1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kích thích vật chất và kích thích tinh thần cho người tham gia lao động tập thể

37 794 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 60,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, để doanh nghiệp mình tồntại và phát triển cùng với nền kinh tế thị trường như hiện nay, đòi hỏi nhà quản lýphải biết khai thác và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp

Trang 1

Mục lục

LỜI NÓI ĐẦU

Thực tế hiện nay cho thấy, vấn đề con người và quản lý con người là một vấn

đề không những Đảng và Nhà nước ta quan tâm mà còn là một vấn đề các tổ chứckinh tế, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh cũngphải đặc biệt quan tâm và chú trọng Vì con người không những tạo ra của cải vậtchất cho xã hội, mà còn là người tiêu dùng, người sử dụng những của cải vật chất

do chính bàn tay mình làm ra Đối với các doanh nghiệp, thì con người là một chiphí đầu vào rất quan trọng có chiến lược phát triển cho doanh nghiệp Do đó cầnphải khai thách hết tiềm năng, tiềm tàng của người lao động để giảm chi phí sảnxuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm vàtăng lợi nhuận doanh thu cho doanh nghiệp Như vậy, để doanh nghiệp mình tồntại và phát triển cùng với nền kinh tế thị trường như hiện nay, đòi hỏi nhà quản lýphải biết khai thác và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp mình.Muốn khai thác và sử dụng nguồn nhân lực hợp lý và có hiệu quả thì cần thỏa mãncác nhu cầu về lợi ích về vật chất, lợi ích tinh thần cho người lao động Hay nóicách khác, cần phải có biện pháp tạo động lực cho người lao động trong lao động.Nhằm kích thích về mặt vật chất, tinh thần cho người lao động có thể phát huyđược hết nội lực của bản thân mình trong lao động và đem lại lợi nhuận cao nhấtcho doanh nghiệp.Do đó, nhận thức được tầm quan trọng của công tác tạo động lực

trong lao động, được sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo Phan Thanh Thảo, với

những kiến thức tiếp thu được trong quá trình học chúng em mạnh dạn chọn

Trang 2

động tập thể ” Báo cáo này nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của vấn đề

tạo động lực trong lao động.Vấn đề tạo động lực trong lao động là một vấn đề phứctạp, do thời gian tìm hiểu chưa được nhiều, tài liệu thu thập được còn ít, kiến thức

và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân còn hạn chế Cho nên những phân tích, đánhgiá trong báo cáo này không tránh khỏi những thiếu sót Chúng em rất mong được

sự chỉ bảo đóng góp ý kiến của cô giáo và các bạn

Chúng emm xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc!

Trang 3

1 Tổng quan về kích thích vật chất và tinh thần cho người tham gia lao động tập thể

1.1 Nhu cầu

1.1.1 Khái niệm nhu cầu

Nhu cầu là những gì cần thiết cho sự tồn tại, duy trì và phát triển của mộtcon người

Để tồn tại và phát triển con người cần có thức ăn, thức uống, quần áo, nhà

ở, quan hệ xã hội, quan hệ khác giới… Những thứ cần thiết đó là nhu cầu sinh sốngkhách quan của con người Con người luôn ước muốn và tìm cách hoạt động thỏamãn các nhu cầu sinh sống và phát triển Con người luôn tìm kiếm khả năng thỏamãn nhu cầu, định hướng thỏa mãn từng loại nhu cầu cụ thể

1.1.2 Động lực của sự thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần đối với người lao động

Ở bất kỳ xã hội nào, việc xác nhận nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu của conngười nói chung và người lao động nói riêng đều là động cơ thúc đẩy mọi hoạtđộng và điều chỉnh mọi hành vi của từng cá nhân và tập thể trong xã hội đố bởinhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và tập thể khác nhau muốn có những điềukiện nhất định để sống, để tồn tại và phát triển, nhu cầu qui định xu hướng lựachọn các ý nghĩa sự rung cảm và ý chí của người lao động, nó qui định hoạt động

xã hội của cá nhân, của giai cấp và của tập thể

Trang 4

Nhu cầu cuộc sống của người lao động rất phong phú và đa dạng Nó có tínhlịch sử và tính giai cấp rõ rệt Nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu đều gắn liền với sựphát triển của nền sản xuấ xã hội và sự phân phối các giá trị vật chất và tinh thầntrong điều kiện xã hội đó.

