1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề trong quản lý dự án XDCB bằng vốn NSNN

41 296 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 278,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được vấn đề này mỗi năm, từ khoản chi Ngân Sách, Nhà nước ta luôn dành một tỷ lệ không nhỏ để đầu tư xây dựng cơ bản, phục vụ phát triển kinh tế.Kết quả của chính sách này đã t

Trang 1

Nhận thức được vấn đề này mỗi năm, từ khoản chi Ngân Sách, Nhà nước ta luôn dành một tỷ lệ không nhỏ để đầu tư xây dựng cơ bản, phục vụ phát triển kinh tế.Kết quả của chính sách này đã tạo ra hàng loạt những công trình đường quốc lộ, đường sắt, cầu cảng như quốc lộ 2, quốc lộ 1A, cầu Vĩnh Tuy, cầu Phú Mỹ…sắp tới sẽ xây dựng cầu Nhật Tân- cầu dây văng dài nhất Đông Nam Á.

Tuy nhiên vấn đề hiệu quả của các công trình XDCB từ vốn NSNN lại luôn là một vấn

đề được quan tâm nhắc tới khi hàng loạt các dự án bị chậm tiến độ, chất lượng yếu kém như dự án PMU18, dự án sập cầu Cần Thơ…Bên cạnh đó, sự quản lý lỏng lẻo nguồn vốn NSNN còn gây ra nạn tham nhũng đáng báo động

Để có thể nâng cao hiệu quả cho những dự án XDCB từ vốn NSNN, một trong những biện pháp là làm tốt công tác quản lý dự án.Từ những vấn đề này em xin được trình

bày “Một số vấn đề trong quản lý dự án XDCB bằng vốn NSNN” gồm 3 chương

-Chương I: Lý luận chung về quản lý dự án đầu tư XDCB bằng vốn NSNN

-Chương II: Thức trạng công tác quản lý dự án đầu tư XDCB bằng vốn NSNN theo nội dung

-Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả quản lý dự án đầu tư XDCB bằng vốn NSNN

Dù rất cố gắng trong những phân tích nhưng trước một đề tại rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực chắc chắn đề tài khó tránh khỏi những thiếu xót kinh mong cô giáo và các bạn đọc góp ý để cùng lảm rõ vấn đề

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 2

Một số vấn đề trong quản lý dự án đầu tư xây dựng

cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước Chương I: Lý luận chung về quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ

bản bằng vốn NSNN

1 Vốn NSNN

1.1 Khái niệm, vai trò của vốn NSNN

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Luật NSNN năm 2002)

Vốn NSNN là nguồn vốn được sử dụng từ NSNN, do Nhà nước phân bổ nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội nhất định

NSNN vừa là một phạm trù kinh tế, vừa là một phạm trù lịch sử.Sự hình thành và phát triển của ngân sách Nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ Nói cách khác sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ là tiền để cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách Nhà nước.Mới đầu, NSNN xuất hiện chỉ để thực hiện mục đích duy nhất là thỏa mãn những nhu cầu thu chi trong bộ máy Nhà nước, dần dà, NSNN đã trở thành một công cụ để phát triển kinh tế, quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân:

+ Điều tiết, phát triển kinh tế

Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền

Trước hết, Nhà sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo

mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững

Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp) Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn Thông qua

Trang 3

hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh

Góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát ,bình ổn giá cả thị trường hàng hoá: nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính chất chiến lược cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu, dự trũ quốc gia thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu của chính phủ kiềm chế lạm phát: cùng với nhân hàng trung ương với chính sách tền tệ thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ

+ Giải quyết các vấn đề xã hội

Góp phần giải quyết những khuyết tật của nền kinh tế thị trường như độc quyền, ngoại ứng, hàng hóa công cộng, thông tin bất đối xứng, phân phối lại thu nhập bằng các hình thức trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội,trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu,các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số,chính sách việc làm,chống

mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt…

Đặc biệt, nhà nước còn thể hiện vai trò định hướng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thông qua đầu tư XDCB.Đây là một trong những khoản chi chủ yếu, hàng năm của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cơ sở vật chất cần thiết cho phát triển kinh tế Hơn nữa, nguồn vốn Nhà nước lại là nguồn vốn chủ yếu nhất cho lĩnh vực đầu tư XDCB vì ở lĩnh vực này đòi hỏi quy mô tiền vốn rất lớn, thời gian xây dựng và thu hồi vốn dài nên không khuyến khích tư nhân bỏ vốn đầu tư.1.2 Cơ chế huy động, sử dụng vốn NSNN

- Cơ chế huy động

Thu ngân sách Nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo qui định của pháp luật; các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chi được đưa vào cân đối ngân sách Nhà nước

-Sử dụng: Chi ngân sách nhà nước chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện:

+ Đã có trong dự toán ngân sách được giao

+ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định+ Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền quyết định chi

Các ngành, các cấp, các đơn vị không được đặt ra các khoản thu, chi trái với quy định của pháp luật

Trang 4

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng.

