1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình

92 420 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 26,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

--- ĐẶNG THỊ HẢI YẾN KHẢO SÁT ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG TRONG HỆ THỐNG HANG ĐỘNG VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA KẺ BÀNG, TỈNH QUẢNG BÌNH LUẬN VĂN THẠCSỸ KHOA HỌCMÔI TRƯỜNG

Trang 1

-

ĐẶNG THỊ HẢI YẾN

KHẢO SÁT ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG TRONG HỆ THỐNG HANG ĐỘNG VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA

KẺ BÀNG, TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠCSỸ KHOA HỌCMÔI TRƯỜNG

THÁINGUYÊN- 2015

Trang 2

ĐẶNG THỊ HẢI YẾN

KHẢO SÁT ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG TRONG HỆ THỐNG HANG ĐỘNG VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA

KẺ BÀNG, TỈNH QUẢNG BÌNH

Ngành: Khoa học môi trường

Mã số: 60.44.03.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Điền

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng, luận văn này là của tôi, do tôi làm dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Văn Điền, và số liệu kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chính xác, các thông tin trích dẫn và phân tích

sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2015

Đặng Thị Hải Yến

Trang 4

PGS.TS Trần Văn Điền Thầy đã trực tiếp hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ Thầy đã rất tận tâm, tận tình hướng dẫn và gợi mở phương pháp, song song với việc thường xuyên khích lệ tinh thần học trò của mình để có thể hoàn thành tốt luận văn như ngày hôm nay.đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp

Trong thời gian nghiên cứu và làm luận văn, em xin chân thành cảm ơn

TS Phạm Đình Sắc- Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật – Viện Hàn Lâm Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Môi trường, các thầy cô trong khoa Quản lý đào tạo sau đại học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và trang bị cho em những kiến thức cơ bản trong học tập nghiên cứu đề tài luận văn cũng như trong công việc sau này

Bên cạnh đó, em cũng xin chân thành cảm ơn đến các anh, chị trong Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật đã nhiệt tình giúp đỡ em khi em nghiên cứu và làm luận văn tại Viện

Những lời động viên, khích lệ từ gia đình, sự sẻ chia, học hỏi từ bạn bè cũng đã góp phần rất nhiều cho luận văn tốt nghiệp của em đạt kết quả tốt hơn

Do trình độ còn hạn chế nên trong quá trình làm luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong sự chỉ bảo them của các thầy cô giáo và giúp em hoàn thành luận văn tốt hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined

1 Lý do lựa chọn đề tài Error! Bookmark not defined

2 Mục tiêu của đề tài Error! Bookmark not defined

3 Yêu cầu của đề tài Error! Bookmark not defined

4 Ý nghĩa của đề tài 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 4

1.2 Giới thiệu chung về động vật không xương sống hang động 5

1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 6

1.4 Khái quát về khu vực nghiên cứu 10

1.4.1 Tổng quan về đặc điểm tự nhiên và xã hội ở khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng 10

1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng 23

1.5 Khái quát về hang động 23

1.5.1 Các khái niệm về hang động 23

1.5.2 Hệ thống hang động ở Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng 25

1.6 Tình trạng bảo tồn và các nhân tố ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên

và đa dạng sinh học Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng 27

1.6.1 Tình trạng bảo tồn 27

1.6.2 Các mối đe dọa đối với bảo tồn thiên nhiên 28

1.6.3 Các biện pháp bảo tồn thiên nhiên 29

Trang 6

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 31

2.2.1 Thời gian nghiên cứu 31

2.2.2 Địa điểm và phạm vi nghiên cứu 31

2.3 Nội dung nghiên cứu 32

2.4 Phương pháp nghiên cứu 32

2.4.1 Nghiên cứu thực địa động vật không xương sống 32

2.4.2 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của tác động bởi con người đến đa dạng sinh học Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng 34

2.4.3 Phương pháp thảo luận nhóm và chuyên gia, chuyên khảo 34

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Thành phần các loài động vật không xương sống hang động tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và khu vực mở rộng 36

3.1.1 Lớp hình nhện 38

3.1.2 Lớp Giáp xác 40

3.1.3 Lớp chân bụng 40

3.1.4 Lớp không cánh 40

3.1.5 Lớp côn trùng 41

3.1.6 Lớp nhiều chân 43

3.1.7 Lớp giun ít tơ 44

3.2 Sự phân bố của các loài động vật không xương sống hang động khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng: 45

Trang 7

3.3 Đánh giá tác động bởi con người đến đa dạng sinh học Vườn Quốc gia

Phong Nha- Kẻ Bàng 47

3.3.1 Các mối đe dọa và các mối quan tâm trong công tác quản lý đối với động vật không xương sống hang động tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và khu vực mở rộng 47

3.3.2 Đánh giá tác động của người dân bản địa 49

3.3.3 Đánh giá tác động của hoạt động du lịch đối với đa dạng sinh học

Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng 52

3.4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học

và quản lý bền vững hang động 58

3.4.1 Quản lý hang động 58

3.4.2 Các đề xuất trong việc quản lý và bảo vệ

đa dạng sinh học hang động 61

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 63

1 Kết luận 63

2 Khuyến nghị 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 69

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Diện tích các phân khu của Vườn quốc gia 11

Bảng 1.2: Kết quả quan sát khí hậu ở 3 trạm gần Vườn quốc gia 13

Bảng 1.3: Thống kê các loại đất chính trong khu vực Vườn Quốc gia 15

Bảng 1.4: Diện tích các kiểu thảm thực vật và sinh cảnh 17

Bảng 1.5: Thống kê hệ thực vật Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng 18

Bảng 1.6 Diện tích dân số của các xã Vùng đệm 21

Bảng 1.7 Thành phần dân tộc các xã khu vực Vườn Quốc gia 22

Bảng 1.8: Hệ thống hang động ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng 25

Bảng 3.1: Đa dạng động vật không xương sống hang động khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình 36

Bảng 3.2 Sự phân bố của các loài động vật không xương sống hang động

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng 46

Bảng 3.3: Mức độ quan tâm của người dân bản địa đến đa dạng sinh học

Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng 49

Bảng 3.4: Đánh giá về tác động của hoạt động du lịch với hệ đa dạng

sinh học Vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng 54

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Loài Pholcus caecus sp.nov 8

Hình 1.2 Loài Khorata protumida sp.nov 9

Hình 1.3 Loài Khorata protumida sp.nov 10

Hình 1.4 Bản đồVườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng (ảnh:Sưu Tầm) 12

Hình 3.1: Hai loài bọ cạp mới cho khoa học phát hiện được ở Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng 45

Hình 3.2: Một số hình ảnh sinh hoạt của người dân vùng đệm 52

Hình 3.3: Hình ảnh về rác thải và thùng rác của Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng 56

Hình 3.4: Hình ảnh về ánh sáng, lối đi trong hang động Thiên Đường- Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng 57

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Howarth (1983) [15] đã chỉ ra rằng khu hệ động vật sống trong hang

động không chỉ đa dạng về số loài và số lượng cá thể mà còn rất đặc trưng về

hình thái và mang tính đặc hữu cao Do sự cách biệt với môi trường bên ngoài, cùng với sự khác biệt về chế độ ánh sáng cũng như ẩm độ, hình thành những loài chuyên biệt thích nghi với điều kiện sống trong hang động Chính vì vậy, rất nhiều loài mới đã được ghi nhận ở các hang động khắp nơi trên thế giới

Khu hệ động vật trong hệ thống hang động của Việt Nam được đánh giá là rất phong phú, với nhiều loài chưa được khám phá Một khảo sát sơ bộ

đầu tiên về nhện hang động của Việt Nam bởi TS Phạm Đình Sắc tại các hang

nhỏ ở khu vực phía bắc Việt Nam đã ghi nhận được 30 loài mới cho khoa học (Lin, Phạm và Li, 2009 [30])

