Mục tiêu của đề tài: Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động thời kì vừa qua của vùng đồng bằng sông Hồng, đề xuất mô hình chuyển dịch cơ cấu lao động theo
Trang 1Bản Thảo
Đề tài: Định hướng giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động
đồng bằng sông Hồng đến năm 2020.
Lời mở đầu:
1 Lý do lựa chon đề tài:
Việt Nam đang trong những năm tăng tốc phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc
để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau Trong khi hiện nay cơ cấu kinh tế nước
ta vẫn cơ bản là Nông nghiệp – Công nghiệp – Dịch vụ Để đạt được muc tiêu trên thì nhiệm vụ cấp bách nhất hiện nay là phải đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế luôn có quan hệ mật thiết với nhau, để thành công trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì nhất thiết phải chuyển dịch cơ cấu lao động một cách phù hợp Do đó vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động để đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng hướng là một vấn đề quan trọng và cần được nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay
Trang 2Đồng bằng sông Hồng là khu vực có dân số đông, mật độ dân số cao và với sức ép về vấn đề việc làm rất lớn Vùng Đồng bằng sông Hồng có khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt là thủ đô Hà Nội- trung tâm kinh tế - văn hóa – chính trị - xã hội của cả nước Do đó việc chuyển dịch cơ cấu lao động của Đồng bằng sông Hồng là hết sức quan trọng, có vai trò như đầu tàu cho sự chuyển dịch cơ cấu
lao động của cả nước Vì những lí do trên em chọn đề tài: “ Định hướng giải pháp
chuyển dịch cơ cấu lao động đồng bằng sông Hồng đến năm 2020.”
2 Mục tiêu của đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động thời kì vừa qua của vùng đồng bằng sông Hồng, đề xuất mô hình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng thích hợp nhằm hướng tới mục tiêu chung của đất nước cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
3 Phương pháp nghiên cứu:
Chuyên đề sử dụng phương pháp duy vật lịch biện chứng và lịch sử để phân tích và đưa ra nhận định
Phương pháp phân tích chuỗi số liệu thời gian cũng được sử dụng trong
chuyên đề để giúp ta thấy được xu hướng và tốc độ của quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
Chuyên đề tập trung nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành
và nội bộ ngành của khu vực đồng bằng sông Hồng thời kì 2005 – 2011 Từ đó đưa
ra một số định hướng cho việc chuyển dịch cơ cấu lao động tới năm 2020 một cách phù hợp, nhằm hướng tới mục tiêu chung của kinh tế Việt Nam 2020
Trang 3Chương I:
Cơ sở lý thuyết về phương hướng phát triển của chuyển
dịch cơ cấu lao động:
1.1 Lao động, cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động:
1.1.1 Lao động:
Lao động là hoạt động có mục đích của con người Lao động là hành động diễn ra giữa con người và giới tự nhiên Trong quá trình lao động, con người vận dụng sức tiềm tàng trong thân thể mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên, chiếm lấy những vật chất trong tự nhiên, biến đổi những vật chất đó, làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống của mình
Lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực Lao động là hoạt động
có mục đích, có ý thức của con người nhằm tọa ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống XH Lao động là hoạt động đặc trưng nhất, là hoạt động sáng taọ của con người
Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá và mâu thuẫn giữa chúng
Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị là do lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt Chính tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá quyết định tính hai mặt của bản thân hàng hoá C Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá Đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng
Qua cơ sở đó, lao động được quan niệm như sự nỗ lực vật chất tinh thần của con người, qua hoạt động lao động của mình, sử dụng công cụ lao động tác động đến đối tượng lao động để đạt được mục đích nhất định
1.1.2 Cơ cấu lao động:
Cơ cấu lao động có thể hiểu là một phạm trù kinh tế, thể hiện tỷ lệ của từng bộ phận lao động nào đó chiếm trong tổng số, hoặc thể hiện sự so sánh của bộ phận lao động này so với bộ phận lao động khác
Cơ cấu lao động thường được dùng phổ biến là: Cơ cấu lao động phân theo thành thị - nông thôn, Cơ cấu lao động chia theo giới tính - độ tuổi, Cơ cấu lao
Trang 4động chia theo vùng kinh tế, Cơ cấu lao động chia theo ngành kinh tế, Cơ cấu lao động chia theo trình độ văn hoá - chuyên môn kỹ thuật, Cơ cấu lao động chia theo trình độ có việc làm - thất nghiệp ở thành thị, Cơ cấu lao động chia theo thành phần kinh tế.