Nhu cầu về vật chất là nhu cầu hang đầu, đảm bảo cho người lao động có thểsống để tạo ra của cải vật chất và làm nên lịch sử Trong “Hệ tư tưởng Đức” Mác

và Angghen đã viết: “Người ta phải sống được rồi mới làm nên lịch sử.” Nhưngmuốn sống thì trước hết phải có thức ăn và nước uống, nhà cửa, quần áo và một sốthứ khác nữa Như vậy, mọi người đều cần được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu

đó để tồn tại

Cùng với sự phát triển của lịch sử, các nhu cầu vật chất của con người ngàycàng tăng lên cả về số lượng và chất lượng Trình độ phát triển của xã hội ngàycàng cao thì nhu cầu càng nhiều hơn, càng phức tạp hơn, thậm chí những nhu cầuđơn giản nhất cũng không ngừng thay đổi Những nhu cầu vật chất của con ngườingày nay đã khác hẳn so với thời xưa và đã chuyển từ yêu cầu về lượng sang yêucầu về chất

Nhu cầu về tinh thần của người lao động cũng rất phong phú và đa dạng.Trước hết, họ có nhu cầu lao động, nhu cầu làm việc có ích, có hiệu quả cho bảnthan và cho xã hội Bởi vì lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, lànguồn gốc của mọi sang tạo của cong người Bằng lao động không những mọingười đảm bảo được cuộc sống của mình, mà còn phát triển mọi khả năng của bàntay và trí tuệ, phát hiện ra ý nghĩa cuộc sống của mình với tư thế là người làm chủthiên nhiên và lịch sử

Trang 5

Thứ hai là nhu cầu học tập để nâng cao trình độ chuyên môn và nhận thức.Trong quá trình lao động khai thác và khắc phúc thiên nhiên, con người gặp không

ít khó khăn Ở mỗi vị trí của mình họ đều mong muốn có trình độ nhất định đểvượt qua khó khăn, lao động có hiệu quả và tiến tới chế ngự thiên nhiên Trình độkhoa học kỹ thuật càng cao thì nhu cầu học tập của người lao động càng lớn, vànhờ đóhọ nhận thức thế giới xung quanh đúng đắn hơn, thích thú hay chán nản, saysưa hay phẫn nộ, vui mừng hay bực dọc… Người lao động cũng thấy rõ ý nghĩacuộc sống của mình, lao động của mình thì họ càng tích cực trong mọi hoạt động

xã hội càng hăng say lao động để có năng suất và hiệu quả cao hơn

Mọi biện pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập nâng cao nhận thức chongười lao động, thực chất là khuyến khích họ, là chắp cánh cho họ vươn tới nhữngkiến thức chuyên môn cao hơn, những khả năng sáng tạo mới hiệu quả hơn

Thứ ba là nhu cầu thẩm mỹ và giao tiếp xã hội Đây là những nhu cầu tinhthần đặc biệt và tất yếu của con người Trong quá trình sống và lao động con ngườicảm thụ cái đẹp trong tự nhiên và xã hội Sự yêu thích cái đẹp trở thành một nhucầu của cuộc sống, đó là cái đẹp trong tính cách con người, trong tập thể lao động,

là cái đẹp của màu sắc âm thanh, là cái đẹp trong lối sống và quan hệ xã hội…Tình cảm của người lao động hướng về cái đẹp, từ cái đẹp vật chất đến cái đẹptrong tâm hồn, đẹp trong cách sống, sẽ làm cho cuộc sống của họ càng tăng thêm ýnghĩa, kích thích hứng thú lao động, sáng tạo của họ Chủ nghĩa xá hội không chỉtôn trọng đầy đủ quyền sống của con người mà còn tạo điều kiện cho họ phát triểntoàn diện, cân đối, những con người vừa tích cực vừa đẹp

Sự giao tiếp xã hội giúp cho người lao động trong tập thể có được nhữngthông tin về cuộc sống và lao động Qua giao tiếp họ trao đổi với nhau những kinh

Trang 6

thể… Mỗi người đều muốn được tập thể đánh giá mình một cách xứng đáng, bảnthan mình muốn có một vị trí xã hội vinh dự và đáng tự hào trước bạn bè, muốn cótên mình trong cái thang giá trị hiện thời của tập thể và xã hội.

