đa dạng về màu sắc, hình dáng và hương thơm quyến rũ mà còn bỡi giá trị làm thuốc của nó.Từ xưa, người ta đã tiến hành nhân giống các loài Lan bằng nhiều phương phápkhác nhau như gieo hạ
Trang 15 Điều kiện sinh thái
II Kỹ thuật nhân giống
1 Nhân giống hữu tính
2 Nhân giống vô tính
III Kĩ thuật trồng và chăm sóc
Trang 25 Ốc sên hoa ( Achatina sp.)
IIV Từ và thuật ngữ tiếng anh
Tài liệu tham khảo
Trang 3đa dạng về màu sắc, hình dáng và hương thơm quyến rũ mà còn bỡi giá trị làm thuốc của nó.
Từ xưa, người ta đã tiến hành nhân giống các loài Lan bằng nhiều phương phápkhác nhau như gieo hạt, tách mầm nhưng những phương pháp này vẫn còn nhiều nhược điểm như mất thời gian, nguồn vật liệu ban đầu cần nhiều, hệ số nhân thấp, dễ bị thoái hoá qua nhiều thế hệ, khả năng lây truyền bệnh cao, chất lượng cây không đảm bảo, việc nhân giống mang tính thời vụ , Hơn nữa, hạt lanlại quá nhỏ, chỉ có một phôi; nảy mầm cần sự có mặt của nấm cộng sinh nên tỷ
lệ nảy mầm trong tự nhiên là rất thấp Để khắc phục nhược điểm này, hiện nay người ta tiến hành nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực, cây con được tạo ra với số lượng lớn đồng nhất về kiểu hình, chất lượng đảm bảo, sạch bệnh, giá thành phù hợp và không phụ thuộc vào yếu tố thời tiết Nhờ đó đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của thị trường Đây là điều mà phương pháp truyền thống không thực hiện được
Nói đến chi lan gấm Anoectochilus, không chỉ biết đến bởi giá trị làm cảnh do lá
và hoa đẹp mà còn vì giá trị làm thuốc của nó Theo các tài liệu y học thế giới, lan gấm là loài cây thuốc đặc biệt có tác dụng tăng cường sức khoẻ, phòng bệnh, có tính kháng khuẩn, làm khí huyết lưu thông, chữa các bệnh viêm khí quản, lao phổi, chống tăng huyết áp, đau nhức khớp xương Hơn nữa mới đây người ta đã phát hiện ra khả năng phòng và chống ung thư của loại thảo dược này Như vậy, lan Gấm là loại thảo dược có giá trị và có tiềm năng rất lớn.Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam số lượng loài lan này trong tự nhiên được phát hiện còn rất ít mà lại bị thu hái cả cây với số lượng lớn để bán làm thuốc
(500,000VNĐ/ kg tươi) do vậy loài lan này đang bị đe doạ mạnh và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng nếu không có biện pháp bảo tồn hữu hiệu Hiện nay, lan
Trang 4Gấm được xếp trong nhóm IA của Nghị định 32/2006/CP; và nhóm thực vật đang nguy cấp EN A1a, c, d trong Sách Đỏ Việt Nam 2007.
Hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào cụ thể về thành phần hợp chất có giá trị trong y họ trên lan gấm Hầu hết tác dụng chữa bệnh của nó đều do lưu
truyền, đổi thổi trong dân gian Lan gấm được biết đến chủ yếu để làm kiểng, chỉtrong một vài năm gần đây người ta mới biết đến và sử dụng nó như một bài thuốc
Vì những vấn đề trên mà hiện này, mà hiện này các đề tài về nuôi cấy mô cácloài quý hiểm trong chi Anoectochilus đang rất được quan tâm để phát triển,nhằm bảo tồn và hứa hẹn mang lại một thu nhập lớn trong việc cải thiện cuộcsống nông dân và mang lại những giá trị y học to lớn
Hình 1: Hình dạng lá của một số loài lan gấm
1.Nguồn gốc lịch sử
- Lịch sử về cây lan gấm
Trang 5+ Ở Trung Quốc và Đài Loan lan gấm được lưu truyền lâu đời trong dân gian làmột loài cây thuốc nổi tiếng vô cùng quý giá có tác dụng tăng cường sức khỏe,lưu thông khí huyết Cây thuốc có tính kháng khuẩn, chữa các bệnh viêm khíquản, viêm gan mãn tính Ngoài ra còn dùng chữa thần kinh suy nhược, chữa hokhan, đau họng, cao huyết áp, suy thận, chữa di tinh, đau lưng, phong thấp, làmtiêu đờm, giải độc, giải nhiệt Nó được dùng để tiến công cho triều đình và đượccác ngự y sử dụng để sắc cho vua chúa qua các thời đại Từ lâu người TrungQuốc, Đài Loan thường cho người sang Việt Nam để tìm và mua loài lan này.+ Người dân địa phương Việt Nam ở những vùng cao coi cây lan gấm như mộtloài có rừng và không biết nhiều đến công dụng của nó Từ năm 1990 trở lại đây,
các thương gia Đài Loan hoặc khách du lịch từ thành phố Hồ Chí Minh lên Đà Lạt thường tìm mua cây Lan gấm tươi hoặc khô Việc thu mua lan gấm bất
thường đã đẩy giá lan gấm tăng lên rất cao, người dân thấy vậy cũng đổ nhauvào rừng tìm lan gấm về bán Hậu quả làm cho lan gấm ngoài tự nhiên hiện nayđang dần cạn kiệt
+ Cây có tên là “ lan gấm” vì đó là một loài lan, có lá màu nâu tía nhìn tựa nhưgấm DO cây mọc trên đá và thân có đốt trong như ngó sen, nên sách TrungQuốc gọi là “thạch thưỡng ngẫu” (“thạch thượng” là trên đá, “ngẫu” là ngó sen);cây mọc sát đất, màu đỏ tía, có rễ bám vào đá trông giống con tằm, nên còn gọi
là “thạnh tằm” hay “hồng thạch tằm” (“thạch” là đá, “tằm” là con tằm, “hồng” làđỏ) “Kim cương” là tên mới xuất hiện thời gian gần đây Những người đi khaithác về bán thường gọi như vậy, có thể do lá óng ánh như kim cương; cũng cóthể do “tam sao thất bản” từ tên “chân kim thảo”; hoặc gọi như vậy với mục đíchlàm tăng thêm giá trị của cây; khó thể khảo chứng chính xác
-Trung tâm sinh học kiệm nghiệm là đơn vị đầu tiên ở Việt Nam nhân giống vàtrồng thành công Lan Kim tuyến bằng kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật
2.Phân bố
- Lan gấm là loại cây đặc biệt ưa ẩm và ưa bòng Thường mọc rải rác hoặcthành các đám nhỏ lẫn trong lớp tảm mục hoặc ở hốc đá, dưới tán rừng kínthường xanh ẩm Cây sinh trường mạnh trong mùa mưa ẩm; chịu được thời tiết
có sương mù dài ngày Trong tự nhiên Kim tuyến mọc trên lớp lá rơi rụng củarừng già, rất dễ lẫn với lá khô nên đi rừng phải có kinh nghiệm và để ý mới cóthể thấy cây
Ở Việt Nam:
- Cây lan gấm phân bố ở một số vùng núi thuộc các tinh Cao Bằng, LạngSơn, Hòa Bình, Hà Tây cũ( chùa Hương), Vĩnh Phúc, Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc,Khánh Hòa, Bình Thuận và Lâm Đồng, Lạc Dương, Di Linh, Đơn Dương
Trang 6- Trong Vườn quốc gia Ba Vì, Lan kim tuyến Blume được phân phối trongnhiệt đới ngày càng xanh lá rộng đóng loại rừng với cấu trúc rừng: rừng nguyênsinh, cấu trúc rừng từ 2 đến 3 lớp cây với các loài ưu thế điển hình để các ever-