Với hàng trăm hang động đã được phát hiện tại khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng, được xem như những bảo tàng thiên nhiên sống, là nơi cư trú của nhiều loài động vật không xương sống bản địa và hết sức đặc biệt nhưng chưa được nghiên cứu Trong thời gian gần đây, 2 loài bọ cạp mới đặc hữu đã được phát hiện tại hang động khu vực nghiên cứu (Lourenco & Pham, 2010, 2012) [28][29]

Bên cạnh đó, nhiều loài sinh vật hang động đang bị đe dọa bởi các tác

động của con người, có nguy cơ biến mất nếu không được bảo tồn Do nhu

cầu phát triển kinh tế của địa phương, nhiều hang động đã và đang được khai thác, phục vụ các hoạt động du lịch Sự phát triển của du lịch không chỉ phá

vỡ cấu trúc tự nhiên của hang mà còn ảnh hưởng đến khu hệ động vật sống trong hang động

Trang 11

Việc điều tra, khảo sát khu hệ một số nhóm động vật trong hệ thống hang động ở khu vực Phong Nha Kẻ Bàng làm cơ sở cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học là thực sự cần thiết, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Văn

Điền tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang động Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình”

2 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu tổng quát:

Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hang động làm cơ sở cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở hệ thống hang động tại Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình

Mục tiêu cụ thể:

Thống kê một số loài động vật không xương sống phổ biến trong hang

động thuộc khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

Khảo sát sự phân bố của một loài động vật không xương sống phổ biến trong hang động thuộc khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

Đánh giá ảnh hưởng của tác động bởi con người đến giá trị đa dạng

sinh học của khu vực nghiên cứu

Đề xuất các giải pháp quản lý hang động để bảo tồn giá trị đa dạng sinh

học hang động tại khu vực nghiên cứu

3 Yêu cầu của đề tài

Thu thập và thông kê một số loài động vật không xương sống phổ biến trong hang động Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình

Đánh giá ảnh hưởng của tác động bởi con người đến giá trị đa dạng

sinh học của khu vực nghiên cứu

Trang 12

Đề xuất các giải pháp quản lý hang động để bảo tồn đa dạng sinh học

hang động Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình

4 Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Đề tài sẽ cung cấp thêm dữ liệu về các nhóm động vật không xương

sống trong hang động ở Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng

Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài làm cơ sở cho công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học

trong hang động ở Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

Trang 13

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

Do sự cách biệt với môi trường bên ngoài cùng với quá trình hình thành gắn liền với lịch sử vỏ trái đất đã hình thành nên hệ sinh thái cực kỳ đặc biệt trong hang động Những khám phá mới về thế giới dưới lòng đất ngày càng gây nhiều ấn tượng và sự chú ý của con người Hệ thống hang động trên thế giới không chỉ có giá trị về lịch sử, địa chất, địa mạo, giá trị về du lịch…mà nó còn mang nhiều ý nghĩa sinh học Các nghiên cứu về đa dạng sinh học hang động tuy không còn mới trên thế giới nhưng còn khá mới mẻ ở Việt Nam

Với những điều kiện sinh thái đặc biệt như thiếu ánh sáng, nhiệt độ và

độ ẩm không khí ổn định, nên hệ sinh thái trong hang động hầu như tách rời hẳn

so với hệ sinh thái trên mặt đất Do đó để thích nghi với môi trường sống này, các loài sinh vật hình thành những đặc điểm thích nghi với điều kiện sống trong hang động Vì vậy, đã có rất nhiều loài mới được nghi nhận ở các hang động khắp nơi trên thế giới Tuy nhiên do tính chất đặc biệt của môi trường sống, các sinh vật này đặc biệt nhạy cảm với các tác động bên ngoài và chỉ cần một tác

động bất lợi nhỏ cũng có thể phá vỡ cấu trúc quần thể ban đầu

Nước ta nằm trong vòng đai khí hậu nhiệt đới, có tính đa dạng sinh học cao, hơn nữa hệ thống hang động Việt Nam rất phong phú và khu hệ sinh vật trong hang động ở nước ta được đánh giá là đa dạng Tuy nhiên các nghiên cứu đa dạng sinh học hang động ở Việt nam còn rất ít, đặc biệt là lớp hình nhện trong hang động

Với quần thể nhiều hang động lớn nhỏ được phát hiện ở khu vực Phong Nha, Kẻ Bàng, đây được coi là kỳ quan của tạo hóa ban tặng, là bảo tàng thiên nhiên sống của nhiều loài sinh vật hang động và đang thực sự thu hút

Trang 14

giới khoa học, trong đó có các chuyên gia nghiên cứu hình nhện Đặc biệt trong năm 2010, một giống bọ cạp mới Vietbocap Lourenco & Pham đã được

phát hiện, gồm 2 loài mới mới cho khoa học là Vietbocap canhi được tìm thấy

ở động Tiên Sơn năm 2010 và Vietbocap thienduongensis ở động Thiên

Đường năm 2012 (Lourenco & Pham, 2012) [28] Những phát hiên mới này đóng góp một phần quan trọng vào tính đa dạng của hệ sinh thái hang động

của Phong Nha Kẻ Bàng

Tuy nhiên, do nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương nên nhiều hang

động hiện đã và đang được khai thác, phục vụ các hoạt động du dịch Những

tác động của con nguời đã phá vỡ cấu trúc tự nhiên và ảnh hưởng đến các quần thể sinh vật sống trong hang Vì vậy việc điều tra đa dạng thành phần và phân bố các loài động vật không xương sống trong hang là rất quan trọng, không chỉ đánh giá tính đa dạng sinh học hang động mà còn là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về đánh giá tác động của con người đến tính đa

dạng sinh học hang động

1.2 Giới thiệu chung về động vật không xương sống hang động

Trong hang động, chủ yếu xuất hiện 2 nhóm là lớp hình nhện và lớp côn trùng, trong đó chiếm ưu thế là các loài thuộc lớp hình nhện Lớp hình nhện (Arachnida) thuộc ngành chân khớp (Arthropoda), bao gồm 10 bộ: Amblypygi, Araneae, Opiliones, Palpigradi, Pseudoscorpioné, Scorpionida, Ricinulei, Schizomida, Solifugae và Uropygi Trên thế giới có khoảng 93.000 loài đã được mô tả, thuộc 640 họ, 9.000 bộ (Harvey, 2003; Patrick, 1999; Fet

et al., 2000) Trong đó nhện Araneae có số loài cao nhất (37.596 loài), Opiliones (5.000 loài), Pseudoscorpiones (3261 loài), Scorpiones (1340 loài), Solifugae (1084), Amblypygi (142 loài), Schizomida (237 loài), Palpigradi (78 loài), Uropygi (101 loài), Ricinilei (55 loài).[14][21][23]

Trang 15

Lớp hình nhện là một trong những nhóm động vật chân khớp cổ có tính

đa dạng sinh học cao Những hóa thạch cho thấy hình nhện là một trong số động vật đầu tiền sống trên cạn, cách đây gần 400 triệu năm trước Chúng

phân bố ở mọi nơi:trong nhà, trong hang, trên rừng, dưới nước Trong hang

(11%): 19 loài troglophiles (50%), và 15 loài vãng lai accidental (32%).[26]

Những cuộc điều tra có hệ thống và toàn diện đã được tiến hành năm

1986 và 1997 với toàn bộ hệ thống 22 hang động tại công viên Horne ở Vancouver thuộc Canada; đã đưa ra danh sách 191 nhóm loài, trong đó có ít nhất 10 loài mới Các vùng cửa hang là những vùng có độ đa dạng loài cao nhất và tương đồng với môi trường bên ngoài nhất về ánh sáng, độ ẩm Vùng chuyển tiếp với các nhóm loài thuộc bộ Diptera chiếm ưu thế, tiếp đó là nhện Aranae và bộ cánh cứng Coleoptera Ở vùng tối, các nhóm loài thuộc bộ Colembola, Symphyla chiếm ưu thế, tiếp theo là Diplura, Acarina, Diptera.[13]

Thời gian gần đây, hình nhện trong hang động đã được tập trung khám phá Trong 5 năm từ 200 –2011, đã có trên 100 loài nhệ mới cho khoa học