Các khoản thu, chi của ngân sách nhà nước phải được hạch toán kế toán, quyết toán đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ

2 Dự án đầu tư XDCB bằng vốn NSNN

2.1 Khái niệm

Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới

Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định

Dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng một bộ phận của nguồn vốn ngân sách Nhà nước để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng với mục tiêu tạo cơ sở vật chất cần thiết cho phát triển kinh tế

Trong mỗi thời kỳ, tùy vào điều kiện lịch sử cụ thể và nhiệm vụ phát triển kinh tế

xã hội của đất nước mà nguồn vốn ngân sách Nhà nước bố trí cho đầu tư xây dựng cơ bản khác nhau

Dự án đầu tư XDCB cũng như một dự án nói chung bao gồm bốn thành phần cơ bản được minh hoạ qua sơ đồ sau đây:

2.2 Đặc điểm

-Dự án có mục đích, kết quả xác định

Dự án phải có kết quả được xác định rõ.Kết quả này có thể là một tòa nhà, một con đường, một sân bay.Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện.Mỗi nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập.Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án.Nói cách khác, dự án là một

hệ thống phức tạp, được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ khác nhau để thực

Hoạt động

Nguồn lực

Trang 5

hiện và quản lý nhưng đều phải thống nhất đảm bảo các mục tiêu chung về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao.

-Dự án có chu kỳ phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn

Dự án là một sự sáng tạo.Giống như các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển có thời điểm bắt đầu và kết thúc…Dự án không kéo dài mãi mãi.Khi dự án kết thúc kết quả dự án được chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản lý dự án giải tán

-Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo

Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt mà có tính chất khác biệt cao.Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại như kim tự tháp ở Ai Cập hay đê chắn lũ sông Themes ở London…Tuy nhiên, ở nhiều dự án khác, tính duy nhất ít rõ ràng hơn

và bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng.Nhưng điều khẳng định là chúng vẫn có thiết kế khác nhau, vị trí khác, khách hàng khác…Điêu ấy cũng tạo nên nét duy nhất, độc đáo, mới lạ của dự án

-Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án

Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước.Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau.Giữa các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau.Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mố quan hệ với các bộ phận quản lý khác

-Môi trường hoạt động “va chạm”

Quan hệ giữa các dự án là qua hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức.Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị…Trong quản lý, nhiều trường hợp, các thành viên ban quản lý

dự án lại có “hai thủ trưởng” nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp nào nếu hai lệnh lại mâu thuẫn nhau…Do đó, môi trường quản lý dự án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động

-Tính bất định và rủi ro cao

Trang 6

Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao.

Dự án đầu tư XDCB khi được xây dựng sẽ đem lại những hiệu quả kinh tế xã hội to lớn”

-Kết quả trực tiếp: công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng tạo điều kiện giao thông thuận lợi, phát triển kinh tế, kéo theo hàng loạt những dự án đầu tư khác khiến bộ mặt kinh tế quanh khu vực có công trình thay đổi

-Kết quả gián tiếp: tạo công ăn việc làm, nhiều ngành nghề mới phát sinh trong khu vực có công trình xây dựng được tạo nên, tạo cảnh quan đô thị

2.4 Chu kỳ, các chủ thể tham gia

-Chu kỳ của dự án

Chu kỳ của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt động

Trang 7

Sơ đồ 2 : Sơ đồ chu kỳ của dự án đầu tư

Chu kỳ một dự án đầu tư được thể hiện thông qua ba giai đoạn:

-Giai đoạn tiền đầu tư (Chuẩn bị đầu tư )

-Giai đoạn đầu tư ( Thực hiện đầu tư )

-Giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư (Sản xuất kinh doanh -sử dụng)

Mỗi giai đoạn lại được chia làm nhiều bước , ta có thể minh hoạ bằng sơ đồ sau đây

dự án -luận chứng kinh tế)

