Nội dung chủ yếu: - Khái niệm môi trường; Cấu trúc và chức năng của môi trường, - Ô nhiễm môi trường không khí; Ô nhiễm môi trường nước; Phát triển bền vững; - Khái niệm cơ bản trong kho
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KHOA: MÁY TÀU BIỂN
BỘ MÔN: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
BÀI GIẢNG
KỸ THUẬT AN TOÀN VÀ MÔI TRƯỜNG
DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH: ĐÓNG TÀU
HẢI PHÒNG- 2010
Trang 2MỤC LỤC
1 Một số vấn đề cơ bản về khoa học và kỹ thuật bảo hộ lao động
3 Kỹ thuật an toàn trong một số lĩnh vực
4 Cấu trúc và chức năng của môi trường
5 Ô nhiễm môi trường không khí
Trang 3YÊU CẦU VÀ NỘI DUNG CHI TIẾT Tên học phần: Kỹ thuật an toàn và môi trường Loại học phần : 2
Điều kiện tiên quyết:
Không yêu cầu
Mục tiêu của học phần:
Cung cấp hiểu biết và kiến thức cơ bản cơ sở về Môi trường và Kỹ thuật an toàn
Nội dung chủ yếu:
- Khái niệm môi trường; Cấu trúc và chức năng của môi trường,
- Ô nhiễm môi trường không khí; Ô nhiễm môi trường nước; Phát triển bền vững;
- Khái niệm cơ bản trong khoa học bảo hộ lao động;
- Luật pháp, chế độ chính sách bảo hộ lao động;
- Vệ sinh lao động;
- Kỹ thuật an toàn trong một số lĩnh vực
N i dung chi ti t: ội dung chi tiết: ết:
Chương 1 : Một số vấn đề cơ bản về khoa học và kỹ thuật bảo hộ lao động 8 8
2.1.1 Đối tượng, nhiệm vụ của vệ sinh lao động
2.1.3 Các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong sản xuất
2.1.3 Biện pháp đề phòng tác hại nghề nghiệp
2.2.1 Các yếu tố vi khí hậu
2.2.2 Điều hoà thân nhiệt ở người
2.2.3 Ảnh hưởng của vi khí hậu đến cơ thể
2.2.4.Biện pháp phòng chống tác hại của vi khí hậu xấu
Chương 3 Kỹ thuật an toàn trong một số lĩnh vực 10 10
3.4 Kỹ thuật an toàn đối với thiết bị chịu áp lực 2 2
4.1.1 Thạch quyển
4.1.2 Khí quyển
Trang 44.1.3 Thuỷ quyển
4.1.4 Sinh quyển
4.2.1 Môi trường là không gian sống của loài người và sinh vật
4.2.2 Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp tài nguyên
4.2.3 Môi trường là nơi chứa đựng chất thải
5.1.1 Khái niệm về ô nhiễm không khí
5.1.2 Tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí
5.1.3 Các nguồn gây ô nhiễm không khí
5.2 Ô nhiễm bụi và các biện pháp kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm bụi 6 6
5.2.1 Khái niệm, phân loại, nguồn phát thải bụi
5.2.2 Tác hại của bụi trong không khí
5.2.3 Các biện pháp kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm bụi
5.3 Ô nhiễm khí và các biện pháp giảm thiểu
5.3.2 CFC Halon và Sự phá huỷ tầng ôzôn
6.1.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường nước
6.1.2 Tác nhân gây ô nhiễm nước
6.1.3 Nguồn thải các chất gây ô nhiễm nước
6.4.1 Vai trò của biển đối với loài người
6.4.2 Khái niệm về ô nhiễm biển và các biểu hiện ô nhiễm biển
6.4.3 Nguồn gây ô nhiễm biển
1 TS.Lưu Đức Hải Cơ sở khoa học môi trường NXB Đại học Quốc gia, 2000
2 Trần Thị Mai, Trần Hữu Nghị Bảo vệ môi trường biển NXB giáo dục, 1997
3 GT.TS Trần Văn Địch, Kỹ thuật an toàn và môi trường NXB Khoa học kỹ thuật, 2005
Hình thức và tiêu chuẩn đánh giá sinh viên:
- Thi viết
- Sinh viên phải bảo đảm các điều kiện theo Quy chế của Nhà trường và của Bộ
Thang điểm : Thang điểm chữ A,B,C,D,F.