lá rộng cận nhiệt đới màu xanh lá cây rừng kín Độ che phủ của tán cây là 95% Mật độ cây trưởng thành và cây giống thấp Các nhóm loài ưu thế là khôngđơn giản Lan kim tuyến Blume được tìm thấy trong đất giàu mùn đó là ga, thoátnước tốt, giàu nitơ và kali, phốt pho và nghèo trong môi trường axit, từ cát vàhỗn hợp đất sét mềm, và điều kiện thời tiết với lượng mưa trung bình trên 1.700
80-mm / năm, trung bình độ ẩm hơn 80%, nhiệt độ trung bình hơn 20oC / năm.Trong Vườn quốc gia Ba Vì, Lan kim tuyến Blume được tìm thấy trong phạm vihạn chế và số lượng Nó là không thể thiếu để tuyên truyền, để nuôi dưỡng vàphát triển nó trong việc bảo tồn và phát triển dược liệu
Đặc điểm phân bố của Lan kim tuyến
Phân bố theo kiểu rừng
Tại VQG Xuân Sơn, thảm thực vật nơi có loài Lan kim tuyến phân bố thuộc cáckiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới và kiểu rừng kín lá rộngthường xanh á nhiệt đới núi thấp Rừng thường có cấu trúc 2 tầng cây gỗ
- Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới
Tầng ưu thế sinh thái A2: độ tàn che thường từ 85-95%, với các loài cây gỗ chủ
yếu như: Dẻ gai bắc bộ Castanopsis tonkinensis, Trâm trắng Syzygium chanlos,
Sụ lá dài Phoebe poilanei, Côm tầng Elaeocarpus griffithii, Trâm tía Syzygium sp., Gội nếp Aglaia spectabilis, Nhội Bischofia javanica, Trám trắng Canarium
album, Trường sâng Pometia pinnata, Trường mật Amesiodendron chinense,
v.v Chiều cao của tầng A2 từ 15-24 m
Tầng cây gỗ A3: bao gồm các loài cây của tầng trên còn nhỏ và các loài cây củatầng dưới như: Phân mã Archidendron chevalieri, Táu nước Vatica subglabra,
Xoan đào Prunus arborea, Vàng kiêng Nauclea orientalis, Nhựa ruồi Ilex sp., Mán đỉa Archidendron clypearia, Mắc niễng Eberhardtia tonkinensis, Nanh chuột
Cryptocarya lenticellata, Hoa trứng gà Magnolia coco, Re hương Cinnamomum iners, v.v Chiều cao của tầng A3 từ 8-15m.
Tầng cây bụi B: gồm các loài thực vật như Ớt sừng lá nhỏ Kibatalia mycrophylla, Lấu Psychotria rubra, Mua đất Melastoma sp., Bồ cu vẽ Breynia fruticosa, Bọt ếch Glochidion hirsutum, Găng Randia spinosa, Hồng bì dại Clausena spp., v,v Tầng cỏ quyết: bao gồm chủ yếu các loài Thu hải đường Begonia spp., Sẹ
Alpinia tonkinensis, Sa nhân Amomum villosum, Cỏ chân vịt Dactyloctenium aegyptium, Cỏ lá tre Centosteca latifolia, Thường sơn Dichroa febrifuga, Guột Dicranopteris linearis, Tóc thần vệ nữ Adiantum capillus-veneris, Ráy Alocasia
Trang 7macrorhiza, Cao cẳng các loại Ophiopogon spp., Trọng lâu Tacca chantrieri,
Chàm núi Strobilanthes cusia, Chuối rừng Musa coccinea, Mía dò Costus
speciosus, Dớn Diplazium esculentum, Quyết lá dừa Blechnum orientale, v,v.
Thực vật ngoại tầng: bao gồm các loài thuộc chủ yếu các họ Cau Arecaceae, họ
Na Annonaceae, họ Kim cang Smilacaceae, họ Củ nâu Dioscoreaceae, họ Tiết
dê Menispermaceae, họ Cà phê Rubiaceae, họ Đậu Fabaceae, họ VangCaesalpiniaceae, họ Trinh nữ Mimosaceae, họ Ráy Araceae Điển hình như:
Dây hoa dẻ Desmos chinensis, Dây dất na Desmos sp., Dây kim cang các loại
Smilax spp., Củ nâu Dioscorea cirrhosa., Móc câu đằng Uncaria sp., Ráy leo
Pothos scandens, Dây sưa Dalbergia candenatensis, Dây móng bò Bauhinia sp., Bòng bong các loại Ligodium spp., Dây thèm bép Tetrastigma rupestre, v.v.
- Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh á nhiệt đới núi thấp
Tầng ưu thế sinh thái A2: độ tàn che thường từ 80-95%, với các loài cây gỗ chủ
yếu như: Chân chim Schefflera octophylla, Sồi phảng Lithocarpus cerebrinus, Dẻ gai bắc bộ Castanopsis tonkinensis, Trâm trắng Syzygium chanlos, Vỏ sạn
Osmanthus spp., Côm tầng Elaeocarpus griffithii, Trâm tía Syzygium sp., Thừng
mực mỡ Wrightia laevis, Gội nếp Aglaia spectabilis, Trám trắng Canarium album, Thích các loại Acer spp., Chắp tay Exbucklandia tonkinensis, Exbucklandia
populnea, v.v Chiều cao của tầng A2 từ 15-23 m.
Tầng cây gỗ A3: bao gồm các loài cây của tầng trên còn nhỏ và các loài cây của
tầng dưới như: Hồi núi Illicium sp., Trứng gà 3 gân Lindera sp., Hoa trứng gà
Magnolia coco, Phân mã Archidendron chevalieri, Mắc niễng Eberhardtia tonkinensis, Nanh chuột Cryptocarya lenticellata, Re hương Cinnamomum iners,
Mò roi Litsea balansae, v.v Chiều cao của tầng A3 từ 8-12m.
Tầng cây bụi B: gồm các loài thực vật như Mua đất Melastoma sp., Ớt sừng lá nhỏ Kibatalia mycrophylla, Lấu Psychotria rubra, v,v.
Tầng cỏ quyết: bao gồm chủ yếu các loài Dương xỉ thường Christella parasitica, Lụi Rhapis cochinchinensis, Cỏ lá tre Centosteca latifolia, Thường sơn Dichroa
febrifuga, Cao cẳng Ophiopogon spp., Chàm núi Strobilanthes cusia, Chuối rừng Musa coccinea, Mía dò Costus speciosus, Cỏ xước Achyranthes aspera, v,v.
Mật độ phân bố: của Lan kim tuyến ở đây là khá cao từ 100-600 cây/ha, trungbình là 250 cây/ha Tuy nhiên, Lan kim tuyến không phân bố đều trong rừng màthường tập trung thành từng đám hoặc rải rác Thông thường chúng mọc tậptrung vài 3 cây tại một điểm
Trang 8Hình 2 Lan kim tuyến mọc tập trung 4 cây tại một vị trí ở sườn trên núi Ten –
từ 0.1-0.45m tuỳ từng khu vực Lan kim tuyến thường ít phân bố ở những nơicây bụi thảm tươi dày đặc Chúng có thể nằm ngay trên lớp thảm mục của rừngđang bị phân huỷ
- Về sinh cảnh
Lan kim tuyến chủ yếu phân bố trên đất, chúng mọc sát ngay bề mặt đất, nơi đấtgiàu mùn, độ ẩm và độ xốp cao, thoáng khí; thậm chí ngay trên lớp thảm mụccủa rừng đang phân huỷ Đôi khi chúng mọc trên các tảng đá ẩm, trên các đoạnthân cây gỗ mục, trong gốc cây Có thể bắt gặp Lan kim tuyến ở trong rừng nơi
ẩm ướt, ven các khe suối, dưới tán rừng cây gỗ lớn, hoặc dưới rừng trúc, rừngsặt, trên đường mòn đi lại trong rừng
Phân bố Lan kim tuyến theo địa lý, địa hình và đai cao
Về địa lý, địa hình: có thể gặp chúng ở hầu hết các dạng địa hình, như chân núi,sườn núi, đỉnh núi; chúng thường phân bố bố ở những nơi dốc hay rất dốc
Trang 9Về đai cao: Lan kim tuyến thường phân bố ở đai cao trên 550m, tập trung chủyếu ở độ cao trên 900m.
