1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu chi ngân sách huyện Long Thành

90 523 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 892,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau này, khái niệm kiểm soát nội bộ được mở rộng trong một Công bố của Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ năm 1929: trong Công bố này kiểm soát nội bộ nhằm để bảo vệ tài sản nói chung chứ không

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đã gia nhập WTO (tổ chức thương mại thế giới) Sự cạnh tranh khốc liệt trong nền kinh tế thị trường, áp lực suy thoái kinh tế và những khó khăn nhiều chiều từ kinh tế, chính trị, xã hội Để hạn chế những rủi ro, phòng ngừa những sai phạm, tăng hiệu quả quản lý Các đơn vị quản lý, các doanh nghiệp ngày càng quan tâm nhiều hơn đến quản trị rủi ro và xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) nhằm hạn chế những sự cố,mất mát, thiệt hại, và tăng hiệu quả hoạt động của tổ chức

Khi nói đến hệ thống KSNB thường người ta hay nghĩ đến nó là thủ tục hệ thống tài chính – kế toán, những chính sách, thủ tục, phần mềm quản lý ghi nhận những nghiệp vụ kinh tế phát sinh, Và đây cũng là công cụ quản lý KSNB

Ngân sách huyện là quỹ tiền tệ tập trung của huyện, được hình thành từ các nguồn thu, và đảm bảo các khoản chi trong phạm vi huyện Có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng Ngân sách huyện là công

cụ quan trọng trong việc ổn định, phát triển kinh tế -xã hội trên địa bàn

Hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu, chi ngân sách cấp huyện Long Thành trong những năm qua đã có những chuyển biến tích cực Nhà nước đã ban hành những văn bản pháp qui, nghị định, thông tư, biểu mẫu hướng dẫn trong hoạt động thu – chi ngân sách các cấp ngày một hoàn thiện Kết quả thực hiện theo hệ thống KSNB đã góp phần quan trọng trong việc xử lý điều hành ngân sách có hiệu quả

Bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế vì hệ thống kiểm soát nội bộ được xây dựng bởi con người, vận hành theo ý chí chủ quan Có những rủi ro tiềm tàng và hiện hữu trong môi trường kiểm soát; hệ thống kiểm soát Đơn vị cũng chưa thường xuyên đánh giá và phân tích rủi ro để kịp thời đưa ra những giải pháp ngăn ngừa, hạn chế rủi ro Hệ thống thông tin chưa cập nhật đầy đủ và kịp thời; Việc giám sát chưa được thường xuyên, chưa chấn chỉnh kịp thời những sai phạm Do đó cần có một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu, vững mạnh sẽ giúp đơn vị quản lý tốt hơn, đạt được mục tiêu đã đề ra

Trang 2

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc chọn đề tài “ o n t n t n

k ểm soát nộ bộ đ vớ oạt độn t u – c n ân sác uy n Lon T n ”, để

có những giải pháp nhằm góp phần giải quyết được những tồn tại, hạn chế của hệ thống KSNB trong công tác thu – chi ngân sách huyện trong giai đoạn hiện nay

2 Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ của các đơn vị sự nghiệp như:

[1] Luận văn thạc sĩ Mai Thị Lợi ( năm 2008), tên đề tài “Tăng cường kiểm soát nội bộ thu- chi ngân sách nhà nước tại trường Cao đẳng Công nghệ tại trường Đại học Đà Nẵng” Đề tài nêu ra cơ sở lý luận về KSNB, chưa nêu ra được các chuẩn mực kiểm soát nội bộ trong 5 yếu tố Đề tài đã đưa ra những giải pháp hoàn thiện, nhưng đó là những giải pháp chung cho các trường Đại học, cao đẳng

[2] Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Phương Trâm (năm 2009) với tên

đề tài “ Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường cao đẳng sư phạm Trung ương TP.HCM” đề tài phân tích hệ thống kiểm soát nội bộ thuộc lĩnh vực giáo dục,

theo INTOSAI, hướng tiếp cận của đề tài là các quy trình kiểm soát của trường Từ

đó đưa ra giải pháp hoàn thiện Đề tài chưa thiết kế quy trình kiểm soát

[3] Luận văn thạc sỹ của tác giả Trần Thị Tài ( Năm 2010), tên đề tài “Tăng cường Kiểm soát nội bộ thu-chi ngân sách tại trường Đại học Quảng Nam” Đề tài

chưa nêu ra được cơ sở lý luận về hệ thống KSNB theo báo cáo COSO và INTOSAI Đề tài chưa đưa ra những thủ tục kiểm soát

[4] Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Hồng Thái ( Năm 2011) tên đề tài “ Một

số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của ngành y tế tỉnh Long An” Đề

tài phân tích hệ thống kiểm soát nội bộ theo lĩnh vực y tế Đề tài tiếp cận năm bộ phận cấu thành của báo cáo COSO 1992 chứ không tiếp cận theo chu trình nghiệp

vụ, do đó đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ ngành y tế tỉnh Long An và đưa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ dưới góc nhìn chung nhất, chưa đưa ra giải pháp cụ thể

[5] Luận văn thạc sỹ của tác giả Bùi Thanh Huyền ( năm 2011), tên đề tài

“Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại kho bạc nhà nước quận 10 TP.HCM –

Thực trạng và giải pháp thực hiện ” Đề tài tiến hành khảo sát và phân tích hệ thống

Trang 3

kiểm soát nội bộ của kho bạc theo báo cáo COSO và đưa ra giải pháp hoàn thiện hai

bộ phận thuộc hệ thống kiểm soát nội bộ là đánh giá rủi ro và thông tin truyền thông, chưa đưa ra giải pháp thuộc môi trường kiểm soát, hoạt động kiểm soát và giám sát

[6] Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thụy Minh Tâm (năm 2014), tên đề tài

“Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ cho đơn vị sự nghiệp có thu tại viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2”, đề tài phân tích hệ thống kiểm soát nội bộ trong lĩnh

vực công theo INTOSAI, đề tài chưa đưa ra thủ tục kiểm soát

Như đã nêu ra ở trên, đã có nhiều luận văn nghiên cứu liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ Tuy nhiên vẫn còn một số giải pháp chưa đưa ra được quy trình,

thủ tục chưa đủ, chưa sát với đơn vị Vì vậy nghiên cứu về đề tài : “ o n t n

t n KSNB đ vớ công tác thu – c n ân sác uy n Lon T n ” nhằm góp

phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng KSNB và tăng tính hiệu quả quản lý thu, chi ngân sách tại huyện Long Thành

3 Mục tiêu nghiên cứu :

Mục tiêu chung : Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công tác thu –chi ngân sách

Mục tiêu cụ thể như sau:

- Nghiên cứu tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ theo INTOSAI

- Hệ thống hoá lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công tác thu - chi ngân sách huyện

- Tìm hiểu và phân tích thực trạng hệ thống KSNB về công tác thu – chi ngân sách huyện Long Thành Để thấy những ưu điểm và tồn tại Và đây là thực tiễn quan trọng để nghiên cứu đề tài

- Qua nghiên cứu thực tiễn, tác giả xin đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn hiện hệ thống KSNB đối với hoạt động thu - chi ngân sách huyện Long Thành

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu : Hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công tác thu- chi

ngân sách huyện Long Thành

Trang 4

Phạm vi nội dung nghiên cứu : Nghiên cứu các nội dung hệ thống kiểm soát nội

bộ đối với hoạt động thu chi ngân sách huyện

Phạm vi không gian : Hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu –chi

ngân sách của huyện Long Thành

Phạm vi thời gian : Nghiên cứu các số liệu liên quan của hệ thống KSNB đối

với hoạt động thu-chi ngân sách qua các năm 2010-2014

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu định tính Cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Sử dụng phương pháp kế thừa, thống kê,tổng hợp, phân tích, suy luận Chương 2 : Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu- chi ngân sách huyện Long Thành

Sử dụng phương pháp phỏng vấn ( gửi bảng câu hỏi, điện thoại), thống

kê, mô tả, phân tích, tổng hợp, suy luận

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB về công tác thu-chi ngân sách huyện Long Thành

Để đưa ra phương hướng, giải pháp, kiến nghị Sử dụng phương pháp suy luận, tổng hợp

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn xác định được ý nghĩa quan trọng của công tác KSNB thu, chi ngân sách thông qua việc phân tích những cơ sở lý luận về HTKSNB; những mặt hạn chế, các nhân tố ảnh hưởng, các thủ tục KSNB và trình tự KSNB thu, chi NSNN Đây là đóng góp mới so với những công trình nghiên cứu trước đây về kiểm soát nội bộ, có ý nghĩa lý luận khoa học chung - Luận văn nêu thực tế về công tác KSNB thu, chi ngân sách tại huyện Long Thành, những mặt đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại của công tác KSNB thu, chi ngân sách tại địa phương, Luận văn cũng đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác kiểm soát nội

bộ thu, chi ngân sách tại địa phương để giảm thiểu những sai sót, gian lận, góp phần vào sự phát triển trong tương lai của huyện Long Thành Đây là ý nghĩa thực tiễn cần thiết của đề tài

7 ết cấu của đề tài

Trang 5

Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài gồm 3 chương :

C ươn 1 : Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ và nội dung quy trình

thu-chi ngân sách nhà nước huyện

C ươn 2 : Thực trạng về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu-

chi ngân sách huyện Long Thành

C ươn 3 : Giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB đối với hoạt động thu-chi

ngân sách huyện Long Thành

Trang 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KSNB VÀ NỘI DUNG QUY TRÌNH THU – CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HUYỆN