(http://www.ChineseSpecies.com)[19]

Nhiều loài bọ cạp mới được tìm thấy trong hang động ở Lào (Lourenco,

2005, 2012), ở Afghanistan (Soleglad, Kovarik & Fet, 2012); ở Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thailand, và Việt Nam (Fet, 2012) Đặc biệt

1 họ nhện mới đã được phát hiện trong hang động tại vùng Klamath-Siskiyou thuộc California, Hoa Kỳ (Griswold, Audisio & Ledford, 2012) [20][24][25]

1.3.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu về đa dạng động vật không xương sống trong hang động,

đặc biệt là hình nhện là một hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam

Trang 16

Công bố đầu tiên về hình nhện hang động bởi Tshurusaki (1995) Tác giả đã phát hiện ra 1 giống hình nhện chân dài mới cho khoa học (thuộc bộ Opiliones) tại hang Sửng Sốt, Vịnh Hạ Long.[22]

Năm 2009, sáu loài nhện mới được phát hiện trong hang động tại hai Vườn Quốc Gia Cúc Phương tỉnh Ninh Bình và Cát Bà tỉnh Hải Phòng (Lin

& Pham & Li, 2009) Năm 2010, thêm 1 loài nhện mới được phát hiện tại

Vườn Quốc gia Cát Bà Hải Phòng (Liu, Li & Pham, 2010b) [29][30]

Năm 2010, một giống bọ cạp mới Vietbocap Lourenco and Pham đã

được phát hiện, gồm 2 loài mới cho khoa học là Vietbocap canhi được tìm

thấy ở động Tiên Sơn năm 2010 và Vietbocap thienduongensis ở động Thiên

Đường năm 2012 (Lourenco & Pham, 2010, 2012) [28]

Những nghiên cứu bước đầu về khu hệ động vật chân khớp hang động

ở Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ của tác giả Phạm Đình Sắc và

Phùng Thị Hồng Lưỡng đã cho thấy có 8 bộ động vật chân khớp trên mặt nền hang, đó là bộ Cánh cứng Coleoptera, bộ Cánh thẳng Orthoptera, Gián Blattodea, bộ Hai cánh Diptera, bộ Cánh màng Hymenoptera, Đuôi bật Collembola (thuộc lớp Côn trùng Insecta); Nhện Araneae và Chân dài Opiliones (thuộc lớp Hình nhện Arachnida) Đồng thời tác giả cũng đưa ra bảng phân bố của các bộ tại các vùng trong hang (vùng sáng, vùng chuyển tiếp và vùng tối)[7]

Nghiên cứu bước đầu về nhện trong hang động khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng tỉnh Quảng Bình, tác giả Phạm Đình Sắc và cs đã chỉ ra rằng khu hệ nhện hang động tiềm ẩn nhiều điều mới lạ, cần khám phá (Phạm

Đình Sắc và cs, 2012) [8][28]

Năm 2015, Công bố ba loài nhện mới cho khoa học phát hiện được ở Phong Nha Kẻ Bàng Các loài nhện mới này được phát hiện bởi TS Phạm

Trang 17

Đình Sắc thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa

học và Công nghệ Việt Nam Mô tả của ba loài được công bố trên Tạp chí Quốc tế uy tín Zootaxa, 3909(1): 82pp (monograph, tháng 1 năm 2015)

Ba loài nhện mới thuộc họ Pholcidae được mô tả dựa trên các mẫu vật thu thập được ở trong hang Tượng, động Thiên Đường và hang Bảy Tầng Trước đó, năm 2010 và 2012, TS Phạm Đình Sắc và cộng sự đã phát hiện và công bố 1 giống và 2 loài bọ cạp mới trong hang động khu vực Phong Nha Kẻ Bàng Các loài mới được phát hiện có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, đặc hữu cho Việt Nam

*Loài Pholcus bifidus sp.nov

Loài Pholcus bifidus phát hiện được ở trong hang Tượng, vườn quốc

gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam Loài này khác biệt với tất cả các loài khác thuộc giống Pholcus bởi sự có mặt của các mấu lồi trên chân kìm của con đực, các gai sinh dục dài và nhọn, hơi cong, hóa kitin cứng;

cơ quan sinh dục cái nhô hẳn ra ngoài

Hình 1.1 Loài Pholcus caecus sp.nov.[6]

Trang 18

*Loài Pholcus caecus sp.nov

Loài Pholcus caecus phát hiện được ở trong động Thiên Đường, Vườn

quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam Loài nhện này phân biệt với các loài khác của giống Pholcus bởi kích thước cơ thể rất nhỏ; nhện không có mắt; xuất hiện đôi sừng cong và sắc nhọn ở mặt trên của giáp

đầu ngực

Hình 1.2 Loài Khorata protumida sp.nov[6]

*Loài Khorata protumida sp.nov

Loài Khorata protumida phát hiện được ở hang Bảy Tầng, vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam Loài này giống loài

Khorata khammouan Huber, 2005 nhưng khác loài Khorata khammouan do

có các tấm la mel tạo hình vòm như tổ tò vò ở hàm dưới con đực; có 4 mấu

lồi ở hàm trên; cửa ngoài bộ phận sinh dục cái hóa kitin cứng, nổi rõ thành bờ

Trang 19

Hình 1.3 Loài Khorata protumida sp.nov

(Nguồn: Phạm Đình Sắc,2015) [6]

1.4 Khái quát về khu vực nghiên cứu

1.4.1 Tổng quan về đặc điểm tự nhiên và xã hội ở khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

1.4.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Vị trí địa lý

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng nằm về phía Tây - Bắc tỉnh Quảng Bình, dọc biên giới Việt - Lào; được giới hạn trong tọa độ 17°21′ tới 17°39′ vĩ bắc và 105°57′ tới 106°24′ kinh đông trên địa phận 13 xã thuộc ba huyện bao gồm các xã Dân Hóa, Hóa Sơn, Trung Hóa, Thượng Hóa, Trọng Hóa (huyện Minh Hóa); Sơn Trạch, Xuân Trạch, Thượng Trạch, Tân Trạch, Phúc Trạch, Hưng Trạch, Phú Định (huyện Bố Trạch) và xã Trường Sơn (huyện Quảng Ninh) Phía Tây và Tây Nam Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào có chung đường biên giới dài khoảng 50 km Chiều dọc của Vườn Quốc gia nơi dài nhất là 70 km

từ đèo Mụ Giạ đến núi U Bò theo hướng Tây Bắc - Đông Nam; chiều ngang

Trang 20

nơi rộng nhất là 31 km từ Tây Gát (xã Xuân Trạch) đến biên giới Việt - Lào theo hướng Đông Bắc - Tây Nam.[1]

Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng có diện tích bao gồm:

-Diện tích khu di sản (Core Zone): 85.754 ha

-Vùng đệm (Buffer Zone): 203.245 ha

Bảng 1.1: Diện tích các phân khu của Vườn quốc gia

Phân khu phục hồi sinh thái

(Nguồn: Dự án đầu tư Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bảng 2001)[2]

Trang 21

Hình 1.4 Bản đồVườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng (ảnh:Sưu Tầm)

Đặc điểm khí hậu – thủy văn

Khí hậu ở vườn quốc gia này mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió

mùa, nóng và ẩm Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23-25 °C, với nhiệt độ cao nhât là 41 °C vào mùa hè và mức thấp nhất có thể xuống 6 °C vào mùa đông Thời kỳ nóng nhất là vào tháng 6-8 với nhiệt độ trung bình 28 °C, còn từ

Trang 22

tháng 12 đến tháng 2 có nhiệt độ trung bình 18 °C Lượng mưa trung bình hàng năm đo được là 2.000–2.500 mm, với 88% lượng mưa trong khoảng thời gian từ tháng 7-12 Mỗi năm có hơn 160 ngày mưa Độ ẩm tương đối là 84%

Bảng 1.2: Kết quả quan sát khí hậu ở 3 trạm gần Vườn Quốc gia Các yếu tố khí hậu Trạm Tuyên