Điều kiện đất đai Lan kim tuyến sinh trưởng phát triển ở Xuân Sơn – Phú Thọ
Kết quả phân tích 2 mẫu đất đại diện cho khu vực có phân bố của Lan kim tuyếntại Vườn Quốc gia Xuân Sơn đã cho thấy:
+ Về hàm lượng mùn: ở mức rất giầu (lần lượt là 9,15 và 9,37%)
+ Về hàm lượng các chất dễ tiêu: Đạm và kali dễ tiêu rất giầu, nhưng lân dễ tiêulại rất nghèo (khoảng 1,8 mg/100g đất)
+ Hàm lượng tổng số các chất đạm, lân và kali đều ở mức giầu đến rất giầu.+ Về độ chua hoạt động: đất tại khu vực có phản ứng chua Chỉ số pHKCl ở haimẫu lần lượt là 4,6 và 4,7
+ Độ chua trao đổi và thủy phân đều cao
+ Tổng Ca++ và Mg++ đều ở mức thấp (lần lượt là 2,65 và 2,68 lđl/100g đất).+ Độ no bazơ thấp, chỉ đạt 32-33% (đều nhỏ hơn mức yêu cầu là 50%)
+ Về thành phần cơ giới: Đất tại 2 mẫu nghiên cứu đều có thành phần cơ giớinặng
Điều kiện khí hậu Lan kim tuyến sinh trưởng phát triển ở Xuân Sơn – Phú Thọ
Vườn Quốc gia Xuân Sơn và vùng đệm nằm hoàn toàn trong vùng khí hậu nhiệtđới gió mùa có mùa đông lạnh và gió mùa đông bắc thịnh hành Nhiệt độ trungbình hàng năm từ 22oC-23oC Mùa hè, do ảnh hưởng của gió mùa đông namnên thời tiết luôn nóng ẩm mưa nhiều, nhiệt độ bình quân trên 25oC Nhiệt độtrung bình tháng nóng nhất là 28oC (tháng 6 và 7), nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là40,7oC vào tháng 6 Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Do ảnh hưởngcủa gió mùa đông bắc, nhiệt độ của các tháng này xuống dưới 20oC Nhiệt độtrung bình tháng thấp nhất là 15,3oC-15,5oC (tháng 1) Tuy nhiên lên đến độ cao800m nhiệt độ trung bình năm giảm xuống dưới 20oC, tạo ra khí hậu á nhiệt đớicho vành đai này Lượng mưa trung bình năm là 1.826 mm, phân phối khôngđều trong năm Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, lượng mưa chiếm80-90% lượng mưa cả năm Hai tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 vàtháng 9 hàng năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhưng hạn hán ítxảy ra vì có mưa phùn Độ ẩm không khí trong vùng bình quân cả năm đạt 85%[6]
Trên thế giới
- Anoectochilus formosanus Hayatađược phát hiện ở Srilanka, Malaysia, Ấn
Độ, Nhật Bản, Nam Trung Quốc, Australia và quần đảo Nam Thái Bình Dương,(Liu; Su, 1978 và Teuscher, 1978)
Trang 10và thương mại cao trên thế giới hiện nay là Anoectochilus formosanus Hayata.
Loài này được phát hiện ở Srilanka, Malaysia, Ấn Độ, Nhật Bản, Nam TrungQuốc, Australia và quần đảo Nam Thái Bình Dương, (Liu; Su, 1978 và Teuscher,1978) Trước đây cây lan gấm trồng làm cây cảnh trong nhà, một số dân tộcthiểu số sử dụng lá lan gấm chữa các vết thương do rắn độc cắn Nhưng hơnmột thập niên trở lại đây, Đài Loan xem lan gấm là cây "Thuốc Vua" bởi tác dụngdược lý đa dạng của nó (Lin và Wu, 2007).Trong các sách thuốc ở nước tathường gọi là “lan gấm” Trong sách trung quốc, cây có tên là “thạch thượngngẩu”, “thạch tằm”, “ chân kim thảo”
vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảoMacquarie, gần với châu Nam Cực
Một nghiên cứu đăng trong tạp chí Nature[5] đã chỉ ra rằng nguồn gốc họ Lan cóxuất phát điểm lâu đời hơn so với dự tính ban đầu, có lẽ khoảng 76-84 triệu nămtrước Một con ong của loài ong không ngòi tuyệt chủng, với danh pháp
Proplebeia dominicana, được tìm thấy bị mắc trong hổ phách thế Miocen khoảng
15-20 triệu năm trước Con ong này mang phấn hoa của một loài lan trước đây
không rõ, Meliorchis caribea, trên các cánh của nó Đây là chứng cứ đầu tiên về lan hóa thạch cho tới nay Loài lan tuyệt chủng M caribea này được đặt trong
tông Cranichideae, phân tông Goodyerinae (phân họ Orchidoideae)
Điều này chỉ ra rằng họ Lan có thể có nguồn gốc cổ đại và đã phát sinh khoảng76-84 triệu năm trước trong thời kỳ Hậu Creta Nói cách khác, các loài lan có thểcùng tồn tại với khủng long Nó cũng chỉ ra rằng vào thời gian đó côn trùng là
Trang 11các sinh vật thụ phấn tích cực cho các loài lan Theo M.W Chase và ctv (2001)
thì địa lý sinh học chung và mô hình phát sinh loài của họ Orchidaceae chỉ rarằng chúng thậm chs còn cổ hơn và có thể đã phát sinh khoảng 100 triệu nămtrước
- Phân họ: Orchidoideae( Phân họ lan) là một phân họ trong họ
lan(Orchidaceae) Phân họ Orchidoideae có 208 chi và khoảng 3.755 loài khắp
thế giới
- Chi: Anoectochilus là một chi thực vật có hoa thuộc họ Lan (Orchidaceae)
và phân họ cùng tên (Orchidoideae) Cái tên "Lan kim tuyến" hay "Lan kim hoàn
bắt nguồn từ những đường gân rất đẹp trên phiến lá của các loài lan này Tên
tiếng La tinh bắt nguồn từ các từ Hy Lạp aniktos (mở) và cheilos (môi).
Hình : Lan gấm
Một số loài lan gấm
1.Anoectochilus albolineatus: Loài này được E.C.Parish & Rchb.f mô tả khoa
học đầu tiên năm 1874
Trang 12Hình 3: Anoectochilus albolineatus
2.Anoectochilus albomarginatus: Loài này được Loudon mô tả khoa học đầu tiên
năm 1855
3.Anoectochilus annamenis( hay còn gọi là lan sứa trung bộ): Loài đặc hữu của
Việt Nam, cây mọc chủ yếu ở miền trung Thừa thiên Huế Đây là loài mới ở ViệtNam do Do L Averyanov, A Averyanova, Nguyễn Tiến Hiệp, Phạm Văn Thế,Phan Kế Lộc, phát hiện
Hình 4: Anoectochilus annamenis
4.Anoectochilus baotingensis: loài này được ( K.Y.Lang) Ormerod mô tả khoa
học đầu tiên năm 2003.