1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ

1.1.1 Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển SNB

1.1.1.1 G a đoạn trước 1992

Hình thức ban đầu của kiểm soát nội bộ là kiểm soát tiền, bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp Sau này, khái niệm kiểm soát nội bộ được mở rộng trong một Công bố của Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ năm 1929: trong Công bố này kiểm soát nội bộ nhằm để bảo vệ tài sản nói chung chứ không chỉ có kiểm soát tiền; đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động và khuyến khích tuân thủ các chính sách của nhà quản lý

Năm 1939, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã định nghĩa trong một công bố : “Kiểm soát nội bộ là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”

Đến những năm 1970, kiểm soát nội bộ đặc biệt được chú ý trong việc thiết kế

hệ thống kiểm soát nội bộ và vận dụng vào các cuộc kiểm toán

Vào năm 1977, Luật về chống hối lộ nước ngoài ra đời sau vụ tai tiếng chính trị Watergate, Quốc hội Hoa Kỳ đã phát hiện rất nhiều các hoạt động vận động tranh

cử trái phép và rửa tiền liên quan đến nước ngoài Lần đầu tiên, khái niệm kiểm soát nội bộ được đề cập trong văn bản pháp luật, nhấn mạnh việc kiểm soát nội bộ nhằm ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp cho nước ngoài

Năm 1979, SEC đưa ra bắt buộc các công ty phải báo cáo về kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán tại đơn vị của mình Trong thời gian này, yêu cầu về báo cáo kiểm soát nội bộ của công ty cho công chúng cũng là một chủ đề gây nhiều tranh cãi Một trong những quan điểm chống đối liên quan đến việc thiếu các tiêu chuẩn để đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ

Năm 1985, Uỷ ban COSO ra đời từ những tranh luận này, dưới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp, đó là: Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI),

Trang 7

Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA) Mỗi tổ chức này đã chỉ định một đại diện để lập ra Uỷ ban COSO - là một Uỷ ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trên báo cáo tài chính COSO đã

sử dụng chính thức từ kiểm soát nội bộ thay vì kiểm soát nội bộ về kế toán

1.1.1.2 G a đoạn từ 1992 đến nay

Sau một thời gian dài làm việc, vào năm 1992, COSO đã phát hành Báo cáo COSO, đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra Khuôn mẫu lý thuyết về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống Báo cáo này đã cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó kiểm soát nội bộ không chỉ là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho cả phương diện hoạt động và tuân thủ Báo cáo COSO đã đưa ra năm bộ phận của kiểm soát nội bộ, đó là: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát

Trên cơ sở đó, hàng loạt các nghiên cứu về KSNB ở nhiều lĩnh vực ra đời như:

-Phát triển về phía quản trị

Năm 2001, COSO triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM - Enterprise Risk Management Framework), theo đó ERM được định nghĩa gồm 8 bộ phận cấu thành: Môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát

-Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ

Năm 2006, COSO nghiên cứu và ban hành hướng dẫn “Kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính – Hướng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ” Hướng dẫn này vẫn dựa trên nền tảng của Báo cáo COSO 1992 và giải thích về cách thức

áp dụng kiểm soát nội bộ trong các công ty đại chúng quy mô nhỏ

-Phát triển theo hướng công nghệ thông tin

Năm 1996, Bản tiêu chuẩn có tên “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực có liên quan” (COBIT - Control Objectives for Information and Related Technology) do Hiệp hội về Kiểm soát và Kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA – Information System Audit and Control Association) ban hành COBIT nhấn mạnh đến hệ thống kiểm soát trong môi trường tin học, bao gồm

Trang 8

các lĩnh vực: hoạch định và tổ chức, mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát

-Phát triển theo hướng kiểm toán độc lập

Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ cũng chuyển sang sử dụng Báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống KSNB, bao gồm:

+ SAS 78 (1995): Xem xét KSNB trong kiểm toán BCTC

+ SAS 94 (2001): Ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét KSNB trong kiểm toán BCTC

Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA – International Standard on Auditing) cũng sử dụng Báo cáo COSO khi yêu cầu xem xét hệ thống KSNB trong kiểm toán BCTC

-Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ

Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ định nghĩa các mục tiêu của KSNB gồm:

+ Độ tin cậy và trung thực của thông tin

+ Tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định

+ Bảo vệ tài sản

+ Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn lực

+ Hoàn thành các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động và các chương trình

-Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể

Báo cáo Basel (1998) của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS – Basel Committee on Banking Supervision) đã đưa ra công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng (Framework for Internal Control System in Banking Organisations)

-Hướn dẫn về ám sát t n KSNB

COSO cũng đã đưa ra Dự thảo Hướng dẫn về giám sát hệ thống KSNB (Exposure Draft, COSO 2008) nhằm giúp các tổ chức tự giám sát chất lượng của hệ thống KSNB

“Nguồn: Bộ môn kiểm toán Trường Đại Học Kinh Tế TP HCM (2012, trang11)”

-Trong khu vực công

Trang 9

Đối với khu vực công, kiểm soát nội bộ cũng đặc biệt được quan tâm, nhất là đối với kiểm toán viên nhà nước

Vào năm 1992, Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (International

Organization of Supreme Audit Institutions - INTOSAI) đã ban hành “Hướng dẫn

về kiểm soát nội bộ dành cho khu vực công” Hướng dẫn này được cập nhật vào

năm 2001, công bố vào năm 2004 Đáng chú ý là tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của báo cáo COSO

Năm 1999, Cơ quan Kiểm toán Nhà nước Hoa Kỳ (Government

Accountability Office - GAO) đã ban hành “Chuẩn mực về kiểm soát nội bộ trong chính quyền liên bang” GAO đưa ra năm yếu tố về kiểm soát nội bộ bao gồm: các

quy định về môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát

Nhìn chung, so sánh với Báo cáo COSO 1992, các chuẩn mực kiểm soát nội

bộ trong khu vực công tập trung hơn vào các chức năng và đặc điểm của đơn vị nhà

nước và các quy định có tính quy chuẩn hơn là chỉ hướng dẫn

Để thực hiện chức năng kiểm soát, nhà quản lý sử dụng công cụ chủ yếu là KSNB tại đơn vị, Do vậy, trong hơn một thế kỷ qua, khái nhiệm về KSNB đã phát triển từ chổ được xem là một phương pháp giúp cho kiểm toán viên độc lập xác định phương pháp hiệu quả nhất trong việc lập kế hoạch kiểm toán đến chỗ được coi là một bộ phận chủ yếu của hệ thống quản lý hữu hiệu

- Khái niệm KSNB được bắt đầu sử dụng vào đầu thế kỷ XX trong các tài liệu

về kiểm toán, Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ Hoa

Kỳ đã xuất bản một loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong các cuộc kiểm toán

- Đến thập niên 1970, kiểm soát nội bộ được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống KSNB và vận dụng trong các cuộc kiểm toán, Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài 1977, các báo cáo của Cohen Commission và FEI (Financial Excutive Institute) đều đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán và KSNB, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) cũng đưa ra các điều luật bắt buộc các nhà quản trị phải báo cáo về hệ thống KSNB của tổ chức, Năm 1979, Hiệp hội kế toán viên công chứng

Trang 10

Hoa Kỳ (AICPA) đã thành lập một ủy ban từ vấn đặc biệt về kiểm toán nội bộ nhằm đưa ra các hướng dẫn về việc thành lập và đánh giá hệ thống KSNB

- Giai đoạn từ năm 1980 đến 1985, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ

đã tiến hành sàng lọc, ban hành và sửa đổi các chuẩn mực về sự đánh giá của kiểm toán viên độc lập về KSNB và báo cáo về KSNB, Hiệp hội kế toán nội bộ (IIA) cũng ban hành chuẩn mực và hướng dẫn kiểm toán viên nội bộ về bản chất của kiểm soát và vai trò của các bên liên quan trong việc thiết lập, duy trì và đánh giá hệ thống KSNB

- Từ năm 1985 về sau, sự quan tâm tập trung vào KSNB càng mạnh mẽ hơn, Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính (Treadway Commision) được thành lập năm 1985 Hoạt động này cũng đã đưa ra một loạt các vấn đề về KSNB, nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường kiểm soát, các quy tắc về đạo đức, các ủy ban Kiểm toán và chức năng của kiểm toán nội bộ, Vì thế ủy ban tổ chức đồng bảo trợ (COSO) của Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính đã được thành lập nhằm nghiên cứu KSNB:

+ Thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau

+ Cung cấp đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể đánh giá hệ thống KSNB để tìm ra giải pháp hoàn thiện

- Sau một thời gian dài làm việc, đến năm 1992, COSO đã phát hành Báo cáo năm 1992, Báo cáo COSO năm 1992 đã tạo lập một nền tảng lý luận cơ bản

về KSNB, Trên cơ sở đó, hàng loạt các nghiên cứu về KSNB ở nhiều lĩnh vực đã

ra đời như sau:

+ Phát triển theo hướng quản trị: năm 2001, dựa trên Báo cáo COSO 1992, COSO nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro của doanh nghiệp

+ Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: Báo cáo Basle 1998 của Uỷ ban Basle các Ngân hàng Trung ương công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng, dựa vào lý luận cơ bản của báo cáo COSO 1992 + Phát triển theo hướng quốc gia: nhiều quốc gia trên thế giới có khuynh hướng xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB, Điển hình là Báo cáo

Trang 11

COSO 1995 (Canada), báo cáo Turnbull 1999 (Anh), Các báo cáo này không có sự khác biệt lớn so với Báo cáo COSO 1992

1.1.2 hái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ

1.1.2.1 K á n m t n k ểm soát nộ bộ t eo báo cáo COSO 1992

Theo báo cáo COSO 1992:

Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị, các nhân viên của đơn vị, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện 3 mục tiêu:

- Báo cáo tài chính đáng tin cậy

- Các luật lệ và quy định được tuân thủ

- Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả

 K ểm soát nộ bộ l một quá trình

Các hoạt động của đơn vị được thực hiện thông qua quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát Để đạt được mục tiêu mong muốn, đơn vị cần kiểm soát các hoạt động của mình Kiểm soát nội bộ không phải là một sự kiện hay tình huống mà

là một chuỗi các hoạt động hiện diện trong mọi bộ phận, gắn chặt vào hoạt động của

tổ chức và là một nội dung cơ bản trong các hoạt động của tổ chức

 Con n ườ

Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người, đó là Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị Có thể nói kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi những con người trong tổ chức, bị chi phối bởi suy nghĩ và hành động của họ Chính con người sẽ vạch ra mục tiêu, đề ra biện pháp kiểm soát và vận hành chúng Một hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ có thể hữu hiệu khi từng thành viên trong tổ chức hiểu rõ trách nhiệm, quyền hạn của mình Vì vậy,

để kiểm soát nội bộ hữu hiệu cần phải xác định mối liên hệ, nhiệm vụ và cách thức thực hiện chúng của từng thành viên để đạt được các mục tiêu của tổ chức

 Đảm bảo ợp lý

Một hệ thống kiểm soát nội bộ dù tốt đến đâu cũng không thể tránh khỏi những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ, đó là do những sai lầm của con người khi đưa ra các quyết định, sự lạm quyền của nhà quản lý hoặc có thể là sự thông đồng của các cá nhân trong đơn vị

Trang 12

Do đó, kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý chứ không phải là

sự đảm bảo tuyệt đối

1.1.2.2 K á n m t n k ểm soát nộ bộ t eo ướn dẫn của INTOSAI

Kiểm soát nội bộ được INTOSAI định nghĩa như sau:

Kiểm soát nội bộ là một quá trình tích hợp được thực hiện bởi nhà quản lý và nhân viên trong tổ chức; nó được thiết lập để đối phó với các rủi ro và cung cấp một

sự đảm bảo hợp lý trong việc theo đuổi sứ mệnh của tổ chức nhằm đạt các mục tiêu chung

Trong định nghĩa này, có sáu khái niệm quan trọng cần làm rõ, đó là:

 Kiểm soát nội bộ là một quá trình tích hợp

Kiểm soát nội bộ không phải là một sự kiện hay một trường hợp riêng lẻ nào

mà là một chuỗi các hành động thâm nhập trong hoạt động của một thực thể, các hành động này xảy ra trong suốt quá trình hoạt động của tổ chức

Hệ thống kiểm soát nội bộ được đan xen với các hoạt động của một tổ chức và hiệu quả nhất khi nó được xây dựng như là một phần không thể thiếu của tổ chức

 Kiểm soát nội bộ chịu sự chi phối bởi nhà quản lý và các nhân viên

Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người, từ cấp lãnh đạo cao nhất đến tất cả các nhân viên trong tổ chức Chính họ sẽ đưa ra mục tiêu, thiết lập

cơ chế kiểm soát, vận hành và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ

là một công cụ được sử dụng bởi ban quản lý và liên quan trực tiếp đến mục tiêu của tổ chức Như vậy, ban quản lý là một yếu tố quan trọng của kiểm soát nội bộ Tuy nhiên, tất cả các nhân viên trong tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc làm cho nó vận hành

Trang 13

Thật vậy, kiểm soát nội bộ bị ảnh hưởng bởi bản chất con người Các hướng dẫn về kiểm soát nội bộ đều nhận thấy rằng mọi người trong tổ chức không phải lúc nào cũng luôn luôn hiểu, giao tiếp hoặc hành động một cách nhất quán Mỗi cá nhân mang đến nơi làm việc một nền tảng riêng, khả năng kỹ thuật riêng, có nhu cầu và các ưu tiên khác nhau Tuy nhiên, những điều này sẽ được khắc phục bởi hệ thống kiểm soát nội bộ để cùng hướng đến mục tiêu chung của tổ chức

 Trong việc theo đuổi sứ mệnh của tổ chức

Bất kỳ một tổ chức nào cũng đều quan tâm đến việc đạt được sứ mệnh của mình Trong khu vực công, mục đích của các tổ chức thường liên quan đến việc cung cấp dịch vụ và lợi ích công cộng

 Đối phó với những rủi ro

Để đạt được sứ mệnh của tổ chức sẽ luôn đối mặt với rất nhiều rủi ro Nhiệm

vụ của quản lý là nhận diện và đối phó với những rủi ro để tối đa hóa khả năng đạt được sứ mệnh của tổ chức

Kiểm soát nội bộ có thể giúp giải quyết những rủi ro này, tuy nhiên nó chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc thực hiện các nhiệm vụ và các mục tiêu chung

 Cung cấp sự đảm bảo hợp lý

Kiểm soát nội bộ không thể cung cấp một sự đảm bảo tuyệt đối cho nhà quản

lý về việc đạt được các mục tiêu chung Thay vào đó, các hướng dẫn thừa nhận rằng

chỉ có thể “đảm bảo hợp lý"

“Đảm bảo hợp lý” được hiểu là: tương đương với một mức độ đáng tin cậy

trong việc cân nhắc giữa chi phí, lợi ích và rủi ro

Đảm bảo hợp lý phản ánh quan điểm liên quan đến những rủi ro trong tương lai mà không ai có thể dự đoán chắc chắn Ngoài ra, các yếu tố ngoài tầm kiểm soát hoặc ảnh hưởng của tổ chức có thể ảnh hưởng đến khả năng đạt được mục tiêu của mình Hệ thống kiểm soát nội bộ dù chặt chẽ đến đâu cũng có thể bị phá vỡ bởi sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý Kiểm soát nội bộ có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra

 Đạt được các mục tiêu

Trang 14

Kiểm soát nội bộ là hướng tới việc đạt được một loạt các mục tiêu riêng biệt nhưng liên hệ với nhau về mục tiêu chung Những mục tiêu chung được thực hiện thông qua nhiều mục tiêu cụ thể, chức năng, quy trình, và các hoạt động Bao gồm các mục tiêu:

+ Thực hiện đúng kỷ luật, nội quy, tiết kiệm, hoạt động hữu hiệu và hiệu quả:

mục tiêu này liên quan đến tính hữu hiệu và hiệu quả trong hoạt động của đơn vị

+ Thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm: các tổ chức dịch vụ công cộng và cá nhân

trong nó phải chịu trách nhiệm cho quyết định của mình bao gồm việc quản lý công quỹ, sự công bằng, và tất cả các khía cạnh của hiệu suất Điều này sẽ được thực hiện bằng cách phát triển, duy trì và báo cáo các thông tin tài chính và phi tài chính phù hợp, kịp thời cho các đối tượng bên trong cũng như các đối tượng bên ngoài đơn vị

+ Tuân thủ pháp luật và các quy định hiện hành: Các tổ chức phải tuân thủ

pháp luật, các điều ước quốc tế và các quy định có liên quan Trong các tổ chức công cộng, pháp luật quy định việc thu, chi tiền công quỹ và cách thức điều hành

+ Bảo đảm nguồn lực không bị thất thoát, hư hỏng hoặc sử dụng sai mục đích:

Mục tiêu này có thể được xem là phần chi tiết hóa mục tiêu về hoạt động của đơn

vị, nhưng do đặc thù của khu vực công nên cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc

sử dụng nguồn ngân sách

Ngoài ra, INTOSAI còn nhấn mạnh việc bảo vệ các nguồn lực khác như thông tin, chứng từ và sổ sách kế toán là chìa khóa để đạt được tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các hoạt động của chính phủ, chúng cần được bảo tồn Tuy nhiên chúng cũng có nguy cơ bị đánh cắp, lạm dụng hoặc bị phá hủy

Bảo vệ những tài nguyên này đã thậm chí ngày càng trở nên quan trọng vì sự xuất hiện của hệ thống máy tính Thông tin nhạy cảm được lưu trữ trên máy tính có thể bị phá hủy hoặc sao chép, phân phối và bị lạm dụng, nếu không lưu ý để bảo vệ

Trang 15

1.1.3Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ theo INTOSAI

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ các bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ

1.1.3.1 Mô trườn k ểm soát

Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một tổ chức, nó chi phối ý thức kiểm soát của các thành viên trong tổ chức và là nền tảng đối với các bộ phận khác của kiểm soát nội bộ

Tất cả mọi người tham gia tổ chức, các nhà quản lý cũng như cán bộ nhân viên

có thể duy trì và chứng minh sự chính trực và giá trị đạo đức thông qua việc tuân

Trang 16

thủ các điều lệ, quy định và đạo đức về cách thức ứng xử của cán bộ công chức nhà nước trong mọi thời điểm Điều này có thể bao gồm việc công bố tài sản cá nhân, các vị trí bên ngoài và quà tặng, và báo cáo xung đột lợi ích

Ngoài ra, các tổ chức phải duy trì và chứng minh sự chính trực và giá trị đạo đức; họ phải cho công chúng nhìn thấy được nhiệm vụ và sứ mệnh của họ Ngoài ra,hoạt động của họ phải có đạo đức, có kỷ luật, kinh tế, hữu hiệu và hiệu quả Chúng phải phù hợp với nhiệm vụ của họ

b)Sự cam kết về năng lực của nhà quản lý và các nhân viên

Sự cam kết về năng lực bao gồm mức độ kiến thức và kỹ năng cần thiết để giúp đảm bảo kỷ luật, đạo đức, kinh tế, hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, cũng như

sự hiểu biết về trách nhiệm của mình liên quan đến kiểm soát nội bộ

Các nhà quản lý và nhân viên phải đảm bảo một mức độ năng lực cho phép họ hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển, thực hiện và duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt và thực hiện nhiệm vụ của mình để hoàn thành các mục tiêu kiểm soát nội bộ và nhiệm vụ của đơn vị Tất cả mọi người trong một tổ chức liên quan đến kiểm soát nội bộ đều có trách nhiệm cụ thể của mình