Đánh giá và quyết định(T hẩm định DA)

Đàm phán và

ký kết các hợp đồng

Thiết

kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình

Thi công xây lắp công trình

Chạy thử và nghiệm thu sử dụng

Sử dụng chưa hết công suất

Sử dụng công suất ở mức độ cao nhất

Công suất giảm dần và thanh lý

Sơ đồ 3: Các bước trong từng giai đoạn của chu kỳ dự án đầu tư

Có thể thấy trong ba giai đoạn thì giai đoạn tiền đầu tư tạo tiền đề và quyết định

sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau, đặc biệt là giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư Nội dung chủ yếu của giai đoạn tiền đầu tư là việc xây dựng dự án đầu

tư Trong đó vấn đề chất lượng , tính chính xác của các kết quả nghiên cứu tính toán

Thực hiện đầu tư

SX-KD-DV sử dụng

Ý đồ

DA mới

Trang 8

Đến giai đoạn thực hiện đầu tư thì vấn đề thời gian là vấn đề quan trọng hơn vì đây là yếu tố có ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến khả năng về vốn , thời cơ cạnh tranh của sản phẩm …

Giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư thì việc tổ chức quản lý phát huy tác dụng các kết quả của dự án là quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian tồn tại cuả

dự án , hiệu quả của quá trình vận hành…

Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã tập trung được dưới các hình thức: thuế, phí, lệ phí,…để đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hóa xã hội.Các khoản chi này có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.Với ý nghĩa đó người ta thường coi khoản chi này

là chi cho tích lũy

Chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi được ưu tiên hàng đầu trong tổng chi ngân sách nhà nước.Chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Nhà nước là quá trình sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tập trung vào ngân sách Nhà nước nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, từng bước tăng cường và hoàn thiện cơ

sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế.Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước được thực hiện hàng năm nhằm mục đích để đầu tư xây dựng các công trình, kết cấu

hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, các công trình không có khả năng thu hồi vốn

Trang 9

-Mục tiêu của quản lý dự án nói chung là hoàn thành các công việc dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép.

3.1.2.Đặc điểm chung của quản lý dự án đầu tư

Quản lý dự án có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất : Tổ chức dự án là một tổ chức tạm thời Tổ chức quản lý dự án được hình thành để phục vụ dự án trong một thời gian hữu hạn Trong thời gian tồn tại dự

án , nhà quản lý dự án thường hoạt động độc lập với phòng chức năng , sau khi kết thúc dự án cần phải tiến hành phân công lại lao động , bố trí lại máy móc thiết bị

Thứ hai :Quan hệ giữa nhà quản lý dự án với phòng chức năng trong tổ chức Công việc của dự án đòi hỏi có sự tham gia của nhiều phòng chức năng Người đứng đầu dự án và nhóm tham gia dự án là những người có trách nhiệm phối hợp mọi

Lập kế hoạch

-Thiết lập mục tiêu -Dự tính nguồn lực -Xây dựng kế hoạch

Giám sát

-Đo lường kết quả

-So sánh với mục tiêu

-Báo cáo

-Giải quyết các vấn đề

Điều phối thực hiện

-Bố trí tiến độ thời gian -Phân phối nguồn lực -Phối hợp các hoạt động -Khuyến khích động viên

Trang 10

nguồn lực , mọi người từ các phòng chuyên môn nhằm thực hiện thắng lợi mọi mục tiêu của dự án Nhưng trong thực tế giữa họ thường nảy sinh mâu thuẫn về vấn đề nhân sự , chi phí , thời gian và mức độ thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật

3.1.3 Tác dụng của quản lý dự án

Phương pháp quản lý dự án đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố như sự nỗ lực ,

tính tập thể , yêu cầu hợp tác…vì vậy nó có tác dụng rất lớn , dưới đây xin được trình bày một số tác dụng chủ yếu nhất

-Liên kết tất cả các công việc , các hoạt động của dự án

-Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên , gắn bó giữa nhóm quản

lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án

-Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia dự án

-Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán được Tạođiều kiện cho việc đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những bất đồng

-Tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn

Đối với những dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn ngân sách Nhà nước vai trò của quản

Trang 11

Do phạm vi nghiên cứu của đề tài có hạn nên xin phép chỉ trình bày những nội dung của quản lý dự án theo lĩnh vực, đó là:

-Lập kế hoạch tổng quan:

Lập kế hoạch tổng quan cho dự án là quá trình tổ chức dự án theo một trình tự logic, là việc chi tiết hóa các mục tiêu của dự án thành những công việc cụ thể và hoạch định một chương trình thực hiện những công việc đó nhằm đảm bảo các lĩnh vực quản lý khác nhau của dự án đã được kết hợp một cách chính xác và đầy đủ

-Quản lý phạm vi

Quản lý phạm vi dự án là việc xác định, giám sát việc thực hiện mục đích, mục tiêu của dự án, xác định công việc nào thuộc về dự án và cần phải thực hiện, công việc nào nằm ngoài phạm vi của dự án

-Quản lý thời gian

Quản lý thời gian là việc lập kế hoạch, phân phối và giám sát tiến độ thời gian nhằm đảm bảo thời hạn hoàn thành dự án.Nó chỉ rõ mỗi công việc phải kéo dài bao lâu, khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc và toàn bộ dự án bao giờ sẽ hoàn thành

-Quản lý chi phí

Quản lý chi phí của dự án là quá trình dự toán kinh phí, giám sát thực hiện chi phí theo tiến độ cho từng công việc và toàn bộ dự án, là việc tổ chức, phân tích số liệu và báo cáo những thông tin về chi phí

-Quản lý chất lượng

Quản lý chất lượng dự án là quá trình triển khai giám sát những tiêu chuẩn chất lượng cho việc thực hiện dự án, đảm bảo chất lượng sản phẩm dự án phải đáp ứng mong muốn của chủ đầu tư

-Quản lý nhân lực

Quản lý nhân lực là việc hướng dẫn, phối hợp những nỗ lực của mọi thành viên tham gia dự án vào việc hoàn thành mục tiêu dự án.Nó cho thấy việc sử dụng lực lượng lao động của dự án hiệu quả đến mức nào

-Quản lý thông tin

Quản lý thông tin là quá trình đảm bảo các dòng thông tin thông suốt một cách nhanh nhất và chính xác giữa các thành viên dự án và với các cấp quản lý khác nhau.Thông qua quản lý thông tin có thể trả lời ba câu hỏi: ai cần thông tin về dự án, mức độ chi tiết và các nhà quản lý dự án cần báo cáo cho họ bằng cách nào?

-Quản lý rủi ro

Trang 12

Quản lý rủi ro là việc nhận diện các nhân tố rủi ro của dự án, lượng hóa mức độ rủi ro

và có kế hoạch đối phó cũng như quản lý từng loại rủi ro

-Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán

Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán của dự án là quá trình lựa chọn nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ, thương lượng, quản lý các hợp đồng và điều hành việc mua bán nguyên vật liệu, trang thiết bị, dịch vụ…cần thiết cho dự án.Quá trình quản lý này

nhằm giải quyết vấn đề: bằng cách nào dự án nhận được hàng hóa và dịch vụ cần thiết của các tổ chức bên ngoài, tiến độ cung, chất lượng cung ra sao?

Quản lý thời gian

-Xác định công việc -Dự tính thời gian -Quản lý tiến độ

-Đảm bảo chất lượng -Quản lý chất lượng

Quản lý nhân sự

-Lập kế hoạch nhân lực, tiền lương

-Tuyển dụng, đào tạo -Phát triển nhóm

Quản lý thông tin

-Lập kế hoạch quản lý

thông tin

-Xây dựng kênh và phân

phối thông tin

-Báo cáo tiến độ

Quản lý hoạt động cung ứng, mua bán

-Kế hoạch cung ứng -Lựa chọn nhà thầu cung ứng

-Quản lý hợp đồng, tiến

độ cung ứng

Quản lý rủi ro dự án

-Xác định rủi ro -Đánh giá mức độ rủi ro -Xây dựng chương trình quản lý rủi ro đầu tư

Trang 13

Có rất nhiều các mô hình tổ chức quản lý dự án.Tùy thuộc mục đích nghiên cứu mà phân loại các mô hình tổ chức dự án cho phù hợp.Căn cứ vào điều kiện năng lực của

cá nhân, tổ chức và căn cứ vào yêu cầu của dự án có thể chia hình thức tổ chức quản lý

dự án thành hai nhóm chính là hình thức thuê tư vấn quản lý dự án và hình thức chủ đầu tư trực tiếp thực hiện quản lý dự án.Đối với những dự án đầu tư XDCB bằng vốn NSNN thì mô hình được dùng chủ yếu là mô hình chủ nhiệm điều hành dự án và mô hình chìa khóa trao tay

1 Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án.

