Hiểu được tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô, hầu hết các quốc gia đã giành nhiều chính sách ưu đãi, tập trung đầu tư với mongmuốn phát triển ngành ô tô trong nước mình.. Tổng qua
Trang 1MỞ ĐẦU
Ô tô được biết đến là phương tiện di chuyển và vận tải phổ biến nhất trên toàn thếgiới Chiếc ô tô chạy bằng động cơ xăng đầu tiên trên thế giới được chế tạo bởi CarlBenz một kỹ sư người Đức và là người tiên phong trong ngành công nghiệp ô tô, vàonăm 1885 tại thành phố Mannheim, Đức Trải qua lịch sử hình thành và phát triển hơn
100 năm, ngành công nghiệp ô tô đã đạt được những bước tiến mới về công nghệ, cảibiến hình thức, ngày càng làm cho ô tô trở nên thông dụng, tiện lợi, cũng như thể hiệnđược Gu thẩm mỹ hay đẳng cấp của người sử dụng Bên cạnh đó, ô tô là loại hàng hóa cógiá trị lớn về mặt kinh tế, và nó đem lại những khoản lợi nhuận kếch xù cho các nhà đầutư
Kinh tế ngày càng phát triển thì cầu về ô tô trên toàn thế giới sẽ còn tăngcao, đó là một xu hướng hiển nhiên Hiểu được tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô
tô, hầu hết các quốc gia đã giành nhiều chính sách ưu đãi, tập trung đầu tư với mongmuốn phát triển ngành ô tô trong nước mình Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, bên cạnh những ngành truyền thống thế mạnh đã có từ lâu như nôngnghiệp, dệt may, da giày,… Việt Nam cũng đã thực hiện các chiến lược phát triển ngànhcông nghiệp ô tô Các nguồn lực: vật lực, nhân lực đã được huy động, ngành đã đượcquan tâm, chú trọng phát triển, thế nhưng sau gần 20 năm thực hiện chiến lược phát triểncông nghiệp ô tô, những kết quả Việt Nam đạt được có lẽ không được nhiều như mongmuốn Vẫn còn đó những khúc mắc, những vấn đề khó khăn rất lớn Nhóm chúng emchọn đề tài “Quy hoạch ngành công nghiệp ô tô” với hy vọng sẽ nghiên cứu, tìm hiểu sâuhơn về ngành công nghiệp còn rất mới đối với Việt Nam này, đồng thời đóng góp những
ý kiến để mong tìm ra một hướng đi hợp lý cho Việt Nam trên con đường chinh phụcngành công nghiệp ô tô
I Tổng quan về ngành công nghiệp ô tô Việt Nam :
1.Vai trò của ngành công nghiệp ô tô đối với nền kinh tế quốc dân
Giao thông vận tải là một yếu tố cực kì quan trọng trong sự nghiệp phát triểnkinh tế của một đất nước, giúp cho hàng hoá được lưu chuyển dễ dàng từ một địa điểmnày đến một địa điểm khác, thúc đẩy sản xuất phát triển Cùng với sự phát triển vượt bậc
Trang 2về kinh tế xã hội, nhu cầu của con người ngày càng được nâng cao, do đó nhu cầu lưuthông hàng hoá và những đòi hỏi về đi lại ngày càng tăng Trong giai đoạn hiện nay, khi
xu thế toàn cầu hoá diễn ra ngày càng sôi động, người ta càng nhận thức rõ hơn tầm quantrọng của giao thông vận tải Có thể thấy rõ được ưu thế của ô tô và vận tải ô tô qua nănglực vận chuyển và khả năng cơ động, ô tô có thể hoạt động ở nhiều dạng địa hình, từđồng bằng cho đến miền núi, vận chuyển khối lượng lớn hàng hóa một cách thuận lợi