Thứ tư là nhu cầu công bằng xã hội, trong lao động cũng như trong cuộcsống ngày nay mọi người đều muốn sự công bằng Đó là biểu hiện của sự pháttriển cao độ của ý thức và tình cảm con người trong quan hệ xã hội, trong lao độngtập thể Mỗi người ý thức về mình và ý thức về người khác, họ quan tâm ngườikhác như chính mình đối với bản thân mình

Công bằng xã hội là nhu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài, mỗi người và mỗi tậpthể cần phấn đấu được thỏa mãn, đồng thời đấu tranh mọi tiêu cực để giành lấycông bằng cao hơn đầy đủ hơn Dưới chủ nghĩa xã hội, nhà nước đã từng bướcthực hiện công bằng xã hội bằng những chính sách cụ thể của mình trên nguyên tắctôn trọng quyền làm chủ của nhân dân lao động

Xuất phát từ nhu cầu và thực tiễn đó, nghị quyết đại hội 6 của Đảng ta đã chỉrõ: “Bảo đảm cho người lao động có nhu cầu thỏa đáng, phụ thuộc trực tiếp vào kếtquả lao động, có tác dụng khuyến khích nhiệt tình lao động, Tôn trọng lợi íchchính đáng của những hoạt động kinh doanh dịch vụ hợp pháp, có ích cho xã hội.Kết hợp sức mạnh của cơ quan chức năng và sự đấu tranh của quần chúng, nghiêmtrị những kẻ phạm pháp bất kỳ ở cương vị nào Đảm bảo sự công bằng về quyềnlợi và nghĩa vụ đối với mọi công dân, chống lại đặc quyền đặc lợi.”

Tóm lại, nhu cầu của con người nói chung và của người lao động nói riêng

là vô tận, nó không có giới hạn, không bao giờ hoàn toàn được thỏa mãn Song sựthỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần, dù là ít, cũng sẽ là động cơ thúc đẩy conngười tích cực lao động, hăng say sáng tạo Chìa khóa để tìm ra động cơ bên trong

Trang 7

thúc đẩy co người lao động tích cực là nghiên cứu các nhu cầu của họ, và tìm rabiện pháp để thỏa mãn những nhu cầu đó Thực tế đã chỉ ra rằng, nếu chỉ nói ý chíchung chung thì đến một lúc nào đó sẽ triệt tiêu động lực lao động của con người.Bởi vậy, vấn đề đặt ra đối với người lãnh đạo một tập thể lao động, giám đốc một

xí nghiệp, đối với một nhà quản lý hay một nhà tổ chức lao động là sự quan tâmđến các nhu cầu vật chất và tinh thần của quần chúng Cần xem đó là những điềukiện cần thiết để quần chúng yên tâm, phấn khởi và tin tưởng, hứng thú và hăngsay trong lao động và sáng tạo

1.2 Quyền lợi

1.2.1 Khái niệm

Quyền lợi là viết tắt của quyền được hưởng lợi ích nào đó Quyền lợi của người tham gia lao động tập thể là quyền được chia – hưởng lợi ích và tinh thần của thành quả chung Thành quả của lao động chung thường có giá trị kinh tế và ý nghĩa xã hội Người không tham gia tạo ra thành quả nào đó không có quyền chia hưởng Người tham gia ít có quyền ít, người tham gia nhiều có quyền nhiều Mức chia hưởng lợi của người tham gia phụ thuộc vào độ lớn của thành quả chung và vào tỷ lệ tham gia của người đó trong tập thể

Quyền lợi của người tham gia lao động chung nào đó, cũng có thể hiểu là phần thuộc quyền sở hữu chung của người đó trong thành quả chung được tạo ra Đấy không phải là phần được “ban phát” và cũng không phải là phần phải “cầu xin” Điều quan trọng và khó khăn nhất là làm sao xác định được tỷ lệ tham gia đóng góp của mỗi cá nhân trong tập thể