- Chủ đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý dự án mà giao cho ban quản lý

dự án chuyên ngành hoặc thuê một tổ chức tư vấn quản lý có đủ điều kiện, năng lực chuyên môn phù hợp với quy mô, tính chất của dự án làm chủ nhiệm điều hành, quản

lý việc thực hiện dự án

-Chủ nhiệm điều hành dự án là một pháp nhân độc lập, có năng lực, có vai trò trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ quá trình thực hiện dự án

-Mọi quyết định của chủ đầu tư liên quan đến quá trình thực hiện dự án sẽ được triển khai thông qua tổ chức tư vấn quản lý dự án ( chủ nhiệm điều hành dự án)

Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án

2 Mô hình chìa khóa trao tay

Chủ đầu tư

Chủ nhiệm điều hành dự án

Tổ chức thực hiện dự án I

Tổ chức thực hiện dự án II

Thuê tư

vấn

Thuê tư vấn

Thuê nhà

thầu B

Trang 14

-Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khóa trao tay là hình thức tổ chức trong đó ban quản lý dự án không chỉ là đại diện toàn quyền của chủ đầu tư, chủ dự án mà còn

là “chủ” của dự án

-Hình thức tổ chức dự án dạng chìa khóa trao tay cho phép tổ chức đấu thầu, lựa chọn nhà tổng thầu (Ban quản lý dự án) để thực hiện toàn bộ dự án Từ khảo sát thiết kế, mua sắm vật tư, thiết bị, xây lắp cho đến khi bàn giao công trình đưa dự án vào khai thác, sử dụng Nhà tổng thầu phải có tư cách pháp nhân trong việc thực hiện

dự án

-Nhà tổng thầu có toàn quyền trong việc thực hiện dự án và phải chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật đối với việc thực hiện dự án

-Nhà tổng thầu được phép thuê nhà thầu phụ để thực hiện từng phần việc trong

dự án đã trúng thầu.Nhà thầu được thuê phải là một tổ chức quản lý dự án chuyên nghiệp

-Đối với các dự án sử dụng các nguồn vốn quy định tại Điều 10 và Điều 11 (Nghị định 12/2009/NĐ-CP, khi áp dụng hình thức chìa khoá trao tay chỉ thực hiện đối với các dự án nhóm C, các trường hợp khác phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép

- Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức nghiệm thu và nhận bàn giao khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng

-Mô hình chìa khóa trao tay thường áp dụng đối với những dự án lớn, có tính chuyên môn hóa cao, tính chất kỹ thuật phức tạp

-Chủ đầu tư không có đủ năng lực hoặc thiếu kinh nghiệm để thực hiện dự án

Tổ chức đấu thầu tuyển chọn

Thuê lại

Chủ đầu tư

Tổng thầu thực hiện toàn bộ dự án

Trang 15

Mô hình tổ chức dạng chìa khóa trao tay

Chương II: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dự

án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước

1 Tổng quan

Theo số liệu của tổng cục thống kê, chi từ ngân sách Nhà nước cho xây dựng cơ bản từ năm 2000 đến 2007 cụ thể như sau:

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng chi

Như vậy tổng vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản từ vốn NSNN từ năm 2000 đến năm

2007 là 480526 tỷ đồng, chiếm khoảng 27% chi ngân sách mỗi năm

Có thể thấy rằng khoản chi của NSNN cho hoạt động đầu tư XDCB là rất lớn vì thế nếu không quản lý tốt hoạt động này không những sẽ gây lãng phí mà còn không đem lại hiệu quả như mong muốn

Trang 16

-Đánh giá tổng quan:

Công tác quản lý đầu tư trong XDCB bằng vốn NSNN được thực hiện ở tất cả các dự

án với đầy đủ các khâu đã góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện dự án.Tuy nhiên rất nhiều dự án thực hiện chưa tốt công tác quản lý dự án dẫn đến dự án bị chậm tiến độ, chất lượng công trình sau khi hoàn thành chưa đảm bảo…Những hạn chế này chủ yếu

ở các lĩnh vực quản lý tiến độ, quản lý chi phí, quản lý chất lượng.Đây cũng là những khía cạnh chủ yếu trong quản lý dự án

2.Thực trạng hoạt động quản lý đầu tư XDCB theo các lĩnh vực quản lý tiến độ, chất lượng, chi phí.