Ở nước ta, khi mà nền kinh tế đang chuyển đổi theo nền kinh tế thị trường có
sự điều tiết của Nhà nước, với những chính sách mở cửa, tham gia thương mại quốc tế đãgiúp nền kinh tế có những tiến bộ vượt bậc, nền sản xuất hàng hóa ngày càng tăng trưởngmạnh mẽ, khối lượng hàng hóa ngày một gia tăng Hàng hoá sản xuất ra phải sử dụngcác phương tiện chuyên chở để phân phối đến điểm đích cuối cùng và ngành vận tải ô tôgiúp cho quá trình lưu thông từ sản xuất đến tiêu dùng dễ dàng, thuận lợi, nhanh chóng
và tối ưu nhất Vì vậy, nếu phát triển công nghiệp ô tô sẽ góp phần làm tăng tốc độ pháttriển kinh tế của cả nước
Theo mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2011-2020 màĐảng và Chính phủ đặt ra trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiệnđại ,” Do vậy, muốn đảm bảo phát triển kinh tế lâu dài, trước hết phải phát triển giaothông vận tải và đặc biệt là giao thông đường bộ, kết cấu hạ Trong đó công nghiệp ô tôluôn được coi là khâu trọng tâm, cần phải đi trước một bước trong chiến lược phát triển
Trong Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg, ngày 23/4/2007 phê duyệt danh mụccác ngành công nghiệp ưu tiên, ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn 2007-2010, tầmnhìn đến 2020, do Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng ký khi đó cũng đã khẳng định rõvai trò và tầm quan trọng của ngành công nghiệp ôtô Theo đó, cả nước chỉ có 3 ngànhcông nghiệp mũi nhọn là cơ khí chế tạo (ôtô, đóng tàu, thiết bị toàn bộ, máy nông nghiệp,
cơ điện tử); thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin; sản phẩm từ công nghệmới (năng lượng mới, năng lượng tái tạo, công nghiệp phần mềm, nội dung số) Sau đó là
7 ngành công nghiệp ưu tiên gồm dệt may, da giày, nhựa, chế biến nông lâm thủy sản,khai thác chế biến bauxit nhôm, thép, hóa chất Các ngành công nghiệp mũi nhọn đượchưởng những ưu đãi cao hơn ngành công nghiệp ưu tiên
Trang 3Theo quan điểm của các chuyên gia cũng như Chính phủ cho rằng, ô tô làngành công nghiêp quan trọng Bởi công nghiệp ôtô vốn được coi là xương sống củangành công nghiệp Bởi công nghiệp ôtô hàm chứa rất nhiều những công nghệ cơ bảnnhư chế tạo máy, luyện kim, đúc, khuôn mẫu, vật liệu và điện tử Những công nghệ nàyhoàn toàn có thể áp dụng sang các lĩnh vực sản xuất khác và công nghiệp ôtô phát triển sẽthúc đẩy những ngành công nghiệp như điện tử, luyện kim, hoá chất, nhựa cùng pháttriển theo Bên cạnh đó, ngành công nghiệp ôtô phát triển sẽ tạo ra hàng triệu việc làmvới sự tham gia của nhiều doanh nghiệp Theo tính toán với quy mô thị trường khoảng500.000 xe/năm thì công nghiệp ôtô sẽ tạo ra khoảng hơn 1 triệu việc làm với sự tham giacủa hàng nghìn doanh nghiệp.
