1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển giáo dục đào tạo tại việt nam

52 346 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 378 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên thực tếvốn đầu tư phát triển GD- ĐT chưa tương xứng với vị thế của nó và nó phảnánh một cơ cấu vốn đầu tư phát triển GD- ĐT chưa hợp lý, việc quản lý hoạtđộng này còn hạn chế l

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm

1986 Kể từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổimới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung,bao cấp, sang kinh tế thị trường định hướng XHCN thực hiện CNH-HĐHđất nước, đa dạng hoá và đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại, thựchiện mở cửa, hội nhập quốc tế Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Namgiảm nhanh được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằngtương đối trong xã hội Tiền đề phát triển đất nước trong thời kỳ mới chính

là do sức mạnh của con người Việt Nam quyết định GD- ĐT là con đườngquan trọng nhất để xây dựng nguồn nhân lực và làm nên sức mạnh ấy

Ngành GD- ĐT muốn phát triển được và đáp ứng yêu cầu của thời kỳmới nhất thiết phải được đầu tư cả về sức người và sức của Đầu tư cho GD-

ĐT là một nội dung trong đầu tư phát triển con người Từ trước đến nay đàotạo bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực luôn được Đảng và Nhà

ta coi là hoạt động đầu tư cơ bản nhất Đại hội IX của Đảng Cộng sản ViệtNam đã khẳng định mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển kinh tế - xãhội 2001-2010 là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nângcao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đểđến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướnghiện đại hoá” “ Con đường CNH- HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thờigian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vưac có những bướcnhẩy vọt…” Để đạt được các mục tiêu nêu trên, giáo dục và khoa học côngnghệ có vai trò quyết định,nhu cầu phát triển giáo dục là rất bức thiết

Việc đầu tư vào lĩnh vực GD- ĐT đã gặt hái nhiều thành tựu đáp ứng

Trang 2

rộng, đa dạng hóa các hình thức GD-ĐT đồng thời không ngừng nâng caodân trí và tăng cường cơ sở vật chất hạ tầng nhà trường Tuy nhiên thực tếvốn đầu tư phát triển GD- ĐT chưa tương xứng với vị thế của nó và nó phảnánh một cơ cấu vốn đầu tư phát triển GD- ĐT chưa hợp lý, việc quản lý hoạtđộng này còn hạn chế là nguyên nhân chất lượng GD-ĐT ở trong vòng luẩnquẩn nên đã dẫn đến những hạn chế trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo củanước ta

Trang 3

PHẦN I

TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ NÂNG

CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TẠI VIỆT NAM

1 Lý thuyết về đầu tư phỏt triển giỏo dục đào tạo

Đầu t phát triển giáo dục đào tạo là một nội dung trong đầu t phát triểncon ngời Đào tạo bồi dỡng, nâng cao chất lợng nguồn nhân lực luôn đợc

Đảng và Nhà nớc ta coi là hoạt động đầu t cơ bản nhất Vậy có thể hiểu đầu

t cho giáo dục đào tạo là hành động bỏ tiền ra để tiến hành hoạt động nhằmtạo tài sản mới cho nền kinh tế nói chung, cho giáo dục nói riêng Tài sảnmới có thể là trình độ đợc nâng cao của mọi đối tợng trong xã hội, từ đó tạotiềm lực, động lực mới cho nền sản xuất xã hội

Con ngời là lực lợng sản xuất trực tiếp tạo ra của cải vật chất, là lực ợng sáng tạo ra xã hội Đào tạo nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng nhữngyêu cầu của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa vai trò hàng đầu thuộc

l-về công tác giáo dục và đào tạo Giáo dục đào tạo tạo ra sự chuyển biến l-vềchất trong lực lợng lao động, góp phần thực hiện thành công mục tiêu kinh tếxã hội

2 Sự cần thiết phải đầu tư phỏt triển ngành giỏo dục và nõng cao chất lượng lao động tại Việt Nam

Ngành giỏo dục - đào tạo muốn phỏt triển được và đỏp ứng yờu cầucủa thời kỳ mới nhất thiết phải được đầu tư cả về sức người và sức của Cúthể hiểu đầu tư cho giỏo dục - đào tạo và nõng cao chất lượng lao động làhành động bỏ tiền ra để tiến hành hoạt động nhằm tạo tài sản mới cho nềnkinh tế núi chung và cho ngành giỏo dục - đào tạo núi riờng Tài sản mớiđược tạo ra cú thể là trỡnh độ được nõng cao của mọi đối tượng trong xó hội,

từ đú tạo ra tiềm lực, động lực mới cho nền sản xuất xó hội Như đó nờu trờn,giỏo dục - đào tạo chớnh là động lực thỳc đẩy và là điều kiện cơ bản đảm bảoviệc thực hiện những mục tiờu kinh tế- xó hội, xõy dựng và bảo vệ đất nước

Trang 4

thế của thời đại - phát triển nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu, thựchiện giáo dục thường xuyên cho mọi người, hướng tới xây dựng một xã hộihọc tập suốt đời.

