầu ổn định cho thị trường trái phiếu Chính phủ trong năm 2012.
Tính đến ngày 17/12/2012, tổng mệnh giá khối lượng trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh huy động được là 189.315,15 tỷ đồng, bằng 95,13% tổng kế hoạch huy động
Trang 9cả năm 2012 So với 12 tháng cùng kỳ của năm 2010 và 2011, khối lượng trái phiếu huy động trong năm 2012 đã lớn hơn rất nhiều, đặc biệt là khối lượng huy động trái phiếu Chính phủ (bằng173,6% cùng kỳ 2011 và bằng 206,7% cùng kỳ 2010) Việc huy động được một khối lượng lớn trái phiếu Chính phủ trong năm 2012 chủ yếu do tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng là khá thấp (11 tháng tăng 4,62% so với cùng kỳ năm 2011), trong khi đó, NHNN tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ hợp lý để đảm bảo thanh khoản của hệ thống NHTM.
Kết quả năm 2012: là năm “được mùa” của trái phiếu chính phủ khi huy động thành công gần 160.000 tỉ đồng, gần gấp đôi so với năm 2011, trong đó KBNN đã huy động được 141.340 tỷ đồng, bằng 101% kế hoạch được giao và là năm có kết quả huy động vốn đạt cao nhất kể từ khi triển khai nghiệp vụ phát hành TPCP, gấp 2 lần năm 2011 Trong bối cảnh thu ngân sách nhà nước gặp khó khăn nguồn vốn huy động từ trái phiếu đã góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu chi của ngân sách nhà nước
Năm 2013 Kho bạc Nhà nước sẽ thí điểm phát hành trái phiếu kỳ hạn 15 năm để đáp ứng nhu
cầu đầu tư của các công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư có vốn dài hạn để đáp ứng mực tiêu tăng tỷ
trọng trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh do khối các công ty bảo hiểm,
quỹ hưu trí, công ty quản lý quỹ nắm giữtừ 12% (2011) lên mức 20%.
Bà Trần Minh Hằng - Phó Tổng giám đốc Kho bạc Nhà nước (KBNN) cho biếtKBNN sẽ huy
động vốn thông qua phát hành TPCP năm 2013 là 150.000 tỷ đồng, bao gồm: bù đắp bội chi
ngân sách là 90.000 tỷ đồng, đầu tư các dự án, công trình giao thông thủy lợi… là 60.000 tỷ đồng.Cụ thể, kỳ hạn dưới 1 năm là 30.000 tỷ đồng, kỳ hạn 2 năm là 30.000 tỷ đồng, kỳ hạn 3 năm là 40.000 tỷ đồng, kỳ hạn 5 năm 40.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10 và 15 năm là 10.000 tỷ
đồng.“Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, tùy theo tình hình thị trường, KBNN có thể
sẽ điều chỉnh khối lượng phát hành giữa các kỳ hạn để đảm bảo khả năng huy động vốn”, bà Hằng tiết lộ
II.2 Trái phiếu doanh nghiệp.
1.Tình hình chung.
a Phát hành trái phiếu trong nước.
Trước năm 2006.