Trang 13Hình 5: Anoectochilus baotingensis
5.Anoectochilus brevilabris( lan kim tuyến môi nhỏ): loài này được Lindl mô tả
khoa học đầu tiên năm 1840
Hình 6: Anoectochilus brevilabris
6 Anoectochilus brevistylus( Lan nhung bắc): loài này được (Hook.f.)Ridl mô tả
khoa học lần đầu tiên năm 1907
Hình 7: Anoectochilus brevistylus
Trang 147 Anoectochilus burmannicus: loài này được Rolfe mô tả khoa học đầu tiên năm
Trang 15Hình 10: Anoectochilus roxburghii
10 Anoectochilus setaceus
Hình 11: Anoectochilus setaceus
11 Anoectochilus clarkei (Hook.f.) Seidenf & Smitinand (1959)
12 Anoectochilus crispus Lindl (1857)
13 Anoectochilus daoensis Gagnep (1951)
14 Anoectochilus chapaensis Gagnep.(1931).
15 Anoectochilus dewildeorum Ormerod (2005) (Sumatra)
16 Anoectochilus elatus Lindl (1857)
17 Anoectochilus elwesii (C.B.Clarke ex Hook.f.) King & Pantl (1898)
18 Anoectochilus emeiensis K.Y.Lang (1982)
19 Anoectochilus falconis Ormerod (2005) (Malaysia)
20 Anoectochilus flavescens Blume (1825)
Trang 1621 Anoectochilus formosanus Hayata (1914) (chữ Hán: 臺灣金線蓮; bính âm:
{{{p}}}) Lan kim tuyến Đài Loan
22 Anoectochilus geniculatus Ridl (1896) (Thái Lan, Mã Lai, Sumatra)
23 Anoectochilus grandiflorus Lindl (1857)
24 Anoectochilus imitans Schltr (1906)
25 Anoectochilus inabai Hayata (1914)
26 Anoectochilus insignis Schltr (1911)
27 Anoectochilus integrilabris Carr (1935)
28 Anoectochilus kinabaluensis (Rolfe) J.J.Wood & Ormerod (1994)
29 Anoectochilus klabatensis (Schltr.) S.Thomas (2002)
30 Anoectochilus koshunensis Hayata (1914)
31 Anoectochilus lanceolatus Lindl (1840)
32 Anoectochilus longicalcaratus J.J.Sm (1922)
33 Anoectochilus lylei Rolfe ex Downie (1925)
34 Anoectochilus narasimhanii Sumathi & al (2003)
35 Anoectochilus nicobaricus N.P.Balakr & P.Chakra (1978 publ 1979)
36 Anoectochilus papuanus (Schltr.) W.Kittr (1984 publ 1985)
37 Anoectochilus pectinatus (Hook.f.) Ridl (1907)
38 Anoectochilus petelotii (Gagnep.) Seidenf (1975)
39 Anoectochilus pingbianensis K.Y.Lang (1996)
40 Anoectochilus reinwardtii Blume (1858)
41 Anoectochilus repens (Downie) Seidenf & Smitinand (1959)
42 Anoectochilus rhombilabius'' Ormerod (2002)
43 Anoectochilus sandvicensis Lindl (1840)
44 Anoectochilus sikkimensis King & Pantl (1896): Lan kim tuyến Sikkim
45 Anoectochilus subregularis (Rchb.f.) Ormerod (1996)
46 Anoectochilus sumatranus (J.J.Sm.) J.B.Comber (2001)
47 Anoectochilus tetrapterus Hook.f (1890)
48 Anoectochilus tridentatus Seidenf (1992)
49 Anoectochilus xingrenensis Z.H.Tsi & X.H.Jin (2002)
50 Anoectochilus yatesiae F.M.Bailey (1907)
51 Anoectochilus zhejiangensis Z.Wei & Y.B.Chang (
Trang 17đá Thân phần trên mọc đứng, cao 15-25 cm, hơi có lông Từ phần thân giàthường mọc ra những chồi nhánh, bò lan sát mặt đất Đoạn thân cắt rời, nếuđược tiếp xúc với đất, có khả năng tái sinh thành cây mới Lá mọc so le, hìnhbầu dục hoặc hình trứng, dài 4-7 cm, rộng 2,5- 3 cm, gốc tròn, đầu tù hơi nhọn,cuống lá dài có bẻ ờ gốc Lá óng ánh, có vân trằng hình mạng rất rõ Mặt trên cómàu xanh lục hay nâu tía, mặt dưới màu hồng tím Lá và thân có màu tía hay đỏnâu giúp cây vẫn có thể quang hợp ngay cả trong điều kiện ánh sáng yếu Cụmhoa mọc ở ngọn thân thành bông dài 3-8cm, có lông dày đặc Lá bắc màu nâuvàng Hoa màu trắng Mùa hoa nở tháng 9-12 Mùa quả chín tháng 12 - 3 nămsau Lá dài lưng dính với cánh hoa hình mũ có 3 răng Lá đài bên rời nhau, cánhmôi màu vàng hình chữ T, cột dài bằng bao phấn Bầu có lông Những nhánhcây trường thành( thường trên 1 năm tuổi) có hoa quả hàng năm và sau đó tiếptục tồn tại khoảng gần 1 năm nữa mới tàn lụi Cây tái sinh chủ yếu bằng hạthoặc được trống bằng các đoạn thân.
Đặc điểm hình thái cây trưởng thành
Cây thảo, có thân rễ mọc dài; thân trên đất mọng nước mang 2-6 lá mọc xoè sátđất Lá hình trứng, gần tròn ở gốc, chóp hơi nhọn và có mũi ngắn, cỡ 3,5-4,5 x2,5-3,5 cm Lá có màu nâu đỏ ở mặt trên Hệ gân lá mạng lưới lông chim,thường có 5 gân gốc Các gân này thường có màu hồng ở mặt trên và nổi rất rõ.Đôi khi gân ở giữa có màu vàng nhạt Mặt dưới lá có màu nâu đỏ nhạt, nhẵn với
5 gân gốc nổi rõ Các gân bên ở phía rìa lá nổi rõ, gân ở giữa lá ở mặt dướikhông rõ Cuống lá dài 0.6 – 1.2 cm, thường nhẵn và có màu trắng xanh, đôi khihơi đỏ tía ở bẹ lá Bẹ lá nổi rõ và nhẵn Hoa tự chùm mọc ở đầu ngọn thân, trụchoa dài từ 5-20 cm, thường phủ lông màu nâu đỏ, mang từ 4-10 hoa Mùa hoa
nở tháng 9-12 Mùa quả chín tháng 12 - 3 năm sau Hoa có cánh môi màu trắng.Hai bên rìa mang từ 6-8 râu mỗi bên
Đặc điểm thân rễ
Thân rễ nằm ngang sát mặt đất, đôi khi hơi nghiêng, bò dài Chiều dài thân rễ từ5-12 cm, trung bình là 8,5 cm Đường kính thân rễ từ 2,5-3,5 mm, trung bình là3,28 mm Số lóng trên thân rễ từ 3-7 lóng, trung bình là 4,03 lóng Chiều dài củalóng từ 1–5 cm, trung bình là 2,14 cm Thân rễ thường có màu xanh trắng, đôikhi có màu nâu đỏ, thường nhẵn, không phủ lông
Đặc điểm thân khí sinh
Thân khí sinh thường mọc thẳng đứng trên mặt đất, ít khi mọc nghiêng Chiềudài thân khí sinh từ 3-7 cm, trung bình 5,63 cm Đường kính thân khí sinh từ2,5–3,5 mm, trung bình là 3,09 mm Thân khí sinh mang nhiều lóng, các lóng cóchiều dài khác nhau Số lóng trên thân khí sinh thay đổi từ 2-5 lóng, trung bình là
Trang 183,07 Chiều dài mỗi lóng từ 1,5-4 cm, trung bình 1,87 cm Thân khí sinh thườngmọng nước, nhẵn, không phủ lông; thường có màu xanh trắng, đôi khi có màuhồng nhạt.