Xét dưới góc độ phân công sản xuất ta có cơ cấu lao động theo ngành Theo
đó, cơ cấu lực lượng lao động theo ngành kinh tế là mối quan hệ tỷ lệ giữa số lượng lao động trong từng ngành kinh tế với tống số lao động của một địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia Các quan hệ tỷ lệ được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, chúng luôn vận động và hướng vào những mục tiêu
cụ thể
Cơ cấu kinh tế hiên nay chủ yếu được biết đến với cơ cấu về tỷ trọng trong 3 ngành chính là: Công nghiệp – Nông nghiệp – Dịch vụ
1.1.3 Chuyển dịch cơ cấu lao động:
Dầu tiên, hiểu theo nghĩa rộng chuyển dịch cơ cấu lao động là việc chuyển đổi
cơ cấu lao động từ trạng thái này sang trạng thái khác, mà trạng thái ấy được quyết định bởi các bộ phận hợp thành và quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phận trong cơ cấu lao động
Nội dung của chuyển dịch cơ cấu lao động là cải tạo cơ cấu lao động cũ lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu lao động mới tiên tiến, hoàn thiện và
bổ sung cơ cấu lao động cũ nhằm biến cơ cấu lao động cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp với mục tiêu kinh tế- xã hội đã xác định cho từng thời kỳ phát triển
Cơ cấu lao động mới hình thành đến một lúc nào đó cũng trở nên lỗi thời lạc hậu
và lại cần được thay thế bằng một cơ cấulao động mới Quá trình thay thế đó được lặp đi lặp lại không ngừng theo thời gian
Trang 51.2 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động:
1.2.1 Mô hình Fisher:
Trong tác phẩm “Các quan hệ kinh tế của tiến bộ kỹ thuật”, nhà kinh tế học
A.Fisher đã phân nền kinh tế thành 3 khu vực, gồm: nông nghiệp, công nghiệp và
dịch vụ Ông cho rằng với tác động của KH&CN tất yếu sẽ kéo theo quá trình chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ Quá trình này sẽ thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng khối ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời tỷ lệ lao động nông nghiệp sẽ giảm dần Như vậy, theo Fisher, chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Khi đánh giá kết quả và tính bền vững của chuyển dịch lao động cần phải đánh giá tác động của nó đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.2 Mô hình Lewis:
Năm 1954, nhà kinh tế học W.Arthur Lewis trong tác phẩm “Lý thuyết về
phát triển kinh tế” đưa ra “Mô hình hai khu vực” lập luận về mối quan hệ giữa khu vực nông nghiệp và khu vực công nghiệp trong quá trình tăng trưởng của nền kinh
tế, đồng thời đưa ra lý thuyết về chuyển dịch lao động giữa hai khu vực trên cơ sở
lý luận về tiền công lao động ở góc độ thu nhập Quá trình chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp là do thu nhập ở khu vực công nghiệp cao hơn
Mô hình Lewis giải thích tăng trưởng diễn ra do sự thay đổi cơ cấu kinh tế Một nền kinh tế ban đầu chỉ bao gồm 1 khu vực nông nghiệp được chuyển thành nền kinh tế bao gồm 2 khu vực nông nghiệp và công nghiệp, trong đó khu vực công nghiệp đóng vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 61.2.3 Mô hình Harris – Todaro:
Mô hình Harris – Todaro , được đặt tên sau khi John R Harris và Michael Todaro , là một mô hình kinh tế phát triển vào năm 1970 và được sử dụng trong
kinh tế phát triển và kinh tế phúc lợi để giải thích một số vấn đề liên quan đến di
cư từ nông thôn ra thành thị Các giả thuyết chính của mô hình là quyết định di cư được dựa trên sự chênh lệch thu nhập dự kiến giữa các khu vực nông thôn và đô thị chứ không phải là sự chênh lệch tiền lương chỉ Điều này ngụ ý rằng di cư nông thôn-đô thị trong bối cảnh thất nghiệp ở thành thị cao có thể là kinh tế hợp lý nếu thu nhập đô thị dự kiến sẽ vượt quá dự kiến thu nhập nông thôn
Trong mô hình, một trạng thái cân bằng được đạt đến khi mức lương dự kiến trong khu vực đô thị (thực tế tiền lương điều chỉnh tỷ lệ thất nghiệp ), là bằng sản phẩm cận biên của một công nhân nông nghiệp Mô hình này giả định rằng tỷ lệ thất nghiệp là không tồn tại trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn Nó cũng được giả định rằng sản xuất nông nghiệp nông thôn và thị trường lao động tiếp theo là
cạnh tranh hoàn hảo Kết quả là, mức lương nông nghiệp nông thôn bằng năng suất cận biên nông nghiệp Trong trạng thái cân bằng, nông thôn tỷ lệ di cư đô thị
sẽ là số không kể từ khi thu nhập nông thôn dự kiến tương đương với thu nhập đô thị dự kiến Tuy nhiên, trong trạng thái cân bằng này sẽ có tỷ lệ thất nghiệp tích cực trong lĩnh vực đô thị
1.2.4 Mô hình Hary – T.Osima:
Năm 1989, nhà kinh tế học người Nhật Bản – Harry T.Oshima – trong tác
phẩm “Tăng trưởng kinh tế ở các nước châu Á gió mùa” đưa ra lý thuyết về tăng
Trang 7trưởng và tạo việc làm ở các nước châu Á với mô hình phát triển 2 khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp theo 3 giai đoạn.