Điểm đánh giá học phần: Z=0,2X+0,8Y.
Ngày phê duyệt: / /2012
Trưởng Bộ môn: ThS Bùi Đình Hoàn
Trang 5CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC
VÀ KỸ THUẬT BẢO HỘ LAO ĐỘNG1.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA AN TOÀN LAO ĐỘNG
1.1.1 Tầm quan trọng của an toàn lao động (ATLĐ) đối với các doanh nghiệp - Tất cả các doanh nghiệp đều tuân theo luật lao động của Nhà nước Việt Nam.
- Đem lại năng suất cao
- Tránh chi phí cho việc sửa chữa thiết bị hư hỏng do tai nạn
- Tránh chi phí về y tế do tai nạn gây ra cho người lao động (vò doanh nghiệp phải chịu tráchnhiệm thanh toán về y tế cho những công nhân bị tai nạn)
Tránh được những thiệt hại về kinh tế khác do tai nạn lao động gây ra
- Đối với những lý do pháp luật quy định
Phải tuân theo luật lao động của Việt Nam
- Chi phí cho bảo hiểm ít hơn Những nhà máy đảm bảo an toàn lao động thì tiền đóng bảo hiểm thấp hơn
- Tạo uy tín Những nhà máy đảm bảo an toàn lao động sẽ thu hút được đông đảo đội ngũ lao động giỏi
1.1.2 Tầm quan trọng của an toàn lao động đối với công nhân.
- Được bảo vệ khỏi sự nguy hiểm
Những công nhân khi làm việc được trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân là những ngườilàm việc tự tin và nhanh nhẹn
- Làm người lao động ổn định và trung bình va trung thành
- Công nhân tránh phải trả tiền thuốc men do tai nạn gây ra
1.1.3 Tầm quan trọng của an toàn lao động đối với cộng đồng.
- Giảm đáng kể nhu cầu về dịch vụ cho những tình trạng khẩn cấp: Bệnh viện, dịch vụ chữa cháy, cảnh sát,
- Giảm những chi phí cố định: Trợ cấp bệnh viện, phúc lợi xã hội, chi phí cho sức khoẻ
- Giảm những thiệt hại khác
Sẽ không có những vụ cháy làm tổn thương đến con người và của cải
- Tạo ra lợi nhuận cho xã hội
Những nhà máy không làm tốt công tác bảo hộ lao động thì năng suất lao động không cao, phảichi phí nhiều cho tai nạn lao động sẽ dẫn đến mất khả năng đóng thuế
1.2 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA, TÍNH CHẤT CỦA CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động
Mục tiêu của công tác bảo hộ lao động là thông qua các biện pháp về khoa học kĩ thuật tổ chức,kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản suất, tạo nên một điều kiệnlao động thuận lợi và ngày càng được cải thiện tốt hơn, để ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghềnghiệp, hạn chế ốm đau, giảm sút sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằmđảm bảo an toàn bảo vệ sức khoẻ người lao động trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sảnsuất, tăng năng suất lao động
Bảo hộ lao động trước hết là một phạm trù sản suất, bảo vệ yếu tố năng động nhất của lực lượngsản suất là người lao động Mặt khác, đó còn là việc chăm lo sức khoẻ cho người lao động mang lại hạnhphúc cho bản thân và gia đình họ Vì thế nó còn có ý nghĩa nhân đạo
1.2.2 Tính chất của công tác bảo hộ lao động
a) Tính chất pháp lý
Những chính sách, chế độ, quy phạm, tiêu chuẩn được ban hành trong công tác bảo hộ lao động làluật pháp của nhà nước Luật pháp về bảo hộ lao động được nghiên cứu, xây dựng nhằm bảo vệ conngười trong sản xuất, nó là cơ sở pháp lý bắt buộc các tổ chức nhà nước, các tổ chức xã hội, người sửdụng lao động và người lao động trong các thành phần kinh tế có trách nhiệm nghiên cứu thi hành
độc hại đến cơ thể con người, các giải pháp xử lý Ô nhiễm, các giải pháp đảm bảo an toàn, v v đều là
những hoạt động khoa học
Trang 6c) Tính quần chúng
Bảo hộ lao động liên quan đến tất cả mọi người, từ người sử dụng lao động đến người lao động
Họ là những người thường xuyên tiếp xúc với máy móc, trực tiếp thực hiện các qui trình công nghệ, do
đó họ có nhiều khả năng phát hiện những sơ hở trong công tác bảo hộ lao động, đóng góp xây dựng các
biện pháp về kỹ thuật an toàn, tham gia ý kiến về chuẩn mực, qui cách dụng cụ phòng hộ, quần áo làm