Đặc điểm của rễ
Rễ được mọc ra từ các mẫu trên thân rễ Đôi khi rễ cũng được hình thành từthân khí sinh Rễ thường đâm thẳng xuống đất Thông thường mỗi mấu chỉ cómột rễ, đôi khi có vài rễ cùng được hình thành từ một mấu trên thân rễ Số lượng
và kích thước rễ cũng rất thay đổi tuỳ theo cá thể Số rễ trên một cây thường từ2-9 rễ, trung bình là 5,2 Chều dài của rễ thay đổi từ 1-9 cm, rễ dài nhất trungbình là 6,37 cm và ngắn nhất trung bình là 1,04 cm, chiều dài trung bình của các
rễ trên một cây là 4,07 cm
Lá cây
Số lượng lá trên một cây thay đổi từ 2-6 chiếc, thông thường có 4 lá Lá mọccách xoắn quanh thân, xoè trên mặt đất Kích thước của lá cũng thay đổi,thường dài từ 3-5 cm, trung bình là 3,87 cm và rộng của lá từ 2-4 cm, trung bình
là 2,93 cm Các lá trên một cây thường có kích thước khác nhau rõ rệt Chiềurộng trung bình của các lá trên một cây là 2,5 cm
Hình 12 Lan kim tuyến Anoectochilus setaceus
Đặc điểm hình thái của một số loài được trồng
- Anoectochilus formosanus: Một loài mạnh mẽ với lá màu xanh đậm, gân
có màu bạc và vàng Mặt dưới của lá là màu đỏ
Trang 19Hình 13: Anoectochilus formosanus
- Anoectochilus formosanus variegata: lá lưỡi vàng với gân vàng
- Haemaria discolor var Dawsoniana: Một loài phát triển lớn hơn với màuxanh đậm đen gân lá vàng Mặt dưới của lá có màu nâu đỏ
- Haemaria discolor var alba: Một loài phát triển nhỏ hơn với lá màu xanhngọc, gân bạc Mặt dưới của lá không có màu đỏ nâu Hình ảnh cho cả hai loàialba và var Odina để so sánh
Hình 14: Haemaria discolor var alba
- Haemaria discolor var Odina: một loài phát triển nhỏ hơn một chút so vớiloài bình thường Gân bạc xác định trên nền lá màu xanh đậm
HÌnh 15: Haemaria discolor var Odina
Trang 20- Dossinia marmorata var Dayii: một loài có lá lớn với lá màu đỏ sậm và gânvàng.
Hình 16: Dossinia marmorata var Dayii
- Macodes sanderiana: một loài lá lớn khác màu xanh với gân vàng
Hình 17: Macodes sanderiana
- Goodyera hispida: lá màu xanh sáng gân bạc
Hình 18: Goodyera hispida
Trang 21Mọi người đều biết lá cây có màu xanh, nhưng tại sao loại lan này có lá màu đen? và một điều khác nữa, một số loại cây lấy lá có những màu đặc sắc không phải màu xanh?
đối với những người đi rừng, họ không lạ với việc tìm thấy lan kim tuyến ở
những nơi thấp dưới tán rừng, một nơi tăm tối và ẩm ướt, nơi mà ánh sáng chỉ
là những cái bớt loang lổ cắt qua những tàn cây to lớn sự tăm tối - ánh sáng không đủ, là một yếu tố giới hạn rất lớn đối với sự quang hợp của thực vật bạn thử để một cây lan khoẻ mạnh, đủ nước dưới gầm bàn một thời gian, chúng sẽ chết dần chết mòn và cuối cùng là cái chết có thể đoán trước được, vì không đủ ánh sáng
để đối phó với tình trạng thiếu ánh sáng, một số thực vật phải gồng mình "chịu chơi" với hoàn cảnh này
Ở cầu vồng, đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím đây chính là 7 màu của ánh sáng nhìn thấy, thực vật đã quang hợp được dựa trên phổ ánh sáng này nhưng thực tế lại khác, ánh sáng nhiều "màu" hơn chúng ta tưởng, như hồng ngoại, tử ngoại, tia đỏ xa, UV-A, UV-B, mà mắt thường không cảm thấy được chính ánh sáng dưới tán rừng rất giàu tia đỏ, các loài lan dưới tán phải "lấy" nguồn sáng đỏnày để quang hợp thế còn màu đen thì sao?
Ở hiện tượng khúc xạ ánh sáng khi ánh sáng đi qua 2 mặt phẳng phân cách.Lấy
ví dụ bọt bóng xà phòng Khi ánh sáng đi từ môi trường khí sang môi trường rắn hay lỏng, ánh sáng sẽ bị bẻ gãy ở mặt phân cách này (hiện tượng ống hút bị
"gãy" khi cho vào ly nước) sau khi chạm vào bề mặt bong bóng, chúng sẽ phản
xạ ngược lại, từ lỏng ngược lại ra khí, khi đó ánh sáng bị bẻ gãy lần nữa và bước sóng ánh sáng cũng bị thay đổi thường là bước sóng ngả dần về phía ánhsáng đỏ xa - loại ánh sáng mà chúng ta không thể nhìn thấy hiện tượng càng rõ nếu mặt trong được tráng một lớp màu
Các loại lan kim tuyến cũng vậy, ánh sáng đi vào chủ yếu là tia đỏ, khi đó ánh sáng bị bẻ cong, đi vào trong các cơ quan quang hợp, và sau đó phản xạ lại do mặt dưới lá được phủ một lớp tế bào chứa màu, thường là anthocyanin có màu
đỏ hoặc tím đỏ, khiến cho ánh sáng gần như bị hấp thụ hoàn toàn và chỉ phản xạlại chút ánh sáng đỏ xa mắt thường không nhìn thấy được, hoặc chỉ phản xạ ra một số màu lạ mắt - đó là nguyên nhân tại sao lá lan kim tuyến có màu "đen" hoặc có một số màu rất đẹp
Còn hiện tượng lấp lánh thì sao? đó là do các cấu trúc giống kim tự tháp ở biểu
bì trên của lá có tác dụng tăng độ hội tụ ánh sáng vào các cơ quan quang hợp, khi nhìn nghiêng, góc chiếu thay đổi khiến cho ánh sáng rọi vào các kim tự tháp này phản xạ lại vào mắt gây ra hiện tượng "lấp lánh" hoặc "láng như gương", kết
Trang 22hợp với hiện tượng khúc xạ đã nếu ở trên trên khiến cho màu phản xạ rất đa dạng của các loại lá lan kim tuyến
II.KĨ THUẬT NHÂN GIỐNG
1 Nhân giống hữu tính
+ Cái môi như bãi đáp cho côn trùng đậu
+ Tạo ra màu sắc, hương vị để hấp dẫn côn trùng đến
+ Tạo lập các cơ quan có hình dạng côn trùng khác phái hay tạo ra cơ cấu giống
bộ phận sinh dục của côn trùng để dẫn dụ chúng đến giao cấu… tất cả đều giúpcho sự thụ phấn ở lan
Từ đó ta phân biệt hai cách thụ phấn:
- Sự tự thụ phấn: khi phấn hoa của bông hoa này được rơi vào nuốm củachính hoa ấy Điều này hiếm khi xảy ra ở lan do cấu trúc sinh dục đực và cái ởhoa lan
- Sự thụ phấn chéo: khi phấn hoa ở hoa này được để vào nuốm của hoakhác hay cùng loài ( thường xảy ra với lan trong thiên nhiên), hoặc khác loài,khác giống ( thường do con người thực hiện trong việc cải thiện giống, gọi là lai
Sự tự nhiên ở lan có xảy ra nhưng rất hiếm)
- Hai cây chỉ khác nhau một trong hai tính thường được xem như nhữngthứ cảu cùng 1 loại Nếu cho lai với nhau thì con cái của chúng chỉ biến đổi ởđặc tính mà ch mẹ chúng khác nhau