Cơ sở xuất phát của mô hình
Dựa trên những điểm khác biệt trong sản xuất nông nghiệp ở các nước châu á và châu Âu, Harry T Oshima, nhà kinh tế học Nhật bản đã đưa ra mô hình phát triển hai khu vực ở các nước châu Á, được thể hiện thông qua cuốn: “Tăng trưởng kinh
tế châu Á gió mùa”
Khác với Arthus Lewis và một số nhà kinh tế học phát triển khác, T Oshima cho rằng ở các nước đang phát triển, đặc biệt ở các nước châu á thì không phải lúc nào cũng có tình trạng dư thừa lao động ở nông thôn Sở dĩ có điều này là do nền nông nghiệp lúa nước ở các nước châu á có tính thời vụ rất cao Ở đây, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào vụ thu hoạch – khi đó, sẽ không có sự dư thừa lao động, thậm chí là còn bị thiếu Tình trạng dư thừa lao động chỉ diễn ra vào lúc nông nhàn Chính vì vậy theo ông nếu áp dụng nguyên si mô hình chuyển dịch của Lewis-Fei-Renis sẽ không thích hợp ở các nước châu Á
Nội dung của mô hình
Ông cũng chỉ ra rằng việc đầu tư nhiều vào nông nghiệp trong ngắn hạn là không thực hiện được do nền kinh tế ở các nước đang phát triển thường ở trong tình trạng thiếu các nguồn lực về vốn và khoa học công nghệ Do vậy, để khắc phục tình trạng lao động theo mùa vụ ở khu vực nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển, theo T Oshima, có thể tiến hành theo ba bước như sau:
• Bắt đầu cho quá trình tăng trưởng: tạo việc làm cho thời gian nhàn rỗi
Theo ông, trong giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng kinh tế, có thể tăng năng suất lao động trong nông nghiệp bằng cách giảm thiểu số lao động dư thừa vào thời
kỳ nông nhàn Do ở các nước đang phát triển ở châu á, cơ giới hóa chưa được ứng dụng nhiều nên tăng công ăn việc làm bằng mở rộng qui mô canh tác là hết sức khó khăn Vì vậy, biện pháp cơ bản là tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng như trồng thêm rau, quả, cây lấy củ, mở rộng chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản, trồng cây lâm nghiệp
Khi có nhiều việc làm hơn, thu nhập của người nông dân tăng lên, họ có thể chi tiêu nhiều hơn cho giống mới, phân hóa học, thuốc trừ sâu và công cụ lao động Bên cạnh đó, để nâng cao năng suất cây trồng và hiệu quả của các việc làm khác, tăng tốc độ tiêu thụ nông sản thì khu vực nông nghiệp cần phải có sự hỗ trợ của
Trang 8nhà nước về các mặt: xây dựng hệ thống kênh mương, đập tưới tiêu nước, hệ thống vận tải nông thôn, tăng cường và mở rộng các dịch vụ khuyến nông, nâng cấp hệ thống giáo dục và điện khí hóa nông thôn Cải tiến các hợp tác xã nông nghiệp, tổ chức các dịch vụ nông thôn; hỗ trợ của các tổ chức tín dụng để nông dân có thể mua giống mới và áp dụng các biện pháp khoa học kĩ thuật, cải cách ruộng đất để khắc phục tình trạng đất nông nghiệp còn manh mún, phân tán, giúp người nông dân phát huy cao độ nỗ lực của mình Vào giai đoạn này thì tất cả những khoản đầu
tư kể trên trong khu vực nông nghiệp sẽ không đáng kể so với đầu tư vào khu vực công nghiệp
Cùng với việc gia tăng số lượng lao động trong khu vực nông nghiệp là sự tăng sản lượng trong khu vực này Điều đó sẽ dẫn tới nhu cầu nhập khẩu lương thực giảm xuống đồng nghĩa với việc tiết kiệm ngoại tệ, và tạo ra khả năng xuất khẩu lương thực đồng nghĩa với việc tăng nguồn thu về ngoại tệ Và kết quả là nguồn ngoại tệ của quốc gia sẽ dồi dào hơn để nhập khẩu các máy móc thiết bị cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động
• Hướng tới việc làm đầy đủ
Giai đoạn kế tiếp là tiến hành đa dạng hóa nông nghiệp, tăng việc làm phi nông nghiệp bằng đầu tư vào các hoạt động chế biến lương thực, thực phẩm, đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ và các hoạt động dịch vụ Điều này đòi hỏi sự hoạt động đồng
bộ từ sản xuất, vận chuyển, bán hàng cho đến các dịch vụ hỗ trợ như tài chính, tín dụng, và các ngành có liên quan như công nghiệp phân bón, hóa chất, các ngành cung cấp nguyên liệu và công cụ sản xuất cho nông nghiệp
Khi đó sự phát triển nông nghiệp sẽ tạo điều kiện thúc đẩy mở rộng thị trường cho khu vực công nghiệp, tạo cơ hội để tăng quy mô sản xuất công nghiệp cũng như về các hoạt động dịch vụ Khi đó nhu cầu thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ tăng lên Quá trình này diễn ra trong nhiều năm cho đến khi khả năng tăng việc làm vượt quá tốc độ tăng lao động, làm cho thị trường lao động bắt đầu thu hẹp, tiền lương thực tế tăng lên, quá trình này còn phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tăng dân số và khả năng giải quyết việc làm của từng nước
• Sau khi có việc làm đầy đủ
Như đã trình bày ở trên, quá trình công nghiệp hóa diễn ra qua nhiều bước, được tiến hành liên tục, kéo dài trong nhiều năm, đồng thời với việc tiền lương thực tế trong nông nghiệp có xu hướng tăng dần với tốc độ ngày càng nhanh Khi đó sẽ xuất hiện việc thay thế lao động chân tay bằng máy móc vì lúc này sử dụng máy