Như vậy, quyền được chia hưởng giá trị kinh tế và sự vẻ vang của thành quả chung một cách công bằng so với giá trị của khả năng lao động tiêu hao và so với

Trang 8

1.2.2 Đảm bảo quyền lợi cho người tham gia lao động

Đảm bảo quyền lợi cho từng người, đảm bảo hài hòa quyền lợi cho tất cả những người đó tham gia đóng góp tạo ra thành quả nào đó, bao giờ cũng đem lại cho từng thành viên, cho sự nghiệp chung một xung lực to lớn

Trong một cộng đồng để cho người này “hời” tức là người khác bị “thiệt thòi”

và như vậy tức là để xảy ra trường hợp chiếm dụng, tước đoạt của nhau

Trong tập thể chia hưởng thành quả chung không theo tỷ lệ tham gia đóng góp, tức là đảm bảo quyền lợi không hài hòa, thiếu công bằng, bao giờ cũng xảy ra các phản ứng tiêu cực như: “cầm chừng”, lẩn tránh tham gia, trì hoãn, Ph Ăng – ghen đã viết: “Không đảm bảo sự hài hòa về lợi ích, đừng mong có sự thống nhất

về mục đích, chưa nói có sự thống nhất trong hành động” (Các Mác và Ph Ăng – ghen – Tiếng Nga tập 8 trang 14)

Đảm bảo quyền lợi cho từng người, đảm bảo hài hòa quyền lợi cho tất cảnhững ai đó tham gia đóng góp tạo nên thành quả nào đó luôn mang lại cho từngthành viên, cho sự nghiệp chung một nguồn động viên to lớn

Trong bối cảnh nước ta hiện nay : việc làm, thu nhập của người lao động ởnước ta ngày càng được quan tâm Nhà nước đã nhiều lần điều chỉnh tiền lương,thưởng, trợ cấp đối với người lao động Người lao động còn được quan tâm hơn vềđời sống tinh thần và các hoạt động văn hóa, thể thao

Tuy nhiên, chính sách đãi ngộ đối với người lao động ở các thành phần kinh tế,nhất là thành phần kinh tế tư nhân còn nhiều bất cập Tình trạng xâm phạm quyềnlợi của người lao động diễn ra ở nhiều địa phương Không ít chủ sử dụng lao động

cố tình trốn tránh khoản tiền đóng bảo hiểm xã hội, quỵt tiền lương, bớt xén tiềnlàm thêm giờ, chế độ phép của người lao động Nhiều chủ doanh nghiệp tư nhân

Trang 9

nợ đọng số tiền bảo hiểm xã hội của người lao động lên tới hàng tỷ đồng và kéodài nhiều năm Các chủ doanh nghiệp tư nhân còn thường xuyên đưa ra những quyđịnh khắc nghiệt trong quá trình sử dụng lao động Không ít sơ suất của người laođộng bị xử phạt rất nặng, chủ yếu đánh vào lương, thưởng Một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến tình trạng này là việc ký hợp đồng lao động không đúng quyđịnh của pháp luật, mà thiệt thòi thường thuộc về người lao động Việc tuyển dụng,

bố trí, sắp xếp, sử dụng, sa thải người lao động cũng rất tùy tiện Có chủ doanhnghiệp ra quyết định đuổi việc người lao động mà không cần văn bản, không đưa

ra họp bàn, xem xét Biện pháp bảo đảm an toàn đối với người lao động cũng chưađược coi trọng Chủ doanh nghiệp không trang bị hoặc trang bị sơ sài các phươngtiện bảo hộ lao động Khi xảy ra tai nạn, người lao động lại tự chịu hậu quả Ngoài

ra, còn xuất hiện những biểu hiện ngược đãi, đối xử tệ bạc với người lao động

Các vi phạm nêu trên diễn ra ở nhiều địa phương thuộc các lĩnh vực khác nhau.Ðáng tiếc là, có những vụ việc nghiêm trọng, nhưng chưa được cơ quan cóthẩmquyền kiểm tra, xử lý kịp thời Vai trò của tổ chức công đoàn trong các doanhnghiệp tư nhân thường mờ nhạt, chưa phát huy trách nhiệm bảo vệ quyền lợi củangười lao động Bên cạnh đó, lực lượng thanh tra lao động mỏng và hoạt động yếu