Trang 23- Nếu hai loài khác biệt nhau về nhiều tính chất cho lai với nhau thì kết quả
sẽ vô cùng phức tạp Thường có thể trung gian giữa cha mẹ ít hay nhiều ở hầuhết các đặc tình
Muốn thu được tổ hợp những đặc tính tốt và hiếm, ta phải lai nhiều lần Tuynhiên ở các lần lai sau thường gặp các trở ngại là chúng không thụ hay thụ màkhông có hạt Tiến trình lai càng xa thì mức độ bất thụ càng cao
Nay chúng ta biết những loài trong cùng tông phụ có khả năng lai được hơn làkhác tông
Sự bất thụ ở lan phức tạp: đôi khi ta lai A x B thì không thụ Nhưng ta đổi ngược
mẹ thành cha, cha thành mẹ B x A thì có kết quả Hoặc đối khi đổi ngược nhưvậy mà không thụ Nguyên nhân của việc bất thụ có thể là:
+ Do kích thước của trục hợp này
+ Sự bất tương hợp của một số cặp nhiễm sắc thể của cha mẹ ở trong cây lanlai cũng là nguyên nhân của sự bất thụ Vì chúng không có khả năng tạo ra giao
tử bình thường mặc dù cây lan ấy vẫn phát triển khỏe mạnh và có hoa tưới tốt.+ Đa bội thể là kết quả của sự bắt cặp không bình thường trong thời kì giảmphân Lúc đó có thể thêm một hay nhiều bộ nhiễm sắc thể trọn vẹn hay khôngđầy đủ cũng là nguyên nhân của bất thụ Các cây lan tam bội (4n) có nhiều đặctính tốt ( cây to, hoa lớn…) và dễ thụ nên thường được sưu tầm để lai
Một tính chất vô cùng quan trọng khác là ảnh hưởng của môi trướng vào sự pháttriển của lan
Như vậy với mục đích của việc là đem lai là đem lại những cây tốt đẹp hơn, mới
lạ hơn, không có được trong tự nhiên ( hoa lớn hơn, kín hơn, màu mới, sắcthuần hay biến thiên, sắc độ phân minh, cây nhiều hoa hơn, số lần ra hoa nhiềuhơn, cánh dài dai bền, lâu tàn dễ trồng, khàng bệnh…)
Vì mỗi trái lan có đến hàng ngàn hay hàng triệu hạt cho nên khi trồng cần kiên trìtrồng chúng để tuyển chọn vì không phải tất cả cây con đều mang đặc tính tốtđẹp Mà trái lại, trong số đó đôi khi mang đặc tính xấu, có thể thua xa đặc tínhcha mẹ chúng Vì vậy không nên dùng cây lan con này để nuôi cấy mô nhângiống khi chưa thấy hoa của chúng ( thường ta cẩn thận quan sát hai mùa hoarồi mới quyết định chọn làm cây giống)
Những điều cần lưu ý khi thụ phấn ở lan:
- Tưới nước: sau khi thụ phấn xong đừng tưới nước ướt cành hoa, nhất làcái hoa mà ta vừa mới thụ phấn Giọt nước tưới có thể làm cho sự thụ phấnkhông có kết quả Khi trái đã lớn rồi thì phải lưu ý đến mưa Giọt nước mưa cũnglàm cho trái nứt ra, nước sẽ chui vào bên trong hạt làm cho trái thối hư Vì vậy
Trang 24khi trái già, ta dùng bọc nylon trong chụp trên trái, để miệng hở bên dưới kẻohầm hơi Nếu dùng trái non để gieo hạt thì khỏi bọc bao nylon này
- Tưới phân: cần dùng nhiều phân có chứa nhiếu phosphi để tưới khi cây
đã đậu trái Mỗi tuần tưới 1 – 2 lần
- Ánh sáng: thường nếu trái nào nhận nhiều ánh sáng thì trí đó chóng già,nhưng không cần thiết phải di chuyển cây lan đến nơi có nhiều ánh sáng khi đãđậu trái
- Sâu bệnh: phải quan sát từ khi cây mới nhú hoa xem chúng có bị bệnh gìkhông, phải trị cho hết rầy, rệp, bệnh tật rồi mới thụ phấn Sau khi đậu trái l;ạicàng phải chú ý hơn, nhất là các côn trùng như cào cào, chuột… đến cắn phátrái An toàn nhất là để cây lan ấy vào trong lồng có lưới bao xung quanh
Lợi ích của việc dùng trái non để gieo hạt
Ta rút ngắn được 2/3 thời gian so với dùng trái già
Nhiều cặp lai khó đậu trái, nếu không trái thường vàng và rụng sớm trước khichín Việc gieo hạt non sẽ giải quyết được vấn đề này
Giúp cho cây mẹ bớt ảnh hưởng sức khỏe vì phải nuôi trái trong thời gian dài.Nếu hái trái non, cây mẹ sẽ chóng phục hồi và tiếp tục ra hoa
Việc sử dụng trái non rất thuận lợi cho việc gieo hạt vì chỉ cần khử trùng trái mộtcách dễ dàng mà khỏi phải khử trùng hạt như khi dùng trái chín bung ra vì phảinuôi trái trong thời gian dài Nếu hái trái non, cây mẹ sẽ chóng phục hồi và tiếptục ra hoa
Việc sử dụng trái non rất thuận lợi cho việc gieo hạt vì chỉ cần khử trùng trái mộtcách dễ dàng mà khỏi phải khử trùng hạt như khi dùng trái chín bung ra
Gieo hạt
Vì hạt lan quá nhỏ, không chứa dữ liêu vá chỉ có một phôi chưa phân hóa, nênkhông thể phất triển theo một phuong cách bình thường được Vì vậy việc làmcho hạt nảy mầm và phát triển thành cây lan trưởng thành là vấn đề khó khăntrong giai đoạn đầu của thời kì phát triển ngành lan Người trồng lan đã tìm mọicách để gieo hạt nhưng không thành công Năm 1884, Neumann, người làmvườn Pháp, đã làm nảy mầm một số hạt lan bằng cách rãi đãi chúng trên cáccục đất ở quanh các gốc lan lớn Sự thành côn ấy được đốn xa lan rộng nhưngkhông ai biết được lý do các hạt ấy nảy mầm Dminy là người đầu tiên đã tạođược các hạt lan lai và làm nảy mầm các hạt lan ấy trước năm 1853 Nhiều lúcông chỉ tạo được vài cây, mọi trường hợp khác đều thất bại
Năm 1899 Noel Bernard là nhà thực vật người Pháp, đã khám phá ra sự bí mật
của việc làm nảy mầm ở hạt lan khi khảo sát hạt Neottia nidus-avis nảy mầm tự
nhiên trong rừng vùng Fontainebleau ở nước Pháp Ông thấy các cây lan ấy đều
Trang 25nhiễm nấm Sự thật thì việc liên hệ giữa nấm và cây lan con đã được khảo sát từ
1850, sự liên hệ giữa nấm và rễ lan đã được các nhà khoa học nghiên cứu suốthơn nữa thế kỉ tiếp theo đó Điều này cắt nghĩa lý do thành công của Neumann:hạt nảy mầm nhờ nấm có sẵn quanh gốc lan lớn
Người ta đã khám phá ra 3 loại nấm giúp nảy mầm ờ hạt lan: Rhizoctonia
repens, Rhizoctonia mucoroides, Rhizotonia lanuigiosa Mỗi loài chỉ giúp naay3
mầm một số giống lan nhất định
Kể đến, khoảng 1922, Knudson ở Mỹ, lại thành công trong việc thay thế nấmbằng đường ở môi trường thạch để gieo hạt Knudson nhận thấy rằng với cácchai cấy có chứa thạch và muối khoáng thích hợp thì khả năng nảy mầm củacác hạt lan xảy ra rất sớm Ông nhận thấy chỉ có một sự khác biệt giữa cây lan