Hóa

Trạm Ba

Đồn

Trạm Đồng Hới

Nhiệt độ trung bình năm 23.8 oC 24.3oC 24.6oC Nhiệt độ thấp nhất 5.9oC

(Tháng 1)

7.6oC (Tháng 12)

7.7oC (Tháng 1) Nhiệt độ cao nhất 40.1oC 40.1oC 42.2oC Lượng mưa trung bình năm 2266.5mm 1932.4mm 2159.4mm

Số ngày mưa trong năm 159 ngày 130 ngày 135 ngày Lượng mưa cao nhất trong ngày 403mm 414mm 415mm

Số ngày mưa nhỏ trong năm 18 (Tháng

1,2,3)

9.3 (Tháng 11)

17 Tháng 12)

13.8 (Tháng 9,10) Lượng bốc hơi không khí năm 1031mm 1035mm 1222mm

Tọa độ trạm

Kinh độ Đông 106o08' 106o25' 106o37'

Trang 23

Độ cao tuyệt đối 25m 8m 7m

(Nguồn: Ban quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng -2007 [1])

Chế độ thuỷ văn: Khu vực Vườn Quốc gia nằm gọn trong lưu vực của

các dòng sông suối trong vùng: Rào Thương, sông Chày, sông Troóc, sông Son đều là thượng nguồn của sông Gianh Vườn quốc gia bao gồm một vùng đá vôi rộng lớn, vì thế hiện tượng nước chẩy ngầm là phổ biến Trên bản

đồ không thấy các sông suối lớn Trên mặt đất có một số khe suối nhỏ đổ vào

suối Rào Thương, chảy lộ thiên nhưng bị ngắt quãng khi chảy ngầm qua các hang động, sau khi qui tụ lại chảy về sông Chày, sông Troóc và hợp lưu vào sông Son và đổ vào thượng nguồn sông Gianh Mùa mưa, các suối cạn có nước dâng cao, tạo dòng chảy lớn, tạo lũ cục bộ, nhưng sau cơn mưa nước rút rất nhanh qua các “mắt hút” Mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 11 trùng vào những

tháng mưa lớn nhất Lũ lớn thường xuất hiện vào giữa tháng 9 và tháng 10.[1]

Ngoài mùa mưa lũ chính, sông Son còn chịu ảnh hưởng của đợt mưa phụ (Mưa tiểu mãn) vào tháng 5, 6 Mưa tiểu mãn đôi khi gây lũ lụt lớn Khi

lũ lụt nước sông Son mang nhiều phù sa, bồi đắp cho các dải đất ven bờ và làm biến dạng dòng sông do hiện tượng “bồi, lở”

Mùa nước cạn vào tháng 1 - 7, trong khu vực Phong Nha, các khe suối nhỏ trở thành “khe suối chết” Sông Chày và sông Son có mực nước rất thấp

và dòng chảy tối thiểu

Đặc điểm địa chất – thổ nhưỡng

Phong Nha-Kẻ Bàng có một cấu trúc địa chất phức tạp, với lịch sử phát triển vỏ Trái Đất từ thời kỳ Ordovicia và đã tạo ra 3 loại địa hình và địa mạo

Đó là các kiến tạo không phải carxtơ với các ngọn núi thấp tròn với các thềm đất tích tụ mài mòn dọc theo các thung lũng sông Son và sông Chay và tại các

Trang 24

mép khối núi đá vôi trung tâm; kiến tạo carxtơ nhiệt đới cổ chủ yếu là từ Đại Trung Sinh; và địa hình đá vôi chiếm một diện tích khoảng 200.000 ha Quá trình kiến tạo carxtơ đã tạo ra nhiều đặc điểm như các sông ngầm, các động khô, các động bậc thang, động treo, động hình cây và động cắt chéo nhau Các động có sông được chia thành 9 động của hệ thống Phong Nha đổ vào sông Son và 8 động của hệ thống động Vòm đổ vào sông Chay.[1]

Hệ thống hang động hùng vĩ của Phong Nha được tạo ra do quá trình các khe nứt kiến tạo, sau đó là quá trình phong hoá vật lý và hoá học đã ăn mòn, hoà tan, rửa trôi qua hàng triệu năm Trong điều kiện nhiệt đới ẩm, quá trình carxtơ hoá rất mạnh mẽ về cường độ và tốc độ phá huỷ Ngoài hệ thống núi đá vôi, vùng núi đất có nền đá mẹ chủ yếu là đá mácma axít, đá sét, đá biến chất và phù sa cổ.[1]

Về thổ nhưỡng, khu vực Phong Nha có nhiều hoại đất hình thành từ các nguồn đá mẹ khác nhau Đất chủ yếu là đất feralit đỏ vàng trên núi đá vôi, đất Feralit vàng trên đá mácma axít, đất Feralit vàng nhạt và đất phù sa bồi tụ ven sông

Bảng 1.3: Thống kê các loại đất chính trong khu vực Vườn Quốc gia

Theo phân loại Việt Nam Phân loại

Đất đen Macgalit - Feralit phát

triển trên núi đá vôi (MgFv) Rhodic/Acric Ferrasols

Không

đáng kể Đất Feralit màu đỏ, đỏ nâu trên

Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên

phiến thạch sét (Fs) Orthic Ferrasols (FRo) 2,805 3.3

Trang 25

Đất Feralit vàng đỏ trên đá

Macma acid (Fa) Ferralit Acrisols (Acf) 5,062 5.9

Đất Feralit vàng nhạt trên đá Sa

Đất dốc tụ trong thung lũng đá vôi

(Tv) và trong thung lũng hay

máng trũng (T1, T2)

Accumulated silty soil

in lime stone valley (Tv) and (T1, T2)

2,917 + 1,638

3.4 + 1.9 Núi đá vôi dạng khối uốn nếp có

quá trình Karst

Lime stone mountain with Karst juvenility 64,286 74.5

(Nguồn: Ban quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng -2007 [1])

Tài nguyên đa dạng sinh học

Thảm thực vật rừng

Kết quả giải đoán ảnh vệ tinh Landsat (2004) và điều tra thực địa năm

2006 cho thấy toàn khu vực được che phủ bởi 93,57% diện tích rừng kín thường xanh, trong đó rừng nguyên sinh ít bị tác động chiếm 83,74% tổng diện tích Vườn Quốc gia Trong khí đó rừng nguyên sinh ít bị tác động của toàn quốc ước tính chỉ khoảng 10% diện tích rừng tự nhiên (Kế hoạch hành

động đa dạng sinh học 1995) Có thể khẳng định đây là một Vườn Quốc gia

có độ che phủ và tỷ lệ rừng nguyên sinh lớn nhất trong hệ thống các khu rừng

đặc dụng của Việt Nam và các khu vực núi đá vôi trên thế giới.[1]

Kết quả tương tác về địa chất, địa mạo và khí hậu thủy văn đã tạo ra sự

đa dạng về các kiểu thảm thực vật, đặc biệt là các kiểu sinh cảnh rừng Dựa

theo hệ thống phân loại và vẽ bản đồ các kiểu thảm thực vật ở Châu Á của Tổ chức Lương thực Thế giới, thảm thực vật rừng ở Vườn Quốc gia Phong Nha -

Kẻ Bàng có các kiểu chủ yếu sau:

Trang 26

Bảng 1.4: Diện tích các kiểu thảm thực vật và sinh cảnh

Diện tích (ha) %

1.1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ

yếu cây lá rộng trên núi đá vôi >700m 21.461,0 25,03

1.2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ

yếu cây lá rộng trên núi đất >700m 2.316,4 2,70

1.3 Rừng kín nhiệt đới chủ yếu cây lá kim trên núi

2.1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ

yếu cây lá rộng trên núi đá vôi dưới 700m 45.337,3 52,87

2.2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ

yếu cây lá rộng trên núi đất 6.857,0 8,00 2.3 Rừng thứ sinh nhân tác trên núi đá vôi 1.335,7 1,56 2.4 Rừng thứ sinh nhân tác trên núi đất vùng thấp 1.731,0 2,02 2.5 Rừng hành lang ngập nước định kỳ 154,3 0,18 2.6 Cây bụi cây gỗ rải rác trên núi đá vôi 1.289,3 1,50 2.7 Trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác trên núi đất 3.829,9 4,47

