1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG về số và CHẤT LƯỢNG KINH tế VN THỜI kỳ 2001 – 2010

26 276 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 519,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾTăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội GDP hoặc tổng sản lượng quốc gia GNP hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bìnhquân tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

LỚP BỒI DƯỠNG SAU ĐẠI HỌC KHÓA XII

-ĐỀ ÁN KẾT THÚC MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ SỐ VÀ CHẤT LƯỢNG KINH TẾ VN THỜI KỲ 2001 – 2010 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VN THỜI GIAN QUA

CÓ ẢNH HƯỞNG NTN ĐẾN VẤN ĐỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ

CÔNG BẰNG XÃ HỘI

Giảng viên : PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn

Thực hiện : Nghiêm Ngọc Hưng

Hà Nội, tháng 3/2012

Trang 2

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bìnhquân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

Tăng trưởng và phát triển

Qui mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người

hoặc thu nhập bình quân đầu người (Per Capita Income, PCI).

Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản

sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuốicùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời giannhất định (thường là một năm tài chính)

Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính

bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân mộtnước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốcdân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng

Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia chodân số Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia chodân số

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bìnhquân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sựthay đổi về lượng của nền kinh tế Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bìnhđẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưngnhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ

Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó baogồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như

phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷtrọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ) Phát

Trang 3

triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồmkinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảorằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn.

Đo lường tăng trưởng kinh tế

Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối,tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trongmột giai đoạn

Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳcần so sánh

Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy

mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế

kỳ trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %

Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:

y = dY/Y × 100(%),

trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng Nếu quy

mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăngtrưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằngGDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế.Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danhnghĩa

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế

Để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế học dùngcác mô hình kinh tế

Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất

đai sản xuất nông nghiệp (R, Resources) là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế.Nhưng đất sản xuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tíchtrên đất xấu hơn để sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảmdẫn đến chí phí sản xuất lương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nongphẩm tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệpgiảm Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu tư dẫn đến tăng trưởng

Trang 4

Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận của cảngười sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh

tế Nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này khônggiải thích được nguồn gốc của tăng trưởng

Mô hình hai khu vực tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng

hai khu vực nông nghiệp và công nhiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là laođộng (L labor), yếu tố tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác độnglên hai khu vực kinh tế Tiêu biểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis,Tân cổ điển và Harry T Oshima

Mô hình Harrod-Domar nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do

lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên

Mô hình Robert Solow (1956) với luận điểm cơ bản là việc tăng

vốn sản xuất chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà khôngảnh hưởng trong dài hạn, tăng trưởng sẽ đạt trạng thái dừng Một nền kinh tế cómức tiết kiệm cao hơn sẽ có mức sản lượng cao hơn không ảnh hưởng đến tăngtrưởng kinh tế trong dài hạn (tăng trưởng kinh tế bằng không (0))

Mô hình Kaldor tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật

hoặc trình độ công nghệ

Mô hình Sung Sang Parknguồn gốc tăng trưởng là tăng cường

vốn đầu tư quốc gia cho đầu tư con người

Mô hình Tân cổ điển nguồn gốc của tăng trưởng tùy thuộc vào

cách thức kết hợp hai yếu tố đầu vào vốn(K) và lao động (L)

Trước Keynes, kinh tế học cổ điển và tân cổ điển không phân biệt rànhmạch tăng trưởng kinh tế với phát triển kinh tế Hơn nữa, ngoại trừ Schumpeter,các trường phái trên đều không coi trọng vai trò của tiến bộ kỹ thuật đối với tăngtrưởng kinh tế

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học vĩ mô Keynes tiêu biểu là

mô hình Harrod-Domar Mô hình này dựa trên hai giả thiết căn bản: (1) giá cảcứng nhắc, và (2) nền kinh tế không nhất thiết ở tình trạng toàn dụng lao động.Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản

Trang 5

xuất tăng lên Từ đó, họ suy luận ra được rằng một khi nền kinh tế đang ở trạngthái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng không cânbằng thì sẽ càng ngày càng không cân bằng (mất ổn định kinh tế).