và hạt lan là sử dụng CO2 trong không khí: từ CO2 và nước, cây lan tạo rahydratcabon ( gồm đường và tinh bột ) theo phản ứng:
nCO2 + 2nH2O (CH2O)n + nCO2 + nH2O
từ hydrat cacbon ấy và muối khoáng do rễ mang lại, cây lan đã tạo ra được cáchợp chất phức tạp cần thiết cho sự phát triển của nó Knudson nghĩ rằng hạt lankhông mọc được bởi lí do đơn giản là do thiếu khả năng tạo ra carbon hydrat từCO2 Khi thí nghiệm để kiệm tra ý nghĩa đó thì ông thành công ngay Ông thấyrằng chỉ cần thêm 2% đường vào môi trường gieo hạt chỉ gồm thạch và muốikhoáng Như thế không cần có nấm cho sự nảy mầm của hạt Như thế vai tròchính yếu của nấm trong sự nảy mầm của hạt lan là cung cấp chất dinh dưỡng
Từ đó, phương pháp của Knudson đã được sử dụng khắp nơi trên thế giới vàđược gọi là phương pháp gieo hạt không cộng sinh
Cây giống lan gấm có thể tạo từ nhân in vitro các nốt thân, hạt giống và các bộphận sinh dưỡng của cây Tuy nhiên sự sinh trưởng các của cây lan gấm in vitrochậm, kéo dài thời gian nhân giống Hiện nay nhiều nước chủ yếu sản xuất câylan gấm từ nuôi cấy hạt in vitro
Hạt giống lan gấm gieo trên môi trường MS giảm ½ khoáng đa lượng, bổ sungnước dừa, than hoạt tính và dịch chiết trái cây, hạt giống sẽ nảy mầm sau 4tháng nuôi cấy
Cấy chuyển sang môi trường tạo chồi MS giảm ½ khoáng đa lượng, bổ sung BA,NAA và sucrose, sau 4 tháng cấy chuyển qua môi trường tạo cây hoàn chỉnh.Khi cây được 10 tháng tuổi, chuyển cây lan gấm in vitro ra trồng trong khayngoài vườn ươm có hệ thống làm mát (cooling pad hoặc phun sương)
Để nâng cao tỉ lệ nảy mầm của hat lan gấm, hiện nay người ta dùng nấmRhizoctonia cộng sinh với hạt, đã làm tăng tỉ lệ nảy mầm lên 80% trong môi
Trang 26trường OMA, gồm bột yến mạch, dịch chiết nấm men và agar (Ling-Chin Chouand Doris Chi-Ning Chang, 2003).
2 Nhân giống vô tính
Thân non
Một số cây tạo ra những cây non trên thân chứa hoa Khi điều này xảy ra, để lại những cây non trên thân hoa cho đến khi chúng đã phát triển một ít rễ dài vài cm
Hình 19 Cắt lấy nhánh cây conBấm ngọn
Khi một cây phong phong lan phát triển rất cao và có xu hướng kéo dài rễ từ thân của nó, ta có thể tạo ra nhiều cây hơn bằng cách cắt ra 4-5 cm trên của gốcphong lan có chứa rễ và trồng nó (được gọi là bấm ngọn phong phong lan) Nửa dưới của cây sẽ sau đó thường hình thành cây con mọc lên dọc theo
thân Những cây con có thể được cắt bỏ và trồng Hình 8-4 minh họa bấm ngọn phong phong lan:
_ Loại bỏ phần trên của thân cây, cho phép rễ phát triển rộng
_ Trồng phần ta vừa bỏ đi
_ Để lại cây mẹ trong chậu ban đầu của nó và chờ cho cây con mọc lên từ gốc của nó
Trang 27Hình 20: Bấm ngọnCắt khúc
Một số hoa phong lan có hoặc cuống dài, ta có thể cắt thành các mẩu nhỏ được gọi là cắt khúc Dưới đây là tiến trình cắt khúc:
Bước 1: Cắt bỏ một trong những cuống dài hoặc đốt với dao sắc, kéo tỉa cây đã khử trùng
Bước 2: Với dao sắc, vô trùng, cắt các phần của cuống để mỗi phần có chứa ít nhất hai mắt (các vùng của thân cây mà lá từng gắn vào)
Các mắt được đánh dấu bằng những vết sẹo tròn xung quanh thân cây
Bước 3: Đặt các khúc đã cắt theo chiều ngang, một nửa chôn cất, trên một khay cát ẩm
Bước 4:Bao các khay với thủy tinh hoặc nhựa để giữ độ ẩm trong
Bước 5: Đặt các khay ở khu vực mát mẻ (21-24 độ C), nơi nó sẽ được ánh sáng khuếch tán mà không phải từ ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp
Trong một vài tháng, các cây con sẽ nảy mầm
Trang 28Hình 21: Cắt khúc
Nuôi cấy mô trên môi trường đặc
Đối với nuôi cấy mô, đầu tiên một cây lan cần được lựa chọn kĩ càng, thườngtrong giai đoạn ra hoa, sau đó chồi nách được cắt ra từ một giả hành hoặc đốthoa trên thân cây để sử dụng như nguyên liệu cấy ban đầu Nguyên liệu đượckhử trùng bề mặt với dung dịch natri hypoclorit pha loãng và rửa sạch bằngnước vô trùng nhiều lần Các mô cấy sau đó được nuôi cấy trên môi trường dinhdưỡng thích hợp Khi cây in vitro mọc hoàn chỉnh
1 Đỉnh sinh trưởng và đoạn thân mang chồi nách (2,0 - 3,0 cm) của cây tự nhiênđược khử trùng bằng natri hypoclorit pha loãng
2 Đoạn thân (1,0 - 2,0 cm) từ chồi in vitro nhân chồi trên môi trường MS cơ bản
có bổ sung 1,0 mg/l kinetin và 0,3 mg/l NAA (α-naphthalene acetic acid), sau 12tuần nuôi cấy
Chồi in vitro tạo rễ trên môi trường MS cơ bản có bổ sung 0,3mg/l NAA sau 8tuần nuôi cấy
Cây in vitro hoàn chỉnh được trồng trên giá thể rồi mang ra ngoài vườn ươm
Trang 29Hình 22: Quá trình phát triển của chồi được nuôi cấyNuôi cấy trên môi trường lỏng trong bioreactor
Nuôi cấy trên môi trường đặc tuy nhanh và cho tỷ lệ cây sống cao nhưng vẫnchưa đủ đáp ứng nhu cầu cây giống và trong lĩnh vực nghiên cứu dược phẩm.Ngoài ra giá thành vẫn còn cao Thao tác phức tạp nên việc nuôi cấy trong hệthống tự động Bioreactor đã được thử nghiệm và thành công Phương pháp nàygiúp tạo sinh khối nhanh hơn so với nuôi trong môi trường đặc Hệ thốngBioreactor đòi hỏi thao tác ít nên khả năng nhiễm bệnh giảm đi đáng kể Thêmvào đó chính là khả năng tạo sinh khối nhanh với chi phí thấp
Trang 30Hình 23: Hệ tống bioreactor
Hình 24: Nuôi cấy mô bằng hệ thống bioreactor
Trang 31Ta dùng các đốt cũng như đỉnh chồi làm mẫu cấy trong bioreactor Các mẫu môngọn phát triển trên môi trường bổ sung TDZ có hệ số nhân cao nhưng cây pháttriển chậm và lá nhỏ
Để khắc phục hiện tượng này, các đỉnh chồi và các đốt được chuyển qua môitrường không có TDZ và đồng thời được nuôi cấy ngập có sục khí (Continuousimmersion with air supply)
Cây con sinh trưởng, các chồi tái sinh rễ và phát triển cho tới khi chuyển ra vườnươm
Nuôi cấy mô
Sự dài ra của cành non và bén rễ
