1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015

89 366 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 695,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm công cụ kinh tế Công cụ kinh tế hay còn gọi là công cụ dựa vào thị trường là các công cụ chính sách được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của các

Trang 1

ĐOÀN THỊ DUNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ

VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

ĐOÀN THỊ DUNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ

VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015

Chuyên ngành: Khoa học môi trường

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát và phân tích từ thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của

TS Phan Thị Thu Hằng

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, phần trích dẫn tài liệu tham khảo đều được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày… tháng …năm 2015

Người viết cam đoan

Đoàn Thị Dung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được

sự dạy bảo tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp, sự động viên to lớn của gia đình và những người thân

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn TS Phan Thị Thu Hằng cùng các thầy, cô trong Khoa Tài nguyên và Môi trường

- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ động viên tôi học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện luận văn, đã dìu dắt tôi từng bước trưởng thành trong chuyên môn cũng như trong cuộc sống

Đề hoàn thành bài khóa luận này tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Sở Tài Nguyên & Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Thái Nguyên; Quỹ Bảo vệ môi trường tỉnh Thái Nguyên; Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn; Chi Cục thuế huyện Đồng Hỷ; Công ty

Cổ phần nước sạch Thái Nguyên đã cho tôi sử dụng số liệu để hoàn thành luận văn

Do thời gian có hạn, lại là bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu mới nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những kiến thức đóng góp của các thầy, cô giáo cùng toàn thể các bạn để

khóa luận này được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.2.Cơ sở pháp lý 7

1.2 Quản lý môi trường bằng các công cụ kinh tế 8

1.2.1 Khái niệm công cụ kinh tế 8

1.2.2 Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 10

1.2.3 Vai trò của công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 17

1.2.4 Thuế môi trường 19

1.2.5 Phí môi trường 22

1.2.6 Tình hình thực hiện thuế, phí môi trường trên thế giới và ở Việt Nam 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.1.2.Phạm vi nghiên cứu 29

Trang 6

2.1.3.Thời gian nghiên cứu 29

2.1.4.Địa điểm nghiên cứu 29

2.2 Nội dung nghiên cứu 29

2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của huyện Đồng Hỷ 29

2.2.2 Đánh giá hiện trạng môi trường và công tác quản lý môi trường huyện Đồng Hỷ 29

2.2.3.Đánh giá việc thực hiện các công cụ kinh tế thuế, phí môi trường trong quản lý môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường từ năm 2010 đến nay tại huyện Đồng Hỷ 29

2.3 Phương pháp nghiên cứu 30

2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 30

2.3.2 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 31

2.3.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 31

2.3.4 Phương pháp tổng hợp viết báo cáo 31

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ 32

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34

3.1.3 Thực trạng các nguồn tài nguyên 39

3.1.4 Đánh giá chung 42

3.2 Hiện trạng môi trường và công tác quản lý môi trường tại huyện Đồng Hỷ 43

3.2.1.Hiện trạng môi trường 43

3.2.2.Thực trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường huyện Đồng Hỷ 48

3.3 Đánh giá thực trạng áp dụng công cụ thuế và phí môi trường trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 49

3.3.1 Kết quả thu thuế môi trường trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 49

3.3.2 Kết quả thu phí môi trường tại huyện Đồng Hỷ 51

3.3.3 Quản lý và sử dụng thuế, phí bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 57

Trang 7

3.3.4 Đánh giá việc áp dụng công cụ thuế và phí trong quan lý môi trường

trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 58

3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ thuế và phí môi trường trong quản lý môi trường huyện Đồng Hỷ 66

3.4.1 Công tác tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp 66

3.4.2 Công tác thanh tra, kiểm tra thuế,phí BVMT 67

3.4.3 Công tác quản lý thu nợ thuế,phí BVMT 68

3.4.4 Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

1.KẾT LUẬN 70

2 KIẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Biến động sản xuất ngành chăn nuôi huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái

Nguyên giai đoạn 2010 - 2014 35Bảng 3.2: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 36Bảng 3.3: Tình hình sử dụng đất đai tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 39Bảng 3.4: Thống kê các loại đất theo tính chất của đất tại huyện Đồng Hỷ,

tỉnh Thái Nguyên 40Bảng 3.5: Tình hình thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn

huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 44Bảng 3.6 Hiện trạng môi trường không khí huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 45Bảng 3.7 Kết quả hiện trạng môi trường nước huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 47Bảng 3.8: Cơ cấu nhân sự của phòng Tài nguyên và môi trường huyện

Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 48 Bảng 3.9: Kết quả thu thuế môi trường tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái

Nguyên giai đoạn 2010 – 2014 51Bảng 3.10: Kết quả thu phí nước thải công nghiệp trên địa bàn huyện

Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 52 Bảng 3.11: Hiện trạng thu gom chất thải rắn sinh hoạt nội sinh trên địa

bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 54Bảng 3.12: Tình hình thu phí thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn

huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 54Bảng 3.13: Kết quả thu phí BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản

trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 56Bảng 3.14: Tỷ lệ người dân sẵn sàng chi trả cho các khoản phí BVMT 62Bảng 3.15: Mức chi trả thêm tối đa cho các khoản phí BVMT 63Bảng 3.16 Mức độ sẵn sàng chi trả thuế phí BVMT của các cá nhân theo

mức thu nhập 66

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Bản đồ vị trí địa lý huyện Đồng Hỷ so với các huyện thành phố, thị xã

của tỉnh Thái Nguyên 32 Hình 3.2 Nồng độ bụi tại một số điểm quan trắc trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh

Thái Nguyên 46 Hình 3.3: Tỷ lệ doanh nghiệp sẵn sàng tăng mức phí bảo vệ môi trường 64 Hình 3.4: Tỷ lệ người dân sẵn sàng chấp nhận tăng mức phí bảo vệ môi trường 65

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề môi trường luôn là một vấn đề nóng bỏng và được toàn cầu quan tâm Sự nóng lên của Trái đất, băng tan ở Bắc cực, hiệu ứng nhà kính, mưa axit đều mang đến những tác động xấu cho sự sống trên Trái đất Nhằm mục đích hạn chế các chất ô nhiễm được phát thải ra môi trường, công tác quản lý môi trường và hỗ trợ thực thi các hình thức khuyến khích giảm thiểu và kiểm soát ô nhiễm bằng công cụ kinh tế ra đời và ngày càng được hoàn thiện

Việt Nam đã thực hiện những bước đi quan trọng trong việc hoàn thiện công tác quản lý môi trường và hỗ trợ thực thi các hình thức khuyến khích giảm thiểu và kiểm soát ô nhiễm bằng các công cụ kinh tế Bộ chính trị thông qua Nghị quyết Số 41-NQ/TW về công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy sử dụng các biện pháp kinh tế hỗ trợ bảo vệ môi trường ở Việt Nam Tiếp theo, Chính phủ đã thông qua Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ban hành Chương trình Hành động của Chính phủ

về việc thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị Trong số các nhiệm vụ đề ra trong Chương trình Hành động, nhiệm vụ 4 có đề cập trực tiếp tới việc sử dụng các công cụ kinh tế Quan trọng hơn, năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi nhằm tăng cường công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam, hỗ trợ tích cực hơn nữa việc thực hiện các công cụ kinh tế Bên cạnh các quy định về các công cụ kinh tế như thuế, phí, lệ phí môi trường, Luật Bảo vệ môi trường còn đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải

có Quỹ môi trường trung ương và địa phương [19]

Năm 2010, Quốc hội cũng đã ban hành Luật Thuế Bảo vệ môi trường

và áp dụng từ ngày 01/01/2012 Các văn bản dưới luật gồm có Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn; Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản và Quyết định số

Trang 12

18/2013/QĐ-TTg ngày 29/03/2013 của Thủ tướng Chính phủ về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản thay thế cho Quyết định 71/2011/QĐ-TTg