Công nghiệp ô tô là nguồn động lực cho phát triển các ngành công nghiệp khác.Một chiếc xe du lịch hiện đại có từ 20.000-30.000 chi tiết, và tính trên toàn thế giới thìngành công nghiệp ôtô tiêu thụ 77% cao su thiên nhiên, 50% cao su tổng hợp, 67% chì,40% máy công cụ, 25% thuỷ tinh, 64% gang rèn, 205 vật liệu bán dẫn Các linh kiện điện
tử đã chiếm tới hơn 30% trong giá trị chiếc xe, cao hơn cả giá trị của thép trong ô tô.Thực tế cho thấy sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô sẽ thúc đẩy và lôi kéo sự pháttriển của nhiều ngành công nghiệp khác Tại những quốc gia có ngành công nghiệp ôtôphát triển như CHLB Đức, giá trị công nghiệp ôtô mang lại chiếm khoảng 30% tổng giátrị toàn ngành công nghiệp và là ngành công nghiệp quan trọng số 1 của nước này TạiNhật Bản, Mỹ ngành công nghiệp ôtô cũng ngành quan trọng bởi những thế mạnh lâu dàicủa nó và đem lại hiệu quả cao về kinh tế - xã hội, đồng thời có ảnh hưởng tích cực đến
sự phát triển các ngành công nghiệp khác, Chính vì những tác động, tầm quan trọng màngành ô tô mang lại có thể coi ô tô là ngành công nghiệp rất quan trọng
2 Tác động của các yếu tố cần thiết đến phát triển ngành công nghiệp ô tô 2.1 Đánh giá điều kiện khí hậu :
•Toàn quốc hiện có hơn 218.500 km đường, riêng quốc lộ là 17.290 km.Là
cơ sở cho việc phát triển nền công nghiệp ô tô nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại củangười dân
Trang 4•Với tổng dân sồ lên tơi 86 triệu người thì nhu cầu đi lại là rất lớn.Đây là 1trong nhưng yều tố cần thiết đẻ phát triển ngành công nghiệp ô tô.Cũng là nguồncung cấp lao động dổi dào.
Với dân số đông, với lực lượng lao động trẻ dồi dào cùng với tỉ lệ tăng dân sốtrong thời gian tới, và dự báo thu nhập trên 1,200 USD/người trong năm 2010, VN đượcxem là quốc gia có nhu cầu tiêu dùng lớn, thị trường tiềm băng rất lớn trong khu vựcASEAN Có khoảng 1,6 triệu ô tô và 30 triệu xem máy lưu thông tại Việt Nam (số liệunăm 2010) Và đến năm 2020, nhu cầu đi lại tăng hơn 1,5 lần so với năm 2005
2.2 Ảnh hưởng của bối cảnh thế giới đến phát triển ngành công nghiệp ô tô
Mặc cho kinh tế toàn cầu tăng trưởng ảm đạm, doanh số bán xe trên khắp thế giớităng 5% trong nửa đầu năm nay Trong khi doanh số bán xe ô tô đang chậm lại ở cácnước phát triển thì thị trường ô tô ở các nền kinh tế mới nổi lại tăng trưởng nhanh chóng
Ví dụ như doanh số bán xe của Nga năm nay tăng 27% so với cùng kỳ năm ngoái
Các thị trường ô tô lớn trên thế giới cũng có những diễn biến trái chiều Vídụ:
• Nhật Bản: Sau khi hứng chịu thảm họa động đất và sóng thần vào
tháng Ba, doanh số bán xe hơi mới trong nước ở mức thấp kỷ lục vào tháng Bảynăm nay Tổng doanh số giảm hơn 23% với 273.058 chiếc
• Đức: Đức là thị trường xe hơi lớn nhất châu Âu và được coi là cái
nôi của ngành công nghiệp xe hơi Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp
ô tô của Đức đã cố gắng giữ thăng bằng bằng cách mở rộng sang các thị trườngmới nổi Thị trường lớn nhất của BMW là Trung Quốc Doanh số bán hàng củahãng tại nước này đã tăng 16,4% trong bảy tháng đầu năm 2011