Do đó, các nhà quản lý và nhân viên của họ phải duy trì và thể hiện một mức

độ kỹ năng cần thiết để đánh giá rủi ro và giúp đảm bảo hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, và sự hiểu biết về kiểm soát nội bộ đủ để hoàn thành trách nhiệm của họ

c)Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà lãnh đạo

Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà lãnh đạo phản ánh thái độ, quan điểm, quy tắc ứng xử, sự độc lập, năng lực cũng như việc các nhà quản lý phải làm gương cho các nhân viên Triết lý quản lý và phong cách điều hành của các nhà quản lý sẽ có ảnh hưởng lớn đến môi trường kiểm soát và tác động đến việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị

Nếu nhà quản lý cao nhất tin rằng kiểm soát nội bộ là rất quan trọng, những người khác trong tổ chức sẽ cảm nhận được điều đó và sẽ phản ứng bằng cách cố gắng xây dựng hệ thống kiểm soát Ví dụ, việc tạo ra một đơn vị kiểm toán nội bộ là một phần của hệ thống kiểm soát nội bộ, đây là một tín hiệu mạnh mẽ của việc kiểm soát nội bộ Ngược lại, nếu các thành viên của tổ chức cảm thấy việc kiểm soát

Trang 17

không phải là một mối quan tâm quan trọng đối với nhà quản lý thì gần như chắc chắn rằng mục tiêu kiểm soát của tổ chức này sẽ không thể đạt được hiệu quả

d)Cơ cấu tổ c ức

Cơ cấu tổ chức bao gồm:

- Sự phân quyền và trách nhiệm

- Quyền hạn và trách nhiệm báo cáo

- Hệ thống báo cáo phù hợp

Cơ cấu tổ chức xác định quyền hạn và trách nhiệm của từng bộ phận trong tổ chức Một cơ cấu tổ chức phù hợp sẽ có tác động tốt cho môi trường kiểm soát; ngược lại, một cơ cấu tổ chức không phù hợp sẽ không đảm bảo các thủ tục kiểm soát Do đó, cơ cấu tổ chức phải được thiết kế sao cho có thể ngăn ngừa được sự vi phạm các quy định của kiểm soát nội bộ cũng như những hành vi che giấu sai lầm

và gian lận

Cơ cấu tổ chức có thể bao gồm một đơn vị kiểm toán nội bộ độc lập với các bộ phận khác và đơn vị kiểm toán nội bộ này cần báo cáo trực tiếp lên bộ phận quản lý cao nhất trong tổ chức

bộ có hiệu quả Điều này có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc phát triển tính chuyên nghiệp và thực thi chính sách minh bạch trong tổ chức; đặc biệt, trong vấn

đề tuyển dụng, đánh giá hiệu quả hoạt động và bổ nhiệm phải dựa trên thành quả công việc

1.1.3.2 Đán á rủ ro

Trang 18

a)Xác định rủi ro

Một cách tiếp cận chiến lược để đánh giá rủi ro phụ thuộc vào việc xác định rủi ro đối với các mục tiêu trong tổ chức Những rủi ro liên quan đến các mục tiêu của tổ chức sẽ được xem xét và đánh giá, từ đó tìm ra các rủi ro trọng yếu

Xác định rủi ro là một quá trình liên tục, lặp đi lặp lại và thường được thực hiện cùng với quá trình lập kế hoạch Điều này tạo điều kiện cho việc xác định các thay đổi trong hồ sơ rủi ro của một tổ chức phát sinh từ những thay đổi trong môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, những hoạt động bên trong hoặc bên ngoài và từ

sự thay đổi hoặc sửa đổi mục tiêu của tổ chức

b)Đánh giá rủi ro

Làm thế nào để xử lý rủi ro là điều cần thiết không chỉ để xác định nguyên tắc tồn tại của một loại rủi ro mà còn để đánh giá tầm quan trọng của nó và đánh giá khả năng các rủi ro có thể xảy ra

Một trong những mục đích chính của việc đánh giá rủi ro là để thông báo cho nhà quản lý về những lĩnh vực có rủi ro để có hướng ngăn chặn cũng như thực hiện các hoạt động kiểm soát theo thứ tự ưu tiên Đơn vị có thể sử dụng phương pháp định tính, định lượng hoặc kết hợp cả hai để đánh giá mức độ thiệt hại do rủi ro gây

Để xác định ngưỡng rủi ro có thể chấp nhận cần phải xem xét cả hai loại rủi

ro, đó là rủi ro vốn có và rủi ro còn lại Rủi ro vốn có là rủi ro đối với một thực thể trong trường hợp không có bất kỳ hoạt động quản lý nào có thể làm thay đổi khả năng xảy ra rủi ro hoặc ảnh hưởng của rủi ro Rủi ro còn lại là rủi ro của một hoạt

(Nguồn : tác giả tự tổng hợp)

Sơ đồ: 1.3 Các yếu tố đánh giá rủi ro

Trang 19

động, một sự kiện, một phương pháp hoặc một quá trình ngay cả khi những biện pháp đối phó rủi ro đã được áp dụng

Các ngưỡng rủi ro chấp nhận của đơn vị sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào việc nhận thức được tầm quan trọng của các rủi ro Ví dụ, tổn thất tài chính có thể chấp nhận được có thể thay đổi phù hợp với quy mô của ngân sách, nguồn gốc của sự mất mát Xác định các rủi ro chấp nhận được là một vấn đề chủ quan nhưng nó vẫn là một giai đoạn quan trọng trong việc xây dựng chiến lược rủi ro tổng thể

c)Phát triển các biện pháp đối phó rủi ro

Có bốn biện pháp đối phó với rủi ro: phân tán rủi ro, chấp nhận rủi ro, tránh né rủi ro và xử lý hạn chế rủi ro Trong một số trường hợp có thể áp dụng biện pháp phân tán rủi ro, chấp nhận rủi ro hoặc tránh né rủi ro Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp rủi ro phải được xử lý và cần phải thực hiện cùng với việc duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả để giữ rủi ro ở mức có thể chấp nhận được

Mục đích của việc xử lý không nhất thiết phải loại trừ hết rủi ro, nhưng nó phải có khả năng ngăn chặn các rủi ro Các thủ tục được thiết lập để xử lý rủi ro được gọi là các hoạt động kiểm soát nội bộ Đánh giá rủi ro nên đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn các hoạt động kiểm soát thích hợp để thực hiện Lưu

ý rằng nó không thể loại trừ tất cả các rủi ro và kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý rằng các mục tiêu của tổ chức đều đã đạt được Tuy nhiên, các đơn vị nên chủ động xác định và quản lý rủi ro thì tốt hơn là để nó xảy ra rồi mới tìm cách ứng phó

Trong việc thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ, điều quan trọng là các hoạt động kiểm soát được thiết lập phải tương xứng với rủi ro Ngoài các kết quả không mong muốn, bình thường hoạt động kiểm soát được thiết kế đủ để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý những tổn thất của tổ chức trong phạm vi rủi ro có thể chấp nhận được

Khi các điều kiện về kinh tế, chính sách của nhà nước, công nghệ, luật pháp thay đổi sẽ làm rủi ro thay đổi thì việc đánh giá rủi ro nên thường xuyên xem xét lại

để có sự đảm bảo rằng việc đối phó với rủi ro vẫn còn thích hợp để đạt được mục tiêu của tổ chức và kiểm soát hạn chế vẫn có hiệu lực dù rủi ro đã thay đổi theo thời gian

Trang 20

1.1.3.3 oạt độn k ểm soát

Hoạt động kiểm soát là các chính sách, các thủ tục được thiết lập để giải quyết các rủi ro và đảm bảo đạt được mục tiêu của tổ chức Để đạt được hiệu quả, hoạt động kiểm soát phải phù hợp, thống nhất theo kế hoạch trong suốt một thời kỳ, chi phí hiệu quả, đầy đủ, hợp lý và phải liên quan trực tiếp đến mục tiêu kiểm soát Hoạt động kiểm soát xảy ra trong toàn tổ chức, các cấp và trong tất cả các chức năng Chúng bao gồm một loạt các hoạt động kiểm soát phòng ngừa và kiểm soát phát hiện

Tuân theo các điều khoản của việc ủy quyền có nghĩa là nhân viên hành động theo chỉ thị, trong giới hạn được thiết lập bởi nhà quản lý và pháp luật

b)Phân công nhiệm vụ

Các nhân viên trong đơn vị phải được phân công công việc rõ ràng, chi tiết và nhất thiết phải tuân thủ nguyên tắc bất kiêm nhiệm Thay vào đó, nhiệm vụ và trách nhiệm phải được phân chia một cách có hệ thống nhằm đảm bảo các nhân viên có thể kiểm tra lẫn nhau Các chức năng chính thường là phê duyệt, ghi chép, xử lý và bảo quản; và một cá nhân không được thực hiện nhiều hơn một trong bốn chức năng này

