Quản lý nguyên vật liệu là yêu cầu khách quan của mọi nền sản xuất xã hội trong điều kiện hiện nay, khi mà nền sản xuất xã hội càng được mở rộng và phát triển đất nước đổi mới về mọi mặt
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU Trong những năm gần đây khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với bước phát triển không ngừng của nền kinh tế nước ta đã tạo điều kiện và cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển Chính vì thế việc hoạch toán kinh doanh không còn bao cấp đối với các doanh nghiệp nhà nước, buộc các doanh nghiệp phải tự mình vận động phát triển trong điều kiện cạnh tranh với các loại hình doanh nghiệp trong nước khác cũng như các doanh nhiệp có vốn đầu tư của nước ngoài hay 100% vốn nước ngoài Như vậy, các doanh nghiệp phải tự hạch toán kinh doanh theo nguyên tắc “ Lấy thu
bù chi và đảm bảo có lãi “ vì vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn được các doanh nghiệp quan tâm và được đặt lên hàng đầu Tức là doanh nghiệp làm sao để bỏ ra chi phí ít nhất nhưng lại thu được lợi nhuận nhiêù nhất Để đạt được mục đích đó, các doanh nghiệp phải chú trọng giám sát tất cả các khâu từ khâu đầu đến khâu cuối của quá trình sản xuất Từ việc tìm nguồn thu mua nguyên vật liệu tới việc tổ chức sản xuất kinh doanh và thị trường tiêu thụ Đảm bảo việc bảo toàn chu chuyển vốn tăng nhanh sản phẩm tiêu thụ cho doanh nghiệp
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên thực thể sản phẩm, do vậy việc hạch toán kế toán và quản lí nguyên vật liệu có ý nghĩa rất quan trọng trong tổng thể quản lí doanh nghiệp Việc hạch toán kế toán nguyên vật liệu có đầy đủ, kịp thời chính xác hay không
có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lí nguyên vật liệu của doanh nghiệp Mặt khác chi phí cho nguyên vật liệu, thường chiếm một tỉ lệ rất lớn trong giá thành sản phẩm ( từ 60% đến 80% tổng chi phí ) Từ các yêu cầu và tính chất đó, trong doanh nghiệp quản lí nguyên vật liệu, là rất cần thiết và đòi hỏi kế toán vật tư phải tổ chức có hiệu quả nhằm kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Nhận thấy được vai trò, tầm quan trọng đó của công tác kế toán nói chung và kế toán nguyên vật liệu nói riêng Với những kiến thức được tích luỹ trong quá trình học tập tại trường Đại học kinh tế Quốc Dân em quyết định chọn đề án: “ Bàn về hạch toán quá trình cung cấp nguyên, vật liệu “ Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung chuyên đề của em gồm 3 chương:
Chương I: Những lí luận chung về tổ chưc kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp.
Trang 3Chương II: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tổng hợp nguyên vật liệu trong các doanh
nghiệp hiện nay
Chương III: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán tổng hợp nguyên vật liệu
trong các doanh nghiệp
Do điều kiện thời gian và trình độ có hạn, cho nên trong bản đề án này không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự chỉ dạy của các thầy cô
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Phí Văn Trọng đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành đề án này
3
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5Chương I: Những vấn đê lí luận chung về tổ chức kế toán Nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
1.1Vị trí, vai trò của nguyên vật trong các doanh nghiệp.