Những điều kiện trên là các tín hiệu cho thấy Việt Nam đang trong quá trình áp dụng nhiều hơn các công cụ kinh tế vào quản lý môi trường, coi đó là một trong những công cụ chính sách tốt nhằm hạn chế suy thoái môi trường

và cải thiện chất lượng môi trường sống Tuy nhiên việc áp dụng các công cụ kinh tế này để quản lý môi trường sao cho hiệu quả cần phải có những nghiên cứu, đánh giá, học hỏi kinh nghiệm từ các nước trên thế giới, cũng như của từng địa phương của Việt Nam[1]

Tỉnh Thái Nguyên là một trong những trung tâm công nghiệp của miền Bắc, sự phát triển kinh tế - xã hội luôn đi kèm với vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường nếu việc việc quản lý không đạt hiệu quả Việc thu các loại thuế, phí bảo vệ môi trường đã được áp dụng rộng rãi trên địa bàn tỉnh, tuy nhiên hiệu quả còn thấp Vì vậy, cần tìm ra được nguyên nhân tại sao công tác thu thuế, phí bảo vệ môi trường hiện nay không đạt hiệu quả cao và đề xuất những giải pháp để khắc phục tình trạng này Để đánh giá thực trạng này chúng ta đi vào nghiên cứu một huyện tiêu biểu của tỉnh, huyện Đồng Hỷ

Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Sau Đại học - Trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS Phan Thị Thu Hằng, tôi tiến

hành luận văn: “Đánh giá thực trạng áp dụng công cụ thuế và phí trong

quản lý môi trường trên địa bàn huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2010-2015”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 13

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu điệu kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ

- Tìm hiểu tình hình hiện trạng môi trường trên địa bàn huyện Đồng Hỷ

- Phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng các công cụ thuế và phí trong quản lý môi trường trên địa bàn huyện Đồng Hỷ

- Đề xuất một số giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ thuế và phí trong quản lý môi trường trên địa bàn huyện Đồng Hỷ

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học:

Đề tài sẽ tổng hợp được những số liệu về các khoản phí môi trường trên địa bàn huyện Đồng Hỷ từ năm 2010 đến nay và có thể trở thành tài liệu tham khảo dành cho tổ chức, cá nhân, tập thể, cơ quan quan tâm và muốn tham khảo các vấn đề có liên quan

Đưa ra thực trạng áp dụng một số công cụ thuế và phí trong quản lý môi trường tại huyện Đồng Hỷ và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các công cụ này

Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước liên quan

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài thực hiện nghiên cứu trong phạm vi huyện Đồng Hỷ

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cơ sở lý luận

“Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật ”(Theo khoản

1, điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014) [6]

Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người

“Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống

và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia”[3]

Với nội dung trên quản lý môi trường cần phải hướng tới những mục tiêu cơ bản sau đây:

- Thứ nhất là phải khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người

- Thứ hai là Phát triển bền vững Kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio - 92 đề xuất và được tuyên bố Johannesburg Nam Phi về phát triển bền vững 26/8 - 4/9/2002 tái khẳng định Trong đó với nội dụng cơ bản cần phải đạt được là phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học

- Thứ ba là Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư [3]

Trang 15

Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý môi trường

Quản lý môi trường phải phản ánh các quy luật khách quan vào điều kiện cụ thể của từng đối tượng quản lý Ở nước ta quản lý môi trường dựa vào các nguyên tắc sau[3]:

Bảo đảm tính hệ thống:

Môi trường là một hệ thống động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử hợp thành Các phần tử có bản chất tự nhiên và xã hội khác nhau Trên cơ sở thu thập, tổng hợp và xử lý thông tin về hoạt động các đối tưởng trong hệ thống môi trường, nhiệm vụ của quản lý môi trường là đưa ra các quyết định quản lý phù hợp nhằm thúc đẩy các phần tử cấu thành hoạt động đều đặn, cân đối, hài hòa hướng tới mục tiêu đã định

Bảo đảm tính tổng hợp:

Các hoạt động phát triển thường diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, dù dưới hình thức nào, quy mô và tốc độ hoạt động ra sao, mỗi loại hoạt động đều gây ra tác động tổng hợp lên hệ thống môi trường Vì thế, trong khi hoạch định chính sách quản lý môi trường cần phải tính đến tác động tổng hợp và hậu quả của chúng

Bảo đảm tính liên tục và nhất quán:

Môi trường là một hệ thống liên tục, tồn tại, hoạt động và phát triển thông qua chu trình trao đổi vật chất, năng lượng Đặc tính này quy định tính nhất quán và tính liên tục của tác động quản lý lên môi trường, đòi hỏi không ngừng nâng cao năng lực dự đoán và xử lý tổng hợp cũng như năng lực quản

lý vĩ mô Nhà nước

Bảo đảm tập trung dân chủ:

Quản lý môi trường được thực hiện nhiều cấp khác nhau Vì thế, cần phải bảo đảm mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ trong quản lý môi trường Tập trung phải thực hiện trên cơ sở bàn bạc, quyết định các vấn đề có liên quan tới môi trường theo phương châm “dân biết, dân bàn,

Trang 16

dân làm, dân kiểm tra” Ngược lại, dân chủ phải thực hiện trong khuôn khổ tập trung, không mâu thuẫn, đối với tập trung, lãng phí nguồn lực xã hội

Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ:

Mỗi thành phần môi trường như không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, thường do từng ngành quản lý và sử dụng, nhưng thành phần môi trường có thể chịu sự quản lý của nhiều cơ quan khác nhau Do đó nếu không kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ thì sẽ làm giảm hiệu lực và hiệu quả của quản lý môi trường

Kết hợp hài hòa các lợi ích:

Quản lý môi trường là quản lý các hoạt động phát triển do con người tiến hành, tổ chức và phát huy tính tích cực của hoạt động vì mục đích phát triển bền vững Các cá nhân, tập thể hay cộng đồng, đều có những lợi ích, nguyện vọng, nhu cầu nhất định Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý môi trường là chú ý đến lợi ích của con người, để khuyến khích có hiệu quả hành vi và thái độ ứng xử phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi trường

Kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quản lý tài nguyên và môi trường với quản lý kinh tế, quản lý xã hội

Để đạt tới mục tiêu phát triển bền vững, hướng đến một xã hội bền vững trong tương lai, ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển, phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quản lý tài nguyên và môi trường với quản lý kinh

tế, quản lý xã hội thông qua việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển đúng đắn, có tầm bao quát và tính tổng hợp, thông qua quá trình hòa nhập các kế hoạch và đầu tư về môi trường vào các kế hoạch đầu tư kinh

tế - xã hội ở tất cả các khâu, các cấp quản lý Nhà nước

Tiết kiệm và hiệu quả

Tiết kiệm và hiệu quả là hai mặt liên quan chặt chẽ với nhau của quản

lý môi trường, đảm bảo khai thác và sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả Thông qua việc hoạch định chính sách và chiến lược bảo vệ môi trường quốc

Trang 17

gia để đảm bảo tiêu hao năng lượng, tiết kiệm lao động, đảm bảo đầu tư vật chất và tài chính có trọng điểm

1.1.2.Cơ sở pháp lý

- Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014;

- Luật Thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010;

- Nghị định số 67/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2012

- Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/NĐ-CP ngày 08 tháng

8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2012

- Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012;

- Nghị định số 201/2013/N Đ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước;

- Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;

- Thông tư liên tịch số 63/2013/TTLT-BTC-BTNMT ngày 15 tháng 5 năm 2013 của Bộ Tài chính – Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ

về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;

- Luật Khai thác khoáng sản số 60/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010;

- Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 9 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Khoáng sản;

- Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản;

Trang 18

- Thông tư số 158/2011/TT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản;

- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn;

- Thông tư số 39/2008/TT - BTC ngày 19 tháng 5 năm 2008 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày

29 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn;

- Các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam về môi trường do Bộ Tài nguyên

và Môi trường ban hành

1.2 Quản lý môi trường bằng các công cụ kinh tế

1.2.1 Khái niệm công cụ kinh tế

Công cụ kinh tế hay còn gọi là công cụ dựa vào thị trường là các công

cụ chính sách được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của các cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường[3]

Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường có tác động trực tiếp tới thu nhập hoặc hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm ngăn ngừa tác động tiêu cực tới môi trường Công cụ kinh tế có thể tác động trực tiếp vào các sản xuất dưới dạng thuế môi trường, phí xả thải hoặc trực tiếp vào người tiêu thụ dưới dạng phí sử dụng Trong tất cả các trường hợp đó, công cụ kinh tế đều có mục đích chung là hạn chế lượng chất thải phát sinh và giảm ảnh hưởng của việc tiêu thụ tài nguyên, năng lượng

Các công cụ kinh tế hoạt động thông qua giá cả từ đó làm thay đổi chi phí hoặc lợi ích của các chủ thể Việc sử dụng công cụ kinh tế để kích thích các chủ thể hoạt động có lợi cho môi trường theo hai nguyên tắc: BPP (người

Trang 19

hưởng lợi phải trả tiền) và PPP (người gây ô nhiễm phải trả tiền) Theo nguyên tắc PPP thì ở mức ô nhiễm cao sẽ phải chịu phạt về tài chính cao hơn, còn ở mức ô nhiễm thấp hơn thì chịu phạt thấp hơn, hoặc được hưởng Đối với nguyên tắc BPP thì người sử dụng phải trả toàn bộ chi phí xã hội cho sự cung cấp nguồn lực đó (ví dụ phí nước thải và phí dịch vụ liên quan đến việc

xử lý nước thải)

Công cụ kinh tế rất đa dạng, gồm thuế môi trường, phí và lệ phí môi trường, quỹ môi trường, cota ô nhiễm, trợ cấp môi trường, nhãn sinh thái, ký quỹ môi trường,…Mỗi công cụ đều có những ưu điểm tùy theo từng nội dung quản lý cụ thể

Công cụ kinh tế cần các điều kiện để phát huy hiệu lực trong quản lý môi trường:

- Nền kinh tế thị trường thực sự, hàng hóa tự do trao đổi theo đúng chất lượng và giá trị

- Chính sách và các quy định pháp luật chặt chẽ, cho phép kiểm soát và các điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm hoặc sử dụng các thành phần môi trường

- Hiệu lực cao của các tổ chức quản lý môi trường từ Trung ương đến địa phương trong quá trình thi hành các quy định của Nhà nước về pháp luật quy định

- Thu nhập bình quân của quốc gia (GDP) cao, cho phép quốc gia có những nguồn tài chính cho công tác bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức môi trường cho mọi người dân

Để quản lý môi trường tốt hơn, ngoài các công cụ kinh tế người ta sử dụng song song, bổ trợ nhiều công cụ quản lý khác nhau như công cụ pháp lý, hành chính; công cụ giáo dục, truyền thông… Trong những thập kỷ gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường và tự do hóa thương mại, công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ngày càng được áp dụng rộng rãi ở các nước, đặc biệt là các nước phát triển

Trang 20

-Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường có hai đặc trưng cơ bản sau: + Thứ nhất: Công cụ kinh tế hoạt động thông qua cơ chế giá cả trên thị trường, chúng có chức năng nâng giá cả các hành động làm tổn hại đến môi trường, lên hoặc hạ giá các hành động bảo vệ môi trường xuống

+ Thứ hai: Công cụ kinh tế sẽ tạo ra khả năng lựa chọn cho các tổ chức

cá nhân hành động vừa đặt được mục tiêu kinh tế vừa đáp ứng yêu cẩu bảo vệ môi trường, phù hợp với năng lực của mình [3]

1.2.2 Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường

Thuế tài nguyên

Pháp lệnh Thuế tài nguyên ra đời ngày 30/3/1990 và được sửa đổi năm 1998 Ngày 25/11/2009, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế tài nguyên Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các doanh nghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất Mục đích của thuế tài nguyên là:

- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên

- Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng

- Tạo nguồn thu cho Ngân sách và điều hòa quyền lợi của các tầng lớp dân cư về việc sử dụng tài nguyên [12]

Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như: thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài nguyên khoáng sản

Đối tượng nộp thuế: là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thuộc mọi thành phần kinh tế quốc doanh, không phân biệt ngành nghề, hình thức khai thác, hoạt động thường xuyên hay không thường xuyên, có địa điểm lưu động hay cố định, có khai thác sử dụng tài nguyên lòng đất, mặt đất, mặt nước [12]

Cơ cấu tính thuế tài nguyên phải được thay đổi phù hợp với khả năng công nghệ của doanh nghiệp, phương thức quản lý của Nhà nước và điều kiện

Trang 21

địa chất kỹ thuật của khu vực khai thác tài nguyên để đảm bảo có sự phân biệt đối với các doanh nghiệp hoặc hoạt động gây ra các tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường ở các mức độ khác nhau; nguyên tắc chung là: Hoạt động càng gây nhiều tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường thì càng phải chịu thuế cao hơn Việc xác định đúng đắn phương pháp tính thuế tài nguyên là rất quan trọng, sẽ góp phần thúc đầy các doanh nghiệp đầu tư công nghệ, kỹ thuật và năng lực quản lý nhằm làm giảm tổn thất tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo [1]

Trong thực tế, người ta thường phân biệt thuế tài nguyên theo mức độ xác định trữ lượng:

- Tài nguyên đã xác định trữ lượng: thuế được tính dựa trên trữ lượng địa chất (hoặc trữ lượng công nghiệp) của loại tài nguyên mà doanh nghiệp được phép khai thác

- Tài nguyên chưa xác định được trữ lượng hoặc xác định chưa chính xác: có thể sử dụng sản lượng khai thác làm cơ sở tính thuế trong khi chờ có thăm dò địa chất về trữ lượng bổ sung

Thuế/phí môi trường

Thuế môi trường (Environmental Tax) là một công cụ kinh tế để giải quyết các vấn đề môi trường Đây là khoản thu cho ngân sách nhà nước từ những đối tượng gây ô nhiễm, làm thiệt hại cho môi trường Nó góp phần hạn chế, giảm thiểu các tác nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, khuyến khích các hoạt động bảo vệ môi trường Thuế môi trường được thiết kế để nội hóa chi phí môi trường và tạo ra động lực kinh tế cho cá nhân, tổ chức thúc đẩy các hoạt động sinh thái bền vững [8]

Phí môi trường là khoản thu của ngân sách nhà nước dành cho hoạt động bảo vệ môi trường như để thu gom và xử lý phế thải, nước thải, khắc phục ô nhiễm môi trường Mục đích chính của việc thu phí môi trường là

Trang 22

hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa việc xả các chất thải

ra môi trường, mà các chất thải này có khả năng xử lý được Phí môi trường buộc những người gây ô nhiễm môi trường phải xử lý các chất thải trước khi thải ra môi trường hay hạn chế sử dụng các nguồn nguyên liệu có nguy cơ gây

ra ô nhiễm Vì vậy công cụ này khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh, những người gây ô nhiễm phải xử lý các chất ô nhiễm trong nguồn thải trước khi thải ra môi trường Phí môi trường được tính toán dựa trên lượng phát thải của chất ô nhiễm và chi phí xử lý ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm [5]

Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường

Giấy phép môi trường thường được áp dụng cho các tài nguyên thiên nhiên khó có thể xác định quyền sở hữu và các tài nguyên được sử dụng công cộng như không khí, đại dương,…

Giấy phép xả thải có thể mua bán được là thị trường mà trong đó hàng hóa thường là giấy phép thải khí hoặc thải nước, người bán là các đơn vị sở hữu giấy phép và người mua là các đơn vị cần giấy phép để xả thải [14]

Mục đích của công cụ tạo ra thị trường là tăng cường hiệu quả kinh tế của công tác quản lý ô nhiễm và đầu tư công nghệ xử lý chất ô nhiễm Các nhà máy hoặc công ty sẽ lựa chọn giải pháp mua giấy phép để trả phí môi trường cao hơn, hoặc bán giấy phép để đầu tư công nghệ xử lý chất ô nhiễm Trong trường hợp thứ nhất, việc đầu tư công nghệ xử lý môi trường không mang lại hiệu quả kinh tế Ngược lại, trong trường hợp thứ hai đầu tư công nghệ xử lý sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp Ở cả hai trường hợp,