- Năm 1994: chính phủ ban hành Nghị định 120/1994/ NĐ-CP quy định quy chế tạm
thời về việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước chính thứ có hiệu lực từ 1/10/1994 Theo nghị định này, đối tượng được phát hành trái phiếu, cổ phiếu là các doanh nghiệp nhà nươc, trừ doanh nghiệp là ngân hàng quốc doanh, để làm thử nghiệm Sau 1 năm thử nghiệm sẽ bổ sung hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Có thể nói, trong suốt những năm 1994 đến 2006, Nghị định 120/NĐ-CP đã chi phối rất nhiều tới tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp Cụ thể phải kể đến 1 số đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp đầu tiên như:
Trang 10- Năm 1994, công ty Xi măng Hoàng Thạch phát hành 44.45 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 4 năm, công ty Xi măng Anh Sơn phát hành 7.79 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 3 năm, 5năm, lãi suất 15%/ năm
- Năm 1996, Công ty cổ phần cơ điện lạnh REE phát hành 5 triệu USD trái phiếu chuyển
đổi quốc tế, lãi suất 4.5%/năm, được chuyển đổi vào năm 1998
- Năm 1998, công ty cổ phần công nghệ thông tin EIS phát hành trái phiếu chuyển đổi kỳ
hạn 3 năm, huy động 10 tỷ đồng, lãi suất 8%/năm vào năm 2004 và được chuyển đổi thành cổ phiếu vào năm 2004
- Năm 2003, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam phối hợp cùng Bộ Tài chính phát hành 300
tỷ trái phiếu doanh nghiệp,có thời hạn 5 năm, sau khi mua được 2 năm người nắm giữ có quyền thanh toán trước thời hạn với lãi suất tính đến từng tháng lẻ Lãi suất năm đầu tiên là 8.7%/năm, lãi suất các năm tiếp theo bằng lãi suất tiết kiệm bình quân của 4 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất cộng 0.5%/năm Số vốn huy động này được dung cho nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy đạm Phú Mỹ, dự án khí – điện – đạm Cà Mau
- Cũng trong năm 2003, Tổng công ty Xi măng phát hành 200 tỷ đồng trái phiếu, EVN
300 tỷ đồng
Có thể thấy, dưới tác động của Nghị định 120, từ năm 1994 đến 2006, hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp mới chỉ tập trung ở các doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức tín dụng với 1 số lượng rất khiêm tốn và quy mô phát hành nhỏ
Giai đoạn 2006 – 2009
Năm 2006 được coi là một năm bùng nổ của thị trường chứng khoán Việt Nam Không chỉ có cổ phiếu được mùa mà trái phiếu nói chung và trái phiếu doanh nghiệp nói riêng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng Ngày 15/9/2006, Nghị định 52/2006/NĐ- CP được ban hành với nhiều quy định “ thông thoáng” Theo Nghi định 52, chủ thể phát hành không giới hạn là các doanh nghiệp nhà nước như trước mà còn có thêm các công ty TNHH, công ty cổ phần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Cũng trong Nghị định này, nếu doanh nghiệp muốn phát hành TPDN là các tổ chức tín dụng thì phải thực hiện phát hành trái phiếu theo Luật Các tổ chức tín dụng; doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra công chúng ( từ 100) nhà đầu tư trở lên thì phát hành theo quy định của Luật Chứng khoán; Doanh nghiệp phát hành trái phiếu theo hình thức riêng lẻ thì phải phát hành theo quy định của Nghị định 52
Theo đó, trong năm 2006, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã huy động được trên 7.000 tỷ đồng, trong đó EVN huy động được 5.000 tỷ đồng, Vinashin 800 tỷ đồng, Tổng công ty Sông Đà huy động được 300 tỷ Cuối năm 2006, tập hợp các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước, các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và các công ty bảo hiểm đã thành lập Diễn đàn thị trường trái phiếu Việt Nam (VNBF) – tiền thân của VBMA với mục đích thúc đẩy
Trang 11các hoạt động giao dịch trái phiếu thông qua việc phổ biến, chia sẻ thông tin thị trường, tiêu chuẩn hóa các hoạt động thương mại đối với thị trường trái phiếu VN Sau năm 2006, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam dường như được khoác một chiếc áo mới: hoạt động phát hành trái phiếu diễn ra trên một phạm vi rộng hơn, quy mô và giá trị trái phiếu phát hành lớn hơn, các chủ thể tham gia tích cực với tính chuyên nghiệp cao hơn.
Tính đến tháng 7 năm 2007, xu hướng phát hành trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục gia tăng, tổng giá trị phát hành lên đến 7000 tỷ đồng, trong đó Vinashin tiếp tục phát hành 3000 tỷ đồng, Lilama 1.500 tỷ, Vinaconex 1000 tỷ, Tổng công ty thép 400 tỷ đồng và Vilemix 5 tỷ Tuy phát triển nhanh nhưng đến thời điểm này, trái phiếu doanh nghiệp vẫn còn khá nhỏ so với tổng giá trị 16000 tỷ, khoảng 1.5% GDP
Giá trị phát hành trái phiếu giai đoạn 2001- 2006
Có thể thấy qua biểu đồ trên, khối lượng giao dịch trái phiếu doanh nghiệp vẫn còn chiếm 1 tỷ lệ rất nhỏ: TPCP khoảng 81%, TPĐP 10%, TPDN 9% Cho tới năm 2007, mới chỉ có 10 doanh nghiệp phát hành trái phiếu, gồm: Petro Vietnam, Tổng công ty cao su, Vinashin, EVN, Lilama, Tổng công ty thép, Vilexim, Tổng công ty xây dựng điện Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà và Vinaconex Tất cả các công ty này đều là những công ty đầu ngành hoặc doanh nghiệp nhà nước
đã cổ phần hóa.Kỳ hạn của trái phiếu này đều là trung và dài hạn (2 đến 10 năm), lãi suất danh nghĩa vẫn còn thấp hơn lãi suất ngân hàng.Những điều này một phần giải thích tại sao các nhà
Trang 12đầu tư vẫn còn khá thờ ơ với việc đầu tư vào trái phiếu, độ thanh khoản của trái phiếu cũng không cao.