Trang 9móc sẽ rẻ hơn sử dụng nhân công Trong điều kiện đó, nông nghiệp sẽ chuyển dần dần sang sản xuất bằng cơ giới hóa Các phương pháp sinh học được ứng dụng rộng rãi để tăng sản lượng Các máy cày, máy đập, gặt, phun nước, máy bơm, làm
cỏ, máy sấy và phương tiện vận tải cơ giới ngày càng được mở rộng đã tiết kiệm thời gian cho nông dân trên đồng ruộng, giải phóng được phần lớn lao động trong thời kỳ bận rộn nhất, tạo điều kiện cho việc thu hút lao động từ khu vực này sang khu vực công nghiệp mà sản lượng trong khu vực nông nghiệp vẫn tăng lên
Nhờ những kinh nghiệm đã đúc rút được trong quá trình sản xuất, các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu bắt đầu tìm thị trường nước ngoài để tiêu thụ sản phẩm của mình Do những ngành này là những ngành sử dụng nhiều lao động, vốn đầu
tư ít, công nghiệp không mấy phức tạp nên khả năng cạnh tranh sản phẩm của chúng có xu hướng ngày càng tăng Việc mở rộng các ngành này đồng nghĩa với việc sự thiếu hụt cung lao động ở khu vực nông nghiệp cho khu vực công nghiệp trong khi thị trường nông thôn cũng đạt đến trạng thái toàn dụng nhân công, tiền công tăng lên đồng thời khu vực dịch vụ cũng mở rộng Sự tăng trưởng của khu vực dịch vụ nhằm đáp ứng cho sự phát triển của khu vực nông nghiệp và công nghiệp thay thế nhập khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu
Khi giai đoạn chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp được hoàn thành thì nền kinh tế bước sang một giai đoạn tiếp theo là giai đoạn dịch chuyển từ công nghiệp sang dịch vụ
Tóm lại, trong mô hình phát triển của T Oshima sự tăng trưởng bắt đầu bằng việc tăng công ăn việc làm cho những tháng nông nhàn bằng việc đa dạng hóa hoạt động nông nghiệp mà không có sự dịch chuyển lao động từ khu vực này sang các khu vực khác Tiếp đó là có thể thu hút lao động nhàn rỗi vào các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, như mô hình Lewis-Fei-Ranis đã chỉ ra Điều đó sẽ làm cho thu nhập của người nông dân tăng lên, tạo cơ hội mở rộng thị trường cho các ngành công nghiệp, dịch vụ Nền kinh tế quá độ từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp Khi thị trường lao động rơi vào tình trạng thiếu cung thì tiền công thực tế sẽ tăng nhanh, cơ giới hóa sẽ được sử dụng phổ biến trong nông
nghiệp và công nghiệp nhằm thay thế lao động chân tay bằng lao động máy móc Việc sử dụng máy móc và khoa học công nghệ trong sản xuất sẽ làm tăng nhanh năng suất lao động và tổng sản phẩm quốc dân Khi đó, nền kinh tế dần dần quá độ
từ công nghiệp sang dịch vụ
Trang 101.3 Những nhân tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
1.3.1 Các nhân tố khách quan:
1.3.1.1 Sự phát triển của khoa học công nghệ:
Ngày nay, khoa học và công nghệ đã được coi là một nhân tố tham gia tích cực vào quá trình sản xuất Đối với chuyển dịch cơ cấu lao động, khoa học công nghệ cũng có những tác động theo hướng sau:
Sự phát triển của khoa học công nghệ sẽ dẫn đến sự ra đời của các ngành mới Theo đó cầu về lao động trong những ngành này cũng xuất hiện và gia tăng nhanh chóng
Sự phát triển khoa học công nghệ cũng tất yếu dẫn đến tăng nhu cầu về lao động có trình độ và đào thải một số lượng người lao động không có trình độ cao Với sự trợ giúp của máy móc hiện đại, các dây chuyền sản xuất hàng loạt, người ta
có xu hướng tuyển các lao động có tay nghề kỹ thuật cao Đó là một yếu tố thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng gia tăng lao động kỹ thuật
1.3.1.2 Sự đòi hỏi của nền kinh tế thị trường:
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng và Nhà nước ta đã xác định con đường mà chúng ta hướng tới là một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi những quan hệ kinh tế được điều tiết bởi quan hệ cung – cầu,
và lao động cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Thị trường lao động là nơi diễn ra các hoạt động mua bán sức lao động, là nơi giá hàng hóa sức lao động được hình thành
Ngoài ra, nền kinh tế thị trường phát triển sẽ dẫn đến những ngành còn phù hợp , được thị trường chấp nhận sẽ tồn tại đồng thời các ngành nghề đã lỗi thời, lạc
Trang 11hậu sẽ bị đào thải Theo đó, lao động trong các ngành này cũng sẽ dịch chuyển sang các ngành nghề khác.
1.3.1.3 Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế:
Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy thương mại phát triển Nhiều sản phẩm hàng hóa có điều kiện thâm nhập thị trường và xác định được vị thế trên thị trường thế giới, biến lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh Chính việc tiêu thụ được sản phẩm trên thị trường thế giới, phát huy được lợi thế