Như vậy, quyền lợi kinh tế và tinh thần cho người tham gia lao động tập thể phải được đặc biệt quan tâm giải quyết Đảm bảo quyền lợi một cách hài hòa có tácdụng vô cùng to lớn đối với người lao động, đối với công việc (sự nghiệp) chung Cần đầu tư tiền của và trí tuệ đủ lớn mới giải quyết được hài hòa quyền lợi Trước hết phải đầu tư nghiên cứu nhằm xác định mức độ, tỷ lệ tham gia đóng góp của cácthành viên trong tập thể Sau đó là phải nghiên cứu đề ra được phương pháp, các

Trang 10

hình thức đảm bảo quyền lợi có tác dụng kích thích người tham gia lao động chungcao nhất.

1.3 Kích thích

1.3.1 Bản chất của kích thích

Kích thích, về thực chất là đem lại cho người tham gia lao động tập thể những

gì người đó có quyền về giá trị và thích nhất về hình thức

Trong lý luận và thực tiễn, vấn đề kích thích người tham gia lao động tập thể đang được tiếp tục nghiên cứu giải quyết Ở đây là vấn đề tác động, vấn đề “kích ” vào những gì người tham gia lao động tập thể “thích” nhất,để họ tích cực, sáng tạo, đóng góp đươc nhiều nhất cho công nghiệ (sự nghiệp) chung

Người tham gia lao động tập thể “thích” nhất khi được:

1 – Tin tưởng, tôn trọng khả năng, giao nhiệm vụ quan trọng tương ứng

2 – Đảm bảo tốt các điều kiện làm việc

3 – Tự chủ tương đối về cách thức lao động

4 – Đảm bảo an toàn cho sức khỏe, cho sinh mạng

5 – Đánh giá thành tích và đãi ngộ một cách rõ ràng, công bằng, chính thức

6 – Đối xử bình đẳng, lịch sự,tế nhị

7 – Phát triển trình độ

Trang 11

1.3.2 Các vấn đề về kích thích

Sự kích thích bằng cách sử dụng các phương pháp và hình thức khuyếnkhích người lao động bằng lợi ích vật chất để động viên họ tích cực lao động cónăng suất và chất lượng cao Trong hệ thống các biện pháp kích thích về kinh tế,biện pháp kích thích vật chất có vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó, vấn đề mấuchốt là sự quan tâm đến lợi ích cá nhân, nhất là trong lĩnh vực hoạt động kinh tế.Mỗi chế độ xã hội có một phương thức và hệ thống kích thích lao động của nó do

hệ thống quan hệ sản xuất tương ứng quyết định Sự quan tâm đến lợi ích vật chấtcủa người lao động đối với kết quả lao động của mình là một trong những nguyêntắc quản lí nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Hình thức chủ yếu để kích thích vật chất làtiền lương, tiền thưởng, phân phối lợi nhuận, quỹ phúc lợi công cộng,vv Trong xãhội xã hội chủ nghĩa, kích thích vật chất được kết hợp chặt chẽ, hài hòa với kíchthích tinh thần, hai mặt gắn bó và thúc đẩy lẫn nhau; không để xảy ra tình trạngthúc đẩy tập thể cũng như cá nhân người lao động đơn thuần chạy theo lợi ích vậtchất, theo đồng tiền với bất cứ giá nào, bất chấp đạo đức xã hội; cũng như khôngđộng viên suông tinh thần, không quan tâm thích đáng lợi ích vật chất

Đối với người lao động trong tập thể đánh giá đúng thành tích tham gia đónggóp của người đó là một kích tố mạnh mẽ Đãi ngộ theo mức độ, tỉ lệ tham gia,đóng góp khả năng lao động là một kích tố to lớn tiếp theo Kích thích người thamgia lao động tập thể bằng vật chất là phân chia cho họ phần thành quả chung theo

tỷ lệ tham gia, đóng góp Về thực chất, là trả công lao động cho họ, người thamgia lao động được trả công, đó là lẽ tự nhiên, là sát thực.Điều quan trọng và khókhăn nhất là làm sao để có mức chi trả hợp lý và có cách thức trao trả có tác dụngkích thích nhất