1.1.1. Vị trí, vai trò của nguyên vật liệu.
Để nhận thức được tầm quan trọng của nguyên vật liệu đối với quá trình sản xuất thì trước hết phải có những nhận thức cơ bản về nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia thường xuyên và trực tiếp vào quá trình sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm sản xuất Trong mỗi quá trình sản xuất, vật liệu không ngừng chuyển hoá, biến đổi cả về mặt hiện vật lẫn giá trị
1.2Đặc điểm của nguyên vật liệu
1.2.1 Đặc điểm của nguyên vật liệu
- Đặc điểm về hiện vật: Vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, dưới tác động của tư liệu lao động chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc bị biến đổi hình thái và vật chất ban đầu để tạo ra sản phẩm
- Đặc điểm về mặt giá trị: Do chỉ tham gia vào một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định nên khi tham gia vào sản xuất, giá trị của vật liệu sẽ được tinh hết một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kì
Vì hai đặc điểm trên của vật liệu nên vật liệu được xếp vào loại tài sản lưu động của doanh nghiệp, do đó vật liệu sẽ ảnh hưởng thường xuyên trong suốt quá trình thu mua, bảo quản, dự trữ…
1.3Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu
5
Trang 6Quản lý nguyên vật liệu là yêu cầu khách quan của mọi nền sản xuất xã hội trong điều kiện hiện nay, khi mà nền sản xuất xã hội càng được mở rộng và phát triển đất nước đổi mới về mọi mặt, trình độ sản xuất càng được nâng cao thì phương pháp quản lý không ngừng đổi mới và hoàn thiện, làm sao việc hạch toán và sử dụng nguyên vật liệu được tiết kiệm và hợp lý, có hiệu quả Để thoả mãn nhu cầu cao nhất của doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa.
Việc quản lý sẽ được thực hiện tốt hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, song yếu tố quan trọng nhất là trình độ nhận thức, khả năng và sự tận tâm, nhiệt tình của cán bộ công nhân viên làm công tác quản lý Việc quản lý nguyên vật liệu phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Trước hết trong quá trình thu mua nguyên vật liệu phải tổ chức sao cho tiết kiệm và có hiệu quả nhất, tránh hiện tượng thất thoát, phải mua đúng yêu cầu sử dụng tránh hiện tượng trong kho có vật liệu, mà không thể sử dụng được, mua đủ, không mua thừa gây ứ đọng vốn, không mua thiếu làm gián đoạn quá trình sản xuất, tìm nguồn cung ứng sao cho nguyên vật liệu đáp ứng được yêu cầu đề ra và phải có giá trị thích hợp
- Quản lý nguyên vật liệu tại kho: sắp xếp, bố trí khoa học, hợp lí tiện việc trông coi cũng như xuất dùng khi có yêu cầu
- Quản lý dự trữ vật liệu: bảo quản, đảm bảo quá trình sản xuất được tiến hành liên tục, không được thiếu vật liệu, cũng như thừa vật liệu để tránh gián đoạn sản xuất hoặc ứ đọng vốn
- Quản lý trong sử dụng vật liệu: bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến mức tiêu hao vật liệu trong từng khâu sản xuất Khi doanh nghiệp đã xây dựng được định mức tiêu hao, thì trong quá trình sản xuất doanh nghiệp không dừng ở chỉ tiêu định mức tiêu hao
đã xây dựng mà nên cố giảm chi phí vật liệu hạ giá thành sản phẩm
1.4Nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu
Quản lý chặt chẽ tình hình cung cấp, bảo quản, dự trữ nguyên vật liệu là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp Để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nguyên vật liệu, kế toán vật liệu cần làm các nhiệm vụ sau:
Trang 7Phản ánh chính xác, kịp thời và kiểm tra tình hình cung cấp nguyên vật liệu, trên các mặt: số lượng, chất lượng, chủng loại, giá trị và thời gian cung cấp.