ô nhiễm môi trường khu vực sẽ giảm, còn các doanh nghiệp giảm được chi phí cho công tác bảo vệ môi trường [14]

Hệ thống đặt cọc – hoàn trả

Đặt cọc – hoàn trả được sử dụng trong hoạt động bảo vệ môi trường bằng cách quy định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường phải trả thêm một khoản tiền (đặt cọc) khi mua hàng, nhằm

Trang 23

bảo đảm cam kết sau khi tiêu dùng sẽ đem sản phẩm đó (hoặc phần còn lại của sản phẩm đó) trả lại cho các đơn vị thu gom phế thải hoặc tới những địa điểm đã quy định để tái chế, tái sử dụng hoặc tiêu hủy theo cách an toàn đối với môi trường Nếu thực hiện đúng, người tiêu dùng sẽ được nhận lại khoản đặt cọc do các tổ chức thu gom hoàn trả lại [14]

Công cụ này nhằm mục đích khuyến khích tái sử dụng là rác thải, tái chế lại rác thải hoặc xử lý rác thải một cách an toàn đối với môi trường Đây

là một trong những công cụ nhằm nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường thông quaviệc đặt cọc, và hoàn trả các sản phẩm hoặc phần còn lại của sản phẩm cho các trung tâm xử lý, tái chế, tái sử dụng

Công cụ đặt cọc hoàn trả và hệ thống hoàn trả lại nhà sản xuất (take back) là công cụ hiệu quả trong việc tạo ra động cơ làm giảm phát sinh chất thải và tăng cường tái chế, tái sử dụng Đặt cọc hoàn trả phổ biến ở các nước như Australia, Áo, Canada (Quebec, New Brunswick, British Columbia), Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Hungary, Aixơlen, Ý, Hàn Quốc, Mehico, Hà Lan, Nauy, Ba Lan, Thuỵ Điển, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ…[14]

Ký quỹ môi trường

Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động kinh

tế có tiềm năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường Nguyên lý hoạt động của

hệ thống ký quỹ môi trường cũng tương tự như của hệ thống đặt cọc – hoàn trả Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp, các

cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi tiến hành một hoạt động đầu tư phải ký gửi một khoản tiền (hoặc kim loại quý, đá quý, hoặc các giấy tờ có giá trị như tiền) tại ngân hàng hay tổ chức tín dụng, nhằm đảm bảo sự cam kết về thực hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường Số tiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc xấp xỉ với kinh phí cần để khắc phục môi trường nếu doanh nghiệp, các cơ sở kinh doanh gây ra ô nhiễm suy thoái môi trường Trong quá

Trang 24

trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu doanh nghiệp có các biện pháp chủ động khắc phục không để xảy ra ô nhiễm, suy thoái môi trường đúng như cam kết thì số tiền ký quỹ được hoàn trả lại còn ngược lại nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng như cam kết hoặc phá sản thì số tiền đó được rút ra khỏi tài khoản ngân hàng chi cho công tác khắc phục sự cố ô nhiễm [3]

Ký quỹ môi trường thường được áp dụng trong các ngành kinh tế dễ gây ô nhiễm môi trường trầm trọng như: khai thác khoáng sản, xây dựng các nhà máy tiềm ẩn mức độ ô nhiễm môi trường cao…và là công cụ kinh tế cần thiết trong quản lý môi trường, tác động trực tiếp đến việc thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp thông qua việc khuyến khích họ tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường để nhận lại số tiền đã ký quỹ Ngoài ra, ký quỹ môi trường còn giúp cho Nhà nước không phải mất một khoản tiền trong ngân sách nhà nước chi cho việc đầu tư khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường Đây là một công cụ kinh tế cần thiết trong quản lý tài nguyên môi trường, đóng vai trò tác động trực tiếp đến thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường ngay sau khi khai thác tài nguyên của các tổ chức, cá nhân [1]

Trợ cấp môi trường

Trợ cấp môi trường là công cụ kinh tế quan trọng được sử dụng ở rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước thuộc tổ chức OECD Trợ cấp môi trường có thể dưới các dạng sau:

- Trợ cấp không hoàn lại

- Các khoản cho vay ưu đãi

- Cho phép khấu hao nhanh

- Ưu đãi thuế (miễn, giảm thuế)

Chức năng chính của trợ cấp môi trường là giúp đỡ các ngành công - nông nghiệp và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện khi tình trạng ô nhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính

Trang 25

của doanh nghiệp không chịu đựng được đối với việc xử lý ô nhiễm Trợ cấp cũng còn nhằm khuyến khích các cơ quan nghiên cứu và triển khai các công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường hoặc các công nghệ xử lý ô nhiễm [3]

Tuy nhiên, trợ cấp có thể gây ra sự không hiệu quả Các nhà sản xuất

có thể đầu tư quá mức vào kiểm soát và xử lý ô nhiễm (làm giảm ô nhiễm nhiều hơn so với mức tối ưu cũng là không hiệu quả)

Trường hợp ngược lại, trợ cấp không được hạch toán toàn bộ vào chi phí giảm ô nhiễm mà một phần được dùng để hạ thấp chi phí sản xuất cá nhân, làm tăng lợi nhuận

Trợ cấp môi trường chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc kéo dài sẽ dẫn đến phi hiệu quả kinh tế vì trợ cấp đi ngược với nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, nó tạo ra sự thay đổi số công ty (vào - ra tự do đối với ngành công nghiệp), thay đổi mức hoạt động của ngành công nghiệp mà mục đích giảm ô nhiễm lại không đạt được [3]

Vì vậy, trợ cấp môi trường chỉ có thể thực hiện trong một thời gian cố định với một chương trình có hoạch định và kiểm soát rõ ràng, thường xuyên

Nhãn sinh thái

Theo tổ chức thương mại thế giới WTO và Ngân hàng thế giới WB thì: Nhãn sinh thái là một loại nhãn được cấp cho những sản phẩm thoả mãn một số tiêu chí nhất định do một cơ quan chính phủ hoặc một tổ chức được chính phủ uỷ nhiệm đề ra Các tiêu chí này tương đối toàn diện nhằm đánh giá tác động đối với môi trường trong những giai đoạn khác nhau của chu kỳ sản phẩm: từ giai đoạn sơ chế, chế biến, gia công, đóng gói, phân phối, sử dụng cho đến khi bị vứt bỏ Cũng có trường hợp người ta chỉ quan tâm đến một tiêu chí nhất định đặc trưng cho sản phẩm, ví dụ mức độ khí thải phát sinh, khả năng tái chế, v.v… [2]

Trang 26

Theo Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu (GEN) định nghĩa Nhãn sinh thái là nhãn chỉ ra tính ưu việt về mặt môi trường của một sản phẩm, dịch vụ so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại dựa trên các đánh giá vòng đời sản phẩm

Theo Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO: Nhãn sinh thái là sự khẳng định, biểu thị thuộc tính môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ có thể dưới dạng một bản công bố, biểu tượng hoặc biểu đồ trên sản phẩm hoặc nhãn bao gói, trong tài liệu về sản phẩm, tạp chí, kỹ thuật, quảng cáo các hình thức khác

Về mặt hình thức, nhãn sinh thái có thể mang tên gọi khác nhau ở từng nước Ví dụ các nước Bắc Âu có nhãn Thiên nga trắng, Đức có nhãn Thiên thần xanh, trong khi ở Singapore lại gọi là Nhãn xanh

Ngoài nhãn sinh thái do một cơ quan đứng ra cấp, còn có một loại nhãn khác do nhà sản xuất tự gắn lên sản phẩm của mình như một hình thức quảng cáo với người dùng Ta thấy có tủ lạnh dán nhãn "Không có CFC" (CFC là một loại hợp chất gây phá huỷ tầng ozone) hoặc có loại pin ghi