Trang 12

2 Kích thích vật chất cho người lao động tham gia lao động tập thể

2.1 Những vấn đề cơ bản về kích thích vật chất

Khái niệm: kích thích người lao động tham gia lao động tập thể bằng vậtchất là phân chia cho họ phần thành quả chung theo tỷ lệ tham gia đóng góp Vềthực chất là trả công lao động cho họ đó là lẽ tự nhiên,là sát thực

Đối với người lao động trong tập thể được đánh giá đúng thành tích tham giađóng góp là một kích tố mạnh mẽ Đãi ngộ theo mức độ tham gia đóng góp khảnăng lao động là một kích tố to lớn tiếp theo

Hệ thống trả công lao động cho những người tham gia lao động chung nào

đó bao gồm các nội dung: nguồn chi trả, mức độ hơn kém nhau, hình thức chi trả,thời gian trao trả Phải nghiên cứu giải quyết đồng bộ các nội dung để người laođộng được kích thích nhất,đồng thời lợi ích chung không bị vi phạm

Nguồn chi trả công lao động phải là phần có giá trị mới được tập thể tạo ra,được thị trường,khách hàng chấp nhận

Không rõ nguồn chi trả hoặc chi trả không đúng nguồn sẽ gây xung đột,viphạm ,lợi ích này khi giải quyết lợi ích kia,tức là sẽ tạo ra sức phá hoại cho sựnghiệp chung

Phần giá trị mới được tập thể tạo ra và thị trường chấp nhận là doanh thu trừ

đi tổng giá trị nguyên vật liệu, trừ đi khấu hao tài sản cố định, trừ đi chi phí nănglượng,các khoản nộp phạt và các khoản chi thuộc lao động vật hóa khác

Phần giá trị mới ở tập thể bao giờ cũng phải giành một phần nào đó để tíchlũy phát triển sản xuất về mặt công cụ, công nghệ mới… Phần còn lại sử dụng đểtrả công lao động

Trang 13

Nguồn trả công lao động là phần giá trị người sử dụng sản phẩm chi trả chongười tạo ra sản phẩm đó Sản phẩm được tạo ra càng nhiều,càng phù hợp với yêucầu chất lượng,thị hiếu của khách hàng,suất chi cho lao động vật hóa càng ít,thìcàng được khách hàng ưng thuận chi trả nhiều, nguồn trả công lao động càng cao.Mức chi trả lao động phải tương xứng với giá trị khả năng lao động đã đượcchuyển vào sản phẩm, đồng thời phụ thuộc vào phần giá trị mới tập thể tạo ra,được khách hàng chấp nhận.mức chi trả công lao động phù hợp đảm bảo cho cáclợi ích không bị xung đột,đảm bảo tiền đề, điều kiện, cơ sở cho con người tái tạosức lao động,tham gia lao động tập thể tiếp sau đó.mức chi trả công cho người laođộng cụ thể không được nhỏ hơn mức lương tối thiểu và không bị chặn trên.trảcông lao động trong tập thể cho những người khác nhau thường khác nhau vì họthường thực hiện các công việc khác nhau , có khả năng lao động và đem lại kếtquả khác nhau.Sự khác nhau về chi trả công lao động phải dựa theo sự khác nhau,

sự tương quan giữa cường độ và mức độ phức tạp của lao động, giữa năng suất vàchất lượng sản phẩm.Nếu người nào đó trong lao động có các dấu hiệu tao thêmgiá trị sử dụng được khách hàng chấp nhận, hoặc có dấu hiệu ngăn ngừa tổnthất,trực tiếp giảm tổn thất, thì người đó phải được trả công hơn người khác

Người tham gia làm tăng giá trị mới, về thực chất là người đó đã tiêu hao mộtlượng khả năng lao động cao cấp đó đã được đóng góp vào sản phẩm Lượng giátrị đó, tốt hơn hết, nên được hoàn trả cho người đã tự tạo ra và cống hiến cho côngviệc chung, đó là điều người lao động luôn quan tâm, nếu được thực hiên thì họđược kích thích Và nếu được thực hiện ổn định như vậy,tất cả người lao động sẽchủ động, tự tạo ra khả năng lao động cao cấp, khả năng phát triển, cải tiến, sángtạo, khả năng phối hợp ngăn ngừa trục trặc,tổn thất Họ sẽ hăng hái thực hiện khả