Trang 21

Tuy nhiên, sự thông đồng có thể làm giảm hoặc triệt tiêu hiệu quả của hoạt động kiểm soát nội bộ này Một tổ chức nhỏ có thể có quá ít nhân viên để thực hiện đầy đủ thủ tục kiểm soát này Trong trường hợp này, nhà quản lý phải nhận thức được những rủi ro và thay thế bằng thủ tục kiểm soát khác như luân chuyển nhân viên giữa các bộ phận (đảm bảo rằng một người không xử lý toàn bộ nghiệp vụ trong thời gian dài) hoặc yêu cầu các kỳ nghỉ tạm thời (giảm thiểu rủi ro bằng cách đưa các công việc về một vòng quay tạm thời)

c)Kiểm soát quá trình xử lý thông tin

Kiểm soát quá trình xử lý thông tin đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kiểm soát Khi kiểm soát quá trình này đơn vị cần đảm bảo hệ thống chứng từ, sổ sách phải được kiểm soát một cách chặt chẽ và các loại nghiệp vụ phải được phê chuẩn một cách đúng đắn, hợp lý Ngày nay, khi khoa học công nghệ tiến bộ, việc kiểm soát quá trình xử lý thông tin được hỗ trợ ngày càng nhiều của chương trình máy tính, phần mềm Vì vậy, người ta chia kiểm soát quá trình xử lý thông tin thành: kiểm soát chung và kiểm soát ứng dụng:

Kiểm soát chung: Kiểm soát chung các chính sách và thủ tục áp dụng cho tất

cả hoặc một phần lớn của hệ thống thông tin của một thực thể nhằm đảm bảo cho các hệ thống này hoạt động liên tục và ổn định Kiểm soát chung bao gồm:

- Nhân rộng việc lập kế hoạch và quản lý chương trình bảo mật cung cấp một khuôn khổ và chu kỳ liên tục của hoạt động quản lý rủi ro, phát triển chính sách bảo mật, phân công trách nhiệm và giám sát đầy đủ của hoạt động kiểm soát thông tin

- Kiểm soát truy cập nhằm hạn chế hoặc phát hiện truy cập vào hệ thống thông tin (dữ liệu, chương trình, thiết bị và dịch vụ)

- Kiểm soát việc phát triển, bảo trì và thay đổi các phần mềm ứng dụng ngăn chặn các chương trình trái phép hoặc sửa đổi các chương trình hiện có

- Kiểm soát và giám sát việc giới hạn truy cập vào các chương trình mạnh mẽ

và các tập tin nhạy cảm, kiểm soát phần cứng máy tính và các ứng dụng an toàn được hỗ trợ bởi hệ thống

- Sự phân công nhiệm vụ ngụ ý rằng các chính sách, thủ tục và cơ cấu tổ chức được thành lập để ngăn chặn một cá nhân kiểm soát tất cả các khía cạnh quan trọng của hệ thống thông tin liên quan (ngăn ngừa các hành động trái phép)

Trang 22

- Kiểm soát tính liên tục của thông tin để đảm bảo rằng khi sự kiện bất ngờ xảy ra, những hoạt động quan trọng vẫn được tiếp tục mà không bị gián đoạn hoặc

sẽ nhanh chóng phục hồi và những dữ liệu quan trọng, nhạy cảm được bảo vệ

Kiểm soát ứng dụng: là các chính sách và thủ tục áp dụng cho một hệ thống

riêng biệt, cụ thể nhằm đảm bảo dữ liệu được nhập và xử lý một cách chính xác, đầy đủ cũng như phát hiện các dữ liệu không hợp lý hay chưa được sự xét duyệt của nhà quản lý Cụ thể, kiểm soát ứng dụng sẽ tập trung vào việc kiểm soát dữ liệu đầu vào, kiểm soát quá trình xử lý và cuối cùng là kiểm soát dữ liệu đầu ra

d)Kiểm soát đối với quyền tiếp cận tài sản

Việc tiếp cận tài sản và dữ liệu được giới hạn cho các cá nhân có thẩm quyền

và chịu trách nhiệm tạm giữ hoặc sử dụng các nguồn tài nguyên Trách nhiệm tạm giữ được chứng minh bằng sự tồn tại của biên lai, hàng tồn kho, hoặc các hồ sơ khác và ghi nhận rõ việc chuyển giao

Việc hạn chế quyền tiếp cận với các tài sản làm giảm nguy cơ sử dụng trái phép hoặc thiệt hại cho đơn vị và giúp đạt được chỉ thị quản lý Mức độ hạn chế phụ thuộc vào sự nhạy cảm của các loại tài sản và nhận thức rủi ro về mất mát hoặc sử dụng không đúng Khi xác định một tài sản nhạy cảm, nên xem xét tính di động và giá trị của nó

e)Kiểm tra –đối chiếu

Các giao dịch và sự kiện quan trọng nên được xác nhận trước và sau khi thực hiện, ví dụ như khi giao hàng, số lượng hàng hoá cung cấp được xác minh với số lượng hàng đề nghị Sau đó, số lượng hàng hóa ghi trên hóa đơn được xác minh với

số lượng hàng hoá nhận được

Những ghi chép trên sổ sách phải phù hợp với các tài liệu liên quan, ví dụ như các sổ sách kế toán liên quan đến tài khoản ngân hàng phải phù hợp với báo cáo ngân hàng

f)Đánh giá nhân viên

Hiệu suất hoạt động được đánh giá dựa trên một tập hợp các tiêu chuẩn, đánh giá tính hữu hiệu và hiệu quả Nếu việc đánh giá hiệu suất xác định rằng kết quả thực tế không đáp ứng được các mục tiêu, tiêu chuẩn đã được thiết lập thì các quá

Trang 23

trình và các hoạt động đã được thiết lập để đạt được các mục tiêu cần phải được cải tiến

Các quy trình và các hoạt động cần được xem xét định kỳ để đảm bảo rằng chúng phù hợp với các quy định hiện hành, chính sách, thủ tục, hoặc các yêu cầu khác

1.1.3.4 T ôn t n v truyền t ôn

Thông tin và truyền thông là rất cần thiết để thực hiện tất cả các mục tiêu kiểm soát nội bộ và đạt được mục tiêu của tổ chức

a)Thông tin

Một điều kiện tiên quyết để có thông tin đáng tin cậy và phù hợp là việc ghi chép nhanh chóng và phân loại thích hợp các giao dịch và các sự kiện Thông tin cần thiết phải được xác định, nắm bắt và truyền đạt trong thời gian cho phép để nhân viên thực hiện trách nhiệm kiểm soát nội bộ của họ và thông tin kịp thời cho các đối tượng khác

Khả năng nhà quản lý đưa ra quyết định thích hợp bị ảnh hưởng bởi chất lượng thông tin Các thông tin cần đáp ứng các yêu cầu như:

- Phải phù hợp: là những thông tin phù hợp với việc ra quyết định

- Phải kịp thời: thông tin phải cung cấp kịp thời, đúng thời điểm yêu cầu

- Phải cập nhật: thông tin phải mới nhất

- Phải chính xác: thông tin đúng

- Phải dễ tiếp cận: dễ dàng lấy được

Để giúp đảm bảo chất lượng thông tin báo cáo, tất cả các giao dịch và sự kiện quan trọng nên được ghi chép đầy đủ, rõ ràng; đặc biệt, tài liệu này phải luôn luôn sẵn có để kiểm tra

b)Truyền thông

Truyền thông là thuộc tính của hệ thống thông tin Truyền thông là việc trao đổi và truyền đạt các thông tin cần thiết tới các bên có liên quan cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp

Trong nội bộ đơn vị, các kênh thông tin từ trên xuống, từ dưới lên trên hay thông tin hàng ngang phải được thiết lập để đảm bảo rằng bất kỳ một cá nhân nào

Trang 24

trong đơn vị cũng hiểu rõ công việc của mình cũng như ảnh hưởng của nó đến việc đạt được các mục tiêu của đơn vị

Thông tin từ các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (nhà cung cấp, ngân hàng,

cơ quan quản lý nhà nước, khách hàng) cũng cần được thu thập, xử lý và báo cáo cho các cấp thích hợp để giúp doanh nghiệp có cách ứng xử kịp thời

Sơ đồ: 1.5 Các yếu tố Giám sát

Hệ thống kiểm soát nội bộ cần được theo dõi để đánh giá hiệu suất hoạt động của hệ thống theo thời gian Giám sát được thực hiện thông qua hoạt động giám sát thường xuyên, giám sát định kỳ hoặc kết hợp cả hai

Việc giám sát thường xuyên được thực hiện đồng thời trong các hoạt động hàng ngày của đơn vị; nó bao gồm việc giám sát, quản lý thường xuyên các hoạt động của nhân viên trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình Việc giám sát thường xuyên nhằm chống lại các hoạt động bất thường, phi đạo đức, thất thoát, lãng phí,

đe doạ sự hữu hiệu và hiệu quả của đơn vị Do đó, cần phải giám sát tất cả các hoạt động trong đơn vị và đôi khi còn áp dụng cả cho các đối tượng bên ngoài

Bên cạnh việc giám sát thường xuyên, các đơn vị cần có một cái nhìn khách quan, độc lập về tính hữu hiệu của toàn hệ thống Đó chính là sự đánh giá hệ thống định kỳ, giám sát định kỳ còn giúp đánh giá tính hữu hiệu của việc giám sát thường xuyên

1.1.4 Trách nhiệm về kiểm soát nội bộ theo INTOSAI

Trang 25

Theo INTOSAI, kiểm soát nội bộ chủ yếu được thực hiện bởi các bên liên quan trong nội bộ của một đơn vị bao gồm những nhà quản lý, kiểm toán viên nội

bộ và các nhân viên Tuy nhiên, hoạt động của các bên liên quan bên ngoài cũng tác động đến hệ thống kiểm soát nội bộ

1.1.4.1 Các n quản lý

Các nhà quản lý trực tiếp chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của một tổ chức, bao gồm việc thiết kế, thực hiện, giám sát hoạt động của đơn vị, duy trì và tài liệu hoá về hệ thống kiểm soát nội bộ Trách nhiệm của họ phụ thuộc vào chức năng của

họ trong tổ chức và đặc điểm của tổ chức

1.1.4.2 K ểm toán v ên nộ bộ

Kiểm toán viên nội bộ có nhiệm vụ kiểm tra và góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua các đánh giá và khuyến nghị của họ Tuy nhiên họ không có trách nhiệm chính trong việc thiết kế, triển khai, duy trì và tài liệu hoá về hệ thống kiểm soát nội bộ