Tính toán và phân bổ chính xác kịp thời trị giá nguyên vật liệu xuất dùng cho các đối tượng khác nhau, kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện định mức tiêu hao, phát hiện và ngăn chặn kịp thời những trường hợp sử dụng nguyên vật liệu sai mục đích, lãng phí
Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện định mức dự trữ nguyên vật liệu, phát hiện kịp thời các vật liệu ứ đọng, kém phẩm chất, chưa cần dùng và có biện pháp giải phóng để thu hồi vốn nhanh chóng, hạn chế các thiệt hại
Thực hiện việc kiểm kê vật liệu theo yêu cầu quản lí, lập các báo cáo về nguyên vật liệu, tham gia phân tích việc thực hiện kế hoạch thu mua, dự trữ, sử dụng nguyên vật liệu
1.5Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu
1.5.1 Phân loại nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu sử dụng trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có công dụng khác nhau, được sử dụng ở nhiều bộ phận khác nhau, có thể được bảo quản, dự trữ trên nhiều địa bàn khác nhau Do vậy để thống nhất công tác quản lý nguyên vật liệu giữa các bộ phận liên quan, phục vụ cho yêu cầu phân tích, đánh giá tình hình cung cấp, sử dụng nguyên vật liệu cần phải có các cách phân loại thích ứng
1.5.1.1 Căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu của quản trị doanh nghiệp
Thì toàn bộ nguyên vật liệu của doanh nghiệp được chia thành:
- Nguyên vật liệu chính: bao gồm các loại nguyên vật liệu, vật liệu tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất để cấu tạo nên thực thể bản thân sản phẩm
- Vật liệu phụ: bao gồm các vật liệu được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để nâng cao chất lượng cũng như tính năng của sản phẩm và các loại vật liệu phục vụ cho quá trình hoạt động và bảo quản các loại tư liệu lao động, phục vụ cho công việc lao động của công nhân
7
Trang 8- Nhiên liệu: bao gồm các loại vật liệu để tạo ra năng lượng để cho sự hoạt động của các máy móc thiết bị và dùng trực tiếp cho quá trình sản xuất (luyện, sấy, nấu, hấp….)
- Phụ tùng thay thế: bao gồm tất cả các loại vật liệu dùng cho việc thay thế, sửa chữa các loại tài sản cố định là máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn
- Các loại vật liệu khác: bao gồm các loại vật liệu không phụ thuộc các loại vật liệu đã nêu trên như bao bì đóng gói sản phẩm, phế liệu thu hồi trong quá trình sản xuất và thanh lí tài sản
1.5.1.2 Căn cứ vào nguồn cung cấp vật liệu thì vật liệu chia thành:
- Vật liệu mua ngoài
- Vật liệu tự sản xuất
- Vật liệu từ các nguồn khác ( được cấp, nhận vốn góp…)
Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý, hạch toán chi tiết, cụ thể của từng doanh nghiệp mà các loại vật liệu nêu trên lại được chia thành từng nhóm, từng loại có quy cách phù hợp với mục đích của doanh nghiệp…
1.5.1.3 Căn cứ vào mục đích, công dụng của vật liệu cũng như nội dung quy định
phản ánh chi phí vật liệu trên các tài khoản kế toán
Thì nguyên liệu của doanh nghiệp còn chia thành:
- Nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm
- Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác: phục vụ quản lý ở các phân xưởng, tổ, đội sản xuất, cho nhu cầu bán hàng, quản lý doanh nghiệp
1.5.2 Đánh giá nguyên vật liệu
Trang 9Tuỳ theo từng nguồn nhập mà cấu thành giá vốn thực tế của nguyên vật liệu có sự khác nhau, cụ thể:
- Đối với nguyên vật liệu mua ngoài:
o Nếu nguyên vật liệu mua dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế VAT theo phương pháp khấu trừ:
Trị giá vốn thực tế Trị gia mua Thuế nhập Chi phí T.Tphát Các khoản của NVL = ghi trên hoá + khẩu + sinh trong khâu - giảm giá và nhập kho trong kì đơn (ko VAT) (nếu có) mua hàng mua trả lại.