2.1.Quản lý tiến độ

Trình tự các công việc thực hiện dự án trong quản lý dự án đầu tư XDCB được sắp xếp như sơ đồ sau:

Tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi ,

thiết kế kỹ thuật –tổng dự toán

Giám sát các nhà thầu thi công xây lắp

trong việc thực hiện tiến độ dự án

Trang 17

Quyết toán công trình

Theo đó thì quản lý tiến độ là quản lý về mặt thời gian thực hiện các công việc trên sao cho dự án đạt được hiệu quả cao nhất về mặt thời gian thực hiện phù hợp với điều kiện

đã có

Tiến độ dự án do phòng kế hoạch và phòng quản lý giám sát hoặc do các nhà thầu lập dựa trên đặc trưng cụ thể của từng dự án.Qua bảng tiến độ thi công dự án có thể tiến hành công tác kiểm tra giám sát của mình và kịp thời có những điều chỉnh cũng như các biện pháp xử lý khi cần thiết đối với các sai phạm do lỗi của các nhà thầu Phương pháp quản lý chủ yếu là qua sơ đồ GANTT và hệ thống các báo cáo tiến độ được theo dõi qua từng tuần ,tháng , quý , năm Đối với từng giai đoạn của dự án cán bộ giám sát tiến độ đều phải lập các báo cáo cụ thể,phòng kế hoạch sẽ tổng hợp và trình lên Ban giám đốc, nếu có các vấn đề phát sinh về tiến độ trong phạm vi quyền hạn của mình Ban sẽ đưa ra các hướng yêu cầu giải quyết

Trang 18

Nguồn : Báo cáo kế hoạch tiến độ dự án 4F – Khu đô thị Trung Yên

Trong các giai đoạn trên thì giai đoạn trình lên các cấp thẩm quyền thẩm định, phê duyệt, giai đoạn giải phóng mặt bằng là những giai đoạn có nhiều vướng mắc nhất, dễ xảy ra chậm tiến độ nhất

Ở giai đoạn phê duyệt, thẩm định:

Quy trình thẩm định, phê duyệt một dự án đầu tư XDCB:

Trang 19

Quy trình thẩm định và trình duyệtTrong nhiều dự án đã xảy chậm tiến độ do giai đoạn này ví dụ như : Dự án chuẩn bị quỹ đất hai bên đường tuyến phố Kim Liên -Ô Chợ Dừa có chủ trương đầu tư

từ năm 2003 nhưng đến năm 2004vẫn bị vướng về QHCT 1/500 do sở QHKT làm chủ đầu tư chưa được phê duyệt nên dự án đã lập không nộp thẩm định được , do đó tiến

độ dự án không đẩy nhanh lên được

Xin chủ trương đầu tư UBND thành phố QĐ

Xin phê duyệt chủ đầu

tư ,tư vấn ,vốn CBĐT

UBND thành phố QĐ

Lập dự toán vốn CB, lập tờ trình xin thẩm định vốn CB

Sở xây dựng thẩm định vốn CB

Ký hợp đồng đo đạc khảo sát , xin cắm mốc

giao đất

Sở TNMTNĐ, UBND thành phố QĐ

Lập quy hoạch tổng mặt bằng , phương án kiến trúc của dự án

Sở quy hoạch kiến trúc

Lập BCNCKT trình lên UBND thành phố HN

Sở KHĐT lập HĐTĐ

Trình BCNCKT bổ sung Sở KHĐT thẩm định

UBND thành phố QĐ đầu tư dự án

Trang 20

Hay dự án xây dựng hạ tầng phục vụ đấu giá quyền sử dụng đất tại đường 5 kéo dài (200) : ban quản lý dự án đã trình các cấp có thẩm quyền tờ trình xin được phê duyệt nhiệm vụ và vốn chuẩn bị đầu tư ở đây là thành phố Hà Nội, nhưng thành phố không giao và có chủ trương giao cho Quận thực hiện gây nên sự lãng phi về công sức cũng như thời gian ảnh hưởng đến các công việc khác.