1.1.4.3 Nhân viên

Kiểm soát nội bộ liên quan đến mọi thành viên trong một đơn vị Kiểm soát nội bộ là một nhiệm vụ ngầm hiểu hoặc rõ ràng của tất cả mọi người Tất cả các nhân viên đóng một vai trò trong việc thực kiểm soát và phải có trách nhiệm báo cáo về các hoạt động, các hành vi không tuân thủ hoặc vi phạm chính sách

1.1.5 Sự cần thiết và lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ

Trong một tổ chức bất kỳ, sự thống nhất và xung đột quyền lợi chung - quyền lợi riêng của người sử dụng lao động với người lao động luôn tồn tại song hành Nếu không có hệ thống kiểm soát nội bộ, làm thế nào để người lao động không vì quyền lợi riêng của mình mà làm những điều thiệt hại đến lợi ích chung của toàn tổ chức, của người sử đụng lao động? Làm sao quản lý được các rủi ro? Làm thế nào

Trang 26

có thể phân quyền, ủy nhiệm, giao việc cho cấp dưới một cách chính xác, khoa học chứ không phải chỉ dựa trên sự tin tưởng cảm tính?

Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ giúp đem lại các lợi ích sau cho đơn vị:

• Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính của đơn

cổ đông, một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ góp phần tạo nên sự tin tưởng cao của cổ đông Xét về điểm này, một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh

là một nhân tố của một hệ thống quản trị tổ chức vững mạnh

1.1.6 Mục tiêu – nhiệm vụ của hệ thống SNB

1.1.6.1 Mục tiêu của hệ thống KSNB

 Mục tiêu về hoạt động hữu hiệu và hiệu quả

 Mục tiêu về báo cáo

 Đối với mục tiêu tuân thủ

1.1.6.2 Nhiệm vụ hệ thống kiểm soát nội bộ

Để đạt được những mục tiêu trên thì hệ thống KSNB cần thực hiện 5 nhiệm

vụ sau:

-Bảo vệ tài sản và thông tin không bị lạm dụng và sử dụng sai mục đích

-Điều khiển và quản lý doanh nghiệp một cách hiệu quả

Trang 27

-Đảm bảo cho các quyết định và chế độ quản lý được thực hiện đúng thể thức và giám sát mức hiệu quả của các chế độ và các quyết định đó

-Ngăn chặn phát hiện các sai phạm và gian lận trong kinh doanh

-Lập báo cáo tài chính kịp thời, hợp lệ và tuân thủ các yêu cầu pháp định 1.1.7 Hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ

Các quá trình kiểm soát chỉ có thể đảm bảo tính hợp lý chứ không thể đảm bảo tuyệt đối cho các mục tiêu kiểm soát ở đơn vị trong đó có cả mục tiêu lập BCTC trung thực, hợp lý, bởi vì dù có được thiết kế một cách chặt chẽ như nào, hệ thống KSN cũng có những hạn chế cố hữu của nó:

- Chi phí cho hệ thống KSNB không vượt quá những lợi ích mà hệ thống đó mang lại Nếu như một hệ thồng KSNB cồng kềnh và tiêu hao nhiều chi phí quản lý thì nó có thể làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Do đó các nhà quản lý luôn phải cân nhắc giữa tính hợp lý của chi phí để duy trì một hệ thống KSNB

- Phần lớn các thủ tục KSNB thường được thiết lập cho các nghiệp vụ thường xuyên, lặp đi lặp lại hơn là các nghiệp vụ không thường xuyên, do vậy mà đôi khi

nó không thể giải quyết hoặc giải quyết không kịp thời những nghiệp vụ bất thường xảy ra

- Sai sót do con người thiếu chú ý trong việc thực hiện các nhiệm vụ kiểm soát, hoặc do không hiểu rõ các yêu cầu kiểm soát Con người chính là nhân tố chủ chốt trong việc thực hiện các quy trình HTKSNB nhưng không tránh khỏi những sai sót vô tình hoặc cố tình trong quá trình thực hiện như cẩu thả, không tập trung, thông đồng…

- Khả năng HTKSNB không phát hiện được sự thông đồng của các thành viên trong ban quản lý hoặc nhân viên với người ngoài đơn vị

- Khả năng người thực hiện nhiệm vụ kiểm soát lạm dụng quyền của mình dẫn đến những sai sót trong quá trinh thực hiện KSNB từ đó có thể gây ra những hậu quả cho doanh nghiệp

- Do những thay đổi về cơ chế , yêu cầu quản lý của chính phủ hoặc những điều kiện kinh tế bất thường xảy ra làm cho các thủ tục kiểm soát bị lạc hậu hoặc bị

vi phạm

Trang 28

1.2 Đặc điểm,mục tiêu, nội dung, quy trình SNB đối với hoạt động thu – chi ngân sách huyện

NSNN là hệ thống các mối quan hệ thu- chi giữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình NN huy động và sử dụng các nguồn tài chính , nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện chức năng quản lý , điều hành KT-XH thông qua dự toán, chấp hành

dự toán, quyết toán các nguồn thu, nhiệm vụ chi bằng tiền trong thời gian nhất định

thường là 1 năm

Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

(Nguồn : NSNN 2012)

Sơ đồ 1.6 : Kết cấu của N ân sác n nước

1.2.1 Đặc điểm SNB đối với hoạt động thu ngân sách huyện

-Đặc điểm của ngân sách huyện đó là chấp hành quá trình biến các chỉ tiêu thu, chi trong dự toán thành hiện thực với mục tiêu phát triển động viên khai thác nguồn thu, đảm bảo đạt và vượt dự toán giao đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính quyền cấp huyện được hoạch định trong dự toán chi tiết kiệm, hiệu quả

1.2.2 Mục tiêu NB đối với hoạt động thu ngân sách huyện

+ Phân loại các khoản thu một cách rõ ràng, tránh làm thất thoát , lãng phí và bảo toàn nguồn tài nguyên của quốc gia

Trang 29

+ Minh bạch hóa các khoản thu phục vụ cho quá trình thanh tra, kiểm tra của các cấp lãnh đạo

+ Ngăn chặn các sai phạm, gian dối trong quá trình thu, chi ngân sách

1.2.3 nội dung SNB đối với hoạt động thu-chi ngân sách huyện

-Kiểm tra, kiểm soát các điều kiện thu chi ( đúng MLNS, chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu-chi)

-Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ các chứng từ

-Kiểm tra, kiểm soát quy trình

1.2.4 Quy trình SNB đối với hoạt động thu – chi ngân sách huyện

a) Quy trình lập dự toán thu – chi ngân sách huyện

Lập dự toán ngân sách nhà nước là quá trình xây dựng/hình thành các khoản thu-chi cho mọi hoạt động, mọi chương trình của bộ máy nhà nước trên phạm vi toàn lãnh thổ từ cấp trung ương xuống cấp cơ sở

(Nguồn: Chu trình ngân sách Việt Nam)

Sơ đồ 1.7: Nguyên tắc cân đối dự toán thu chi

- Yêu cầu đối với lập dự toán ngân sách huyện:

+ Dự toán ngân sách phải tổng hợp theo từng lĩnh vực thu, chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển

+ Dự toán ngân sách phải lập theo đúng yêu cầu, nội dung, biểu mẫu và thời gian quy định

+ Dự toán ngân sách phải kèm theo báo cáo thuyết minh

+ Dự toán ngân sách cấp huyện và xã, thị trấn phải cân bằng thu, chi

- Căn cứ lập dự toán ngân sách huyện hàng năm:

+ Nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh; Chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch

+ Các luật, pháp lệnh thuế, chế độ thu; Định mức phân bổ ngân sách; Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do cấp có thẩm quyền quy định

Trang 30

+ Những quy định về phân cấp quản lý kinh tế-xã hội, phân cấp quản lý ngân sách

+ Việc lập dự toán trong kỳ ổn định ngân sách căn cứ vào tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức bổ sung cân đối từ ngân sách cấp tỉnh đã được giao; Đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào chế độ phân cấp ngân sách và dự toán thu, chi ngân sách huyện do UBND tỉnh giao

+ Số kiểm tra về dự toán ngân sách do Sở Tài chính thông báo

+ Tình hình thực hiện dự toán ngân sách một số năm trước

b) Quy trình chấp hành dự toán thu – chi ngân sách huyện

- Chấp hành thu ngân sách:

+ Chỉ có cơ quan tài chính, cơ quan thuế và cơ quan khác 8 được giao nhiệm

vụ thu ngân sách (gọi chung là cơ quan thu) được tổ chức thu NSNN

+ Cơ quan thu có nhiệm vụ, quyền hạn như sau: Phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan tổ chức thu đúng Pháp luật; Chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của UBND và

sự giám sát của HĐND về công tác thu ngân sách tại địa phương

+ Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách phải nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản nộp vào NSNN

- Chấp hành chi ngân sách:

- Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách: Sau khi UBND giao dự toán ngân sách, các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc Dự toán chi thường xuyên giao cho đơn vị

sử dụng ngân sách được phân bổ theo từng loại của Mục lục NSNN, dự toán chi đầu

tư phát triển giao cho chủ đầu tư được phân bổ theo nguồn vốn và dự án, công trình + Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên của ngân sách huyện bao gồm: Nguyên tắc quản lý theo dự toán; Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả; Nguyên tắc chi trực tiếp kiểm soát qua Kho bạc nhà nước