- Đối với NVL do doanh nghiệp tự gia công chế biến:
Trị giá thực tế của Trị giá thực tế của Chi phi
NVL nhập = NVT gia + chế
kho trong kì công chế biến biến
- Đối với NVL thuê ngoài gia công chế biến:
Trị giá vốn thực tế của Trị giá NVL- Chi phí Tiền
NVL gia công = gia công + giao + gia
9
Trang 10nhập kho trong kì chế biến nhận công
- Đối với nguyên vật liệu nhận vốn góp liên doanh, cổ phần thì giá thực tế là giá do các bên tham gia liên doanh định giá
- Phế liệu thu hồi được tính theo giá ước tính
1.5.3 Tính giá nguyên vật liệu
Theo chuẩn mực việc tính giá trị của hàng tồn kho được áp dụng theo một trong các phương pháp: đích danh, bình quân gia quyền, nhập trước –xuât trước, nhập sau – xuất trước
Tuỳ theo đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp, vào yêu cầu quản lí và trình độ nghiệp vụ kế toán của cán bộ kế toán, có thể sử dụng một trong các phương pháp sau theo nguyên tắc nhất quán trong hạch toán
a. Phương pháp đơn giá bình quân
Đơn giá Trị giá thực tế NVL + Trị giá thực tê NVL
xuất kho xuất kho nhập trước
b. Phương pháp giá thực tế nhập trước xuất trước
Trị giá thực tế Số lượng Đơn giá thực
của NVL = NVC x tế của lô hàng
Trang 11xuất kho xuất kho nhập trước
Khi nào xuất hết số lượng của lô hàng nhập trước thì nhân với đơn giá thực tế của lô hàng nhập tiêp sau Như vậy, theo phương pháp này giá thực tế của NVL nhập kho thuộc các lần mua sau cùng
c. Phương pháp gía thực tế nhập sau - xuất trước
Theo phương pháp này, kế toán cũng phải theo dõi được đơn giá thực tế và số lượng của từng
lô hàng nhập kho Sau đó khi xuất kho, căn cứ vào số lượng xuất kho để tính giá thực tế của NVL xuất kho theo công thức:
Trị giá thực tế Số lượng Đơn giá thực tế
của NVL = NVL x của lô hàng
xuất kho xuất kho nhập sau cùng
Khi nào hết số lượng lô hàng nhập sau cùng thì nhân với đơn giá thực tế của lô hàng nhập trước lô hàng đó và cứ tính lần lượt như thế Như vậy, theo phương pháp này giá thực tế của NVL tồn kho cuối kì chính là giá thực tế của NVL nhập kho thuộc các lần mua đầu kì
d. Phương pháp giá thực tế đích danh
Phương pháp này đòi hỏi kế toán phải biết những đơn vị NVL có trong kho thuộc lần nhập kho nào, đơn giá khi nhập kho là bao nhiêu từ đó tính giá trị NVL xuất kho của từng đối tượng NVL cần tính giá
Tóm lại, mỗi một phương pháp tính giá NVL có những nội dung ưu điểm và điều kiện áp dụng phù hợp nhất định Doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, vào yêu cầu quản lý và trình độ của đội ngũ cán bộ kế toán để lựa chọn và đăng kí một phương pháp tính phù hợp Phương pháp tính đã đăng kí phải được sử dụng nhất quán
11
Trang 121.6 kế toán chi tiết nguyên vật liệu
Hạch toán chi tiết vật tư là việc kế toán theo dõi cho từng thứ vật tư ở từng kho của doanh nghiệp theo hai mặt là thước đo giá trị và thước đo hiện vật
1.6.1 Chứng từ kế toán
Theo quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Tài Chính kế toán tình hình nhập – xuất NVL liên quan đến nhiều loại chứng từ khác nhau, các chứng từ có tính chất bắt buộc đến những chứng từ có tính chất hướng dẫn hoặc tự lập, phê duyệt và luân chuyển chứng từ