Sauk hi cấy 8 tuần, những chồi tự sinh phát sinh từ mô cấy được chuyển tiếp sang môi trường MS không hormone để tạo điều kiện cho việc kéo dài chồi
Ba môi trường nuôi cấy căn bản được đánh giá cho sự phát triển và lớn lên hiệu quả: Murashige-Skoog, ½ MS, Knudson C (KC) Khi chồi đạt chiều dài 0.5-1.5
cm, chúng được chuyển vào môi trường MS căn bản được bổ sung với 0.6 mg/l BAP (6-Benzylaminopurine) và 1.0 mg/l Kn (Kinetin hay 6-Furfuryaminopurine) với lượng sucrose là 2%
Tạo rễ và mang ra vườn ươm
Với số cây giống cần thiết, ta chuyển thể chồi sang môi trường tạo rễ không chứa hormone thực vật Khi cây con cao 5-7 cm và có khoảng 3-4 lá sẽ được chuyển sang cấy trong bầu chứa mùn vô trùng chứa các chất sinh dưỡng bổ sung Sau một thời gian cây phát triển tốt Ta mang ra nơi cần trồng
Điều kiện nuôi cấy
Việc nuôi cấy được tiến hành trong bình nón 500 ml với 7-14 cho mỗi bình Độ
pH của môi trường nuôi cấy được điều chỉnh ở mức 5.7 trước khi hấp Môi
Trang 32trường nuôi cấy được hấp 15 phút ở 121 độ C Các mẫu cấy được ủ ở nhiệt độ
25 độ C dưới một gian chiếu ánh sáng huỳnh quang kết hợp với đèn sợi đốt tại mức 55.6 ȝmol m-2 s-1
Nghiên cứu kỹ thuật nhân nhanh chồi In Vitro loài Lan kim tuyếnAnoectochilus roxburghii (Wall.) Lindl (P.V Phê và nnk / Tạp chí Khoa họcĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ 26 (2010) 248-253)
Vật liệu nghiên cứu
Thể chồi được tạo ra từ phôi hạt chín và chồi được tái sinh từ thân ngầm, thânkhí sinh của cây Lan kim tuyến – Anoectochilus roxburghii (thu thập trong năm
2008, 2009 tại Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội) được tạo ra tại Trung tâm Giống &Công nghệ sinh học, Trường Đại học Lâm nghiệp
Phương pháp nghiên cứu
Bố trí thí nghiệm: Nghiên cứu nhân nhanh chồi/thể chồi In vitro loài Lan kimtuyến trong các điều kiện khác nhau về độ tuổi thể chồi, nguồn gốc chồi, chiềucao chồi và môi trường nuôi cấy Môi trường nuôi cấy được sử dụng
cho các thí nghiệm này bao gồm MS, Knudson, Knud* và Hyponex được bổsung một số chất điều hòa sinh trưởng và phụ gia khác Thí nghiệm được bố trítheo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), lặp lại 3 lần Khi nghiên cứu ảnh hưởng củamột yếu tố nào đó thì khống chế các yếu tố khác là đồng nhất Dung lượng mẫuquan sát là 30 cho mỗi công thức thí nghiệm
- Thu thập số liệu: xác định số bình thể chồi tạo được sau mỗi lần cấy chuyển,
số chồi tạo thành, đặc điểm của chồi/thể chồi (chiều cao chồi, số lá/chồi, màusắc, độ mập, chiều dài, v.v.)
- Xử lý số liệu: xác định hệ số nhân nhanh thể chồi, hệ số nhân nhanh chồi,chiều dài chồi tăng thêm theo các phương pháp thống kê sinh học, phân tíchphương sai một, hai nhân tố
Kết quả nghiên cứu
Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy và tuổi thể chồi đến khả năng nhânnhanh thể chồi
- Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến khả năng nhân nhanh thể chồi: Thểchồi 8 tuần tuổi được chọn để cấy vào các môi trường nuôi cấy là Knudson,Knud* và Hyponex bổ sung thêm: 0,5 mg/l BAP + 0,3 mg/l Kinetin + 0,3 mg/lNAA + 100 ml/l ND + 100 g/l dịch chiết khoai tây + 20 g/l sucrose + 7 g/l agar.Kết quả thu được sau 4 tuần được thể hiện qua Bảng 1
Bảng 1 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến khả năng nhân nhanh thể chồi
Trang 33Môi trường Hệ số nhân nhanh thể chồi (lần) Đặc điểm thể
Knudson 3,33 Thể chồi khá mập, xanh nhạt, xuất hiện ít lông tơ ở gốc thể chồi Knud* 5,33 Thể chồi mập, xanh, xuất hiện một
số lông tơ từ gốc thể chồi
Hyponex 2 Thể chồi bé, xanh nhạt, không xuất hiện lông tơ ở thân
Kết quả ở Bảng 1 cho thấy môi trường Knud* cho hệ số nhân nhanh thể chồi caonhất là 5,33 lần, cao hơn nhiều so với hai công thức còn lại lần lượt là 3,33 lầnđối với môi trường Knudson và 2 lần đối với Hyponex; chất lượng thể chồi ở môitrường Knud* cũng thể hiện rõ sự vượt trội so với các công thức môi trường cònlại Như vậy, công thức môi trường Knud* là thích hợp nhất để nhân nhanh thểchồi của lan kim tuyến
- Ảnh hưởng của tuổi thể chồi: Thể chồi từ phôi hạt chín được dùng làm vậtliệu nghiên cứu cho thí nghiệm này Tuổi thể chồi được tính từ lúc bắt đầu gieophôi vào môi trường nuôi cấy Thể chồi ở 6 tuần tuổi, 8 tuần tuổi và 10 tuần tuổiđược cấy vào môi trường nhân nhanh thể chồi Knud* cùng bổ sung 0,5 mg/lBAP + 0,3 mg/l Kinetin + 0,3 mg/l NAA + 100 ml/l ND + 100 g/l dịch chiết khoaitây + 20 g/l sucrose + 7 g/l agar Kết quả thu được sau 04 tuần được thể hiệntrong Bảng 2
Bảng 2 Ảnh hưởng của tuổi thể chồi đến khả năng nhân nhanh
Tuổi thể chồi Đặc điểm thể chồi Hệ sốnhân thể chồi (lần)
6 tuần Thể chồi khá nhiều, nhỏ, trắng hơi xanh 4,06
8 tuần Thể chồi nhiều, mập, khá xanh, xuất hiện một 5,33
số lông tơ mọc từ gốc thể chồi
10 tuần Thể chồi nhiều, mập, có lông tơ xuất hiện 3,17
Xanh đậm hơn thể chồi 8 tuần tuổi
Kết quả ở Bảng 2 chỉ rõ thể chồi 8 tuần tuổi là thích hợp nhất để nhân nhanh, với
hệ số nhân cao nhất là 5,33 lần; tiếp đến là thể chồi 6 tuần tuổi, với hệ số nhân
là 4,06 lần; cuối cùng là thể chồi 10 tuần tuổi với hệ số nhân thấp nhất là 3,17lần
Trang 34Hình 25: Thể chồi lan kim tuyến 8 tuần tuổiNhư vậy với Lan kim tuyến Anoectochilus roxburghii thì tuổi thể chồi thích hợpnhất cho nhân nhanh là 8 tuần, cho hệ số nhân nhanh cao đồng thời thể chồi tạo
ND + 100 g/l dịch chiết khoai tây + 20 /l sucrose + 7 g/l agar Kết quả nghiên cứusau 4 tuần được thể hiện qua Bảng 3
Bảng 3 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến khả năng nhân nhanh chồi.Môi trường Hệ số nhân nhanh chồi Số đốt thân trung bình Đặc điểm của chồi (lần)
MS 2,33 3 Chồi khá mập,
lá xanh nhạt, đốt thân ngắnKnud* 3 3 Chồi mập, lá Xanh đậm, đốt thân ngắn
Knudson 1,73 2 Chồi mảnh, lá xanh nhạt, đốt thân ngắn