Phát triển giáo dục chính là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài, đào tạo con người có văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghềnghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, sống lànhmạnh

Phát triển nguồn nhân lực(PTNNL) bao gồm cả về số lượng và chấtlượng dân số nhưng hiện nay chất lượng nguồn nhân lực là trọng tâm củaPPNNL nhất là đối với các nước đang phát triển với dân số đông và chấtlượng nguồn nhân lực thấp Nguồn vốn nhân lực này được tạo ra qua quátrình đầu tư vào nguồn nhân lực bao gồm đầu tư vào giáo dục và học tậpkinh nghiệm tại nơi làm việc, sức khoẻ và dinh dưỡng Thực tế đã cho thấy,lợi ích thu được từ việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực mà cụ thể là thôngqua giáo dục - đào tạo là rất lớn Trình độ nhân lực trung bình ở một nướccao hơn cho phép tăng trưởng kinh tế tốt hơn và điều chỉnh tốt hơn đối vớicác vấn đề dân số, kế hoạch hoá gia đình, môi trường và nhiều vấn đề khác.Tuy nhiên giáo dục nhìn từ góc độ PTNNL hẹp hơn so với giáo dục như mộtquá trình tồn tại trong xã hội Giáo dục bản thân nó là một quá trình đa mụctiêu và đào tạo nguồn nhân lực để cung cấp nguồn lao động có đủ kỹ năngcho công nghiệp hoá chỉ là một mục tiêu trong số các mục tiêu đó Khôngphải tất cả những gì thu được trong GD- ĐT đều nằm trong khuôn khổPTNNL PTNNL vừa rộng hơn và vừa hẹp hơn quá trình GD- ĐT Nhữngkiến thức và kinh nghiệm thu nhận được trong quá trình GD- ĐT và làm việckhông sử dụng cho quá trình sản xuất nằm ngoài phạm vi của PTNNL.Những kiến thức và kinh nghiệm này nằm trong một khuôn khổ khác liên

Trang 5

niệm hẹp hơn so với phát triển con người Phát triển con người nhìn nhậncon người không chỉ từ góc độ là yếu tố đóng góp cho phát triển kinh tế xãhội mà còn từ khía cạnh thoả mãn và tiếp nhận các nhu cầu phát triển, giải trícủa riêng cá thể đó.

Khoa học- công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinhtế- xã hội Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học- công nghệ, pháttriển nguồn lực đáp ứng nhu cầu của xã hội, tinh thần trách nhiệm và nănglực của các thế hệ hiện nay và mai sau

Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu đã tạo nên nhữngthay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xâydựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục.Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tưcho phát triển

Xã hội tạo điều kiện cho giáo dục phát triển, đồng thời cũng đòi hỏigiáo dục phải phục vụ đắc lực cho xã hội; Bối cảnh quốc tế và trong nướcvừa tạo thời cơ lớn vừa đặt ra những thách thức không nhỏ cho giáo dụcnước ta Sự đổi mới và phát triển giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầutạo cơ hội tốt để giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với các xu thếmới, tri thức mới, những cơ sở lý luận, phương thức tổ chức, nội dung giảngdạy hiện đại và tận dụng các kinh nghiệp quốc tế để đổi mới và phát triển.Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ngày càng coi trọng vai trò của giáodục, quan tâm nhiều hơn và đòi hỏi giáo dục phải đổi mới và phát triển đápứng nhu cầu ngày càng lớn của mọi tầng lớp nhân dân về học tập và tiếp thunhững kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện những phẩm chất, năng lựccần thiết trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhậpkinh tế quốc tế

Trang 6

Giáo dục nước ta phải vượt qua không chỉ những thách thức riêng củagiáo dục Việt Nam mà cả những thách thức chung của giáo dục thế giới.Một mặt phải khắc phục những yếu kém bất cập, phát triển mạnh mẽ để thuhẹp khoảng cách với những nền giáo dục tiên tiến cũng đang đổi mới và pháttriển Mặt khác, phải khắc phục sự mất cân đối giữa yêu cầu phát triển nhanhquy mô và đòi hỏi gấp rút nâng cao chất lượng; giữa yêu cầu vừa tạo đượcchuyển biến cơ bản, toàn diện vừa giữ được sự ổn định tương đối của hệthống giáo dục.

Thực tiễn chuyển đổi cơ chế và phát triển kinh tế đòi hỏi giáo dục phảitiếp cận và thích nghi với cơ chế mới, phải luôn phát triển và đi trước mộtbước đón đầu sự phát triển của xã hội

Trang 7

PHẦN IIThựC TRạNG HUY Động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn

đầu t phát triển giáo dục đào tạo tại việt nam

I - Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phỏt triển giỏo dục tại Việt Nam thời gian qua.

1 Cỏc nguồn vốn đầu tư phỏt triển giỏo dục – đào tạo

Giỏo dục- đào tạo đó và đang đúng vai trũ hết sức quan trọng, là độnglực thỳc đẩy tăng trưởng, xoỏ đúi giảm nghốo, đảm bảo cụng bằng xóhội Chớnh vỡ vậy đầu tư phỏt triển giỏo dục đào tạo đúng vai trũ hết sứcquan trọng đối với sự phỏt triển của đất nước núi chung và của ngành giỏodục núi riờng Nguồn tài chớnh cơ bản dành cho giỏo dục- đào tạo nước tagồm:

- Ngõn sỏch Nhà nước (NSNN)

- Cỏc nguồn vốn ngoài NSNN: thu từ học phớ, phớ, đúng gúp xõy dựngnhà trường và cỏc đúng gúp khỏc, cỏc khoản thu từ nghiờn cứu khoa học, laođộng sản xuất, làm dịch vụ, cỏc khoản đúng gúp tự nguyện từ cỏc tổ chức kinh tế, xó hội và cỏc nhà hảo tõm, nguồn vốn đầu tư từ cỏc tổ chức và cỏc nhõn cho giỏo dục- đào tạo