"Không có thuỷ ngân"

Đây là một dạng công cụ kinh tế thông qua việc khuyến khích tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường tác động đến nhà sản xuất trong việc thay đổi quy trình công nghệ nhằm đáp ứng được các tiêu chí môi trường, giảm thiểu các tác động môi trường, giảm tiêu thụ năng lượng, giảm sử dụng nguyên nhiên liệu đầu vào Nhãn sinh thái khẳng định uy tín của sản phẩm và của nhà sản xuất, giúp cho nhà sản xuất có thể tạo dựng hình ảnh và có vị thế trên thị trường vì những sản phầm loại này thường có sức cạnh tranh cao và giá thành cũng cao hơn so với các sản phẩm cùng loại khác Đồng thời nó cũng thông tin, giáo dục cho người tiêu dùng về những tính năng thân thiện với môi trường của sản phẩm, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường [2]

Trang 27

Quỹ môi trường

Quỹ môi trường là một thể chế hoặc một cơ chế được thiết kế nhận tài trợ vốn từ các nguồn khác nhau, từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ quá trình thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường

Nguồn thu cho quỹ môi trường có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như:

- Phí và lệ phí môi trường

- Đóng góp tự nguyện của các cá nhân và doanh nghiệp

- Tài trợ bằng tiền hoặc hiện vật của các tổ chức trong nước, chính quyền địa phương và Chính phủ trung ương

- Đóng góp của các tổ chức, các nhà tài trợ quốc tế

- Tiền lãi và các khoản lợi khác thu được từ hoạt động của quỹ

- Tiền xử phạt hành chính do vi phạm quy định về bảo vệ môi trường

- Tiền thu được từ các hoạt động như văn hóa, thể thao, từ thiện, xổ

số, phát hành trái phiếu [8]

1.2.3 Vai trò của công cụ kinh tế trong quản lý môi trường

Trong lịch sử phát triển kinh tế của toàn cầu đã cho thấy rằng, giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường có mối quan hệ khăng khít gắn bó không thể tách rời Hay nói cách khác hệ thống môi trường và hệ thống kinh tế là hai bộ phận của một thực thể không thể tách rời Nền kinh tế không thể hoạt động nếu tách khỏi hệ thống môi trường, hệ thống môi trường đóng vai trò là đầu vào quan trọng cho quá trình hoạt động sản xuất và nó là nơi tiếp nhận mọi đầu ra của hệ kinh tế [2]

Trước đây trong quản lý môi trường các nước trên thế giới chỉ sử dụng những quy định pháp lý để điều chỉnh hành vi liên quan tới môi trường hầu như đã không đạt được hiệu quả như mong muốn Mặt khác các tổ chức môi trường thường xuyên thiếu nguồn ngân sách để hoạt động, cũng như các vấn

đề môi trường đòi hỏi một nguồn kinh phí lớn đôi khi năng lực tài chính của

Trang 28

một quốc gia cũng không thể đáp ứng được Mặt khác khi áp dụng các tiêu chuẩn pháp lý đơn thuần đôi khi quá cứng nhắc, thiếu tính linh hoạt trong quản lý môi trường Để giải quyết vấn đề này các công cụ kinh tế đã ra đời và được sử dụng trong quản lý môi trường, và có những vai trò sau:

Thứ nhất, tăng hiệu quả chi phí: từ thực tiễn của việc áp dụng các công

cụ kinh tế cho quản lý môi trường, người ta đã rút ra kết luận rằng nếu cùng một mục tiêu môi trường cần đạt được như nhau khi sử dụng công cụ kinh tế (EIs) so với công cụ điều hành và kiểm soát (CAC) thì công cụ kinh tế có chi phí thấp hơn Sử dụng công cụ kinh tế là liên quan đến giá cả, vì vậy việc sử dụng giá cả và cung cấp tính linh hoạt trong việc ứng phó với những tín hiệu giá cả, cho phép các cá nhân và doanh nghiệp tìm kiếm đến chi phí có tính hiệu quả hơn trong khả năng lựa chọn của họ

Thứ hai, Tăng hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường: do chi phí thấp khi sử dụng chúng, mặt khác chúng tác động đến quyền lợi kinh tế của các cá nhân hay doanh nghiệp, do vậy người ta phải tính đến việc sử dụng nguồn tài nguyên như thế nào là tiết kiệm và hiệu quả nhất

mà không ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận

Thứ ba, khuyến khích nhiều hơn cho việc đổi mới: công cụ kinh tế không ra lệnh cho chiến lược kiểm soát mà những người gây ô nhiễm phải chịu trách nhiệm Tuy nhiên, nó có tác động đến hoạt động kinh tế một cách tích cực để phát triển và lựa chọn chi phí kiểm soát hiệu quả mà không theo quy ước nào

Thứ tư, hành động nhanh chóng và mềm dẻo hơn: công cụ kinh tế cho phép thực hiện một cách nhanh chóng, linh hoạt và mềm dẻo so với việc sử dụng công cụ kinh tế, bởi lẽ nó có thể được điều chỉnh kịp thời thông qua cơ chế giá cả thị trường, sử dụng tín hiệu thị trường thường cho phép nhận được những thông tin phản hồi nhanh hơn và nắm bắt được tính hiệu quả của việc thực hiện quản lý sử dụng quản lý điều hành

Trang 29

1.2.4 Thuế môi trường

1.2.4.1 Khái niệm Thuế môi trường

Thuế môi trường là khoản thu của ngân sách nhà nước, nhằm điều tiết

các hoạt động có ảnh hưởng tới môi trường và kiểm soát ô nhiễm môi trường Đánh thuế môi trường là hình thức hạn chế một sản phẩm hay hoạt động không có lợi cho môi trường

Mục tiêu của thuế môi trường là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước lấy từ người gây ô nhiễm và gây thiệt hại cho môi trường để bù đắp cho các chi phí xã hội như gây quỹ tài trợ cho các hoạt động để xử lý hoặc đền bù ô nhiễm Thúc đẩy thay đổi mặt hàng, cách sản xuất, khuyến khích các hoạt động tích cực về môi trường

1.2.4.2 Phân loại Thuế môi trường

Thuế môi trường có thể chia thành 2 loại:

- Thuế trực thu nhằm đánh vào lượng chất thải độc hại với môi trường

do cơ sở sản xuất gây ra Loại thuế này đánh vào các chất thải gây ô nhiễm môi trường nước, khí quyển, đất, hoặc tiếng ồn ảnh hưởng tới môi trường xung quanh Thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm được xác định trên cơ sở khối lượng và hàm lượng các chất gây ô nhiễm

- Thuế gián thu nhằm đánh vào giá trị hàng hóa gây ô nhiễm môi trường Thuế Bảo vệ môi trường ở Việt Nam là thuế gián thu mà người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế Bảo vệ môi trường, còn người chịu thuế là người tiêu dùng Thuế Bảo vệ môi trườngchỉ phải nộp 1 lần đối với hàng hóa sản xuất hoặc nhập khẩu

Theo Luật Thuế Bảo vệ Môi trường, đối tượng chịu thuế gồm 8 nhóm: Xăng, dầu, mỡ, nhờn; Than đá; Dung dịch HCFC; Túi ni lông; Thuốc diệt cỏ (loại hạn chế sử dụng); thuốc trừ mối (hạn chế sử dụng); Thuốc bảo quản lâm sản (hạn chế sử dụng); Thuốc khử trùng kho (hạn chế sử dụng)[7]

Trang 30

Ngày 08 tháng 08 năm 2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP quy định về đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường (Các loại thuốc hạn chế

sử dụng được quy định trong thông tư 21/2013 TT BNNPTNT ngày 17 tháng

4 năm 2013 của bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)

1.2.4.3 Các phương pháp tính thuế môi trường

Theo Điều 7, Chương 2, Luật Thuế bảo vệ môi trường: “Số thuế bảo vệ môi trường phải nộp bằng số lượng đơn vị hàng hóa chịu thuế nhân với mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa”