Trong khi đó, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển xây dựng mô hình củamình dựa trên hệ giả thiết mà hai giả thiết căn bản là: (1) giá cả linh hoạt, và (2)nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng lao động Mô hình tăng trưởng kinh tế của họcho thấy, khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sangtrạng thái tăng trưởng không cân bằng thì đó chỉ là nhất thời, và nó sẽ mauchóng trở về trạng thái cân bằng

Các nhân tố của tăng trưởng kinh tế

Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn cácnước đang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực củaphát triển kinh tế phải được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăngtrưởng kinh tế là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ Bốnnhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khácnhau đưa đến kết quả tương ứng

• Nguồn nhân lực: chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng,kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăngtrưởng kinh tế Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệđều có thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làmđiều tương tự Các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệsản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình

độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt Thực tế nghiên cứu các nềnkinh tế bị tàn phá sau Chiến tranh thế giới lần thứ II cho thấy mặc dù hầu hết tưbản bị phá hủy nhưng những nước có nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn có thểphục hồi và phát triển kinh tế một cách ngoạn mục Một ví dụ là nước Đức,

"một lượng lớn tư bản của nước Đức bị tàn phá trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, tuy nhiên vốn nhân lực của lực lượng lao động nước Đức vẫn tồn tại Với những kỹ năng này, nước Đức đã phục hồi nhanh chóng sau năm 1945 Nếu

Trang 6

không có số vốn nhân lực này thì sẽ không bao giờ có sự thần kỳ của nước Đức thời hậu chiến."[1]

• Nguồn tài nguyên thiên nhiên: là một trong những yếu tố sản xuất

cổ điển, những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu

mỏ, rừng và nguồn nước Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để pháttriển kinh tế, có những nước được thiên nhiên ưu đãi một trữ lượng dầu mỏ lớn

có thể đạt được mức thu nhập cao gần như hoàn toàn dựa vào đó như Ả rập Xê

út Tuy nhiên, các nước sản xuất dầu mỏ là ngoại lệ chứ không phải quy luật,việc sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú không quyết định một quốcgia có thu nhập cao Nhật Bản là một nước gần như không có tài nguyên thiênnhiên nhưng nhờ tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng lao động, tưbản, công nghệ cao nên vẫn có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới về quy mô

• Tư bản: là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tưbản mà người lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ

lệ tư bản trên mỗi lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp Để có được tưbản, phải thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặcbiệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tínhtrên GDP cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững Tuy nhiên, tưbản không chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân dầu tư cho sản xuất nó còn là tưbản cố định xã hội, những thứ tạo tiền đề cho sản xuất và thương mại phát triển

Tư bản cố định xã hội thường là những dự án quy mô lớn, gần như không thểchia nhỏ được và nhiều khi có lợi suất tăng dần theo quy mô nên phải do chínhphủ thực hiện Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đường giao thông, mạng lưới điệnquốc gia ), sức khỏe cộng đồng, thủy lợi

• Công nghệ: trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõràng không phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm laođộng và tư bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sảnxuất Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thểtạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn Côngnghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công

Trang 7

nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới có những bước tiến như vũ bão gópphần gia tăng hiệu quả của sản xuất Tuy nhiên, thay đổi công nghệ không chỉthuần túy là việc tìm tòi, nghiên cứu; công nghệ có phát triển và ứng dụng mộtcách nhanh chóng được là nhờ "phần thưởng cho sự đổi mới" - sự duy trì cơ chếcho phép những sáng chế, phát minh được bảo vệ và được trả tiền một cáchxứng đáng.

Hạn chế của các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế

Các chỉ tiêu đo lường mức tăng trưởng kinh tế được sử dụng làm thước đotrình độ phát triển nền kinh tế một cách cụ thể, dễ hiểu và nó trở thành mục tiêuphấn đấu của một chính phủ vì nó là tiêu chí để người dân đánh giá hiệu quảđiều hành đất nước của chính phủ

Nhưng tăng trưởng kinh tế không phản ảnh được chính xác phúc lợi củacác nhóm dân cư khác nhau trong xã hội, chênh lệch giàu nghèo có thể tăng lên,chênh lệch giữa nông thôn và thành thị có thể tăng cao và bất bình đẳng xã hộicũng có thể tăng Tăng trưởng có thể cao nhưng chất lượng cuộc sống có thểkhông tăng, môi trường có thể bị hủy hoại, tài nguyên bị khai thác quá mức, cạnkiệt, nguồn lực có thể sử dụng không hiệu quả, lãng phí

Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Quan điểm "Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và côngbằng xã hội ngay trong từng bước phát triển" [1] nêu trong Văn kiện Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng là một định hướng đúng đắn bảo đảm cho

sự phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam Nhiều nhà nghiên cứu đã có bàiviết phân tích về nội dung chính trị, triết học, kinh tế - xã hội của định hướngnày Để góp phần làm rõ khái niệm “công bằng xã hội” trong bối cảnh phát triểnbền vững, bài viết cung cấp một số minh chứng định lượng về quan hệ giữa tăngtrưởng kinh tế và công bằng xã hội, với một số nhận định: Công bằng xã hộiphải bảo đảm khuyến khích tối đa khả năng đóng góp và hạn chế tối thiểu khảnăng gây hại của mỗi cá nhân đối với xã hội; Việc cung cấp các dịch vụ y tế,giáo dục cho nhóm nghèo mang ý nghĩa kinh tế quan trọng (không đơn thuầnmang tính đạo đức) Đó là chi phí cần thiết và hiệu quả nhằm bảo đảm mức toàn

Trang 8

dụng lao động xã hội đồng thời hạn chế những tổn hại cho xã hội trong tươnglai; Nhóm giàu cần được khuyến khích làm giàu chính đáng với tư cách là nhómđầu tàu thúc đẩy xã hội phát triển đi đôi với việc ngăn ngừa hành vi làm giàu bấtchính, trong đó có hành vi trục lợi từ ngoại ứng tiêu cực.