• Pháp: Pháp là nhà sản xuất xe ô tô lớn thứ hai châu Âu Ngành ô tô
của nước này là động lực chính của nền kinh tế Pháp cũng là ngành sử dụng laođộng hàng đầu Doanh số bán xe tại Pháp trong tháng Bảy năm nay đã giảm gần6% so với cùng kỳ năm 2010 Đây là tháng thứ tư liên tiếp doanh số bán xe tạiPháp giảm Ngành công nghiệp xe hơi đang bị ảnh hưởng tiêu cực từ một cuộc suythoái kinh tế sau khi GDP nước này trong quý thứ hai gần như không tăng
Thái Lan :
Trang 5Trong ngành ô tô nổi lên như một trung tâm sản xuất trong khu vực với sự tích tụlớn của ngành công nghiệp phụ trợ với những định vị chiến lược rõ rang như “ cơ sở sảnxuất ô tô của châu Á mang lại giá trị cho đất nước với nền tảng cung cấp nội địa vữngvàng” Hiện các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản xem xét Thái Lan và Trung Quốc như các địađiểm được lựa chọn cho việc lắp ráp và sản xuất quy mô lớn ở Đông Á
2.3 Các yếu tố kỹ thuật, hệ thống giao thông đô thị
Căn cứ vào lý luận (thuyết thương mại mới do Paul Krugman - kinh tế giađược giải thưởng Nobel 2008 - đề xướng) cũng như thực tế mạng lưới phân công laođộng khu vực Đông Á đang hình thành có thể thấy hoạt động lắp ráp ô tô, ít ra là trongtương lai gần, không thể tập trung ở Việt Nam (vì quy mô thị trường - sức hấp dẫn tậptrung sản xuất tận dụng lợi thế tiết kiệm chi phí theo quy mô - không thể so sánh vớiTrung Quốc, Thái Lan)
Về mặt lý thuyết, công nghiệp lắp ráp là ngành có hàm lượng sử dụng lao độngcao (labor intensive), sẽ có khuynh hướng tập trung tới những nơi thị trường lao động cónguồn cung phong phú và chi phí tiền lương thấp Tuy nhiên công nghiệp lắp ráp ô tôViệt Nam vẫn kém phát triển do ngoài công nghiệp phụ trợ yếu, điều quan trọng hơn đốivới các nhà sản xuất là quy mô thị trường Việt Nam còn nhỏ do mức thu nhập thấp và hệthống hạ tầng kém phát triển, hạn chế điều kiện sử dụng ô tô Trong hai nguyên nhân hạnchế mở rộng quy mô thị trường nhu cầu ô tô thì điều kiện hạ tầng giao thông kém lànguyên nhân mang tính quyết định, cần nhanh chóng giải quyết “Quy hoạch mạng lướigiao thông quản lý phát triển đô thị trên toàn quốc gia” là nhằm hai mục đích, vừa kíchthích mở rộng quy mô thị trường tiêu dùng ô tô, vừa bảo đảm sự cân đối mật độ sử dụngphân tán đều, tránh bị tập trung cục bộ gây ách tắc giao thông
Sự gia tăng mật độ ô tô yêu cầu cơ sở hạ tầng cũng phải có sự phát triển tương xứng ở Việt Nam, giao thông đường bộ chất lượng quá thấp cản trở quá trình phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp ô tô nói riêng
Hiện nay nhiều nước châu á đã có hệ thống đường bộ cao tốc khá tốt như
Singapore, Malaysia, Hàn Quốc, Trung Quốc trong đó tỉ lệ chiều dài đường cao tốc so với chiều dài toàn mạng lưới đường giao thông tương đối cao Cụ thể như Singapore là 4,4%, Hàn Quốc 2,5% Trong khi đó Việt Nam chưa có đường cao tốc theo đúng nghĩa
Trang 6của nó Cả nước còn 602 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm Hơn nữa, Việt Nam còn thiếu trầm trọng các điểm đỗ xe và gara- được coi là hệ thống giao thông tĩnh không thể thiếu cho việc phổ biến phương tiện đi lại là ôtô.