Trên thực tế, phương pháp tính thuế bảo vệ môi trường, tùy vào mỗi đối tượng tính thuế khác nhau có thể sử dụng các phương pháp tính thuế môi trường khác nhau , có 5 phương pháp tính thuế môi trường phổ biến nhất, đó là: Tính thuế theo nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền; tính thuế theo khối lượng tiêu thụ các nguyên, nhiên liệu đầu vào; tính thuế dựa vào lợi nhuận của doanh nghiệp, tính thuế dựa vào khối lượng sản phẩm được sản xuất ra và tính thuế theo mức độ gây ô nhiễm môi trường[3]:

- Tính thuế theo nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền: Theo nguyên tắc này, người gây ô nhiễm cho môi trường, cho dù là người sản xuất hay là người tiêu dùng, họ đều phải chịu trách nhiệm về các chi phí phải sử dụng để hoàn trả lại những tổn thất về môi trường mà chính họ là nguyên nhân gây ra; nói cụ thể hơn là người gây ô nhiễm môi trường phải nộp một số tiền thuế tương ứng với mức ô nhiễm môi trường mà họ gây ra

- Tính thuế theo khối lượng tiêu thụ các nguyên, nhiên liệu đầu vào: Các loại nguyên, nhiên vật liệu được sử dụng cho quá trình sản xuất, nếu chúng là các nguyên nhân phát sinh ô nhiễm môi trường thì phải chịu một mức thuế tương đương với mức ô nhiễm môi trường mà chúng gây ra Phương pháp tính thuế này có rất nhiều ưu điểm; để hạn chế tối đa, thậm chí tránh được mức thuế ô nhiễm môi trường phải nộp, các doanh nghiệp phải

Trang 31

tích cực tìm kiếm và sử dụng các loại nguyên nhiên vật liệu thích hợp với các yêu cầu bảo vệ môi trường; thông qua đó khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường sử dụng các nguyên nhiên vật liệu sạch, vừa đảm bảo cho quá trình sản xuất, vừa đảm bảo an toàn cho môi trường

- Tính thuế dựa vào lợi nhuận của doanh nghiệp: Lợi nhuận trước thuế của một doanh nghiệp được tính bằng hiệu số giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của doanh nghiệp trong kì kế hoạch Do đó, việc tính thuế này có vẻ đơn giản và dễ thực hiện, nó phản ánh được một cách trực tiếp các chi phí về môi trường mà doanh nghiệp phải nộp Cơ sở để xác định tỷ lệ thuế mà doanh nghiệp phải nộp phụ thuộc vào mức độ gây ô nhiễm môi trường mà doanh nghiệp gây ra

- Tính thuế dựa vào khối lượng sản phẩm được sản xuất ra: Cách tính thuế này phải tùy theo từng loại hình sản xuất kinh doanh để tính: dựa vào khối lượng sản phẩm được sản xuất ra hoặc dựa vào doanh thu của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch Tuy nhiên, phương pháp này có một số nhược điểm là: khó có thể xác định được tỷ lệ thu thuế hợp lý và đảm bảo tính công bằng giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh; nó có thể gây bất lợi cho các cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ mới, hoặc bất lợi cho các doanh nghiệp đã triển khai thực hiện các biện pháp xử lý môi trường

- Tính thuế theo mức độ gây ô nhiễm môi trường: Việc xác định mức thuế ô nhiễm phải dựa vào quy mô, tính chất hoạt động và mức độ gây ô nhiễm môi trường của từng doanh nghiệp cụ thể Khối lượng chất thải của một doanh nghiệp càng lớn, hàm lượng chất độc hại càng cao, tính chất các chất độc hại càng nguy hiểm, thì mức thuế ô nhiễm môi trường doanh nghiệp phải nộp càng nhiều Như vậy, để giảm thuế doanh nghiệp bắt buộc phải tìm cách đổi mới công nghệ để hạn chế chất thải ra môi trường [1]

Trang 32

Nhận xét

Ưu điểm:

- Khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng ô nhiễm thải ra môi trường

- Khuyến khích người sản xuất thay đổi công nghệ, sản phẩm, quy trình sản xuất để giảm mức thuế phải đóng

- Thuế dựa trên nguyên tắc càng gây ô nhiễm nhiều thì càng phải trả nhiều tiền, do đó kích thích nhà sản xuất giảm ô nhiễm đến mức tối đa để giảm số thuế phải nộp

Nhược điểm:

- Làm tăng chi phí đầu vào, giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp

- Ảnh hưởng tới phân phối thu nhập: nhóm đối tượng có thu nhập thaaos sẽ bị ảnh hưởng lớn so với nhóm đối tượng có thu nhập cao

- Đầu tư hệ thống thiết bị và hệ thống quản lý giám sát, kiểm soát việc đánh thuế vào các hành vi gây ô nhiễm môi trường đòi hỏi chi phí lớn

1.2.5 Phí môi trường

1.2.5.1 Khái niệm Phí môi trường

Phí môi trường là một khoản thu của ngân sách Nhà nước, được thu từ các tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh các nguồn tác động xấu đối với môi trường nhằm hình thành lên nguồn tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường

Phí bảo vệ môi trường có mục đích khuyến khích các nhà sản xuất kinh doanh đầu tư giảm thiểu ô nhiễm, thay đổi hành vi ô nhiễm theo hướng tích cực, có lợi cho môi trường Ngoài ra phí bảo vệ môi trường còn có mục đích khác là tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước để đầu tư, khắc phục cải thiện môi trường [5]

1.2.5.2 Các loại Phí bảo vệ môi trường

Phí môi trường được tính dựa vào lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường, mức tiêu thụ nguyên nhiên liệu gây ô nhiễm, tổng doanh thu hoặc tổng sản lượng hàng hoá, lợi nhuận của doanh nghiệp[6]

Trang 33

Hiện nay ở nước ta đang áp dụng một số loại phí như sau:

- Phí vệ sinh môi trường: Là khoản phí trả cho việc thu gom, xử lý rác thải

đô thị Đây là công cụ kinh tế được sử dụng khá sớm Về cơ bản loại phí này được sử dụng ở khu vực đô thị, mức phí do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định, do vậy, mức phí thu có thể khác nhau phụ thuộc vào từng địa phương

- Phí Bảo vệ môi trường đối với nước thải: Hiện đang được triển khai thực hiện trong cả nước trên cơ sở các Nghị định 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/6/2003 và 04/2003/NĐ-CP ngày 8/1/2007 nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường từ nước thải, sử dụng tiết kiệm nước sạch và tạo nguồn kinh phí thực hiện việc bảo vệ, khắc phục ô nhiễm môi trường[10]

- Phí Bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn: Hiện đang được triển khai thực hiện trên cơ sở Nghị định 174/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/11/2007 nhằm hạn chế phát sinh chất thải rắn và tạo nguồn kinh phí bù đắp một phần chi phí xử lý chất thải rắn[11]

- Phí Bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản: Hiện đang được triển khai thực hiện trong cả nước trên cơ sở Nghị định 63/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/5/2008 Nghị định quy định khoản phí được thu trên mỗi đơn vị khoáng sản được khai thác Phí áp dụng cho các loại khoáng sản: đá, fenspat, sỏi, cát, đất, than, nước khoáng thiên nhiên, sa khoáng ti tan (ilmenit), các loại khoáng sản kim loại, quặng apatit, dầu thô và khí thiên nhiên [9]

1.2.5.3 Căn cứ thực hiện tính Phí môi trường

- Căn cứ vào lý thuyết xác định chuẩn mức thải và phí xả thải

Theo Pigou để có một chất lượng môi trường tốt chúng ta cần giảm việc sản xuất và tiêu dùng hàng hóa kinh tế Tức là mức ô nhiễm có thể điều chỉnh thông qua việc điều chỉnh sản lượng Tuy nhiên trên thực tế có thể không nhất thiết phải thay đổi sản lượng mà chỉ cẩn có các biện pháp kiểm soát ô nhiễm hiệu quả như giảm thải nhờ quy trình sản xuất sạch hơn, lắp đặt