so sánh và nâng cao được khả năng cạnh tranh của sản phẩm đã tạo thu nhập cho người lao động, đồng thời có điều kiện đầu tư trở lại để hạ giá thành, duy trì và phát huy khả năng cạnh tranh của sản phẩm và nền kinh tế Việc phát triển các ngành, các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh thu hút và giải quyết việc làm cho người lao động cả tham gia trực tiếp và gián tiếp vào các khâu, các công đoạn trong chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu, qua đó làm thay đổi cơ cấu lao động
1.3.2 Các nhân tố chủ quan:
1.3.2.1 Các chính sách của nhà nước:
Chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển của tổng thể nền kinh tế nói chung và đối với sự chuyển dịch cơ cấu lao động nói riêng Có rất nhiều chính sách của Nhà nước có liên quan và có ảnh hưởng đến việc chuyển dịch cơ cấu lao động như: chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, chính sách đầu
tư trực tiếp cho các ngành, chính sách đào tạo nguồn nhân lực và chính sách di dân…Ngoài ra, các chính sách, chủ trương của Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổi trong chuyển dịch cơ cấu lao động
Trang 121.3.2.2.Định hướng nghề nghiệp của người lao động:
Nhân tố này tác động đến lựa chọn nghề nghiệp của người lao động Nó chịu
sự chi phối của hai nhân tố trên Xã hội với nòng cốt là gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng nghề nghiệp cho giới trẻ Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, các em học sinh đã phần nào được định hướng nghề nghiệp tương lai, thông qua sở thích, sự hướng dẫn, khuyên bảo của thầy cô và gia đình Đến khi bước vào các trường đào tạo và dạy nghề, các em mới được cung cấp các kiến thức
và kỹ năng cần thiết, để có thể trở thành những người lao động chính phục vụ cho gia đình và đất nước
Bên cạnh đó, các chính sách của Nhà nước về tiền lương, chế độ bảo hiểm thất nghiệp… cũng tác động không nhỏ tới mong muốn và nhu cầu làm việc của người lao động
1.3.2.3.Quy mô và số lượng các cơ sở đào tạo nghề:
Nhân tố này tác động trực tiếp đến sự tăng trưởng của đội ngũ lao động thuộc mọi ngành nghề Các cơ sở đào tạo và dạy nghề là đầu mối quan trọng cung cấp nguồn cung lao động cho mọi ngành nghề Đây cũng là nơi mà cung và cầu lao động có sự gặp gỡ ban đầu Một mặt, với sự yêu cầu, đòi hỏi của thị trường tất sẽ dẫn đến lượng cầu đào tạo một ngành nghề nào đó tăng lên Mặt khác, lượng lao động đã qua đào tạo quay trở lại là một nguồn cung mới cho thị trường lao động
Do đó, quy mô và số lượng cơ sở đào tạo nghề đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của lực lượng lao động thuộc mọi ngành nghề
Trang 131.4 Các tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu lao động:
1.4.1 Về tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động:
Đây là chỉ tiêu về quy mô và tốc độ gia tăng lao động trong các ngành: Chỉ tiêu về quy mô lao động cho biết số lượng lao động các ngành trong một dịa
phương, vùng kinh tế trong thời gian và thời điểm nhất định Qua đó có thể xác định tốc độ tăng trưởng qua từng năm Từ hai chỉ tiêu này có thể thấy được sự biến đổi số lượng và tỷ trọng lao động trong các ngành biến đổi như thế nào qua từng thời kì
1.4.2 Về tính phù hợp:
Cơ cấu lao động theo ngành: Chỉ tiêu này cho biết số lượng lao động của từng ngành chiếm bao nhiêu trong tổng số lao động của địa phương, vùng hay cả nước ở một thời điểm cụ thể Cùng với cơ cấu lao động theo ngành thì tỷ lệ đóng góp của ngành vào tổng thu nhập của địa phương, vùng hay cả nước Hai chỉ số này kêt hợp với nhau giúp chúng ta thấy được đóng góp của ngành với số lượng lao động đó đã phù hợp hay chưa, địa phương có khả năng lớn về phát triển ngành hay lĩnh vực gì, cần chuyển đổi cơ cấu lao động như thế nào cho hợp lý… Từ đó giúp lãnh đạo địa phương, vùng hay cả nước có những chính sách hợp lý cho phat triển kinh tế
1.4.3 Về tính hiệu quả:
Đánh giá hiệu quả quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động là các chỉ tiêu về năng suất, tăng thu nhập, cải thiện mức sống dân cư và tình hình giải quyết các vấn
đề liên quan đến môi trường……
Năng suất lao động theo ngành: Chi tiêu cho biết giá trị sản xuất do mỗi người lao động tạo ra trong một ngành nhất định Nó cho ta biết hiệu quả trong hoạt động của ngành đó Nếu cơ cấu lao động được chuyển dịch theo đúng hướng thì năng suất lao động sẽ tăng
Trang 14GDP/ lao động: Cho thấy đóng góp của một lao động vào GDP Một sự
chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý tất yếu sẽ dẫn đến sự cải thiện đời sống của người lao động, thể hiện gián tiếp qua sự gia tăng của GDP/lao động
GDP/người: một lao động ngoài việc nuôi sống bản thân còn phải nuôi sống
cả gia đình mình ( cha mẹ, con cái, vợ chồng…) Do đó, hiệu quả của chuyển dịch
cơ cấu lao động không thể chỉ xét đến thu nhập của lao động đó mà còn phải quan tâm đến thu nhập đầu người có được cải thiện hay không
1.5 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu lao động của một số địa phương:
Trang 15Chương II:
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động đồng bằng sông
Hồng giai đoạn 2005 – 2011.