Ta cú thể thấy cơ cấu nguồn vốn đầu tư phỏt triển ngành giỏo dục- đàotạo thể hiện ở bảng dưới đõy:

Trang 8

Bảng: Nguồn vốn đầu tư phát triển ngành giáo dục – đào tạo

(Nguồn: Bộ GD – ĐT và Ngân sách Nhà nước)

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy vốn đầu tư phát triển giáo dục – đào tạoliên tục tăng qua các năm , nếu như năm 2001 tổng VĐT là 25882 tỷ đồngthì đến năm 2006 tổng VĐT đã tăng lên tới 78088 tỷ đồng (tăng gấp 3,02 lần

so với năm 2001), thể hiện mức độ quan tâm ngày càng lớn của xã hội dànhcho sự nghiệp giáo dục – đào tạo

Cõ cấu nguồn vốn cho đầu tý phát triển GD - ĐT giai đoạn 2001-2006

0 10

Trang 9

Nam giai đoạn từ 2001-2006: NSNN vẫn chiếm tỷ trọng lớn, chiếm khoảng60% tổng nguồn vốn đầu tư, các nguồn vốn ngoài NSNN chiếm khoảng40% Đây cũng có thể nói là đặc điểm riêng của Việt Nam, trong điều kiện

là một nước kinh tế đang phát triển, đời sống người dân còn nhiều khó khăn

và để đảm bảo mức độ phổ cập cũng như các mục tiêu vĩ mô thì Nhà nướccần đóng vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục- đào tạo, nhất làđối với giáo dục mầm non và phổ thông, bài toán đặt ra ở đây là làm thế nào

để sử dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả Tuy nhiên, tỷ lệ trên cũngphản ánh mức độ bao cấp còn tương đối lớn của NSNN và việc huy độngchưa hiệu quả đối với các nguồn lực khác trong đầu tư phát triển ngành giáodục- đào tạo

1.1 Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước (NSNN).

Giai đoạn 2001-2010, tỷ trọng chi cho giáo dục – đào tạo trong tổngchi Ngân sách sẽ tăng lên, dự báo đến năm 2010 tỷ lệ chi sẽ không dưới20% Cũng theo Luật giáo dục năm 2005, Nhà nước dành ưu tiên hàng đầucho việc bố trí ngân sách giáo dục, đảm bảo tốc độ tăng chi NSNN cho giáodục – đào tạo cao hơn tốc độ tăng NSNN hàng năm

Cùng với việc tăng NSNN, việc phân cấp quản lý Ngân sách giáo dụccũng đang được cải tiến từng bước Các biện pháp nhằm cải tiến cơ chế phân

bổ và điều hành ngân sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách giáodục – đào tạo cũng đang được xúc tiến NSNN được tập trung chủ yếu chocác bậc giáo dục phổ cập với mục đích đầu tư cải tạo, nâng cấp và mở rộngcác cơ sở giáo dục và đào tạo Thực hiện từng bước kiên cố hoá các trườnghọc, quan tâm nhiều hơn cho các vùng khó khăn và thường xuyên xảy rathiên tai, trong đó chú trọng đến đảm bảo đủ trường, lớp học từ nhà trẻ, mẫugiáo đến các trường phổ thông trung học cho vùng đồng bào dân tộc thiểu

Trang 10

số, miền núi, vùng sâu, vùng xa Hiện đại hoá một số trường dạy nghề, tăngnhanh tỷ lệ lao động được đào tạo trong toàn bộ lao động xã hội Tập trungđầu tư cho một số trường đại học trọng điểm, ưu tiên kinh phí cho việc đàotạo cán bộ khoa học, kỹ thuật ở nước ngoài Dành kinh phí để đào tạo cán bộtrình độ cao cho công nghệ thông tin, đào tạo nhân tài, cán bộ cho nhữngngành kinh tế mũi nhọn, cho đồng bào dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, NSNNcũng dành để đầu tư đổi mới nội dung, chương trình giáo dục, chất lượnggiáo dục, cung cấp đủ đồ dùng học tập và giảng dạy cho các trường tiểu học

và trung học cơ sở, phát triển các cơ sở đào tạo giáo viên, đảm bảo cả về sốlượng cũng như chất lượng giáo viên dạy học cho các trường phổ thông Để

cụ thể hơn về cơ cấu chi của NSNN cho hoạt động giáo dục – đào tạo quacác năm ta có thể xem xét bảng dưới đây:

1 Tổng chi NSNN cho GD - ĐT

- Tốc độ tăng

15.337 -

19.898 29,7

22.777 14,5

32.819 44,1

41.547 26,6

46.072 10,9 1.1 Chi thường xuyên

- Tốc độ tăng

- Tỷ trọng so với tổng NSNN

10.816 - 70,5

14.128 30,6 71,0

18.625 31,8 81,7

25.927 39,2 79,0

32.406 24,9 78,0

36.367 12,2 78,9 1.2 Chi đầu tư

- Tốc độ tăng

- Tỷ trọng so với tổng NSNN

4.521 - 29,5

5.770 27,6 29

4.152 -28 18,3

6.892 65,9 21

9.141 32,6 22

9.705 16,2 21,1

(Nguồn: Ngân sách Nhà nước)