Trang 27

Nha - Kẻ Bàng đã thống kê được 193 họ, 906 chi, 2.651 loài thực vật bậc cao

có mạch phân theo các nhóm sau:

Bảng 1.5: Thống kê hệ thực vật Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

(Nguồn: Ban quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng -2007 [1])

Do vị trí trung tâm ở khu vực miền Trung Việt Nam nên hệ thực vật Phong Nha - Kẻ Bàng thể hiện nơi giao lưu của 2 khu hệ thực vật phía Nam

và phía Bắc Ở đây là ranh giới tận cùng phía Nam của 1số loài thực vật phía

Bắc như: Nghiến (Burretiodendron hsienmu), Chò nước (Platanus kerrii), Chò nâu (Dipterocarpus retusus), Cây rẫm (Burcera tonkinensis) và cũng là

ranh giới tận cùng phía Bắc của một số loài thực vật phía Nam như: Dầu ke

(Dipterocarpus kerrii) Dầu đọt tím (Depterocarpus grandiflorus), Xoay (Dialium cochinchinensis), Giáng hương quả to (Pterocarpus macrocarpus),

Do địa hình khối núi đá vôi tương đối độc lập, nên không chỉ đa dạng thực vật phân bố rộng mà Phong Nha - Kẻ Bàng còn là trung tâm phân bố của môt loài thực vật đặc hữu hẹp, thống kê trong danh mục thực vật đã phát hiện

Trang 28

419 loài thực vật đặc hữu của Việt Nam Đặc biệt ở vùng này có 1 chi đặc

hữu đơn loài Oligoceras thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với loài Oligoceras eberhardtii Hơn nữa, ở đây vừa phát hiện một loài mới cho khoa

học và đặc hữu hẹp cho khu vực núi đá vôi thuộc ngành Hạt trần (Gymnospermae) trên đỉnh núi đá theo dọc đường 20 từ Hang Tám Cô đến Cà

Roòng Đó là Calocedrus rupestris Averyanov Riêng họ Lan, các chuyên gia

nghiên cứu đã xác định được tên 28 loài Lan đặc hữu của Việt Nam

(Averyanov và các cộng sự) gồm: Bulbophyllum hiepii, Cleisostoma simondii, Cymbidium atropurpureum, Paphiopedilum dianthum, Paphiopedilum malipoensec, Biermannia calcarata, Bulbophyllum insulsum, Bulbophyllum macraei, Bulbophyllum tixieri Seidenf., Chiloschista trudelii, Cleisostoma melanorachis, Epigeneium labuanum, Eria boniana, Eria gagnepainii, Eria globulifera, Eria thao, Liparis averyanoviana, Liparis petraea, Liparis pumila, Malleola seidenfadenii, Micropera poilanei, Panisea albiflora, Phalaenopsis gibbosa, Pteroceras simondianum, Thrixspermum fleuryi, Anoectochilus calcareous, Mischobulbum longiscapum, và Rhomboda petelotii.[1]

Theo số liệu thống kê mới nhất, Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng là rừng nguyên sinh trên núi đá vôi điển hình với các loại thực vật đặc trưng

như: nghiến (Burretiodendron hsienmu), chò đãi (Annamocarya spp.), chò nước (Plantanus kerii) và sao (Hopea spp.) Thực vật có mạch 152 họ, 876

loài, trong dó có 38 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 25 loài nằm trong Sách đỏ thế giới, 13 loài đặc hữu Việt Nam, trong đó có sao và cây họ Dầu

(Dipterocarpaceae).[1]

Các nhà khoa học cũng phát hiện 3 loài lan hài quý hiếm là lan hài xanh (Paphiopedilum malipoense), lan hài xoắn (Paphiopedilum dianthum), lan hài đốm (Paphiopedilum concolor), và rừng bách xanh duy nhất trên toàn

Trang 29

lãnh thổ Việt Nam được phân bổ trên đỉnh núi đá vôi có diện tích khoảng trên

5000 ha Theo những báo cáo của IUCN (Hiệp hội Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới) trong năm 1996 đã xếp lan hài là loài đang đứng trước nguy cơ diệt vong rất cao (tuyệt chủng trong tương lai gần)

Hệ động vật

Phong Nha-Kẻ Bàng là nơi sinh sống của 140 loài thú thuộc 31 họ và

10 bộ, nổi bật nhất là hổ và bò tót, loài bò rừng lớn nhất thế giới; 302 loài chim, trong đó có ít nhất 43 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 19 loài nằm trong Sách đỏ thế giới; 81 loài bò sát lưỡng cư (18 loài trong Sách đỏ Việt Nam và 6 loài Sách đỏ thế giới); 259 loài bướm; 72 loài cá, trong đó có 4 loài

đặc hữu Việt Nam Linh trưởng có 10 loài linh trưởng, chiếm 50% tổng số

loài thuộc bộ linh trưởng ở Việt Nam, 7 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam,

đặc biệt là voọc Hà Tĩnh, sao la, mang Phong Nha-Kẻ Bàng được đánh giá là

có hệ tự nhiên đa dạng nhất trong tất cả các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển quốc gia trên thế giới.[1]

Năm 2010, một loài bọ cạp mới có tên khoa học là Vietbocap canhi

được phát hiện tại động Tiên Sơn Năm 2012, một loài bọ cạp mới có tên

khoa học là Vietbocap thienduongensis, tên tiếng Việt là bọ cạp Thiên Đường

đã được phát hiện tại hang Thiên Đường

1.4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

Trong khu vực vùng đệm của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng có dân của 12 xã với tổng diện tích thuộc vùng đệm là 1479,45 km² thuộc huyện Minh Hóa (các xã Dân Hóa, Hóa Sơn, Trung Hoa, Thượng Hóa); Bố Trạch (các xã Tân Trạch, Thượng Trạch, Xuân Trạch, Phúc Trạch, Sơn Trạch, Phú

Định, Hưng Trạch) và huyện Quảng Ninh (xã Trường Sơn) Các khu vực dân

cư này chủ yếu sống ven các sông lớn như sông Chày, sông Son và các các

Trang 30

thung lũng có suối phía đông và đông bắc của vườn quốc gia Các khu vực này thuộc khu vực vùng sâu vùng xa của Quảng Bình, có điều kiện hạ tầng cơ

sở như đường giao thông, điện, giáo dục, ý tế kém phát triển Dân cư ở đây chủ yếu sống bằng nghề nông, khai thác lâm sản

Toàn

Trong VQG

Toàn

Trong VQG

(Nguồn: Ban quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng -2007 [1])

Toàn bộ các xã nằm trong chương trình ưu tiên phát triển kinh tế xã hội trong Chương trình 135, Dự án giảm nghèo khu vực miền Trung, Chương

Trang 31

trình 661 Các dự án này đã hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, phục hồi rừng, phát triển kinh tế xã hội Đặc biệt, Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW) đã ký kết xây dựng một dự án phát triển kinh tế xã hội tổng hợp tại các xã vùng đệm nhằm giảm các áp lực tới Vườn Quốc gia

Đặc điểm dân tộc:

Bảng 1.7 Thành phần dân tộc các xã khu vực Vườn Quốc gia

Tổng nhân khẩu

(Nguồn: Ban quản lý Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng -2007 [1])

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng không chỉ nổi tiếng về tính dạng sinh học cao và những giá trị cảnh quan hang động; về mặt dân tộc ở Phong Nha cũng có nhiều đặc điểm đáng chú ý Đây là vùng nhiều tộc người khác

Trang 32

nhau như đã nói ở trên cùng sinh sống của 2 dân tộc chính là dân tộc Chứt và dân tộc Vân Kiều