2.1.1 Khái quát về đồng bằng sông Hồng:
Điều kiện tự nhiên, Nguồn lực, điều kiện kinh tế xã hội => Thích hợp phát triển………
du phía Bắc (gồm Đông Bắc và Tây Bắc) và Đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng rộng hơn 21.063,1 km2 chiếm 6,4% diện tích toàn quốc với một vùng biển bao la ở phía Đông và Đông Nam Số dân của vùng là 19.770.000 người (2010), chiếm 23,6% số dân cả nước
Đồng bằng sông Hồng bao gồm 10 tỉnh thành: Bắc Ninh, Hà Nam, Hà
Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Vĩnh Phúc
Đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt trong phân công lao động của cả nước Đây là vùng có vị trí địa lí và điều kiện
tự nhiên thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, dân cư đông đúc, nguồn lao động dồi dào, mặt bằng dân trí cao
Trang 16Điều kiện tự nhiên
Vùng Đồng bằng sông Hồng bao gồm đồng bằng châu thổ màu mỡ, dải đất rìa trung du với một số tài nguyên khoáng sản, tài nguyên du lịch và vịnh Bắc Bộ giàu tiềm năng Địa hình của vùng tương đối bằng phẳng, có độ cao từ 0,4 - 12m so với mực nước biển
Vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,5 - 23,50C Lượng mưa trung bình năm là 1400 - 2000mm
Vùng có vị trí thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội Đây là cầu nối giữa Đông Bắc, Tây Bắc với Bắc Trung Bộ, đồng thời cũng nằm ở trung tâm miền Bắc, trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có thủ đô Hà Nội là trung tâm công nghiệp, hành chính, chính trị cao nhất nước Vùng lại tiếp giáp với hơn 400km bờ biển, có cửa ngõ thông ra biển qua cảng Hải Phòng, dễ dàng mở rộng giao lưu với các vùng khác và các nước trong khu vực Tuy nhiên, do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán
Tài nguyên thiên nhiên của vùng khá đa dạng, đặc biệt là đất phù sa sông Hồng Đồng bằng sông Hồng là nơi có nhiều khả năng để sản xuất lương thực, thực phẩm Trên thực tế, đây là vựa lúa lớn thứ hai của cả nước, sau Ðồng bằng sông Cửu Long Số đất đai sử dụng cho nông nghiệp là trên 70 vạn ha, chiếm 56% tổng diện tích tự nhiên của vùng, trong đó 70% đất có độ phì từ trung bình trở lên Ngoài số đất đai phục vụ nông nghiệp và các mục đích khác, số diện tích đất chưa được sử dụng vẫn còn hơn 2 vạn ha
Nhìn chung, đất đai của Ðồng bằng sông Hồng khá màu mỡ do được phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp Có giá trị nhất đối với việc phát triển cây lương thực
Vùng có hai hệ thống sông lớn là hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình nên nguồn nước rất phong phú Cả nguồn nước trên mặt lẫn nguồn nước ngầm đều
có chất lượng rất tốt
Trang 17Vùng còn có bờ biển dài, có ngư trường Hải Phòng - Quảng Ninh, cảng Hải Phòng, khu du lịch Đồ Sơn.
Điều kiện khí hậu và thuỷ văn thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp Thời tiết mùa đông rất phù hợp với một số cây trồng ưa lạnh.Tài nguyên có giá trị đáng kể là các mỏ đá (Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Bình), sét cao lanh (Hải Dương), than nâu (Hưng Yên), khí tự nhiên (Thái Bình) Về khoáng sản thì vùng có trữ lượng lớn về than nâu, đá vôi, sét, cao lanh Đặc biệt,
mỏ khí đốt Tiền Hải đã được đưa vào khai thác nhiều năm nay và đem lại hiệu quả kinh tế cao
Nguồn tài nguyên biển đang được khai thác có hiệu quả nhờ phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, du lịch
Tuy nhiên, vùng thiếu nguyên liệu cho việc phát triển công nghiệp, phần lớn nguyên liệu phải được nhập từ vùng khác Một số tài nguyên của vùng bị suy thoái
do khai thác quá mức
Trang 18Đặc điểm dân cư, xã hội
Vùng Đồng bằng sông Hồng gồm có 10 tỉnh, thành là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc
Bảng 1: Sơ lược về các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng
Tên vùng, tỉnh
Dân số (nghìn người)
Diện tích (km 2 )
Mật độ (người/km 2 )
Cả nước
86.927,7
331.21
Đồng bằng sông Hồng
19.770,0
21.063,
Hà Nội 6.561,9 3.344,6 1.962Vĩnh
Phúc 1.008,3 1.231,8 819Bắc
Ninh 1.034,2 822,7 1257Hải
Dương 1.712,8 1.650,2 1.038Hải
Phòng 1.857,8 1.522,1 1.221Hưng
Yên 1.132,3 923,5 1.226Thái
Bình 1.786 1.567,4 1.140
Hà
Nam 1.830 1.650,8 1.107
Trang 19ĐịnhNinh Bình 900,6 1.389,1 648
Nguồn : Tổng cục thống kê 2010
Đồng bằng sông Hồng là vùng dân cư đông đúc nhất cả nước Mật độ dân số trung bình là 939 người/km2 (năm 2010) Đây là một thuận lợi vì vùng có nguồn lao động dồi dào với truyền thống kinh nghiệm sản xuất phong phú, chất lượng lao động dẫn đầu cả nước Thế nhưng, dân số đông cũng đem đến những khó khăn nhất định, gây sức ép nặng nề lên sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng
Những nơi dân cư đông nhất của vùng là Hà Nội (1.962 người/km2 ), Thái Bình (1.140 nngười/km2), Hải Phòng (1.221 người/km2), Hưng Yên
(1.226 người/km2)
Sự phân bố dân cư quá đông ở Đồng bằng sông Hồng liên quan tới nhiều nhân tố như nền nông nghiệp thâm canh cao với nghề trồng lúa nước là chủ yếu đòi hỏi phải có nhiều lao động Trong vùng còn có nhiều trung tâm công nghiệp quan trọng và một mạng lưới các đô thị khá dày đặc Ngoài ra, Đồng bằng sông Hồng đã được khai thác từ lâu đời và có các điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho hoạt động sản xuất và cư trú của con người