Chi NSNN cho hoạt động giáo dục – đào tạo liên tục tăng qua cácnăm, nếu như năm 2001 là 15.337 tỷ đồng thì đến năm 2006 là 46.072 tỷđồng (tăng gấp 3 lần) - tốc độ tăng là tương đối cao Mặc dù nền kinh tếnước ta còn kém phát triển, NSNN còn rất eo hẹp, song Ngân sách chi chogiáo dục – đào tạo qua các năm đều tăng Nếu như tỷ lệ phần trăm NSNN

Trang 11

chi cho giáo dục năm 1998 chiếm 13,7 tổng chi NSNN thì đến năm 2005, tỷ

lệ này đã lên tới 18%, như vậy tốc độ tăng bình quân về tỷ lệ Ngân sáchhàng năm khoảng 0,56%/năm Tuy nhiên tỷ lệ chi Ngân sách hàng năm tuytăng song nếu tính đến các yếu tố như tỷ lệ trượt giá của đồng tiền và tốc độtăng học sinh quá nhanh kéo theo sự tăng lên số giáo viên, cán bộ quản lý thìtốc độ tăng Ngân sách đã không theo kịp tốc độ phát triển giáo dục

Nhìn vào bảng cơ cấu vốn cho đầu tư phát triển GD – ĐT ta thấy,Ngân sách chi cho hoạt động giáo dục – đào tạo ta thấy chi thường xuyênchiếm từ 70-80% Ngân sách, chi đầu tư chiếm từ 20-30% Ngân sách Ta cóthể xem xét cụ thể cơ cấu chi NSNN bình quân cho hoạt động giáo dục –đào tạo qua biểu đồ sau:

Cơ cấu chi NSNN cho GD - ĐT

73%

22%

chi đầu tư xây dựng cơ bản

chi chương trình mục tiêu quốc gia

Chi thường xuyên ở đây gồm 4 nhóm: Nhóm 1: chi cho con ngườigồm chi lương và phụ cấp lương cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục,nhân viên phục vụ; Nhóm 2: chi cho công tác hành chính quản lý; Nhóm 3:chi phí phục vụ giảng dạy học tập; Nhóm 4: Chi mua sắm sửa chữa nhỏ.Đứng trên góc độ tổng thể thì đây là một con số tương đối hợp lý Tuy vậy,qua công tác giám sát cho thấy, hiện nay tỷ lệ này ở nhiều địa phương

Trang 12

thường chi lương chiếm từ 85-95%; chỉ còn khoảng 5-10% chi công tácquản lý hành chính và các hoạt động giáo dục Như vậy, tỷ lệ chi cho côngtác dạy và học là rất nhỏ bé Ở một số nước phát triển như Anh, Pháp cơ cấuchi cho giáo dục với tỷ lệ chi cho lương và cho các hoạt động giáo dục là: ỞTiểu học 90/10; Trung học cơ sở 60/40; Trung học phổ thông 50/50 (50%chi lương và 50% chi cho các hoạt động giáo dục) Qua đó cho thấy chiNgân sách Nhà nước cũng cần có những điều chỉnh cơ cấu và mức tăng hợp

lý để phù hợp với tốc độ phát triển giáo dục

1.2 Nguồn vốn ngoài NSNN

Có thể nói nguồn vốn ngoài NSNN có vai trò ngày càng quan trọngđối với sự phát triển của ngành giáo dục – đào tạo, chính vì vậy việc huyđộng cao hơn nữa các nguồn tài chính ngoài NSNN đầu tư cho giáo dụcgồm: học phí, phí, đóng góp xây dựng trường và các đóng góp khác, cáckhoản thu từ nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, làm dịch vụ, cáckhoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức kinh tế, xã hội, các nhà hảo tâm,đầu tư của các doanh nghiệp cho giáo dục – đào tạo

Bên cạnh nguồn vốn ngân sách nhà nước thì nhà nước cũng khuyếnkhích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân đầu tư, đóng góp trí tuệ , công sức,tiên của cho giáo dục Ngoài ra học phí, lệ phí tuyển sinh cũng là một nguồnđầu tư vô cùng quan trọng của giáo dục Học phi, lệ phí tuyển sinh là khoảntiền của gia đình người học hoặc người học phải nộp để góp phần bảo đảmchi phí cho các hoạt động giáo dục Học sinh tiểu học trường công lập khôngphải đóng học phí Ngoài học phí và lệ phí tuyển sinh, người học hoặc giađình người học không phải đóng góp khoản tiền nào khác

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, thu hútđầu tư từ các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước Theo ước tính, từ năm

Trang 13

1990 đến nay, tổng giá trị đóng góp của các doanh nghiệp và nhà hảo tâmcho ngành giáo dục lên tới trên 1.200 tỉ đồng và khoảng 1,5 triệu m2 đất Bên cạnh đó, trong xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay nước ta ngàycàng mở rộng hợp tác với các nước trên thế giới trên tất cả các lĩnh vực,trong đó có cả lĩnh vực giáo dục đào tạo Hầu hết nguồn vốn này đến từ cácnước dưới hình thức hỗ trợ, cho vay chứ rất ít có ở dạng đầu tư trực tiếpnước ngoài, điều này chứng tỏ thị trường giáo dục ở nước ta chưa hấp dẫnđược các nhà đầu tư Trong khi đó thì tại rất nhiều các công ty tư vấn giớithiệu du học nước ngoài, cùng với rất nhiều các cuộc hội thảo du học do cáctrường, các trung tâm tổ chức