để phục vụ cho yêu cầu quản lí ở bộ phận có liên quan và yêu cầu ghi sổ, kiểm tra kế toán
Chứng từ có liên quan đến nhập – xuất và sử dụng NVL gồm:
- Phiếu nhập kho ( Mẫu số 01-VT)
- Phiếu xuất kho ( Mẫu số 02- VT)
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ ( Mẫu số 03-VT)
- Phiếu xuất vật tư theo hạn mức ( Mẫu số 04-VT)
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kì ( Mẫu số 07-VT)
- Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho ( Mẫu số 02- BH)
- Hoá đơn cước phí vận chuyển ( Mẫu số 03-BH)
- Biên bản kiểm kê vật tư,sản phẩm,hàng hoá ( Mẫu số 08-VT)
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kì ( Mẫu số 07- VT)
Tuỳ theo yêu cầu, đặc điểm, tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp, tuỳ thuộc lĩnh vực hoạt động, thành phần kinh tế mà doanh nghiệp còn sử dụng các chứng từ khác
1.6.2 Sổ kế toán chi tiết nguyên vật liệu
Để phục vụ cho kế toán chi tiết NVL tuỳ thuộc vào phương pháp hạch toán chi tiết áp dụng trong các doanh nghiệp mà sử dụng các sổ ( thẻ) kế toán chi tiết sau:
Trang 13- Sổ ( thẻ ) kho
- Sổ chi tiết vật tư
- Sổ đối chiếu luân chuyển
- Sổ số dư
1.6.3 Phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu
Việc hạch toán nguyên vật liệu phải được tiến hành đồng thời ở cả kho và phòng kế toán trên cơ sở các chứng từ nhập xuất Các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống chứng từ, mở các sổ
kế toán chi tiết trên cơ sở lựa chọn, vận dụng phương pháp kế toán chi tiết NVL cho phù hợp nhằm tăng cường công tác quản lí NVL Các doanh nghiệp có thể lựa chọn 1 trong những phương pháp sau để kế toán chi tiết NVL
1.6.3.1 Phương pháp thẻ song song
Ở kho:thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép Hàng ngày căn cứ vào chứng từ nhập, xuất
để ghi số lượng vật liệu vào thẻ và cuối ngày tính ra số tồn kho của từng loại vật liệu trên thẻ kho
Ở phòng kSế toán: kế toán sử dụng sổ kế toán chi tiết để ghi chép tình hình nhập xuất tồn
của từng loại NVL cả về hai mặt số lượng lẫn giá trị
Hàng ngày hoặc định kì, khi nhận được các chứng từ nhập xuất nguyên vật liệu được thủ kho chuyển lên, kế toán phải tiến hành kiểm tra tính giá trị phản ánh và sổ chi tiết Cuối tháng căn cứ vào sổ chi tiết để lập bảng tổng hợp chi tiết nhập, xuất và tồn vật liệu Số tồn trên sổ chi tiết phải khớp đúng trên thẻ kho
Sơ đồ 1.1: Hạch toán chi tiết theo phương pháp ghi thẻ song song
13
Thẻ kho
Chứng từ xuất Chứng từ
nhập
Trang 141.6.3.2 Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Nội dung phương pháp:
Tại kho: thủ kho vẫn sử dụng các thẻ kho để ghi chép tinh hình nhập, xuất, tồn của từng
loại nguyên vật liệu công cụ dụng cụ về mặt số lượng
Tại phòng kế toán: để theo dõi từng loại vật liệu nhập, xuất về số lượng và giá trị, kế toán
sử dụng sổ đối chiếu luân chuyển Đặc điểm ghi chép là chỉ thực hiện ghi chép một lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp các chứng từ nhập, chứng từ xuất trong tháng và mỗi danh điểm vật liệu được ghi một dòng trên sổ đối chiếu luân chuyển