Có thể nói, các thành phố của chúng ta hầu như chưa có điểm đỗ và nhà để xe cho
ô tô Những biệt thự có gara chiếm tỉ lệ rất nhỏ, nhiều người hiện nay đủ khả năng mua ô
tô song có khi lại không có chỗ để xe, hoặc có thì lại quá chật hẹp Mặt khác, hiện nay chúng ta đang xây dựng mới nhiều chung cư cao tầng, khi những cư dân của các khu chung cư này có xe ô tô thì nơi đậu đỗ xe sẽ là vấn đề rất cấp bách Muốn tăng số lượng
xe chúng ta cần cải tạo, mở rộng hệ thống đường xá, các bãi đỗ xe công cộng
II Thực trạng phát triển ngành công nghiệp ô tô trong nước:
1 Tình hình cung cấp ô tô trong nước
Ô tô nước ta được cung cấp từ hai nguồn chính là nhập khẩu và do các liên doanhlắp ráp và chế tạo ô tô trong nước cung cấp
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam thực sự hình thành và phát triển kể từ saunăm 1991 gắn liền với sự ra đời rầm của hầu hết các hãng xe nổi tiếng trên thế giới đượccấp phép thành lập liên doanh tại Việt Nam như Fiat, BMW, Mazda, GM Daewoo,Daihatsu, Toyota, Honda, Isuzu, Ford, Hino, Mercedes-Benz, Mitsubishi, Suzuki Chođến trước khi có mặt của các liên doanh lắp ráp ô tô, tại thị trường Việt Nam còn đanglưu hành 38.212 xe ô tô thuộc các thế hệ cũ như Gat, Lada, Zil, Volga Cụ thể, trong dó
có một số loại có số lượng đáng kể như : 10.590xe Zil, 9.898 xeuaz, 3720 xe Lada, 982
xe Gat, 2.373 xe Peugeot, 1887 xe Ford cũ, 1.759 xe Jeep, 1996 xe Paz… Như vậy, cácliên doanh có vai trò cực kỳ quan trọng trong bước đầu tạo dựng nên ngành công nghiệp
ô tô Việt Nam trong khi vai trò của các doanh nghiệp ô tô trong nước của Việt Nam là hếtsức mờ nhạt Nền tảng của các doanh nghiệp ôtô trong nước là những doanh nghiệp cơkhí lớn trước kia làm công việc sửa chữa đại tu xe, nay được bổ sung, nâng cao năng lựcsản xuất Các doanh nghiệp này hầu hết được tổ chức theo hướng chuyên môn hoá một sốchủng loại xe (xe tải, xe khách, xe chuyên dùng) với dây chuyền sản xuất đơn giản là gò,hàn, sơn, lắp ráp thiếu sự hợp tác lẫn nhau Trang thiết bị phần lớn lạc hậu Trừ một vàidoanh nghiệp có đầu tư lớn như Xuân Kiên, Trường Hải còn lại tổng giá trị tài sản mỗidoanh nghiệp không vượt quá 20 tỷ đồng
Trang 7Qua hơn 20 năm hình thành ngành công nghiệp ô tô, theo thống kê của Bộ CôngThương cho biết, cả nước đang có tới 397 DN tham gia lĩnh vực ô tô, trong đó có 51 DNlắp ráp ô tô (13 DN Nhà nước, 23 DN tư nhân và 15 DN có vốn đầu tư nước ngoài), 40
DN sản xuất khung gầm, thân xe, thùng xe, 210 DN sản xuất linh kiện phụ tùng và 97
DN sửa chữa Công suất thiết kế đạt 458.000 xe/năm, sản phẩm lắp ráp chiếm lớn nhất là
xe tải (46,9%), tiếp đến là xe dưới 9 chỗ (43%), xe khách (9,7%), xe chuyên dụng(0,4%)
Tổng nguồn vốn trung bình của các DN lắp ráp ô tô là 531,9 tỷ đồng; DN sản xuấtlinh kiện là 74,5 tỷ đồng; DN sản xuất khung, gầm xe là 51,2 tỷ đồng
Trong số các doanh nghiệp đang hoạt động , hiệp hội các nhà sản xuất ô tô ViệtNam quy tụ 17 doanh nghiệp như sau:
Công ty Liên doanh Hino Motors Vietnam Hino
Công ty Liên doanh Mercedes-Benz Vietnam Mercedes-Benz
Công ty TNHH ô tô Toyota Vietnam Toyota
Công ty ô tô Vietnam Daewoo (Vidamco) Daewoo, GM-Daewoo
Công ty Liên doanh ô tô Hòa Bình (VMC) Kia, Mazda, BMW
Công ty Liên doanh sản xuất ô tô Ngôi sao (Vinastar)Mitsubishi
Tổng công ty cơ khí GTVT Sài Gòn (Samco) Samco
Công ty ô tô Trường Hải Kia, Daewoo, Foton, Thaco
Tổng công ty máy động lực & máy nông nghiệp Việt Nam
Tổng công ty Công nghiệp than & khoáng sản Việt Nam
Tổng công ty công nghiệp ô tô Vinamotor, Tran sinco
2 Tình hình cung cấp và tiêu thụ ô tô:
Trang 8Thị trường ôtô tại Việt Nam rất yếu, giá bán xe lắp ráp rất ít bị quyết định bởi mốiquan hệ giữa cung và cầu Và tất nhiên, trong một môi trường “tuyệt vời” như vậy, giánày sẽ được đẩy lên cao để tối đa hóa lợi nhuận , Lý do đưa ra khả dĩ duy nhất là chiếnlược đầu tư dài hạn không hiệu quả đối với một thị trường tiềm năng như Việt Nam.Chính sách bảo hộ, trong trường hợp này, đã cho phép vốn đầu tư vẫn nhận được một sựtrả công cao, cho dù vẫn chưa được khai thác toàn bộ.