Trang 34

các hệ thống xử lý ô nhiễm… cũng có thể đạt được mức ô nhiễm tối ưu Từ các mô hình toán học, người ta có thể tính toán được mức chi phí để kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm Từ đó xác định được chi phí doanh nghiệp phải bỏ

ra để xử lý ô nhiễm hoặc mức phí doanh nghiệp phải đóng cho Nhà nước để giảm thiểu ô nhiễm môi trường [8]

- Căn cứ vào nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”

Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiển” bắt nguồn từ các sang kiến do Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) đề xuất vào năm 1972

và 1974 Nguyên tắc “tiêu chuẩn” năm 1972 cho rằng các tác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát và phòng chống ô nhiễm Nguyên tắc “mở rộng” năm 1974 có chủ trương rằng các tác nhân gây ô nhiễm ngoài việc phải tuân thủ các chi phí khắc phục ô nhiễm, còn phải bồi thường cho những người vị thiệt hại do ô nhiễm gây ra Tức là người gây ô nhiễm phải chịu mọi khoản chi phí để thực hiện các biện pháp làm giảm ô nhiễm do chính quyền tổ chức thực hiện, nhằm khắc phục và hoàn trả [8]

- Căn cứ vào cơ sở pháp lý đó là các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam: Luật Bảo vệ môi trường, hệ thống tiêu chuẩn môi trường Việt Nam…

1.2.6 Tình hình thực hiện thuế, phí môi trường trên thế giới và ở Việt Nam

* Trên thế giới

Các công cụ kinh tế đã được áp dụng từ rất sớm, đặc biệt ở các nước trong khu vực Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Công cụ thuế và phí được áp dụng từ những năm 1970 và cho đến nay có trên 150 loại công cụ được áp dụng ở châu Âu và châu Á Tùy theo điều kiện của từng quốc gia, từng loại công cụ khác nhau được áp dụng để đạt mục tiêu bảo vệ môi trường

và phát triển bền vững Trong đó có 10 loại công cụ kinh tế được áp dụng ở

15 quốc gia OECD[20]

Trang 35

Thuế và phí ở Canada: Ở quốc gia này áp dụng các loại thuế và phí

dưới nhiều hình thức khác nhau

- Phí với người sử dụng bao gồm: phí nước có ý nghĩa và hiệu quả tích cực với 30% thị xã và thị trấn ở Canada, phí hoa lợi cải tạo đất, phí sử dụng nước mưa…

- Phí khôi phục hoặc loại bỏ được trả trước cho các cơ quan quản lý tài chính vào việc sử dụng thùng đồ uống, acquy, các thùng thuốc sâu và thùng sơn gây ra ô nhiễm

- Phí một đơn vị phát thải do cơ quan tài chính địa phương thu đối với hệ thống giám sát chất lượng không khí

Thuế đầu vào đánh vào xăng dầu từ năm 1985 Thuế “gas guzzler” về chất đốt được áp dụng Phí phát tán, đặc biệt là việc phát thải NO2, SO2, CO,…

Nhìn chung các dạng phí, lệ phí và một phần thuế nhằm bảo vệ môi trường ở Canada được thực hiện ở cấp tỉnh và thành phố

Thuế môi trường ở Thụy Điển: Thụy Điển và một số nước Bắc Âu đã

vận dụng một cách rộng rãi thuế, phí và nhiều biện pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường Các biện pháp kinh tế bao gồm thu thuế, phí đối với chất thải

CO2,NOx, SOx, thuế chất thải như thuốc bảo vệ thực vật, thực hiện chương trình hoàn trả đặt cọc đối với hộp nhôm và hộp nhựa, thuế rác, phân biệt thu phí tàu thuyền đường biển và trợ cấp thên quỹ kỹ thuật nguồn năng lượng và đầu tư…Hiệu quả từ các loại thế và phí rất lớn không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn đóng góp vào nền kinh tế quốc dân[20]

Thuế và phí ở Đan Mạch: Việc sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo

vệ môi trường tăng lên ở Đan Mạch trong thời gian gần đây Một số loại thuế mới được áp dụng như thuế thuốc trừ sâu, thuế nước thải, thuế nước sinh hoạt Hiện tại, chương trình mở rộng cho việc áp dụng hệ thống thuế năng lượng

Trang 36

như thuế CO2, SOx, thuế nhiên liệu nhằm tạo doanh thu từ bù đắp chi phí bảo

Phí môi trường ở Hàn Quốc: Phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm được

Hàn Quốc áp dụng từ năm 1983 đối với chất thải khí và nước thải Ban đầu thu phí được áp dụng dưới dạng phạt do không thực hiên cam kết Cơ quan môi trường của Hàn Quốc được quyền phạt tiền các cơ sở gây ô nhiễm nếu như vi phạm tiêu chuẩn môi trường và sau khi có yêu cầu phải có biện pháp

xử lý khi vẫn tiếp tục thải vượt quá tiêu chuẩn cho phép[20]

Phí ô nhiễm ở Singapore: Ở quốc gia này có biểu phí ô nhiễm đánh vào

nhu cầu ôxy hóa (BOD) và tổng chất rắn lơ lửng (TSS) áp dụng đối với tất cả các cơ sở công nghiệp Mức phí được xác định tùy theo lượng nước thải và nồng độ các chất gây ô nhiễm Lượng BOD và TSS cho phép được thải vào

hệ thống công cộng là 400 mg/lít Nếu cơ sở có nồng độ BOD từ 401-600 mg/lít thì phải trả xuất phí là 0,12$ Singapore/m3 Nếu nồng độ từ 1601-1800 mg/lít thì sẽ tăng lên 0,84$ Singapore/m3 Nếu nồng độ chất gây ô nhiễm nằm trong khoảng 601-1600 mg/lít thì xuất phí tăng lên một cấp cho mỗi 200 mg/lít[20]

* Việt Nam

Tại Việt Nam, Luật thuế Bảo vệ môi trường đã được quốc hội thông

qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 15/11/2010 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 Luật Thuế Bảo vệ môi trường được xây dựng trên cơ sở hội nhập kinh tế quốc tế, hiện đại hóa thuế Do vậy nó tương đối phù hợp với các sắc

Trang 37

thuế trên toàn thế giới trong tiến trình hội nhập Việc ban hành và áp dụng Luật Thuế bảo vệ môi trường đã và đang góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước để giải quyết các vấn đề môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển bền

vững, nâng cao ý thức của người dân về việc bảo vệ môi trường [13]

Mặc dù mới áp dụng chưa lâu, song bên cạnh những kết quả đạt được, Luật Thuế bảo vệ môi trường cũng đã bộc lộ một số điểm hạn chế, cần phải được xem xét lại Thuế bảo vệ môi trường quy định 8 nhóm sản phẩm hàng hóa hiện nay đang chịu thuế đó là: xăng, dầu, mỡ nhờm; than đá; dung dịch hydro-cloro-fluoro-carbon; túi nilon thuộc diện chịu thuế; thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng Có thể thấy, đây đều là những sản phẩm mà khi sử dụng sẽ gây tác động xấu đến môi trường, và việc quy định chúng nằm trong đối tượng chịu thuế là phù hợp với thông lệ quốc tế Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều sản phẩm, hàng hóa mà việc sử dụng chúng có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng lại chưa được đưa vào diện chịu thuế như: chất tẩy rửa trong công nghiệp, thuốc lá… Số lượng hàng hóa được đưa vào đối tượng chịu thuế còn ít cho nên không thu hút được đông đảo người tiêu dùng quan tâm và số thu thuế Bảo vệ môi trường còn khá khiêm tốn Nói chung, việc áp dụng thuế Bảo vệ môi trường ở nước ta còn khá nhiều vấn đề bất cập [13]