Tóm lại, xét trên phạm vi cả nước và trong toàn bộ hệ thống GD-ĐT,các trường công lập đang đào tạo khoảng 86,27% tổng số HS, SV Tổng chicủa Nhà nước cho GD-ĐT chiếm 75% tổng chi xã hội cho GD-ĐT, 13,73%tổng số HS, SV đang học trong các trường ngoài công lập, tổng đóng gópcủa người dân chiếm 25% tổng chi cho GD- ĐT

Bắt đầu từ năm học 2007-2008, HS học nghề, SV CĐ-ĐH có hoàn cảnhkhó khăn được vay vốn để học với quy mô lớn Điều này sẽ hỗ trợ học sinhthông qua đó giảm mức đóng góp của gia đình có hoàn cảnh khó khăn chohọc tập giảm như vậy sẽ đảm bảo được cuộc sống cho bộ phận dân cư này.Nguồn vốn ngoài ngân sách bao gồm:

a) Nguồn vốn trong nước: Gồm các khoản đóng góp của gia đình và

học sinh cho việc học tập Theo các kết quả nghiên cứu về chi phí của cha

mẹ học sinh ở các cấp bậc học cho thấy phần đóng góp của dân tính trên đầumột học sinh so với tổng chi phí chiếm 44,5% ở bậc tiểu học; 48,7% ở cấptrung học cơ sở; 51,5% ở cấp trung học phổ thông; 62,1% ở dạy nghề;32,2% ở trung học chuyên nghiệp và 30,7% ở bậc đại học và cao đẳng Bên

Trang 14

cạnh đó các khoản thu khác cũng chiếm một vai trò khá quan trọng và đangnâng dần tỷ trọng, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Cácdoanh nghiệp hiện nay có nhu cầu rất cao về nguồn nhân lực, đặc biệt lànguồn nhân lực chất lượng cao Chính vì vậy, doanh nghiệp hiện nay khôngnhững đóng vai trò là khách hàng của ngành giáo dục mà còn trực tiếp thamgia vào công cuộc giáo dục Điển hình là một số doanh nghiệp tự mở trườngđào tạo nghề, hay hình thức liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp để đàotạo nhân lực theo yêu cầu của doanh nghiệp.

b) Nguồn vốn nước ngoài: Bao gồm nguồn viện trợ, vay nợ (ODA),

các khoản đầu tư trực tiếp của tổ chức và cá nhân nước ngoài cho phát triểngiáo dục – đào tạo Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn thì việchuy động nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước nói chung và phát triểnngành giáo dục – đào tạo nói riêng là hết sức cần thiết Chính vì vậy, Nhànước ta có chủ trương ưu tiên nguồn vay và hợp tác quốc tế dành cho giáodục thông qua các dự án của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Pháttriển châu Á (ADB) và các tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ, phi chínhphủ nước ngoài Để mở rộng hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, các

cá nhân nước ngoài và Việt kiều nhằm khai thác mọi tiềm năng bên ngoài đểphát triển giáo dục Dự báo nguồn viện trợ và vay nợ trong giai đoạn 2001-

2010 chiếm khoảng 20% trong tổng chi NSNN cho giáo dục – đào tạo

Bên cạnh vai trò quan trọng của nguồn viện trợ và vay nợ (ODA) thìcác khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài vào giáo dục – đào tạo đang dần pháthuy tác dụng Theo như cam kết gia nhập WTO, Việt Nam sẽ chấp nhận thịtrường giáo dục, trước hết là đối với giáo dục đại học và dạy nghề Luật giáodục 2005 cũng nêu rõ các nhà đầu tư nước ngoài trong điều kiện cho phép cóthể được thành lập trường 100% vốn nước ngoài, cũng như chấp nhận các

Trang 15

hình thức liên doanh, liên kết trong hoạt động giáo dục – đào tạo Điều nàyvừa tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo, vừa tạo ramội trường cạnh tranh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo ở nước

1 Huy động từ dân đóng góp (năm 2005 chiếm 25%, năm

2010 chiếm 35% so với tổng chi NSNN cho giáo dục – đào

tạo)

3.149 5.855 13.234

2 Viện trợ, vay nợ (ODA), (khoảng 20% trong tổng chi

NSNN cho giáo dục – đào tạo)

1.400 4.685 7.562

3 Từ các nguồn khác (các doanh nghiệp đóng góp, dịch vụ

của nhà trường, ) (khoảng 10% so với tổng chi NSNN cho giáo dục và đào tạo)

Trang 16

lại không có Sau đây là những phân tích về tình hình sử dụng nguồn vốnđầy tư phát triển giáo dục – đào tạo tại ViệtNam trong thời gian qua.

Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển GD-ĐT

2.1 Tình hình sử dụng vốn đầu tư phát triển GD-ĐT theo cấp học,

bậc học.