Sở dĩ có sự chậm trễ như vậy là do các nguyên nhân sau:

-Tồn tại hiện tượng nhiều cửa , nhiều cấp quản lý rườm rà dẫn đến chậm trễ trong phê duyệt

-Năng lực của tư vấn còn hạn chế do đó chất lượng của các sản phẩm tư vấn không đảm bảo dẫn đến phải làm đi làm lại nhiều lần , kéo theo nó yêu cầu phải trình duyệt nhiều lần cũng là nguyên nhân chậm tiến độ

-Năng lực của các cán bộ tại các cơ quan chức năng có trách nhiệm còn hạn chế

-Cơ cấu tổ chức tại các cơ quan này còn chưa phù hợp , nhân sự còn thiếu dẫn đến sự quá tải công việc tại các cấp có thẩm quyền

Ở giai đoạn GPMB:

Có thể thấy rằng công tác GPMB trong các dự án XDCB ở Việt Nam luôn gặp phải những khó khăn vì thế công tác quản lý tiến độ trong khâu GPMB luôn được trú trọng

để dự án có thể theo kịp tiến độ đặt ra tuy nhiên vẫn còn khá nhiều bất cập mà chủ yếu

là do những người dân trong diện đền bù không cảm thấy thỏa đáng với mức đền bù được nhận, một phần do chính sách quy hoach đất sử dụng của Nhà nước nhưng phần lớn là do giá đất ở Việt Nam quá cao, thị trường thiếu minh bạch.Con đường Kim Liên – Hà Nội được mệnh danh là con đường đắt nhất hành tinh khi chỉ một đoạn đường dài hơn 1km, Nhà nước đã phải chi ra hơn 800 tỷ đồng để giải phóng mặt bằng Dự án cải tạo , sửa chữa 17 nhà gỗ phường Chương Dương Để hoàn thành dự án thì phải di chuyển một khối lượng lớn hộ dân đã xây dựng lấn chiếm gần hết xung quanh diện tích đất cuả dự án , nhưng công tác GPMB gặp khó khăn do số hộ tái định cư tăng thêm , việc bố trí lại các hộ phức tạp , kéo dài Hoặc dự án thu hồi chuẩn bị quỹ đất tại Cống vị : HTX đã giao đất , Ban đã tổ chức san lấp mặt bằng và bảo vệ tháng 12/2003 nhưng đến cuối năm 2004 vẫn chưa có tiền đền bù giải phóng mặt bằng cho HTX gây

Ngày đăng: 25/02/2016, 16:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3: Các bước trong từng giai đoạn của chu kỳ dự án  đầu tư - Một số vấn đề trong quản lý dự án XDCB bằng vốn NSNN
Sơ đồ 3 Các bước trong từng giai đoạn của chu kỳ dự án đầu tư (Trang 7)
Sơ đồ 2 : Sơ đồ chu kỳ của dự án đầu tư Chu kỳ một dự án đầu tư được thể hiện thông qua ba giai đoạn: - Một số vấn đề trong quản lý dự án XDCB bằng vốn NSNN
Sơ đồ 2 Sơ đồ chu kỳ của dự án đầu tư Chu kỳ một dự án đầu tư được thể hiện thông qua ba giai đoạn: (Trang 7)
Bảng 1:Tiến độ thực hiện dự án  đầu tư xây dựng công trình nhà ở phục vụ   các đối tượng chính sách lô 4F – Khu đô thị Trung Yên Cầu Giấy - Một số vấn đề trong quản lý dự án XDCB bằng vốn NSNN
Bảng 1 Tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình nhà ở phục vụ các đối tượng chính sách lô 4F – Khu đô thị Trung Yên Cầu Giấy (Trang 17)
Sơ đồ quản lý giám sát các nhà thầu của Ban quản lý dự án - Một số vấn đề trong quản lý dự án XDCB bằng vốn NSNN
Sơ đồ qu ản lý giám sát các nhà thầu của Ban quản lý dự án (Trang 22)
Bảng 3 : Bảng quy định mức tạm ứng vốn - Một số vấn đề trong quản lý dự án XDCB bằng vốn NSNN
Bảng 3 Bảng quy định mức tạm ứng vốn (Trang 35)
Bảng 4 : tình hình thực hiện nguồn vốn của BQLDA qua các năm - Một số vấn đề trong quản lý dự án XDCB bằng vốn NSNN
Bảng 4 tình hình thực hiện nguồn vốn của BQLDA qua các năm (Trang 37)
Bảng 7 : Tình hình thực hiện nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản của - Một số vấn đề trong quản lý dự án XDCB bằng vốn NSNN
Bảng 7 Tình hình thực hiện nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản của (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w