Để một quốc gia có thể vươn lên trong một thế giới phát triển sôi độngnhư hiện nay thì phát triển nhanh và bền vững là yêu cầu tất yếu CBXH trongmọi khía cạnh phải có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển nhanh và bền vững.Không công bằng đến mức độ nhất định chắc chắn gây ra phản ứng tiêu cực từcác đối tượng chịu thiệt và hạn chế sự phát triển dài hạn của xã hội Không côngbằng còn phát sinh những ảnh hưởng tiêu cực từ phía các đối tượng được lợi quánhiều theo quy luật hiệu suất giảm dần và cuối cùng cũng hạn chế sự phát triểndài hạn của đất nước Từ quan điểm trên, bài viết này xin đưa ra khái niệm vềCBXH như sau: CBXH là tình trạng mà mọi quyền lợi, nghĩa vụ của các thànhviên xã hội có và được thực hiện phù hợp với các giá trị xã hội để khuyến khíchtối đa khả năng đóng góp và hạn chế tối thiểu khả năng gây hại của mỗi cá nhâncho xã hội trong dài hạn Theo khái niệm nêu trên, CBXH có quan hệ mật thiếtvới sự phát triển bền vững và sự phát triển bền vững được xác định trên cơ sởđóng góp tối đa và gây hại tối thiểu của mỗi thành viên đối với xã hội trong dàihạn

Trang 9

PHẦN II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ SỐ LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ 2001 – 2010

- Từ năm 2001 – 2010, tiềm lực kinh tế được nâng cao, đất nước đã rakhỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển; Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bìnhquân 7,2%/năm Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá thực tếđạt trên 106 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 1.220 USD Năng lực sảnxuất nhiều ngành kinh tế tăng đáng kể Tỷ lệ đô thị hoá tăng từ 24,2% năm 2000lên trên 30% năm 2010.Việt Nam

- Tăng trưởng kinh tế cao đã tạo ra nhiều việc làm mới cho người dân đã

giải quyết việc làm 15,6 triệu ng Tỷ lệ Lao động qua đào tạo 16% (2000) lên37% (2008) và 40% (2010) Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 62,2% (2000)xuống 52,5% (2008) và 50% (2010)

- Thu nhập và chất lượng cuộc sống được nâng cao rõ rệt.

Thu nhập thực tế bình quân 10 năm tăng 3,3 lần, từ 221 nghìnđồng/ng./tháng (1999) lên 728,5 nghìn đồng/ng./tháng (2008) Chênh lệch thunhập giữa thành thị và nông thôn giảm từ 2,3 lần năm 1999 xuống còn 2,09 lầnnăm 2004 và 2 lần năm 2008

Cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng trong cơ cấu

GDP tăng từ 36,7% năm 2000 lên 40% năm 2010, nông, lâm, ngư nghiệp giảm

từ 24,5% xuống còn khoảng 21 - 21,2% và tỷ trọng dịch vụ giữ mức 38,9%

Vốn đầu tư toàn xã hội tăng cao Tỷ lệ vốn đầu tư xã hội/GDP bình quân

10 đạt 40,6%, trong đó, vốn trong nước chiếm khoảng 70% Vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài (FDI) đăng ký 10 năm ước đạt 170 tỷ USD, thực hiện ước đạt 59 tỷUSD Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cam kết 10 năm ước đạt 45 tỷ USD,giải ngân 21-22 tỷ USD

- Công tác môi trường được quan tâm và đạt được một số kết quảnhất định Nhận thức về bảo vệ môi trường (BVMT) của các cấp, các ngành vàcác tầng lớp xã hội được nâng lên Hệ thống pháp luật, chính sách về môi trườngtừng bước được xây dựng

Trang 10

chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục được hoàn thiện; tình trạngphân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế từng bước được xoá bỏ Các loạithị trường cơ bản đã hình thành và từng bước phát triển

Biểu đồ 1: Lạm phát tại các nước phát triển, các nước mới nổi và đang

phát triển, các nước châu Á đang phát triển và Việt Nam (bình quân năm)

Nguồn: World Economic Outlook, IMF, 10/2010

Những hạn chế, yếu kém

Bên cạnh những thành tựu đạt được, nền kinh tế Việt Nam trong nùm

2010 vẫn còn những hạn chế, yếu kém:

Thứ nhất, chất lượng tăng trưởng không cao, thể hiện ở tính hiệu quả và

sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vàophát triển theo chiều rộng, tăng khối lượng các nguồn lực, nhất là tăng vốn đầu

1993-1997 1998-2002 2003-2010 Đóng góp vào tăng trưởng (%) 100 100 100

Trang 11

tư, chưa thực sự dựa trên cơ sở năng suất lao động và nâng cao hiệu quả Năm

2010, tổng vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế đạt 830,3 ngàn tỉ đồng, tăng17,1% so với năm 2009 Với kết quả này, tỉ lệ đầu tư so với GDP đã giảm từmức 42,8% năm 2009 xuống còn 41,9% vào năm 2000, nhưng vẫn cao hơn mức41,3% của năm 2008 Đây là tỉ lệ thuộc loại cao nhất thế giới, chỉ sau tỉ lệ trêndưới 45% của Trung Quốc Ở châu Á, ngoại trừ Trung Quốc và Ấn Độ, là hainước có tỉ lệ đầu tư so với GDP cao (Trung Quốc khoảng 45% và Ấn Độ khoảng

38 - 39% trong năm 2009), còn lại các nước khác đều có tỉ lệ này thấp hơn 30%,trong đó, Philippines chỉ ở mức 14%, Malaysia: gần 20% (xem biểu đồ 11)

Biểu đồ 9 : Tỉ lệ đầu tư so với GDP của một số nước châu Á

Hiệu quả của vốn đầu tư cũng đang giảm thấp đến mức báo động vơi chỉ

số ICOR tăng mạnh trong giai đoạn 1991 - 2009 Nếu như trong giai đoạn 1991

- 1995, hệ số ICOR là 3,5 thì đến giai đoạn năm 2007 - 2008, hệ số này là 6,15;năm 2009, hệ số ICOR tăng vọt lên 8; năm 2010, hệ số này giảm xuống còn 6,2;nhưng vẫn còn cao hơn nhiều so với khuyến cáo của WB: đối với một nướcđang phát triển, hệ số ICOR ở mức 3 là đầu tư có hiệu quả và nền kinh tế pháttriển theo hướng bền vững So sánh với các nước trong khu vực, ICOR của ViệtNam gần gấp đôi, có nghĩa là hiệu suất đầu tư chỉ bằng một nửa

Trang 12

Biểu đồ 10: Hệ số ICOR của Việt Nam và một số quốc gia châu Á

Thứ hai, thêm hụt ngân sách liên tục cao, nợ công tăng nhanh Theo Bộ

Tài chính, thâm hụt ngân sách năm 2010 dự kiến giảm 0,4 điểm % GDP xuốngcòn 5,8% GDP (dự toán là 6,2% GDP), vẫn ở mức cao so với các nước trongkhu vực Do thường xuyên trong tình trạng thâm hụt ngân sách nên nợ công tăngrất nhanh trong những năm vừa qua Theo Bộ Tài chính, tính đến hết31/12/2010, dư nợ chính phủ bằng 44,3%, dư nợ quốc gia bằng 42,2% GDP và

dư nợ công bằng 56,6% GDP Mặc dù tỉ lệ nợ công Việt Nam được coi là vẫnnằm trong tầm kiểm soát, nhưng đã trở nên cao hơn hẳn so với tỉ lệ phổ biến30% - 40% ở các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi khác Nếu xét mức nợcông bình quân đầu người bình quân đầu người trong vòng 8 năm (từ 2001 đến2009), mức nợ công bình quân đầu người đã tăng gần bốn lần, từ 144 USD lêntới 548 USD, tức trung bình hơn 18%/năm, trong khi tốc độ tăng GDP bìnhquân đầu người của cùng thời kì chỉ là 6%/năm# Nợ công tăng nhanh trong bốicảnh thâm hụt ngân sách cao và kéo dài đã đe dọa tính bền vững của quản lí nợ

Trang 13

công và gây áp lực lên lạm phát, đây cũng là nguyên nhân chính khiến xếp hạngtín nhiệm quốc gia của Việt Nam đều bị các cơ quan xếp hạng tín dụng hạ thấp

Biểu đồ 11: Thâm hụt ngân sách Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011

Nguồn: Bộ Tài chính

Biểu đồ 12: Thâm hụt ngân sách của Việt Nam và một số nước chấu Á

(2005 - 2009)

Ngày đăng: 26/02/2016, 10:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng ........ Thu nhập của các nhóm dân từ 1995-2004, - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG về số và CHẤT LƯỢNG KINH tế VN THỜI kỳ 2001 – 2010
ng ....... Thu nhập của các nhóm dân từ 1995-2004, (Trang 20)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w