Tổng doanh số của các thành viên VAMA trong tháng 9/2011:
Đơn vị lắp ráp, phân phối Tháng 9/2011 (xe) Tháng 8/2011 (xe)
Trang 9nghiệp phát triển như Iveco Turbo Daily, BMW 325i, Mitsubisshi Pajero, Ford Laser,
Toyota Camry,…đã được các nhà sản xuất ô tô liên doanh với Việt Nam đưa vào nước ta,
đáp ứng phần nào nhu cầu các loại xe du lịch cho các cơ quan, công sở và các quan chức
Nhà nước
Thêm vào đó, những cơ sở sản xuất ô tô tại Việt Nam tỏ ra thiếu quan tâm đến các
loại xe thương dụng, đặc biệt là xe thương dụng chở hàng và chở khách sang trọng và
tiện nghi vừa phải, hợp với sức mua và giá cước vận tải ở Việt Nam Hầu hết hai loại xe
này vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài vào dưới hình thức xe đã qua sử dụng (dưới 4
năm) hoặc nhập khẩu sau đó đóng vỏ tại Việt Nam, gây lãng phí nguồn lực, ngoại tệ và
tạo điều kiện cho sự tồn tại của các xe thương dụng cũ kỹ ở Việt Nam Cho đến nay, mặc
dù Nhà nước đã có chính sách hạn chế và cấm nhập khẩu xe nguyên chiếc để dành thị
trường nội địa cho các liên doanh lắp ráp và chế tạo ô tô trong nước song số lượng xe
được tiêu thụ là xe nhập khẩu vẫn chiếm tỷ trọng lớn
Phân khúc xe hạng trung trầm lắng: theo tổng kết của Hiệp hôi các nhà sản xuất ô
tô Việt Nam, số lượng xe bán ra giảm sút, cụ thể trong 11 tháng 2010 chỉ bán được 88600
xe các loại so với 92136 chiếc cùng kì năm 2009.điều này xảy ra do nền kinh tế chịu ảnh
hưởng của khủng hoảng và việc Chính Phủ chấm dứt gói cầu từ tháng 1 năm 2010
Các loại xe siêu sang tiếp tục đổ bộ vào trong nước, các hãng xe như Toyota Việt
Nam, Ford Việt Nam, Mercedes hay Honda đều thực hiện việc nhập nguyên chiếc xe
mẫu mới Bên cạnh các dòng xe sang thì ô tô du lịch dưới 9 chỗ ngồi được nhập khẩu
nguyên chiếc trong 5 tháng đầu 2011 vào khoảng 18000 xe với giá trị 233 triệu USD,
mặc dù dòng xe du lịch dưới 9 chỗ ngồi là mặt hàng không được nhà nước khuyến khích
nhập khẩu Hàng loạt các chính sách, rào cản được thiết kế để kiềm chế lượng nhập khảu
như tăng giá tính thuế, nộp thuế tại cửa khẩu, không ưu đãi cho vốn hay ngọai tệ, xuất
trình giấy đăng ký kiểm tra chất lượng hay an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường
Bảng 7: Danh sách các công ty sản xuất, lắp ráp ô tô tại Việt Nam
(1)Tên gọi
(2) Số, ngày cấp giấy phép.