1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là nơi hội tụ của nhiều loại động, thực vật của 3 miền Bắc - Trung – Nam và được coi là nơi có tính đa dạng sinh học cao vào bậc nhất của Việt Nam Theo những công bố khoa học cho thấy thực vật tại đây có mạch 152 họ, 876 loài, trong dó có 38 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 25 loài nằm trong Sách đỏ thế giới, 13 loài đặc hữu Việt Nam Hệ động vật có 140 loài thú thuộc 31 họ và 10 bộ; 302 loài chim, trong

đó có ít nhất 43 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 19 loài nằm trong Sách

đỏ thế giới; 81 loài bò sát lưỡng cư (18 loài trong Sách đỏ Việt Nam và 6 loài

Sách đỏ thế giới); 259 loài bướm; 72 loài cá, trong đó có 4 loài đặc hữu Việt Nam Linh trưởng có 10 loài linh trưởng, chiếm 50% tổng số loài thuộc bộ

linh trưởng ở Việt Nam, 7 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam

Vũ Quang Mạnh và cộng sự đã đưa ra danh sách 30 loài loài ve giáp (Acari) thuộc họ Oribatida ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng Những nghiên cứu của Ngô Anh, Trần Thanh Nhàn năm 2011 về nấm lớn ở vùng lõi của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã đưa ra danh sách 173 loài thuộc

53 chi, 26 họ, 17 bộ, trong đó có 2 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007),

đó là Cookeina tricholoma (VU), Tremella fuciformis (R), và một số loài Linh

chi quý hiếm có tiềm năng trong công nghệ sinh hoc.[3][10]

1.5 Khái quát về hang động

1.5.1 Các khái niệm về hang động

Thuật ngữ hang động thường được áp dụng để chỉ một khe hở tự nhiên, trong các loại đá khác nhau, đủ lớn để con người đi vào Thuật ngữ này mang tính chủ quan, chỉ dựa trên khả năng tiếp cận của con người, không dựa vào

Trang 33

quá trình hình thành, do đó thiếu khoa học Đến nửa sau thế kỷ 19, nhờ những tiến bộ trong thăm dò hang động của nhiều nhà khoa học trên thế giới, khái niệm về hang động mới dần chính xác và khoa học hơn (Alexander Klimchouk, 1998)[12] Một số khái niệm được chấp nhận và sử dụng hiện nay như:

-Theo hiệp hội hang động quốc tế, hang là sự mở rộng tự nhiên ở dưới các khối núi đá có chiều rộng đủ để con người đi vào

-Theo the National Park Service, hang có tổng chiều dài ít nhất 50 feel (khoảng 15m), chứa các vùng bóng tối hoặc chiều dài của các đoạn hang vượt quá chiều rộng của cửa ra vào

-Theo Federal Cave Resources Protection Act of 1988, USA – FCRPA, bất cứ chỗ trống, hốc, ngách, hoặc hệ thống các đoạn nối liền với nhau, xảy ra

tự nhiên bên dưới bề mặt của trái đất, trong một vách đá hoặc gờ đủ lớn để cho phép người đi vào, dù lối vào hình thành tự nhiên hoặc do con người tạo nên

Từ các khái niệm trên, thì hang động được hiểu là một hang, động kết nối với mặt đất thông qua lối vào, mà không xét đến hình thái, khích thước và nguồn gốc.[12]

Mặc dù, chưa có sự thống nhất về cách định nghĩa hang động giữa các quốc gia gia với nhau, nhưng khái niệm về hang động của hiệp hội hang động thế giới được chấp nhận và sử dụng rộng rãi bởi các hiệp hội hang động của nhiều quốc gia

Humphreys (2002), hang động được chia ra một số vùng sinh học khác biệt bao gồm: vùng cửa hang, vùng chuyển tiếp, và vùng tối Các vùng này tương ứng với chế độ ánh sáng và các điều kiện môi trường khác nhau Vùng cửa hang là khu vực có chế độ ánh sáng bình thường, thậm chí cây cối vẫn xảy ra quá trình quang hợp, nhiệt độ và ẩm độ thay đổi hàng ngày Vùng giáp ranh hay còn gọi là vùng chuyển tiếp (tranh tối, tranh sáng) là vùng cách xa

Trang 34

vùng cửa hang, ưu thế bởi các loài địa y và các loài tảo là những loài thích hợp với điều kiện ánh sáng yếu Nhiệt độ và độ ẩm vẫn có thể thay đổi, và ẩm

độ thường cao hơn so với bên ngoài Đi sâu hơn vào trong hang, ánh sáng

giảm tới 0, gọi là vùng tối Vùng tối nhiệt độ và ẩm độ gần như không biến

đổi.[16]

1.5.2 Hệ thống hang động ở Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng

Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng là một trong hai khu vực đá vôi lớn nhất thế giới Hệ thống động Phong Nha đã được Hội nghiên cứu hang

động Hoàng gia Anh (BCRA) đánh giá là hang động có giá trị hàng đầu thế

giới với 4 điểm nhất: có các sông ngầm dài nhất, có cửa hang cao và rộng nhất, những bờ cát rộng và đẹp nhất, những thạch nhũ đẹp nhất

Hệ thống hang động ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng bao gồm:

- Hệ thống Động Phong Nha: có 18 hang lớn nhỏ

- Hệ thống Hang Vòm: có 18 hang lớn nhỏ

Bảng 1.8: Hệ thống hang động ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

1 Hang Phong Nha Sơn Trạch 1992 7729 83

4 Hang Chà An Thượng Trạch 1992 667 15

5 Hang Thung Thượng Trạch 1994 3351 133

6 Hang én Thượng Trạch 1994,1997 2490 49

Trang 35

7 Hang Khe Tiên Thượng Trạch 1994 520 -15

8 Hang Khe Ry Thượng Trạch 1997,1999 18902 120 (+58-62)

9 Hang Khe Thi Thượng Trạch 1994 35 -20

10 Hang Phong Nha khô Thượng Trạch 1994 981 -

11 Hang Lạnh Thượng Trạch 2001,2005 4718 -101,9

12 Hang Dơi Thượng Trạch 2001 539 17,3

13 Hang Nước Nút Thượng Trạch 2003 2205 -

14 Hang Số đôi Thượng Trạch 2003 1124

16 Hang Cây Nghiến Thượng Trạch 2005 162 -52,5

17 Hang Lau Thượng Trạch 2005 481 22,3

18 Hang Mới Thượng Trạch 2005 408,2 -21,2

Hệ thống Hang Vòm 36063

19 Hang Vòm Thượng Trạch 1994 15870 145

20 Hang Đại cáo Thượng Trạch 1994 1645 28

21 Hang Duật Thượng Trạch 1994 3927 45

24 Hang Over Thượng Trạch 1997 3244 103(+93-10)

25 Hang Pyging Thượng Trạch 1992 845 -94

26 Hang Rục Caròong Thượng Trạch 1992 2800 45

27 Hang Klung Thượng Trạch 2005 1086 -73,3

28 Hang Kling Thượng Trạch 2005 120 -14,7

Trang 36

34 Hang Bin Đập Thượng Trạch 2005 64,4 -0,7

35 Hang Dơi Thượng Trạch 2005 86,4 17,3

36 Hang Nước Thượng Trạch 2005 83 -17,8

(Nguồn: Ban quản lý Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng -2007 [1])

Hiện nay, rất nhiều hang động ở Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

đã và đang khai thác phát triển du lịch Hàng năm, đón hàng vạn khách du

lịch từ khắp nơi trên thế giới viếng thăm hệ thống hang động Những hoạt

động này tác động không nhỏ đến tài nguyên sinh vật trong hệ thống hang động của vùng

1.6 Tình trạng bảo tồn và các nhân tố ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

1.6.1 Tình trạng bảo tồn

Đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng và các hang động trong Vườn quốc gia và

vùng đệm hiện trong tình trạng tương đối nguyên vẹn, chưa bị tác động Các hoạt động khai thác đá ở rất xa, không ảnh hưởng đến những giá địa chất địa mạo của Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