Sổ kế toán chi tiết
Bảng tổng hợp X-T
N-Kế toán tổng hợp
Trang 15Phương pháp này được áp dụng cho các doanh nghiệp có các nghiệp vụ nhập, xuất diễn
ra tương đối nhiều
Sơ đồ 1.2: Hạch toán chi tiết theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Ghi hàng ngày:
Quan hệ đối chiếu:
Ghi cuối ngày:
1.6.3.3 Phương pháp sổ số dư
Nội dung phương pháp:
Ở
kho : Căn cứ vào phiếu nhập, xuất kế toán tiến hành ghi vào thẻ kho theo chỉ tiêu số
lượng Cuối tháng thủ kho phải căn cứ vào số tồn của vật liệu trên thẻ kho để ghi vào sổ số dư theo chỉ tiêu số lượng Sổ số dư do phòng kế toán lập và gửi xuống cho thủ kho vào ngày cuối tháng để ghi sổ
15
Bảng kê Phiếu nhập
Kế toán tổng hợp
Sổ đối chiếu luân chuyển Thẻ kho
Bảng kê Phiếu xuất kho
Trang 16Ở
phòng kế toán : khi nhận được các chứng từ nhập xuất tồn và phiếu giao nhận chứng từ
do nhân viên phụ trách kho chuyển lên, kế toán nguyên vật liệu, lập bảng kê nhập xuất tồn cho từng kho để ghi chép tình hình nhập xuất vật liệu hàng ngày hoặc định kì theo chỉ tiêu giá trị Cuối tháng khi nhận được sổ số dư do thủ kho gửi lên, kế toán căn cứ vào số lượng tồn kho
mà thủ kho đã ghi ở sổ số dư và đánh giá từng thứ nguyên vật liệu tính ra thành tiền ghi vào cột số tiền ở sổ số dư Số liệu trên cột số tiền ở sổ số dư sẽ được đối chiếu với số tồn kho trên bảng kê nhập xuất tồn và đối chiếu với số liệu của kế toán tổng hợp
Có thể khái quát trình tự kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp sổ số dư bằng
Phiếu xuất
kho
Bảng luỹ kế xuất
Trang 17Ghi cuối tháng:
Điều kiện áp dụng: Thường áp dụng đối với các doanh nghiệp có khối lượng các nghiệp vụ về nhập xuất nguyên vật liệu lớn nhiều chủng loại vật liệu, đã xây dựng được hệ thống danh điểm vật liệu, dùng giá hạch toán để hạch toán hàng ngày và trình độ kế toán của doanh nghiệp tương đối cao
1.7 Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu
Theo chế độ kế toán hiện hành, kế toán nguyên vật liệu được tiến hành theo hai phương pháp sau:
- Phương pháp kiểm kể định kì
- Phương pháp kê khai thường xuyên
1.7.1 Hạch toán nguyên vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kì
Phương pháp kiểm kê định kì là phương pháp không theo dõi thường xuyên, liên tục tình hình nhập xuất tồn kho nguyên vật liệu trên sổ kế toán mà chỉ phản ánh hàng tồn kho vào cuối kì
và đầu kì
Phương pháp này không tổ chức việc ghi chép phản ánh tình hình nhập xuất vật tư hàng hoá một cách thường xuyên liên tục mà chỉ phản ánh giá trị hàng hoá tồn kho đầu kì và cuối kì Trên cơ sở kiểm kê cuối kì để xác định lượng tồn kho thực tế chưa xuất dùng cho sản xuất kinh doanh Khi xác định được lượng tồn kho thực tế thì tính ra giá trị của hàng tồn kho nhưng lại phải xuất dùng liên tục nên điều đó làm cho độ chính xác không cao
Trị giá vốn thực = Trị giá vốn thực tế + Trị giá vốn thực tế - Trị giá vốn thực
Tế xuất kho tồn đầu kì nhập trong kì tế tồn cuối kì
17
Trang 18Phương pháp kiểm kê định kì áp dụng cho những doanh nghiệp có quy mô nhỏ sản xuất kinh doanh ít mặt hàng.