Nguồn thu chủ yếu của lĩnh vực môi trường đóng góp vào trong ngân sách nhà nước và trong tổng sản phẩm quốc nội GDP là phí bảo vệ môi trường (phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn, phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản) Sau một thời gian tiến hành triển khai áp dụng công cụ phí bảo vệ môi trường, nhóm công cụ này đã phát huy được tính hiệu quả vừa góp phần thay đổi nhận thức và hành vi của các tổ chức, cá nhân trong việc giữ gìn vệ sinh

Trang 38

môi trường, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng; ngoài ra, tạo ra một nguôn tài chính đóng góp vào ngân sách nhà nước để tái đầu tư vào các hoạt động bảo vệ môi trường, hạn chế, phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái và các sự cố môi trường Tuy nhiên, bên cạnh đó còn khá nhiều vấn đề bất cập

Đó là: Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải đã thực hiện hơn 9 năm song

cơ quan quản lý vẫn còn khá lúng túng trong cách tính toán và thu phí Các doanh nghiệp còn tìm cách trốn tránh và nợ phí Kết quả là tỷ lệ thu phí nước thải công nghiệp còn thấp; Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại cũng đã được áp dụng nhưng khoàn thu này không đủ đáp ứng chi phí thu gom, xử lý rác thải, các văn bản còn chồng chéo, không quy định rõ trách nhiệm của từng đơn vị tham gia Vì vậy vấn đề rác thải hiện nay vẫn đang là một vấn đề bức xúc của toàn xã hội; Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản được thực hiện theo Nghị định 63/2008/NĐ-CP ngày 13/5/2008 của Chính phủ Tuy nhiên, việc thu phí này còn gặp nhiều khó khăn do đối tượng phải nộp phí chưa tự giác thực hiện nghĩa vụ này, còn tình trạng doanh nghiệp kê khai sản lượng khai thác thấp hơn thực tế đê giảm số phí phải nộp Theo tính toán của Bộ Tài Chính, nguồn phí bảo vệ môi trường năm 2008 là 1.224 tỷ đồng, nếu tính cả số tiền từ thu phí xăng, dầu 9.000 tỷ đồng/năm thì tổng nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường

là 10.224 tỷ đồng [1]

Trang 39

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu thực trạng áp dụng công cụ thuế, phí bảo vệ môi trường trong công tác quản lý môi trường trên địa bàn huyện Đồng Hỷ Đề tài tập trung vào các đối tượng cụ thể sau:

+ Đối tượng quản lý và sử dụng phí

+ Đại diện đối tượng thu phí: Chi cục thuế huyện Đồng Hỷ, Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Đồng Hỷ

+ Đại diện đối tượng trực tiếp chịu thuế, phí trực tiếp: Doanh nghiệp và người dân huyện Đồng Hỷ

2.1.2.Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về tình hình thu, quản lý, sử dụng thuế bảo

vệ môi trường, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn, phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Đồng Hỷ

2.1.3.Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Năm 2014-2015

2.1.4.Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: huyện Đồng Hỷ

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của huyện Đồng Hỷ 2.2.2 Đánh giá hiện trạng môi trường và công tác quản lý môi trường huyện Đồng Hỷ

2.2.3.Đánh giá việc thực hiện các công cụ kinh tế thuế, phí môi trường trong quản lý môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường từ năm 2010 đến nay tại huyện Đồng Hỷ

2.2.4 Đề xuất những giải pháp hữu ích, nâng cao hiệu quả công tác thu thuế, phí môi trường trên địa bàn huyện Đồng Hỷ

Trang 40

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

2.3.1.1.Thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập, rà soát, tổng hợp và phân tích, đánh giá các tài liệu, số liệu liên quan đến việc thu các loại thuế, phí bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Đồng Hỷ Các tài liệu, văn bản pháp luật về vấn đề áp dụng công cụ thuế và

phí trong quản lý môi trường

- Các số liệu quan trắc: gồm số liệu quan trắc từ năm 2010 đến

2014 thu thập trong Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên của

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên và Báo cáo hiện trạng quan trắc môi trường hàng năm của Trung tâm quan trắc và Công nghệ môi trường tỉnh Thái Nguyên

2.3.1.2.Phương pháp điều tra khảo sát thực tế

-Phương pháp điều tra: Thông qua phiếu điều tra, tìm hiểu, đánh giá nhu cầu, khả năng chi trả của cộng đồng cho các dịch vụ (phí, thuế…) để bảo

vệ môi trường, những thuận lợi, khó khăn, bất cập khi thực hiện công cụ thuế

và phí trong quản lý môi trường

- Phạm vi điều tra: 15 xã và 3 thị trấn của huyện Đồng Hỷ

- Phương thức điều tra: Phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu điều tra (phụ lục)

- Đối tượng:

+ Người dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ: Chọn ngẫu nhiên trong từng

xã, thị trấn, mỗi xã phỏng vấn 15 hộ Đối tượng khảo sát:bao gồm cả nam, nữ trong độ tuổi từ 18 trở lên thuộc mọi thành phần trong xã hội từ người nội trợ, công chức, nhân viên văn phòng, nông dân, cán bộ hưu trí…

+ Doanh nghiệp trên địa bàn huyện Đồng Hỷ: Trên địa bàn huyện Đồng

Hỷ có khá nhiều Doanh nghiệp hoạt động Liên quan đến vấn đề nộp thuế, phí trong công tác bảo vệ môi trường cụ thể có: 13 Công ty TNHH (trách nhiệm

Ngày đăng: 26/02/2016, 09:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Bản đồ vị trí địa lý huyện Đồng Hỷ so với các huyện - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015
Hình 3.1 Bản đồ vị trí địa lý huyện Đồng Hỷ so với các huyện (Trang 42)
Bảng 3.1: Biến động sản xuất ngành chăn nuôi huyện Đồng Hỷ - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015
Bảng 3.1 Biến động sản xuất ngành chăn nuôi huyện Đồng Hỷ (Trang 45)
Bảng 3.3: Tình hình sử dụng đất đai tại huyện Đồng Hỷ, - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015
Bảng 3.3 Tình hình sử dụng đất đai tại huyện Đồng Hỷ, (Trang 49)
Bảng 3.6. Hiện trạng môi trường không khí huyện Đồng Hỷ, - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015
Bảng 3.6. Hiện trạng môi trường không khí huyện Đồng Hỷ, (Trang 55)
Hình 3.2. Nồng độ bụi tại một số điểm quan trắc trên địa bàn - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015
Hình 3.2. Nồng độ bụi tại một số điểm quan trắc trên địa bàn (Trang 56)
Bảng 3.7. Kết quả hiện trạng môi trường nước - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015
Bảng 3.7. Kết quả hiện trạng môi trường nước (Trang 57)
Bảng 3.8: Cơ cấu nhân sự của phòng Tài nguyên - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015
Bảng 3.8 Cơ cấu nhân sự của phòng Tài nguyên (Trang 58)
Sơ đồ tổ chức của phòng Tài nguyên và Môi trường - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015
Sơ đồ t ổ chức của phòng Tài nguyên và Môi trường (Trang 59)
Bảng 3.14: Tỷ lệ người dân sẵn sàng chi trả - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015
Bảng 3.14 Tỷ lệ người dân sẵn sàng chi trả (Trang 72)
Bảng 3.15: Mức chi trả thêm tối đa cho các khoản phí BVMT - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015
Bảng 3.15 Mức chi trả thêm tối đa cho các khoản phí BVMT (Trang 73)
Hình 3.3: Tỷ lệ doanh nghiệp sẵn sàng tăng mức phí - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015
Hình 3.3 Tỷ lệ doanh nghiệp sẵn sàng tăng mức phí (Trang 74)
Hình 3.4: Tỷ lệ người dân sẵn sàng chấp nhận - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015
Hình 3.4 Tỷ lệ người dân sẵn sàng chấp nhận (Trang 75)
Bảng 3.16.  Mức độ sẵn sàng chi trả thuế phí BVMT - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ PHÍ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2010-2015
Bảng 3.16. Mức độ sẵn sàng chi trả thuế phí BVMT (Trang 76)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w