Trang 14

năng lao động cao cấp.Mọi người ai cũng toàn tâm,toàn tài với sự nghiệp chung thì

sự nghiệp chung,xã hội mới phát triển thực sự

2.2 Các phương pháp kích thích vật chất cho người lao động tham gia lao động tập thể

2.2.1 Tiền lương

2.2.1.1 Khái niệm

Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người lao động đã

bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và được thanh toán theo kết quả lao độngcuối cùng

Là thu nhập chủ yếu của người lao động và được xác định theo hai cơ sở chủyếu là số lượng và chất lượng lao động của mỗi người

Tiền lương hình thành có tính đến kết quả của cá nhân, của tập thể và của xãhội, nó quan hệ trực tiếp đến việc thực hiện lợi ích của cá nhân người lao động.Qua mối quan hệ phụ thuộc này cho phép thấy được vai trò của tiền lương là công

cụ tác động của công tác quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh.Tiền lương

là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, vừa là một yếu tố chi phí cấu thànhnên giá trị của các loại sản phẩm lao vụ, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra, do

đó các doanh nghiệp sử dụng hiệu quả sức lao động nhằm tiết kiệm chi phí, tăngtích lũy cho đơn vị, tăng thu nhập cho người lao động

2.2.1.2 Quy chế tiền lương

Một doanh nghiệp cần phải có quy chế tiền lương tốt

Việc đầu tư xây dựng quy chế tiền lương tốt trong doanh nghiệp thành mộtloại hình văn bản riêng và phổ biến đến mọi nhân viên như một phần của văn hóadoanh nghiệp là rất nên làm

Trang 15

Vấn đề tiền lương có ảnh hưởng tới tất cả các phương diện trong nội dungquản lý nguồn nhân lực của một doanh nghiệp và là mối quan tâm hàng đầu củangười lao động

Người lao động mong sự công bằng trong tiền lương không những vì thu nhập

mà còn vì lòng tự trọng Họ cảm thấy bị xúc phạm khi kết quả làm việc của họ hơnmột số người nào đó (có thể là trong hoặc ngoài doanh nghiệp)mà vẫn phải chịumột mức lương thấp hơn

Doanh nghiệp muốn tạo động lực làm việc tốt cho nhân viên thì phải chứngminh được rằng chỉ có kết quả làm việc tốt mới cạnh tranh được mức lương

Quy chế tiền lương tốt sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp

Một hệ thống tiền lương và tiền công tốt sẽ duy trì đội ngũ hiện tại và đảm bảođối xử công bằng với tất cả mọi người, có tác dụng nâng cao năng suất và chấtlượng lao động, giúp doanh nghiệp thu hút và duy trì được những nhân viên giỏi.vậy các lợi ích mang lại từ quy chế tiền lương tốt là:

• Giúp thu hút và giữ lại các nhân viên cần thiết

• Không phải trả tiền lương và tiền công quá cao

• Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác trả lương hàng ngày

• Giúp giải thích cho nhân viên về những chênh lệch tiền lương Tạo một cơ sở vững chắc để ước tính quỹ lương

Ấn định tiền lương phải dựa trên những quy định của pháp luật,thị trườngbên ngoài và những yếu tố bên trong doanh nghiệp:

Quy định của pháp luật:

Trang 16

Tìm hiểu và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về các vấn đề laođộng trước khi xây dựng cơ chế trả lương là việc làm bắt buộc Doanh nghiệp cầnlưu ý đến các vấn đề như mức lương tối thiểu Nhà nước quy định hợp đồng vàlương thử việc, lương thời vụ, lương trong kỳ thai sản, ốm đau, nghỉ việc

Thị trường bên ngoài:

Khảo sát mức lương trên thị trường lao động: Liên tục rà soát lại các mứclương trong doanh nghiệp của bạn dựa trên các mức lương của đối thủ cạnh tranh

và dựa trên mức lương chuẩn trên thị trường Điều này sẽ làm cho nhân viên hếtboan khoăn xem mức lượng hiện tại của họ có cạnh tranh không?