Địa hình trong khu vực hiểm trở, khó xâm nhập, lại được tăng cường

bảo vệ nghiêm ngặt từ khi thành lập Vườn Quốc gia nên các tác động từ bên ngoài tới công tác bảo tồn đa dạng sinh học là không đáng lo ngại Hệ thống

đường trong Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được kiểm soát chặt chẽ

Trang 37

không bị ảnh hưởng tới công tác bảo tồn Đánh giá của UNESCO tại hội nghị thứ 29 cũng đã hoan nghênh nước chủ nhà làm tốt công tác bảo tồn Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, không để bị tác động xấu bởi các hoạt động

từ bên ngoài

Chưa có đầy đủ dữ liệu về xu hướng của các loài động thực vật Tuy nhiên quần thể của các loài đã có xu hướng ổn định và phát triển từ khi Vườn quốc gia được thành lập (năm 2001), cụ thể là các đàn Voọc Hà Tĩnh đã trở

về các sinh cảnh ở các vách núi có thể quan sát được ở trạm Trộ Mợng, các

điểm dọc đường 20

- Các hoạt động du lịch mới chỉ tổ chức ở động Phong Nha và động Tiên nằm sát ranh giới Vườn Quốc gia, nên ít tác động tới công tác bảo tồn của Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

- Trong Vườn quốc gia chỉ có một bản người Arem định cư sinh sống với trên 40 hộ gia đình Người Arem đã chấm dứt du canh du cư và đã được quy hoạch xây dựng nhà ở và các công trình, các vùng sản xuất Người Arem

đang tham gia tích cực trong công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của Vườn

Quốc gia

1.6.2 Các mối đe dọa đối với bảo tồn thiên nhiên

Hiện tượng săn bắt và khai thác lâm sản ngoài gỗ: Tuy ít ảnh hưởng

nhưng hoạt động này vẫn diễn ra trong Vườn Quốc gia, trong các năm qua lực lượng kiểm lâm Vườn Quốc Gia đã phát hiện và xử lý bình quân mỗi năm hơn

100 vụ vi phạm Nhiều loại lâm sản ngoài gỗ vẫn bị khai thác trái phép

Khai thác gỗ trái phép: Trước khi thành lập Vườn Quốc gia, các hoạt

động khai thác gỗ trái phép xảy ra tương đối phổ biến Các loài gỗ quý bị khai

thác trái phép thường là Huê Dalbergia tonkinensis và Mun sọc Diospyros Hiện

nay các hoạt động này đang ở mức đe dọa thấp đối với tài nguyên rừng Điều

Trang 38

này chứng tỏ những cố gắng bảo tồn của Ban quản lý Vườn quốc gia Tuy nhiên,

đây được coi là mối đe dọa tiềm năng

Xói mòn đầu nguồn và bồi lấp lòng hang động: Vùng đầu nguồn các hệ

sông suối chảy vào các hang động ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng có

xã Thượng Trạch, Tân Trạch và Trường Sơn, nhưng chỉ có đầu nguồn khu vực xã Trường Sơn là bị tác động bởi các hoạt động của con người Hiện nay, mối đe dọa này đang ở mức thấp, chưa ảnh hưởng tới sông suối ở các hang

động

Nhiễu loạn hang động dơi: Một số hang động bị tác động bởi các hoạt

động săn bắt dơi, khai thác phân dơi và du lịch

Chăn thả gia súc: Người dân sống trong Vườn Quốc gia vẫn chăn thả gia

súc trong rừng có thể tác động trực tiếp lên thảm thực vật, tái sinh rừng và tác

động gián tiếp tới động vật rừng

Du lịch: Trong tương lai, khi mở rộng vùng du lịch trong di sản và

khách du lịch tăng nhanh có thể sẽ gây ô nhiễm môi trường, nhiễu loạn sinh cảnh động vật, mua bán cây cảnh…

1.6.3 Các biện pháp bảo tồn thiên nhiên

Xác định ranh giới: Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng gồm vùng

đệm và vùng lõi, trong đó vùng lõi được bảo vệ nghiêm ngặt là 85.754ha đang được rà soát lại ranh giới và mở rộng thêm hơn 30.000ha và đóng cột mốc

bảo vệ

Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học: Bảo vệ rừng có sự

tham gia của cộng đồng thông qua việc xây dựng quy ước bảo vệ rừng, thành lập các tổ bảo vệ rừng thôn bản Các thôn bản sinh sống giáp với gianh giới Vườn Quốc gia đều có tổ bảo vệ rừng và tổ phòng cháy chữa cháy rừng do người dân tổ chức

Trang 39

Phục hồi rừng: Khoanh nuôi súc tiến tái sinh rừng tự nhiên trên diện

tích rừng đã bị tác động qua khai thác và nương rãy trước đây Bình quân hàng năm có biện pháp lâm sinh tác động khoanh nuôi khoảng 2000 ha

Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức: Tổ chức tuyên truyền ở 10

xã vùng đệm; xây dựng các tài liệu tuyên truyền, giáo dục cho người dân, khách du lịch và học sinh phổ thông

Quản lý đầu nguồn: Toàn bộ vùng đầu nguồn phía Tây dãy núi đá vôi

nằm giáp biên giới Việt Lào nằm trong di sản Vùng đầu nguồn phía Tây Nam Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là vùng rừng tự nhiên còn tương đối nguyên sinh, nằm trong hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn trong quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh và được bảo vệ theo quy chế rừng phòng hộ

Tổ chức du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái được quy hoạch cụ thể, và

Ban quản lý Vườn Quốc gia được giao quản lý các hoạt động du lịch sinh thái trong khu vực nên dễ dàng hơn trong việc kiểm soát các hoạt động ảnh hưởng tới Vườn quốc gia Nhiều hình thức du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng

đồng đã được tổ chức thực hiện như: thành lập đội thuyền vận chuyển du lịch

và các dịch vụ du lịch tại cộng đồng Vườn quốc gia thành lập một trung tâm

Du lịch Văn hóa Sinh thái quản lý các hoạt động du lịch Vườn Quốc gia xây dựng các quy chế cụ thể cho từng dịch vụ như quy chế đội thuyền, quy chế các dịch vụ chụp ảnh và các dịch vụ khác, quy chế đối với khách du lịch Trung tâm Du lịch có một đội môi trường chuyên làm vệ sinh và gom rác thải,

đồng thời bố chí khoảng 400 thùng rác trên các thuyền và tại các điểm du lịch

Các thuyền vận chuyển du lịch không được nổ máy trong các hang động

Phát triển ổn định kinh tế xã hội trong vùng:Chính quyền địa phương

và Vườn Quốc gia đã hỗ trợ định canh, định cư cho người dân bản Arem, xây dựng nhà cửa, trường học và cơ sở hạ tầng khác, quy hoạch đất canh tác cố

định và các hoạt động canh tác bền vững

Trang 40

CHƯƠNG II

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là các loài động vật không xương sống trong

hang động Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong năm 2014-2015

Đề tài được thực hiện trong thời gian 2014-2015

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực địa thu mẫu trong 2 đợt:

Thời gian còn lại, chúng tôi tiến hành thu thập tài liệu, phân tích mẫu,

xử lý số liệu và viết báo cáo

2.2.2 Địa điểm và phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành chọn và khảo sát một số hang động thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, Quảng Bình bao gồm: 21 hang động

Các hang động được chọn chia ra hai loại, bao gồm các hang động bị tác động bởi con người và các hang động tự nhiên