Hệ thống giáo dục và đào tạo ở Việt Nam có 4 cấp bậc học chính là:giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục trung học chuyên nghiệp,giáo dục cho cao đẳng , đại học

Trang 17

Bảng: Chi ngân sách nhà nước cho GD-ĐT giai đoạn 2001-2007

Qua bảng trên ta thấy rằng qua 7 năm thì theo từng cấp học, bậc học có

sự gia tăng đáng kể về nguồn vốn từ ngân sách nhà nước Nếu như năm

2001 chi ngân sách nhà nước cho đại học cao đẳng là 75 tỷ đồng một con sốkhá khiêm tốn nhưng đến năm 2007 là 297 tỷ đồng Bên cạnh đó thì nguồnvốn ngoài ngân sách dành cho các cấp học cũng gia tăng Điều này ta sẽ thấy

(Nguồn Vụ kế hoạch- tài chính, Bộ GD- ĐT)

Nhìn vào bảng trên ta thấy rằng tỷ trọng vốn đầu tư phát triển giáo dục

và đào tạo ở cấp phổ thông chiếm vị trí cao hơn cả trung bình chiếm gần80% tổng vốn đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo Còn vốn đầu tư phát

Trang 18

triển giáo dục và đào tạo ở bậc trung học chuyên nghiệp chiếm vị trí thấpnhất trung bình chỉ khoảng 1,3% trong tổng vốn đầu tư phát triển Như vậy

cơ cấu vốn đầu tư cho các cấp học, bậc học phần nào cũng tương xứng vớiquy mô của từng cấp học và bậc học đó trong hệ thống giáo dục quốc dân

2.2 Tình hình sử dụng vốn đầu tư phát triển GD- ĐT phân theo vùng lãnh thổ.

Một thực tế rằng vốn đầu tư cho các vùng đô thị và đồng bằng bao giờcũng cao hơn so với các vùng núi, vùng sâu vùng xa như hải đảo, tuy nhiênđịnh mức chi phân bổ theo dân số cho các vùng lại có tính chất đảo ngược.Quyết định số 139/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ quyết địnhtiêu chí phân bổ ngân sách chủ yếu theo dân số, vì dân số nhiều thì nhu cầuchi lớn và ngược lạ Ngoài ra, việc phân bổ ngân sách còn căn cứ chi phí chocùng một công việc giữa các vùng khác nhau do khoảng cách đi lại, địa hình,một độ, dân số, quy mô lớp học, , kinh phí để thực hiện những chính sách

ưu đãi của Nhà nước Trong thời gian qua Chính phủ đã đầu tư hỗ trợ pháttriển GD-ĐT ở các địa bàn khó khăn và đặc biệt khó khăn Hiện nay hệthống các trường phổ thông nội trú và bán trú được củng cố và mở rộng với

13 trường trung ương, 50 trường tỉnh, 266 trường huyện, 519 trường bán trú

xã, cụm xã Tình hình thiết bị, thư viện trong các trường cũng đang có sựchuyển biến tích cực không chỉ ở các địa phương lớn như TP.HCM, Hà Nội

đã bước đầu hiện đại hoá cơ sở vật chất trường học, trang bị các thiết bị màcác trường phổ thông dân tộc nội trú đã được nâng cấp, cải thiện về phònghọc, thư viện, trang thiết bị

Trang 19

2.3 Tình hình sử dụng vốn đầu tư phát triển GD- ĐT theo hình thức triển khai thực hiện.

a.Tình hình sử dụng VĐT phát triển cho GD- ĐT theo chương trình mục tiêu quốc gia về GD- ĐT.

 Mục tiêu của chương trình

- Tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, đưa nền giáodục nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu so với các nước phát triển trong khuvực, tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việtnam, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, củatừng vùng , từng địa phương

- Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục cáccấp học, bậc học và trình độ đào tạo, phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêucầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục

- Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lựckhoa học- công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và côngnhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nềnkinh tế; đẩy nhanh tiến độ thực hiện phổ cập trung học cơ sở

 Nội dung của các chương trình mục tiêu:

Trong 10 năm qua, Chính phủ đã phê duyệt các chương trình mục tiêu

5 năm cho ngành giáo dục nhằm hỗ trợ thực hiện các chủ trương lớn như:thực hiện phổ cập giáo dục, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, hỗ trợgiáo dục vùng dân tộc thiểu số, tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thốngtrường sư phạm và bồi dưỡng giáo viên, tăng cường cơ sở vật chất cáctrường học, trung tâm kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp, các trường đạihọc và THCN trọng điểm, tăng cường năng lực đào tạo nghề, tăng cườngđào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học Nhìn chung việc

Trang 20

thực hiện các chương trình đã được chỉ đạo tốt, đạt được hiệu quả cao vớinhững tác động rất tích cực Chương trình có 7 dự án lớn.

 Tình hình sử dụng vốn đầu tư phát triển cho các chương trình mụctiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo

Các nguồn vốn huy động được để thực hiện chương trình mục tiêu quốcgia về giáo dục bao gồm

- Nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước

- Nguồn kinh phí từ ngân sách địa phương và từ đóng góp của các tổchức và cá nhân đã chi cho các dự án

- Nguồn kinh phí từ vay nợ và viện trợ nước ngoài

Vốn và cơ cấu nguồn vốn thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia

về giáo dục và đào tạo giai đoạn 2001 và 2005 thì tỷ trọng chủ yếu ở nguồnvốn ngân sách nhà nước là 73,3%, tiếp sau là ngân sách địa phương là17,95% và cuối cùng là nguồn viện trợ và vay nợ là 8,75% Nền kinh tế ViệtNam đang trên đà tăng trưởng đặc biệt cùng với tốc độ tăng trưởng thì thungân sách nhà nước cũng gia tăng