- Từ cuối năm 2007 đến cuối 2008:
Bước sang năm 2008, đặc biệt từ khoảng giữa năm hoạt động phát hành trái phiếu bị khựng lại
do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới Bên cạnh đó, sự leo thang của lãi suất saulạm phát cũng là một trở ngại khi tính toán chi phí nếu huy động vốn qua kênh này Hầu hết các đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp không được thực hiện ngoại trừ Tổng công ty Đường cao tốc Việt Nam (VEC) phát hành một đợt trái phiếu 500 tỷ đồng ngày 28/8/2008 với lãi suất trúng thầu 16% được chính phủ bảo lãnh và một số tổ chức tín dụng phát hành thành công Năm 2008,
tỷ trọng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành so với tổng số vốn huy động qua thị trường chứng khoán chỉ chiếm 4.07% và tỷ trọng TPDN phát hành so với tổng giá trị trái phiếu phát hành thậm chí chỉ chiếm 5.28%
- Năm 2009:
Năm 2009 chứng kiến nhiều đợt phát hành trái phiếu thành công trong đó chủ yếu là hình thức phát hành trái phiếu với lãi suất thả nổi Tổng giá trị phát hành đạt hơn 26.000 tỷ đồng, trong đó khoảng 18.000 tỷ đồng giá trị trái phiếu có lãi suất thả nổi (chiếm 77%)
Một số doanh nghiệp: CTCP Vincom (VIC) phát hành 100 triệu USD TP chuyển đổi quốc tế niêm yết tại sàn giao dịch Singapore, CTCP phát triển đô thị Kinh Bắc (KBC) 1200 tỷ đồng, FPT 1800 tỷ đồng, HAGL 1450 tỷ đồng Nếu năm 2006 và 2007, thị trường trái phiếu gần như được chiếm lĩnh hoàn toàn bởi các doanh nghiệp nhà nước thì năm 2009 này, khối tư nhân
đã chứng minh được sức hút của họ với những đợt phát hành “cháy hàng” Các doanh nghiệp đã rất linh hoạt trong đợt trái phiếu của năm này, điển hình:
- Công ty cổ phần Kinh Bắc phát hành thành công ba đợt trái phiếu với tổng giá trị 1.200 tỷ đồng Lãi suất của trái phiếu được xác định theo nguyên tắc lấy lãi suất trái phiếu Chính phủ (9%/năm) cộng thêm 3.5%, đây là điểm căn bản hấp dẫn hơn TPCP, bên cạnh đó, KCB còn khẳng định tính thanh khoản của trái phiếu thông qua việc mời Vietinbank làm tổ chứcnhận thanh toán cho trái phiếu Kinh Bắc Vì thế, nhà đầu tư sở hữu trái phiếu hoàn toàn có thể cầm cố, bán lại cho Vietinbank trước ngày đáo hạn hoặc trong trường hợp KBC mất khả năng thanh toán thì Vietinbank sẽ đương đầu với nhà đầu tư để trả những khoản này
- Trong khi đó, trái phiếu FPT thu hút nhà đầu tư bằng quyền mua cổ phần 10/2009, 1.800 tỷ trái phiếu FPT được phát hành với lãi suất chỉ 7%/năm cho kỳ hạn 3 năm và trái phiếu sẽ được chuyển đổi thành cổ phiếu trong một thời gian nhất định với một mức giá nhất định
- HAGL cũng không ngoại lệ 1.450 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn một năm với lãi suất 0% có kèm quyền mua cổ phiếu đã được 13 nhà đầu tư trong và ngoài nước bao trọn