1.7.1.1 Tài khoản sử dụng
Tài khoản 611 – Mua hàng Tài khoản này dùng để phản ánh giá thực tế của số vật tư hàng hoá mua vào trong kì Tài khoản này chỉ áp dụng ở những doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kì
Kết cấu của tài khoản:
- Bên nợ:
o Trị giá vật tư hàng hoá mua vào trong kì, hàng bán bị trả lại
o Kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng tồn kho đầu kì
- Bên có:
o Trị giá vật tư xuất sử dụng trong kì, hàng hoá đã bán trong kì
o Trị giá vật tư hàng hoá đã mua vào trả lại cho người bán, được giảm giá
o Kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng tồn kho cuối kì
Tài khoản này không có số dư cuối kì và được mở hai taì khoản cấp hai
- Tài khoản 6111: mua nguyên vật liệu
- Tài khoản 6112: mua hàng hoá
Các tài khoản 152,151,135 chỉ phản ánh số dư đầu kì và cuối kì ngoài ra còn sử dụng các tài khoản khác như 111,112,141,331,621,627…
1.7.1.2 Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu theo sơ đồ sau
Trang 19Sơ đồ1.4: Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Trang 20được cấp hay nhận vốn kinh doanh của liên Chi phí SXC,CPBH,CPQL
doanh hay cổ đông góp vốn bằng NVL
142
Chi phí trả trước Mức phân bổ
Cho kỳ này
Ghi chú: (*) Nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
(**) Nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
1.7.2 Hạch toán nguyên vạt liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên
Hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp ghi
chép phản ánh thường xuyên lien tục có hệ thống tình hình nhập –xuất- tồn vật tư hàng hoá trên
cơ sở các chứng từ nhập xuất và sổ tổng hợp Giá vốn thực tế của hàng hoá vật tư xuất kho được xác định căn cứ trực tiếp vào chứng từ xuất kho sau khi đã được tổng hợp, phân loại theo đối tượng sử dụng để ghi vào các tài khoản và sổ kế toán Trị giá thực tế hàng tồn kho được tính toán xác định trên sổ kế toán Trị giá thực tế hàng hoá tồn kho được tính toán xác định trên sổ kế toán
và tài khoản tổng hợp vào bất cứ thời điểm nào Phương pháp này áp dụng trong phần lớn các doanh nghiệp sản xuất và các doanh nghiẹp kinh doanh thương mại có những mặt hàng có giá trị lớn
1.7.2.1 Tài khoản sử dụng
Trang 21Để hạch toán biến động tổng hợp nguyên vật liệu thì kế toán sử dụng các tài khoản và mỗi tính chất của các tài khoản như sau:
Tài khoản 152: Nguyên vật liệu.
o Trị giá thực tế của nguyên vật liệu xuất kho để sản xuất, để bán, góp vốn liên doanh …
o Số tiền giảm giá nguyên vật liệu trả lại cho người bán
o Trị giá nguyên vật liệu thiếu khi kiểm kê
- Số dư nợ: trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu tồn kho cuối kì
- Tài khoản 152 không quy định các tài khoản cấp hai Tuy vậy theo yêu câu quản lí và
phân loại nguyên vật liệu của từng doanh nghiệp, có thể quy định tài khoản chi tiết của từng tài khoản theo từng nhóm từng thứ nguyên vật liệu
1.7.2.2 Trình tự kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường
xuyên theo sơ đồ sau
Sơ đồ 1.5: Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp kê khai thường xuyên
Mua NVL nhập kho(*) NVL trả lại cho người bán
21
Trang 22621,622,627,641
Chi phí vận chuyển NVL Xuất NVL cho hoạt động SXKD
Xuất NVL để gia công chế biến
154
Nhập lại kho NVL đã gia công
411 Giá vốn của NVL nhượng bán
Nhập kho vật liệu từ liên doanh hoặc