Ở Đồng bằng sông Hồng, dân số gia tăng vẫn còn nhanh Vì vậy, tốc độ tăng dân
số chưa phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội Điều này gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đồng bằng
Việt Nam là nước có diện tích canh tác tính theo đầu người rất thấp (892m2) Trên cái nền chung ấy, chỉ số này ở Ðồng bằng sông Hồng còn thấp hơn nhiều do bị sức
ép quá nặng nề của dân số Ở đây, bình quân mỗi đầu người chỉ đạt khoảng ½ con
số trung bình của cả nước Đất canh tác ít, dân đông nên phải đẩy mạnh thâm canh Song nếu thâm canh không đi đôi với việc hoàn lại đầy đủ các chất dinh dưỡng sẽ làm cho đất đai ở một số nơi bị giảm độ phì nhiêu
Trang 20Bảng 2: Một số chỉ tiêu phát triển dân cư, xã hội ở Đồng bằng sông Hồng năm
2010 Tiêu chí vị tính Đơn
Đồng bằng sông Hồng
C
ả nước
Tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số % 0,96
1,03
Tỉ lệ thất nghiệp ở
4,29
Tỉ lệ thất nghiệp ở
2,3Thu nhập bình quân
đầu người
Triệu
25,8
Tỉ lệ người lớn biết
94,5Tuổi thọ trung bình Năm 74,7 3,9 7
Trang 21kém và thu hút được ít các nguồn vốn đầu tư hơn Nguyên nhân chính của tình hình này là do cả khu vực còn thiếu cơ chế chính sách đồng bộ, chưa hình thành được thị trường bất động sản, thị trường vốn, cũng như chưa có một quy hoạch tổng thể để phát huy lợi thế so sánh của cả vùng Theo kế hoạch phát triển các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, từ nay đến năm 2010, vùng sẽ phải giữ được tốc độ tăng trưởng liên tục trên 10% và đóng góp khoảng 24% cho GDP của cả nước so với 20% như hiện nay Mục tiêu đến trước năm 2020, tỷ lệ này sẽ phải là 27%
Đồng bằng sông Hồng cũng là nơi tập trung nhiều các cảng biển, khu công nghiệp, nông nghiệp nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế và tốc
độ tăng trưởng ngày càng tăng
Cơ cấu kinh tế của vùng đang có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỉ trọng khu vực I, tăng nhanh tỉ trọng khu vực II và III trên cơ sở đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội
Công nghiệp
Công nghiệp Đồng bằng sông Hồng hình thành sớm nhất và phát triển mạnh trong thời kì đất nước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá Giá trị công nghiệp
ở Đồng bằng sông Hồng tăng mạnh từ 55,2 nghìn tỉ đồng (năm 2002) lên
554.517,9 nghìn tỉ đồng, chiếm 24,3% GDP công nghiệp của cả nước (năm 2009)Phần lớn giá trị công nghiệp tập trung ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng.Các ngành công nghiệp trọng điểm của Đồng bằng sông Hồng là công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp cơ khí Sản phẩm công nghiệp quan trọng của vùng là máy công cụ, động cơ điện, phương tiện giao thông, thiết bị điện tử, hàng dệt kim, giấy viết, thuốc
Nông nghiệp
Về diện tích và tổng sản lượng lương thực, Đồng bằng sông Hồng chỉ đứng sau Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng là vùng có trình độ thâm canh cao nên năng
Trang 22xuất lúa rất cao Hầu hết các tỉnh ở Đồng bằng sông Hồng đều phát triển một số cây ưa lạnh đem lại hiệu quả kinh tế lớn như các cây ngô đông, khoai tây, su hào, bắp cải, cà chua và trồng hoa xen canh Hiện nay, vụ đông đang trở thành vụ chính của một số địa phương trong vùng.
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, ngành trồng cây lương thực luôn giữ địa vị hàng đầu Diện tích cây lương thực là khoảng 1,2 triệu ha, chiếm khoảng 14% diện tích cây lương thực của cả nước Sản lượng lương thực là 7,22 triệu tấn, chiếm 18% sản lượng lương thực toàn quốc (2010)
Trong các cây lương thực, lúa có ý nghĩa quan trọng nhất cả về diện tích và sản lượng Hàng năm, Ðồng bằng sông Hồng có hơn 1 triệu ha đất gieo trồng lúa Với con số này, lúa chiếm 88% diện tích cây lương thực của vùng và chiếm khoảng 16,6% diện tích gieo trồng lúa của cả nước (2010)
Cây lúa có mặt ở hầu hết các nơi, nhưng tập trung nhất và đạt năng suất cao nhất là
ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình Thái Bình trở thành tỉnh dẫn đầu cả nước về năng suất lúa (62,3 tạ/ha – năm 2010) Ngành trồng cây lương thực, đặc biệt là trồng lúa ở đây đã có từ lâu đời và được thâm canh với trình độ cao nhất trong cả nước
Rau các loại có diện tích gieo trồng hơn 7 vạn ha, chiếm 27,8% diện tích rau cả nước, tập trung chủ yếu ở vành đai xung quanh các khu công nghiệp và thành phố.Nguồn thực phẩm của vùng đồng bằng phụ thuộc nhiều vào ngành chăn nuôi, nhất
là chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản Việc phát triển các ngành này còn nhiều khả năng to lớn Vấn đề cơ bản là giải quyết tốt cơ sở thức ăn cho gia súc nhỏ và mở rộng quy mô của ngành nuôi trồng thuỷ sản
Hiện nay, chăn nuôi lợn rất phổ biến và thịt lợn là nguồn thực phẩm quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân Đàn lợn của Đồng bằng sông Hồng chỉ đứng sau Vùng núi và trung du Bắc Bộ về số lượng với gần 7,32 triệu con, chiếm 24,7% đàn lợn của toàn quốc (2010)
Việc nuôi, trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn đã được chú ý phát triển, nhưng thực tế chưa khai thác hết tiềm năng của vùng Hiện nay toàn vùng có
Trang 2312,51 vạn ha diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 12,3% diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản của cả nước.
Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch là giảm tỉ trọng trồng trọt, tăng tỉ trọng chăn nuôi và thuỷ sản, riêng trồng trọt thì giảm tỉ trọng lương thực, tăng tỉ trọng cây công nghiệp và cây thực phẩm
Dịch vụ
Nhờ kinh tế phát triển mà hoạt động vận tải trở nên sôi động Thủ đô Hà Nội
và thành phố Hải Phòng là hai đầu mối giao thông vận tải quan trọng
Hà Nội, Hải Phòng đồng thời là hai trung tâm du lịch lớn ở phía Bắc Đồng bằng sông Hồng có nhiều địa danh du lịch hấp dẫn, nổi tiếng như chùa Hương, Tam Cốc - Bích Động, Côn Sơn, Cúc Phương, Đồ Sơn, Cát Bà
Bưu chính viễn thông là ngành phát triển mạnh Hà Nội là trung tâm thông tin,
tư vấn, chuyển giao công nghệ, đồng thời là một trong hai trung tâm tài chính, ngân hàng lớn nhất nước
Trong tương lai, vùng định hướng phát triển mạnh ngành dịch vụ và đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển du lịch, khai thác các tiềm năng sẵn có
Các trung tâm kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm
Vùng có hai trung tâm kinh tế lớn là Hà Nội và Hải Phòng
Các thành phố lớn như Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long (Quảng Ninh) tạo
thành tam giác kinh tế phát triển mạnh của vùng và có sự lan toả, thu hút với các vùng, tỉnh lân cận Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ tạo điều kiện cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động của cả hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Vùng núi và trung du phía Bắc
Trang 24Từ những đặc điểm của đồng bằng sông Hồng nhà nước đã có những
chính sách tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động của khu vực giai đoạn
Các quy định về dồn điền đổi thửa trao thêm quyền cho người sử dụng đất, tạo điều kiện cho những hộ tự chủ sản xuất, đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, có tích lũy để phát triển sản xuất chăn nuôi và phi nông nghiệp quy mô lớn
Tuy nhiên, chính sách đất đai, nhất là chính sách về giao đất cho nông dân sử dụng ổn định lâu dài, khi triển khai trên thực tế trong thời gian đầu đã làm cho ruộng đất hết sức manh mún, nảy sinh mâu thuẫn với yêu cầu sản xuất hàng hóa lớn, gắn chặt người nông dân với đất, kìm hãm chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp
Trang 252.1.2.2 Chính sách về tín dụng, tài chính:
Các chính sách về tín dụng tài chính đã tác động tích cực đến phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu lao động Đơn giản hóa các thủ tục cho vay kể cả cho vay bằng tín chấp đối với các khách hàng có uy tín mà không cần bảo lãnh tài sản
đã giúp người sản xuất, kinh doanh tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn để đẩu tư vào sản xuất và phát triển, mở mang các ngành nghề kinh doanh phi nông nghiệp
Việc thành lập Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, quỹ giải quyết việc làm địa phương đã góp phần không nhỏ vào việc giải quyết việc làm cho người lao động Đối tượng được vay vốn là các cá nhân, hộ gia đình, tổ ,hợp tác xã, hay doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để tạo việc làm, thu hút thêm lao động Người vay vốn được hưởng lãi suất vay thấp Hoạt động của Quỹ đã giúp giải quyết được việc làm cho 25 – 30 vạn lao động mỗi năm Mỗi năm, khả năng tạo việc làm cảu Quỹ của chương trình quốc gia giải quyết việc làm tăng từ 15 – 20% so với năm trước Đối với ĐBSH, số lao động đã tạo việc làm từ sự giúp đỡ của Quỹ nhìn chung đều tăng qua các năm Trong đó, Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình là những tỉnh có nhiều lao động được giải quyết việc làm nhờ quỹ này
Số lượt hộ vay vốn, doanh số cho vay và dư nợ cho vay , bình quân dư nợ/hộ đối với hộ sản xuất ở ĐBSH tăng nhanh, thể hiện nhu cầu vay vốn và cơ hội về vốn
để phát triển sản xuất của các hộ trong vùng đã tăng nhanh
2.1.2.3 Chính sách về phát triển cơ sở hạ tầng:
Trang 26Trong thời gian qua, cơ sở hạ tầng nông thôn cũng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm phát triển, giúp làm tăng giao lưu hàng hóa, giảm dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị Quá trình này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động do một số lao động nông thôn có thể tham gia vào quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa nông sản Ngoài ra, khi cơ sở hạ tầng phát triển, lao động nông thôn cũng có điều kiện tiếp cận thị trường lao động ở các đô thị hoặc các vùng được công nghiệp hóa nhanh hơn và hiệu quả hơn Một số các chương trình tiêu biểu như là: chương trình 135 (hiện đang ở giai đoạn 2)_ là chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu vùng xa; chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 – 2005 đã xác định rõ nội dung xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ phục vụ sản xuất và dịch vụ xã hội cơ bản khác Với những nguồn đầu tư trực tiếp từ ngân sách, hạ tầng về sản xuất nông nghiệp và hạ tầng nông thôn đã được cải thiện đáng kể Một phần không nhỏ các nguồn vốn hỗ trợ phát triển ODA cũng được sử dụng nhằm nâng cấp hạ tầng nông thôn, ưu tiên cho các dự án phát triển ngành nghề ở nông thôn.
2.1.2.4 Chính sách phát triển nông nghiệp – nông thôn:
Các chính sách về phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình CNH – HĐH và ĐTH có tác động rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu lao động Tốc độ CNH – HĐH và ĐTH tăng lên làm cho nhu cầu lao động ở các khu công nghiệp tăng lên, là lực hút quan trọng kéo lao động ra khỏi khu vực nông thôn
Các chính sách về phát triển doanh nghiệp mà đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn và các vùng phụ cận giúp thu hút một lực lượng đáng kể lao động nông thôn Đi kèm với việc thu hồi đất nông nghiệp cho các mục đích phát triển hạ tầng, an ninh, phát triển đô thị, Nhà nước cũng có các chính sách hỗ