Tính đến yếu tố biến động của giá cả sinh hoạt: Khi xác định mức lương cầnxem xét đến yếu tố biến động của giá cả sinh hoạt Khi nền kinh tế quốc dân vẫncòn trong giai đoạn chuyển đổi và mức lương chung còn thấp, việc xem xét cácnhu cầu cơ bản của con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Các yếu tố bên trong doanh nghiệp

Xác đinh đơn giá và quỹ tiền lương của doanh nghiệp: Xác định doanh nghiệpcần phải chi bao nhiêu cho tiền lương và tỷ lệ trên doanh thu là bao nhiêu và đóchính là đơn giá tiền lương trong năm Đơn giá này sẽ là cơ sở để xác định lương

cơ bản cho các nhóm chức danh, căn cứ để tính lương khoán trên doanh thu hayđơn vị sản phẩm

Phản ánh giá trị công việc: Khi xác định mức lương cho một người, phải xemxét giá trị công việc người đó mang lại cho doanh nghiệp

Trang 17

Thâm niên công tác: Mặc dù giá trị công việc là yêu tố chính trong quy trìnhxác định mức lương song vẫn phải xem xét các yếu tố như thâm niên công tác( sốnăm phục vụ, kinh nghiệm ) theo các giá trị xã hội phổ biến

Căn cứ vào kết quả làm việc: Việc tăng lương và chia tiền thưởng phải dựa trênkết quả làm việc Cần phải có một hệ thống đánh giá kết quả làm việc hoàn chỉnh

để tạo động lực cho những nhân viên có kết quả làm việc cao

* Quy trình xây dựng quy chế tiền lương trong doanh nghiệp

Nhận thức được tầm quan trọng của quy chế tiền lương trong doanh nghiệp

và có được những kiến thức cơ bản về vấn đề lương người chủ doanh nghiệp sẽxây dựng được một quy chế tiền lương theo quy trình đơn giản sau:

Bước 1: Lấy ý kiến và quan điểm của nhân viên

Mục đích của trưng cầu ý kiến nhân viên là để tránh được những sailầm mang tính chủ quan, áp đặt Ngoài ra còn cho người lao động cảm thấyđược tôn trọng vì họ được tham gia quyết định việc tính lương Vì vậy cácvấn đề sau cần được trưng bày ý kiến:

(1)Ưu điểm của cơ chế trả lương hiện tại?

(2)Nhược điểm của cơ chế trả lương hiện tại?

Trang 18

Sau khi thực hiện xong bước 1 thì người chủ doanh nghiệp tổng hợpcác ý kiến lại để xem xét Đồng thời dựa vào các yếu tố để ấn định mứclương ở trên để soạn thảo quy chế tiền lương cho doanh nghiệp mình.

Bước 3:Ban hành, áp dụng và định kỳ đánh giá, sửa đổi, bổ sung quy chế

Trước khi ban hành áp dụng quy chế cần họp phổ biến và lấy ý kiếncủa nhân viên Quy chế lương càng rõ ràng, minh bạch thì tinh thần và độnglực của nhân viên càng cao Mức trả cho mỗi người là bí mật nhưng cáchtính lương phải rõ ràng và dễ hiểu Sau khi áp dụng, nên nhớ rằng cơ chếhoặc chính sách trả lương không thể là bất biến mà nó cần được xem xét vàđánh giá, sửa đổi cho phù hợp với bối cảnh kinh doanh và những yêu cầumới

2.2.2 Thưởng và trợ cấp

2.2.2.1 Thưởng

Tiền thưởng là hình thức kích thích vật chất có tác dụng rất tích cực đối vớingười lao động trong việc phấn đấu thực hiện tốt công việc vì nó đánh trực tiếp vàonhu cầu vật chất của người lao động Do đó Các doanh nghiệp phải đưa ra các chế

độ thưởng rõ ràng, các định mức để được thưởng cụ thể Có thể chọn lựa một sốhình thức thưởng như:

‐ Thưởng hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất

‐ Thưởng cho nhân viên đem về lợi nhuận cho công ty

‐ Thưởng do nâng cao tỷ lệ sản phẩm đạt chất lượng

‐ Thưởng phát minh sáng kiến

Ngày đăng: 26/02/2016, 10:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w