Bảng: Kinh phí cho các CTMT về GD- ĐT trong tổng kinh phí cho

các CTMT quốc gia

Năm 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng số chi các CTMT(tỷ

đồng) 3015 3338 3515 4391 6205 6788 Chương trình GD-ĐT (tỷ

Trang 21

các chương trình mục tiêu của quốc gia, đến năm 2007 là 3380 tỷ đồngchiếm 49.79% Tuy vậy kinh phí này mới chỉ đáp ứng được từ 60% đến 70%nhu cầu của ngành giáo dục và đào tạo Để cụ thể hơn chúng ta xem xétbảng sau:

Bảng: Chi ngân sách nhà nước cho GD- ĐT trong giai đoạn 2001-2007

Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng số (tỷ đồng) 15609 20624 22795 32730 41630 55300 66770 Chi cho xây dựng cơ

bản (tỷ đồng) 2360 3008 3200 4900 6623 9705 11530 Chi thường xuyên cho

GD-ĐT (tỷ đồng) 12649 16906 18625 27830 35007 45595 55240 Kinh phí CTMT cho

Bởi vậy ngoài nguồn vốn từ Ngân sách điạ phương và huy động từ dân

cư và các tổ chức đóng góp một phần quan trọng cho Chương trình mục tiêuquốc gia giáo dục và đào tạo, với nguồn vốn này tăng theo các năm và thôngthường ngân sách địa phương chiếm tỷ lệ khoảng 30% trong tổng số vốn

Trang 22

ngân sách nhà nước Điều này cho thấy sự chủ động và nỗ lực của các địaphương để giảm bớt gánh nặng ngân sách của nhà nước với mục tiêu nângcao chất lượng giáo dục và đào tạo phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế- xãhội của đất nước.

Vốn vay nợ và viện trợ nước ngoài cũng là một nguồn quan trọng đểgóp phần thúc đẩy việc thực hiện các dự án giáo dục nâng cao chất lượnggiáo dục và đào tạo của đất nước Các dự án tiêu biểu như sau:

- Dự án phát triển giáo dục tiểu học do World Bank tài trợ

- Dự án phát triển giáo dục trung học cơ sở do ADB tài trợ

- Dự án đào tạo giáo viên do ADB tài trợ

- Dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông do ADB tài trợ

b Tình hình sử dụng vốn đầu tư phát triển GD-DT không thuộc

Chương trình mục tiêu quốc gia

Các chương trình về GD-ĐT ngoài chương trình mục tiêu là cácchương trình và đề án để phát triển đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sởvật chất để đáp ứng nhu cầu vùa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng vàhiệu quả giáo dục

 Phát triển đội ngũ giáo viên

Để đảm bảo chất lượng dạy và học luôn là coi là vấn đề cốt lõi trongcác mục tiêu phát triển của các địa phương nói riêng và các chiến lược pháttriển của chính phủ nói chung Để làm được điều này cần phải có một độingũ giáo viên có chất lượng cao, vì lẽ đó mà vấn đề đầu tư để bồi dưỡng độingũ giáo viên là một vấn đề luôn được quan tâm hàng đầu đối với sụ nghiệpgiáo dục và đào tạo Trong giai đoạn 2001 đến 2005 thì vốn đầu tư phát triển

để bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chiếm tới gần 60% tổng chi đầu tư pháttriển cho giáo dục và đào tạo ngoài chương trình mục tiêu quốc gia

Trang 23

Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đồng thời cả chất lượngcủa đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục được đặt ra như một thách thức nhằmnâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

 Tăng cường cơ sở vật chất,kỹ thuật cho nhà trường

Trong những năm học vừa qua các trường lớp của Việt Nam đã và đangđạt chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn về hạ tầng cơ sở đảm bảo cho việc dạy và học

có chất lượng tương đương với các nước khác trong khu vực Vì vậy màtrong những năm qua vốn đầu tư chi cho mục tiêu tăng cường cơ sở vậtchất, kỹ thuật chiếm một phần quan trọng trong tổng vốn đầu tư cho giáodục

Bảng: VĐT cho tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật GD-ĐT

52.562, 7

66.659, 3 VĐT cho CSVCKT Giáo dục và

đào tạo 10.315,6 13.386

14.833, 4

21.834, 7

27.575, 3

(Nguồn vụ kế hoach- tài chính, Bộ GD-ĐT)

Thông qua bảng trên cho chúng ta thấy rằng cùng với sự gia tăng vềvốn đầu tư phát triển chung của cả ngành giáo dục và đào tạo thì đầu tư pháttriển cơ sở vật chất kỹ thuật cũng không ngừng tăng lên năm sau cao hơnnăm trước và năm 2004 thì đánh dấu sự gia tăng vượt bậc là 21.534,7 tỷđồng chiếm đến 41,5%, tốc độ tăng là 47,2% Cơ sở vật chất kỹ thuật choGD-ĐT ngày càng tăng cùng với nó là số lượng trường học ở các cấp họcngày càng tăng lên ta sẽ thấy qua bảng sau

Bảng: Tổng số trường học phân theo cấp bậc giai đoạn

2000-2007

Đơn vị: số trường

Năm 2000- 2001- 2002- 2003- 2004- 2005-

Trang 24

Ở bậc giáo dục nghề nghiệp và đại học, việc tăng cường cơ sở vật chấtkhông tương ứng vởi tốc độ tăng quy mô đào tạo của các trường Phấn kinhphí ngoài ngân sách do các trường tự tạo ra để đầu tư cho việc này cũng rấthạn hẹp Diện tích sử dụng trong các trường mới chỉ đạt 1/3 diện tích chuẩnquy định Một số trường trọng điểm tuy có vốn đầu tư nhưng tốc độ xâydựng còn chậm Việc chuẩn hoá, hiện đại hoá trường sở, giảng đường,phòng thí nghiệm, trung tâm thông tin thư viên, ký túc xá sinh viên, nhà tậpluyện vẫn đang là một thách thức lớn.