(3) Địa điểm
(1) Vốn đầu tư (2) Vốn pháp định
Công suất dự kiến (1) Các bên liên doanh
(2) Tỷ lệ góp vốn của phía Việt Nam
20.000.000
10.000 xe/năm(1)
- Seilo Machinary Co, Ltd (Nhật Bản)
- Sea Young Intl’Inc Ltd (Hàn Quốc)
- Nhà máy cơ khí Cổ Loa (Việt Nam)
Bắt đầu sản xuất từ năm 1992
Trang 10- Nhà máy SAKYNO (Việt Nam) (2) : 30%
(1) Công ty Liên Doanh ô tô Việt Nam
(VMC)
(2) 228/GP 19/8/1991
(3) Hà Nội
(1) 31.150.000 (2)
10.000.000
10.9000 xe/năm
(1)
- Columbia Motor Corp (Philipine)
- Imex-Pan Pacific (Philipine)
- Nhà máy ô tô Hòa Bình (Việt Nam)
- Trancimex (Việt Nam).
- (2) :30%
Bắt đầu sản xuất từ năm 1992
(1) Công ty liên doanh ô tô Việt
Nam-Deawoo (VIDAMCO)
(2) 744/GP 11/12/1993
(3) Hà Nội
(1) 32.229.000 (2)
10.000.000
10.000 xe/năm(1) Deawoo Motor Corp (Hàn Quốc).
Nhà máy ô tô Z798 (Việt Nam).
(2) 35%
Bắt đầu sản xuất từ năm 1996
(1) Công ty Liên doanh ô tô
VINASTAR
(2) 847/GP, 23/4/1994
Sông Bé
(1) 50.000.000 (2)
16.000.000
9.600 xe/năm
Proton (Malaysia) Mitsubishi Corp (Nhật Bản) Mitshubishi Motor Corp (Nhật Bản) Vietrancimex (Việt Nam)
(2) 25%
Bắt đầu sản xuất từ năm 1995
(1) Công ty liên doanh MECEDES
BENZ Việt Nam
(2) 1205/GP, 14/4/1995
(3) Thành phố HCM, Đông Anh, Hà
Nội
(1) 70.000.000 Đợt 1: 40.000.000 (2)
15.000.000
11.000 xe/năm
(1) Daimler-Benz Việt Nam.
Investment Singapore Pte.Ltd (Singapore)
SAMCO (Việt Nam) Nhà máy ô tô 1/5 (Việt Nam) (2) 30%
Bắt đầu sản xuất từ năm 1996
(1) Công ty liên doanh DAIHATSU
Việt Nam
(2) 1260/GP, 14/4/1995
(3) Sóc Sơn, Hà Nội
(1) 10.000.000 (2)
8.485.000
3.600 xe/năm
(1) Astra Inter (Indonesia)
- Mitra Corp.(Indonesia).
Nhà máy ô tô 19/8(Việt Nam).
(2) : 34%
Bắt đầu sản xuất từ năm 1996.