+ Nguyên tắc quản lý chi đầu tư phát triển của ngân sách huyện bao gồm: Nguyên tắc quản lý theo dự toán; Nguyên tắc hồ sơ, tài liệu, thủ tục của dự án, công trình phải đầy đủ và đảm bảo đúng quy định; Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc

nhà nước

Trang 31

c) KSNB Quyết toán thu – chi ngân sách

- Quyết toán ngân sách và báo cáo quyết toán ngân sách phải bảo đảm các nguyên tắc sau:

+ Số liệu quyết toán NSNN: Số quyết toán thu, chi NSNN là chính số liệu thu, chi đã thực hạch toán thu, chi NSNN qua Kho bạc nhà nước

+ Số liệu trong báo cáo quyết toán ngân sách phải chính xác, trung thực, đầy

Trang 32

ẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1 đã trình bày cơ sở lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ Theo hướng dẫn của INTOSAI thì một hệ thống kiểm soát nội bộ được cấu thành từ năm bộ phận:

- Môi trường kiểm soát

- Đánh giá rủi ro

- Họat động kiểm soát

- Thông tin và truyền thông trình

- Giám sát

Một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu là mong ước của bất kỳ một đơn vị nào, nó giúp đơn vị đó đạt được các mục tiêu đã đề ra Tuy nhiên, một hệ thống kiểm soát nội bộ dù được thiết lập chặt chẽ đến đâu cũng không tránh khỏi những hạn chế vốn có của nó Do đó, các nhà quản lý cần phải quan tâm để giảm thiểu những rủi ro từ những hạn chế này

Đồng thời tác giả trình bày nội dung, quy trình KSNB đối với hoạt động thu – chi ngân sách nhà nước, làm cơ sở, căn cứ đánh giá thực trạng quy trình KSNB đối với hoạt động thu chi ngân sách huyện Long Thành để làm nền tảng nghiên cứu chương tiếp theo

Trang 33

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG SNB ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THU – CHI NGÂN SÁCH HUYỆN LONG THÀNH

2.1 Tổng quan về huyện Long Thành-Đồng Nai

2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên-lịch sử

Long Thành là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Đồng Nai, về mặt địa lý huyện nằm ở vị trí trung tâm của vùng kinh tế động lực phía Nam gồm TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu, cách TP.HCM 60km, Biên Hòa 33km, Vũng Tàu 60km, Bình Dương 40km; phía đông giáp huyện Cẩm Mỹ và thị

xã Long Khánh; phía tây giáp huyện Nhơn Trạch và quận 9 TP Hồ Chí Minh; phía Bắc giáp TP Biên Hòa; phía Nam giáp huyện Tân Thành (Bà Rịa - Vũng Tàu) Điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng rất thuận lợi cho yêu cầu phát triển công nghiệp - thương mại - dịch vụ, hầu hết diện tích đất tự nhiên thuộc loại đất xám trên nền phù

sa cổ và đất ba-zan có kết cấu khá bền vững thuận lợi trong xây dựng cơ bản, phát triển công nghiệp Về khí hậu, Long Thành thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, hầu như không có bão và lũ lụt, có hệ thống hạ tầng kỹ thuật phát triển, là điểm giao lưu của các tuyến giao thông huyết mạch, Long Thành có đủ diều kiện thuận lợi để mời gọi, thu hút đầu tư thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

đô thị hóa trước một bước so với địa phương khác trong khu vực

Khi vào tiếp quản (28/4/1975), huyện Long Thành có 21 xã, diện tích 911km2 , dân số 170.000 người ( theo hồ sơ của chính quyền nguỵ làm năm 1970) Tháng 01-1976, huyện Long Thành và huyện Nhơn Trạch được sát nhập, lấy tên là huyện Long Thành Cơ cấu đơn vị hành chính của huyện gồm 01 thị trấn và 30 xã,

số dân trên 200.000 người Đến ngày 01/9/1994, huyện Long thành chính thức tách thành 2 huyện Long Thành và huyện Nhơn Trạch, huyện Long Thành gồm 01 thị trấn và 18 xã Trước ngày 01/4/2010 toàn huyện có diện tích tự nhiên 53,482ha, dân

số trên 282.000 người, có 19 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm 18 xã và 01 thị trấn) Thực hiện Nghị quyết số 05/NQ-CP ngày 05/2/2010 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Thành để mở rộng địa giới hành chính thành phố Biên Hòa, tách 04 xã cua huyện Long Thành chuyển giao về thành phố Biên Hòa Hiện nay, diện tích tự nhiên của huyện Long Thành còn lại 43.101ha, dân

Trang 34

số hơn 200.000 người, có 15 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm 14 xã và 01 thị trấn)

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

- Huyện Long Thành là địa bàn chịu nhiều thiệt hại trong chiến tranh, sau ngày đất nước thống nhất là huyện yếu kém về kinh tế Sau hơn 35 năm vượt qua những khó khăn, thử thách, nay đã trở thành huyện phát triển của tỉnh Đồng Nai

- Từ năm 1996 đến nay, cùng góp phần và sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh và cả nước, kinh tế huyện Long Thành phát triển theo chiều hướng thuận lợi, phát huy lợi thế về vị trí địa lý, đưa cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực trong cuộc sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Sự thay đổi tỷ trọng của các ngành trong cơ cấu kinh tế cũng cho thấy sự chuyển biến về cơ cấu kinh tế phát triển đúng hướng Nếu như trước năm 1990, tỷ trọng các ngành theo thứ tự công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ là 5% - 65% - 30% thì đến năm 2000 là 49% - 26% - 25% và đến năm 2013 là 59,92%- 6,89% - 33,2%; Tỷ trọng trên thể hiện cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn huyện Kinh tế phát triển trong những năm qua đã cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân trên địa bàn, bình quân thu nhập đầu người gia tăng đáng kể

- Về giáo dục: Huyện có 02 trường cao đẳng: Trường CĐ nghề khu vực Long Thành- Nhơn Trạch; trường CĐ nghề Lilama 2; có 04 Trường THPT, 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên, 14 trường THCS, 23 trường tiểu học và trên 24 trường mầm non mẫu giáo Công tác dạy và học được địa phương hết sức chú trọng, đã có nhiều học sinh, sinh viên đạt được các giải cao trong các cuộc thi trong khu vực và trong nước

- Về văn hóa - văn nghệ - thể thao: Hiện nay, huyện có 01 Trung tâm Văn hóa – Thông tin – thể thao huyện, 01 sân bóng, 01 Thư viện – Nhà truyền thống huyện,

11 Trung tâm Văn hóa thể thao – Học tập cộng đồng xã, 03 Nhà văn hóa dân tộc Huyện thường xuyên tổ chức các cuộc thi nhằm đào tạo tài năng âm nhạc như: Giọng hát hay huyện Long Thành; Hội thi Karaoke; Hội thi Hoa phượng đỏ… Về lĩnh vực thể thao, hàng năm tổ chức trên 15 giải thi đấu thể thao cấp huyện, ngoài ra còn phối hợp với các ban ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang trên địa bàn tổ chức

Trang 35

nhiều loại hình thể thao phong trào để tạo điều kiện cho cán bộ - công nhân viên chức, người lao động và nhân dân tham gia thi đấu để thực hiện tốt cuộc vận động

“Toàn dân rèn luyện theo gương Bác Hồ vĩ đại”

2.1.3 Cơ cấu tổ chức

Sơ đồ 2.1 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức huyện Long Thành

2.1.4 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

Cơ cấu cơ quan hành chính Huyện có : 15 đơn vị hành chính, gồm : 1 thị trấn : Long Thành, 14 xã : Lộc An, Long An, Long Phước, Tân Hiệp, Phước Thái, Phước Bình, An Phước, Tam An, Tam Phước, Long Đức, Bình Sơn, Bình An, Suối Trầu, Cẩm Đường, Bàu Cạn.13 cơ quan chuyên môn, gồm :

- Phòng Nội vụ - Lao động Thương binh và Xã hội : tham mưu, giúp UBND Huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nội vụ, lao động - thương binh và

xã hội

- Phòng Tài chính - Kế hoạch : tham mưu, giúp UBND Huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính, kế hoạch, đầu tư, đăng ký kinh doanh

- Phòng Giáo dục : tham mưu, giúp UBND Huyện thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông dân tộc bán trú; trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp cấp huyện

- Phòng Văn hóa - Thông tin - Thể thao : tham mưu, giúp UBND Huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, phát thanh, truyền hình

Trang 36

- Phòng Y tế : tham mưu, giúp UBND Huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân, gồm : y tế dự phòng, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, y học cổ truyền, thuốc phòng chữa bệnh cho người, mỹ phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, an toàn vệ sinh thực phẩm và trang thiết

bị y tế

- Phòng Tài nguyên và Môi trường : tham mưu, giúp UBND Huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường

- Phòng Tư pháp : tham mưu, giúp UBND Huyện thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, thi hanh án dân sự, chứng thực,

hộ tịch, trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở và các công tác tư pháp khác

- Phòng Kinh tế : tham mưu, giúp UBND Huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nông, lâm, ngư, định canh, định cư, kinh tế mới, khoa học công nghệ, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, du lịch và hợp tác xã

- Phòng Hạ tầng kinh tế : tham mưu, giúp UBND Huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kiến trúc, quy hoạch, xây dựng, vật liệu xây dựng, nhà ở và công sở, giao thông, bưu chính, viễn thông, điện lực

- Thanh tra Huyện : là cơ quan chuyên môn thuộc UBND Huyện, có trách nhiệm giúp UBND Huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính trong phạm vi quản lý nhà nước của UBND Huyện

- Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em : tham mưu, giúp UBND Huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dân số, gia đình và trẻ em

- Phòng Tôn giáo Dân tộc : tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân Huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo

- Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân : là cơ quan tham mưu, tổng hợp giúp HĐND và UBND Huyện như sau :

Tổ chức phục vụ hoạt động của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân và tham mưu một số công việc do Chủ tịch Hội đồng nhân dân giao

Trang 37

Tổ chức các hoạt động của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân trong chỉ đạo, điều hành các hoạt động chung của bộ máy hành chính nhà nước, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tổ chức điều hòa, phối hợp hoạt động của các cơ quan chuyên môn và Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp phường, xã để thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân; đảm bảo điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, tham mưu giúp Ủy ban nhân dân huyện về công tác ngoại

vụ, thi đua khen thưởng

2.1.5 Bộ máy quản lý n ân sác n nước uy n Lon T n

Chức năng quản lý NSNN ở huyện Long Thành thuộc Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Long Thành là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, chịu sự quản lý của UBND huyện Long Thành và sự quản lý về chuyên môn của Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai Là

cơ quan chuyên môn tham mưu giúp UBND huyện quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính ngân sách, kế hoạch và đầu tư, giúp UBND huyện xây dựng kế hoạch phát triển KT - XH, quốc phòng - an ninh hằng năm, 5 năm, 10 năm

2.1.5.1 Cơ cấu tổ c ức p òn T c ín kế oạc uy n Lon T n

(Nguồn tác giả tự tổng hợp)

Sơ đồ 2.2 : Cơ cấu tổ c ức p òn t c ín kế oạc

Phòng tài chính- kế hoạch huyện Long Thành gồm có 10 đồng chí, trong đó có

01 đồng chí trưởng phòng, 02 đồng chí phó trưởng phòng (01 đồng chí phó phòng phụ trách kế hoạch đầu tư, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội; 01 đống chí phó phòng phụ trách ngân sách xã, đấu giá đất đền bù giải phóng mặt bằng, quản lý tài sản công) và 7 chuyên viên, cán bộ giúp việc, phụ trách các công việc và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của phòng

Trang 38

Về trình độ chuyên môn, tất cả các cán bộ của phòng đều có trình độ đại học, Trưởng phòng là người phụ trách chung, trực tiếp phụ trách công tác tổ chức,

là người chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân huyện về mọi mặt hoạt động của phòng

Các phó trưởng phòng giúp trưởng phòng một số mặt công tác khi được trưởng phòng phân công giải quyết các công việc chung khi trưởng phòng đi vắng hoặc uỷ quyền

Các nhân viên, chuyên viên trực tiếp thực hiện các công việc cụ thể, các chức năng, nhiệm vụ của phòng được phân công theo sự sắp xếp của chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Cụ thể như sau:

+ 01 cán bộ theo dõi kế hoạch ngân sách xã,thị trấn, thanh tra tài chính, chuyên

quản các đơn vị hành chính sự nghiệp

+ 01 cán bộ theo dõi chuyên quản khối giáo dục, y tế trên địa bàn

+ 01 cán bộ theo dõi giá cả, theo dõi các công tác của hợp tác xã, quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội

+ 01 cán bộ theo dõi đấu giá quyền sử dụng đất, kho quỹ, các công tác và thủ tục đăng ký kinh doanh

+ 01 cán bộ theo dõi việc thu các loại quỹ, hàng xung quỹ nhà nước, công tác

kế toán văn phòng, chuyên quản các đơn vị hoạt động sự nghiệp

+ 01 cán bộ theo dõi việc thẩm định các dự án đầu tư, kinh doanh, thẩm định báo cáo công tác quyết toán xây dựng cơ bản, thẩm định dự toán các công trình, thẩm

- Hệ thống kế toán ngân sách huyện,bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

Trang 39

Các thủ tục kiểm soát được thiết lập phải dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: Nguyên tắc phân công, phân nhiệm rõ ràng, nguyên tắc bất kiêm nhiệm và nguyên tắc ủy quyền, phê chuẩn

Chứng từ kế toán áp dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp phải thực hiện theo đúng nội dung, phương pháp lập, ký chứng từ theo quy định của Luật Kế toán

và Nghị định số128/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ, các văn bản pháp luật khác có liên quan đến chứng từ kinh tế và

b)Hình thức kế toán áp dụng tại huyện Long Thành

Hình thức kế toán trên máy vi tính, bằng phần mềm kế toán, hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS)

Nguồn: Quyết định 19/QĐ-BTC

Sơ đồ 2.3 : Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán máy tính

Trang 40

2.2 Thực trạng SNB động thu- chi ngân sách huyện Long Thành năm

2010-2014

2.2.1 Môi trường kiểm soát

Theo quy định của UBND tỉnh Đồng Nai, nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách huyện bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách xã, được phân cấp như sau:

a)Nguồn thu của ngân sách cấp huyện:

- Đối với các khoản thu Ngân sách cấp huyện hưởng 100% gồm:

+ Thuế môn bài, trừ thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh ở xã, phường, thị trấn; Các khoản phí và lệ phí phần nộp ngân sách cấp huyện theo quy định của pháp luật do các cơ quan đơn vị thuộc cấp huyện nộp; Thu sự nghiệp phần nộp ngân sách cấp huyện của các đơn vị thuộc cấp huyện quản lý nộp; Thu nhập từ vốn góp của ngân sách cấp huyện, tiền thu hồi vốn của ngân sách cấp huyện do các tổ chức kinh tế huyện nộp; Thu viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, các cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho ngân sách cấp huyện; Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách cấp huyện; Thu kết dư ngân sách cấp huyện; Thu tiền bán hàng tịch thu sung công quỹ Nhà nước; Thu tiền phạt theo pháp lệnh xử phạt hành chính nộp ngân sách cấp huyện do các đơn vị huyện nộp; Huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu

hạ tầng theo quy định của nhà nước trực tiếp cho ngân sách cấp huyện; Các khoản thu khác của ngân sách cấp huyện

- Thu chuyển nguồn từ ngân sách cấp huyện năm trước sang năm sau

- Thu bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh - Các khoản thu được phân chia theo tỷ

lệ % giữa các cấp ngân sách địa phương theo quy định gồm:

+ Các khoản thu phân chia tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách Trung ương và

ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm: Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng xuất nhập khẩu; Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể các đơn vị hạch toán toàn ngành; Thuế thu nhập cá nhân; Thuế tiêu thu đặc biệt từ hàng hóa dịch vụ trong nước; Phí xăng dầu Các khoản thu phân chia tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm: Thuế nhà, đất; Tiền

sử dụng đất; Lệ phí trước bạ

Ngày đăng: 25/02/2016, 15:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ các bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ.  1.1.3.1 Mô  trườn  k ểm soát - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ các bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ. 1.1.3.1 Mô trườn k ểm soát (Trang 15)
Sơ đồ 1.2 : Các yếu tố của môi trường kiểm soát  a)Sự chính trực và các giá trị đạo đức của nhà quản lý và nhân viên - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Sơ đồ 1.2 Các yếu tố của môi trường kiểm soát a)Sự chính trực và các giá trị đạo đức của nhà quản lý và nhân viên (Trang 15)
Sơ đồ 1.6 : Kết cấu của N ân sác  n   nước - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Sơ đồ 1.6 Kết cấu của N ân sác n nước (Trang 28)
Sơ đồ 2.1 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức huyện Long Thành - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức huyện Long Thành (Trang 35)
Sơ đồ 2.2 : Cơ cấu tổ c ức p òn  t   c ín  kế  oạc - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ c ức p òn t c ín kế oạc (Trang 37)
Hình  thức  kế  toán  trên  máy  vi  tính,  bằng  phần  mềm  kế  toán,  hệ  thống  thông  tin  quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
nh thức kế toán trên máy vi tính, bằng phần mềm kế toán, hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) (Trang 39)
Bảng 2.1: Tỷ lệ phân chia giữa các cấp ngân sách các khoản thu - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Bảng 2.1 Tỷ lệ phân chia giữa các cấp ngân sách các khoản thu (Trang 41)
Bảng 2.2: Tổng hợp thu ns trên địa bàn huyện giai đoạn 2010-2014 - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Bảng 2.2 Tổng hợp thu ns trên địa bàn huyện giai đoạn 2010-2014 (Trang 46)
Bảng 2.3: So sánh tổng hợp thu ns trên địa bàn huyện năm 2010 và năm 2014 - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Bảng 2.3 So sánh tổng hợp thu ns trên địa bàn huyện năm 2010 và năm 2014 (Trang 47)
Bảng 2.4: Tổng hợp chi ngân sách cấp huyện giai đoạn 2010-2014 - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Bảng 2.4 Tổng hợp chi ngân sách cấp huyện giai đoạn 2010-2014 (Trang 49)
Bảng 2.5: Tổng hợp chi ngân sách xã giai đoạn 2010- 2014 - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Bảng 2.5 Tổng hợp chi ngân sách xã giai đoạn 2010- 2014 (Trang 50)
Bảng 2.7: Bảng khảo sát đánh giá rủi ro - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Bảng 2.7 Bảng khảo sát đánh giá rủi ro (Trang 58)
Bảng 2.9: Bảng khảo sát thông tin truyền thông - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Bảng 2.9 Bảng khảo sát thông tin truyền thông (Trang 64)
Bảng 2.10 : Bảng khảo sát Giám sát - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Bảng 2.10 Bảng khảo sát Giám sát (Trang 66)
Sơ đồ 3.2: Kiểm soát lập dự toán - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thu  chi ngân sách huyện Long Thành
Sơ đồ 3.2 Kiểm soát lập dự toán (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w