Trang 25

II - Định hướng đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo và những mục tiêu

đề ra cho nền giáo dục Việt Nam.

1 Định hướng đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo

Xu hướng đầu tư phát triển ngành giáo dục đào tạo ở Việt Nam đang đi dần vào quỹ đạo chung của thế giới, bên cạnh đó dựa trên cơ sở điều kiện thực tiễn của Việt Nam để có những bước phát triển và đầu tư thích hợp, phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế Ta có thể tham khảo bảng dưới đây:

Bảng: Đặc trưng chủ yếu của 3 giai đoạn kinh tế

Đặc trưng

Kinh tế sức người

Kinh tế tài nguyên

Kinh tế tri thức 1.Tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học nhỏ lớn rất lớn

2 Tỷ lệ kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học trên

3 Tỷ lệ đóng góp của khoa học và công nghệ cho tăng

trưởng kinh tế. <10% >40% >80%

4 Tầm quan trọng của giáo dục nhỏ lớn rất lớn

5 Tỷ lệ kinh phí dành cho giáo dục trên GDP <1% 2-3% 6-8%

6 Bình quân trình độ văn hoá. tỷ lệ mù chữ

cao trung học

trung học chuyên nghiệp

Thực tiễn cho thấy những nước có trình độ vốn nhân lực cao thường

có mức tăng trưởng cao Tuy nhiên, đằng sau các mức vốn nhân lực cao làcác chính sách đầu tư tích cực và giải pháp phát triển giáo dục hợp lý Ở cấp

độ các nước riêng lẻ, Nhật Bản và Hàn Quốc là những dẫn chứng tốt về sựđóng góp của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế Công dân và người dânHàn Quốc được đào tạo tốt, đồng đều nhờ tỷ lệ đi học cao ở tất cả các bậchọc Ngày nay, hầu như tất cả người trẻ tuổi Hàn Quốc tham gia thị trườnglao động đã học ở trường không ít hơn 12 năm Cùng với tăng trưởng kinh

Trang 26

thành nền giáo dục đại chúng Việc mở rộng hệ thống giáo dục thực hiệnđược nhờ các chính sách đầu tư tích cực Chi tiêu Chính phủ cho giáo dụcchiếm trên dưới 20% ngân sách, song chỉ chiếm một phần ba chi tiêu toànquốc cho giáo dục, nghĩa là nguồn lực xã hội dành cho giáo dục được huyđộng là rất đa dạng, vai trò của tư nhân, và các tổ chức trong đầu tư pháttriển giáo dục được coi trọng

Xu hướng đầu tư phát triển giáo dục ở các nước có nền giáo dục tiêntiến có thể được tóm tắt ở mấy điểm chính sau: Duy trì vai trò quản lý vĩ môcủa Nhà nước trong phát triển giáo dục- đào tạo, đa dạng hoá nguồn vốn đầu

tư phát triển giáo dục- đào tạo trong đó dần nâng cao tỷ trọng của các nguồnvốn ngoài NSNN, đa dạng hoá ngành nghề đào tạo theo nhu cầu xã hội Ởcác nước đang phát triển như Việt Nam, xu hướng đầu tư phát triển ngànhgiáo dục- đào tạo đang dần theo chiều hướng tích cực: Đó là: Nhà nước vẫnđóng vai trò chủ chốt trong huy động nguồn lực đầu tư phát triển ngành giáodục, đóng vai trò định hướng trong hoạt động đầu tư (phục vụ các mục tiêumang tính chiến lược, vĩ mô) Bên cạnh đó xu hướng đầu tư đang được điềuchỉnh theo quy luật thị trường (tuân theo quy luật giá trị, cạnh tranh, cung -cầu đặc biệt là giáo dục – đào tạo sau phổ thông, chuyển hướng từ đào tạotheo cái đã có sang “đào tạo theo nhu cầu”), xu hướng đầu tư vì lợi nhuận vàphi lợi nhuận đang đồng thời tồn tại và phát triển

Ngoài ra, sự phát triển của nền kinh tế trong thời buổi hội nhập đòi hỏi

xã hội phải đáp đầy đủ kịp thời nguồn nhân lực có chất lượng trong tất cảcác lĩnh vực kinh tế Vì vậy, đầu tư phát triển giáo dục cần được xem làtrách nhiệm của toàn xã hội Thực tế hiện nay, chúng ta cũng đã và đangphát triển xu hướng xã hội hoá giáo dục Với xu hướng này toàn xã hội cóthể đầu tư đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển giáo dục nước và giảm

Ngày đăng: 26/02/2016, 10:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 11. Tỷ lệ chi phí cho giáo dục ở Việt Nam 2000-2005 - Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển giáo dục đào tạo tại việt nam
Bảng 11. Tỷ lệ chi phí cho giáo dục ở Việt Nam 2000-2005 (Trang 32)
Bảng : Số liệu so sánh chi tiêu cho giáo dục ở Việt Nam và các nước năm - Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển giáo dục đào tạo tại việt nam
ng Số liệu so sánh chi tiêu cho giáo dục ở Việt Nam và các nước năm (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w