(1) Công ty liên doanh SUZUKI Việt
Nam
(2) 1212/GP, 22/4/1995
(3) Biên Hoà, Đồng Nai
(1) 20.957.000 (2) 7.740.000
12.400 xe/năm
– SUZUKI Motor Corp (Nhật Bản) Nissho Iwai Co.,Ltd (Nhật Bản) VIKYNO (Việt Nam)
72.000.000
20.000 xe/năm
Ford Motor (Mỹ) Công ty Diezel Sông Công (Việt Nam) (2) 25%
99.500.000) (2)
30.000.000
17.000 xe/ năm
Chrysler Inter Corp (Mỹ)
- Nhà máy VINAPRO (Việt Nam)
42.140.000
20.000 xe/năm
Toyota Motor Corp Nhật Bản Kuo (Asia) Pte.Ltd (Singapore) Tổng công ty Máy Động Lực, Máy Nông Nghiệp (Việt Nam)
(2) 20%
Bắt đầu sản xuất từ năm 1996
Trang 11(1) Công ty Isuzu Việt Nam
(2) 16/GPĐT, 19/10/1995
(3) TP Hồ Chí Minh
(1) 50.000.000 (2)
15.000.000
23.600 xe/năm
Isuzu Copr (Nhật Bản)
- Itchu Corp (Nhật Bản)
- SAMCO (Việt Nam)
- GOVIMEX (Việt Nam) (2) 30%
4.983.000
2.200 xe/năm
Sin Bus Engineering Pte.Ltd (Singapore) Trancimex (Việt Nam)
4.983.000
1.760 xe/năm
4.983.000
3.600 xe/năm
Giãn tiến độ đến 12/2003
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
3 Khả năng cạnh tranh của ngành:
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam từ lâu đã được các chính sách bảo hộ che chởnhưng cho đến nay gần như không mang ý nghĩa nuôi dưỡng các doanh nghiệp tư nhânnội địa mà chỉ bảo hộ những nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam công nghiệp ô tô cũngnhư các ngành công nghiệp khác của Việt Nam không phát triển được là do những chínhsách công nghiệp đậm màu sắc “kinh tế kế hoạch” và thực hiện bằng những biện pháp hỗtrợ nặng tính “xin cho”
Quan sát sự thay đổi trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt về cả chiềurộng ( mọi chủng lạo ngành hàng) lẫn chiều sâu ( các công đoạn chế tạo một loại sảnphẩm) trong khu vực châu Á gần đây,cho thấy các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp ô
tô nội địa sẽ sớm bị cuốn trôi bởi trào lưu mậu dịch tự do đang dấy lên mạnh mẽ
Nước
dự báo 2011(triệu)
2010(triệu)
Ước tính tốc độtăng trưởng (%)
Trang 12Doanh số bán của một số nước trên thế giới
Bên cạnh đó khi nhìn vào nhà máy có công suất lớn nhất của Việt Nam là Toyota cũngchỉ có 20.000 chiếc/ năm, so với Trung Quốc là nhà máy đặt tại Thiên Luật với công suất280.000 chiếc/ năm và Quảng Châu là 170.000 chiếc/ năm, và hiện đang dự kiến xâythem nhà máy công suất 100.000 chiếc/ năm tại Trường Xuân Thái Lan hiện có 3 nhàmáy ở Bangkok với tổng công suất 630.000 chiếc/ năm
Với những con số chênh lệch như vậy, thử hỏi điều gì sẽ xảy ra khi sức ép cạnh tranhtheo những cam kết tự do hóa mậu dịch trong khu vực đang dần trở thành hiện thực.Theo hiệp định AFTA, thuế suất nhập khẩu các mặt hàng phụ tùng ô tô, xe máy ViệtNam từ cuối năm 2008 hầu hết chỉ còn dưới 5% Mặt khác, theo hiệp định CAFTA (tự dohóa mậu dịch giữa Trung Quốc và ASEAN), Việt Nam bắt đầu giảm thuế từ tháng 1-
2010 và tới cuối năm 2015 thì 90% số mặt hàng sẽ chỉ còn mức dưới 5%
Dưới tác động của những hiệp định tự do hóa mậu dịch, từ năm 2006 nhập khẩu phụ tùng
ô tô từ Thái Lan đã liên tục tăng, số lượng nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2000 cũng đãnhanh chóng bắt kịp mức nhập khẩu từ Thái Lan Mức nhập khẩu tăng nhanh từ nhữngnước láng giềng đã tác động mạnh đến ngành công nghiệp sản xuất phụ tùng ở Việt Nam.Đặc biệt trong số này, hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc chủ yếu là hàng giá rẻ, nhiềuchủng loại cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước
Bên cạnh sức ép cạnh tranh với phụ tùng ngoại nhập, một vấn đề nữa của ngành ô tô ViệtNam là sự ra đi của các nhà lắp ráp Trong tương lai không xa, khi không thể quá lạmdụng hàng rào thuế đối với xe nguyên chiếc nhập khẩu do phải mở cửa theo các cam kết