Bên trong mỗi một hang động được chia ra một số vùng sinh học khác biệt: ngoài cùng là vùng cửa hang, tiếp theo là vùng chuyển tiếp, và cuối cùng

là vùng tối Các vùng này tương ứng với chế độ ánh sáng và các điều kiện môi trường khác nhau Khảo sát được tiến hành ở cả ba vùng để xác định nơi

cư trú chính của động vật không xương sống ở trong hang

Ngày đăng: 26/02/2016, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ngô Anh, Trần Thanh Nhàn, 2011. Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài Nấm lớn ở vùng lõi của Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Tuyển tập báo cáo hội nghị toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ 4, 463-468 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài Nấm lớn ở vùng lõi của Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
4. Nguyễn Thị Định, 2011. Danh sách các loài giả bọ cạp ở Việt Nam. Tuyển tập báo cáo hội nghị toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, 97-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh sách các loài giả bọ cạp ở Việt Nam
5. Phạm Đình Sắc, 2005. Danh sách các loài nhện (Arachnida: Araneae) đã ghi nhận được ở Việt Nam. Tuyển tập báo cáo hội nghị toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ 4, 192-204 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh sách các loài nhện (Arachnida: Araneae) đã ghi nhận được ở Việt Nam
6. Pham Dinh Sac, 2015. Mô tả của ba loài nhện được công bố trên Tạp chí Quốc tế uy tín Zootaxa, 3909(1): 82pp (monograph, tháng 1 năm 2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả của ba loài nhện được công bố trên Tạp chí Quốc tế uy tín
7. Pham Dinh Sac, Nguyen Thi Dinh, Phung Thi Hong Luong, 2011. Preliminary study on biodiversity of cave spider in the Phong Nha – Ke Bang National park, Quang Binh province. Báo cáo khoa học hội nghị côn trùng học quốc gia. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 235-239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preliminary study on biodiversity of cave spider in the Phong Nha – Ke Bang National park, Quang Binh province
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
8. Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn, Marek Zabka, 2004. Danh sách bước đầu về các loài nhện nhảy (Araneae: Salticidae) ở Việt Nam. Tạp chí Sinh học, tập 26, số 3A, 48-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh sách bước đầu về các loài nhện nhảy (Araneae: Salticidae) ở Việt Nam
9. Thái Tần Bái, 2009. Giáo trình Động vật học không xương sống. Nxb Giáo dục Việt Nam, 260-269 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Động vật học không xương sống
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
10. Vũ Quang Mạnh, Ngô Như Hải, Nguyễn Hải Tiến, 2011. Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Vườn Quốc gia Bến En (Thanh Hóa), Phong Nha-Kẻ Bàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ve giáp (Acari
12. Alexander B.Klimchouk & Kasjan, 2011. Speleogenesis: Evolution of kjarst aquifers. Journal of cave and Karst Studies, pp. 51-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Speleogenesis: Evolution of kjarst aquifers
13. Clausen I.H.S., 1986. The use of spiders (Araneae) as ecological indicators. Bull. Br. Arachnol. Soc. 7, 83-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The use of spiders (Araneae) as ecological indicators
14. Fet V., Sisom W.D., Low G., Braunwalder M.E., 2000. Catalog of the Scorpions of the World (1758-1998). The New York Entomological Society:657 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Catalog of the Scorpions of the World (1758-1998)
15. Francis G. Howarth, 1983. Ecology of cave arthropods. Annual reviews Entomol, 365-389 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ecology of cave arthropods
16. Humphreys, Wilkens F., 2002. Background and glossary. Ecosystems of the world. Subterranean ecosystems. Elsevier. 30, pp. 3-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Background and glossary. Ecosystems of the world. Subterranean ecosystems
17. Jon Mark Rowland, B.S., 1975. Classification, phylogeny and zoogeography of the American arachnids of the order Schizomida. Graduate faculty of Texas Tech University, 427 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Classification, phylogeny and zoogeography of the American arachnids of the order Schizomida
18. Kury, A.B., 2000. Classification of Opiliones. Museu Nacional/UFRJ website, http://www.museunacional.ufrj.br/mndi/Aracnologia/opiliones.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Classification of Opiliones
19. Li, S. Q. & X. P. Wang 2012. Endemic spiders in China. Online at http://www.ChineseSpecies.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Endemic spiders in China
20. Lorenzo Prendini, Ward C. Wheeler, 2005. Scorpion higher phylogeny and classification, taxonomic anarchy, and standards for peer review in online publishing. Cladistics 21, pp. 446–494 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scorpion higher phylogeny and classification, taxonomic anarchy, and standards for peer review in online publishing
21. Mark S. Harvey, 2003. Catalogue of the smaller arachnid order of the world. National library of Australia Cataloguing - in – Publication entry, 385 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Catalogue of the smaller arachnid order of the world
22. Nobuo Tsurusaki, 1995. Sungsotia uenoi gen. n., sp. n. (Arachnida, Opiliones, Phalangodidae), a Cavernicolous Harvestman from Northern Vietnam. Spec. Bull. Jpn. Soc. Coleopterol., Tokyo, (4), pp. 105-110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sungsotia uenoi gen. n., sp. n. (Arachnida, Opiliones, Phalangodidae), a Cavernicolous Harvestman from Northern Vietnam
23. Patrick Shaw, Martin Davis, 1999. Invertebrates from Cave on Vancouver Island. Proc. Biology and Management of Species and Habitats at Risk, Kamloops, B.C., Vol 1, pp.15–19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Invertebrates from Cave on Vancouver Island

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Loài Pholcus caecus sp.nov.[6] - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Hình 1.1. Loài Pholcus caecus sp.nov.[6] (Trang 17)
Hình 1.2. Loài Khorata protumida sp.nov[6] - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Hình 1.2. Loài Khorata protumida sp.nov[6] (Trang 18)
Hình 1.3. Loài Khorata protumida sp.nov. - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Hình 1.3. Loài Khorata protumida sp.nov (Trang 19)
Hình 1.4. Bản đồVườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng (ảnh:Sưu Tầm) - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Hình 1.4. Bản đồVườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng (ảnh:Sưu Tầm) (Trang 21)
Bảng 1.2: Kết quả quan sát khí hậu ở 3 trạm gần Vườn Quốc gia  Các yếu tố khí hậu  Trạm Tuyên - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Bảng 1.2 Kết quả quan sát khí hậu ở 3 trạm gần Vườn Quốc gia Các yếu tố khí hậu Trạm Tuyên (Trang 22)
Bảng 1.3: Thống kê các loại đất chính trong khu vực Vườn Quốc gia - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Bảng 1.3 Thống kê các loại đất chính trong khu vực Vườn Quốc gia (Trang 24)
Bảng 1.4: Diện tích các kiểu thảm thực vật và sinh cảnh - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Bảng 1.4 Diện tích các kiểu thảm thực vật và sinh cảnh (Trang 26)
Bảng 1.8: Hệ thống hang động ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Bảng 1.8 Hệ thống hang động ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Trang 34)
Hình 3.1: Hai loài bọ cạp mới cho khoa học phát hiện được ở Vườn Quốc - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Hình 3.1 Hai loài bọ cạp mới cho khoa học phát hiện được ở Vườn Quốc (Trang 54)
Bảng 3.2. Sự phân bố của các loài động vật không xương sống hang - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Bảng 3.2. Sự phân bố của các loài động vật không xương sống hang (Trang 55)
Hình 3.2: Một số hình ảnh sinh hoạt của người dân vùng đệm - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Hình 3.2 Một số hình ảnh sinh hoạt của người dân vùng đệm (Trang 61)
Bảng 3.4: Đánh giá về tác động của hoạt động du lịch với hệ đa dạng sinh - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Bảng 3.4 Đánh giá về tác động của hoạt động du lịch với hệ đa dạng sinh (Trang 63)
Hình 3.3: Hình ảnh về rác thải và thùng rác của Vườn Quốc gia Phong - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Hình 3.3 Hình ảnh về rác thải và thùng rác của Vườn Quốc gia Phong (Trang 65)
Hình 3.4: Hình ảnh về ánh sáng, lối đi trong hang động Thiên Đường- - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Hình 3.4 Hình ảnh về ánh sáng, lối đi trong hang động Thiên Đường- (Trang 66)
2. Bảng thống kê số lượng cá thể  động vật không xương sống trưởng thành thu được từ các hang  động khu - Khảo sát đa dạng sinh học động vật không xương sống trong hệ thống hang đọng vườn Quốc gia phong nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
2. Bảng thống kê số lượng cá thể động vật không xương sống trưởng thành thu được từ các hang động khu (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w