việc Mặt khác dù các qui trình, qui phạm an toàn được đề ra tỉ mỉ đến đâu, nhưng công nhân chưa
được học tập, chưa được thấm nhuần, chưa thấy rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của nó thì họ rất dễ viphạm Nên công tác bảo hộ lao động phải được toàn thể quần chúng thi hành mới đem lại hiệu quả
1.3 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.3.1 Điều kiện lao động
Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về kinh tế, xã hội, tổ chức, kỹ thuật, tự nhiên thể hiệnqua qui trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, con người lao động và sự tác động qua lạigiữa chúng tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản xuất
Điều kiện lao động có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ và tính mạng con người
Công cụ, phương tiện lao động có tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại gây khó khăn, nguy hiểm chongười lao động
Đối tượng lao động với các thể loại phong phú của nó ảnh hưởng tốt hay xấu, an toàn hay nguyhiểm cho con người (Thí dụ: dòng điện, hoá chất, vật liệu nổ chất phóng xạ )
Quá trình công nghệ trình độ cao hay thấp, thô sơ lạc hậu hay hiện đại đều có tác động rất lớn đến ngườilao động trong sản xuất Thậm chí còn làm thay đổi vai trò, vị trí của người lao động trong sản xuất
Môi trường lao động có nhiều yếu tố tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại rất khắc nhiệt, độc hại đềutác động rất lớn đến sức khoẻ người lao động
Đánh giá, phân tích điều kiện lao động phải tiến hành đánh giá, phân tích đồng thời trong mốiquan hệ tác động qua lại của tất cả các yếu lố trên
1.3.2 Các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất.
Những yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp chongười lao động trong một điều kiện lao động cụ thể gọi là các yếu lố nguy hiểm và có hại, cụ thể là:
- Các yếu tố vật lý: nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại
Các yếu tố hoá học: như các chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các chất phóng xạ
Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng,
Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gian chỗ làm việc, nhà xưởng chậthẹp, mất vệ sinh
- Các yếu tố không thuận lợi về tâm lý
1.3.3 Tai nạn lao động.
Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động do tác động đột ngột từ bên ngoài vàodưới dạng cơ, điện, nhiệt hoá năng hoặc của các yếu tố môi trường bên ngoài làm chết người, hoặc làmtổn thương hoặc phá huỷ chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể con người
Tai nạn lao động chia thành:
- Chấn thương là tai nạn gây ra vết thương, dập thương hoặc sự huỷ hoại khác cho cơ thể con người.Hậu quả của chấn thương có thể tạm thời hay vĩnh viễn mất khả năng lao động, có thể là chết người
Nhiễm độc nghề nghiệp là sự huỷ hoại sức khoẻ do tác dụng của các chất độc khi chúng xâm nhậpvào cơ thể con người trong sản xuất
Sự tác động lâu dài với một liều lượng nhỏ của chất độc gây ra nhiễm độc mãn tính Nhiễm độcđột ngột với liều lượng lớn của chất độc gọi là nhiễm độc cấp tính
1.3.4 Bệnh nghề nghiệp
Sự suy yếu dần dần sức khoẻ của người lao động gây nên bệnh tật Nó xảy ra trong quá trình laođộng do tác động của các yếu tố có hại phát sinh trong sản xuất, lên cơ thể người lao động
1.4 KHOA HỌC KỸ THUẬT BẢO HỘ LAO ĐỘNG
Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động là lĩnh vực khoa học tổng hợp và liên ngành, được hình thành
và phát triển trên cơ sở kết hợp và sử dụng thành tựu của nhiều ngành khác nhau Từ khoa học tự nhiên(toán lý, hoá, sinh vật) khoa học kỹ thuật chuyên ngành (y học, kỹ thuật thông gió điều hoà không khí, kỹthuật ánh sáng, âm học, điện, cơ học, công nghệ chế tạo máy ) đến các ngành khoa học kinh tế xã hội(kinh tế lao động, luật học, xã hội học, tâm lý học )
Những nội dung chính của khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động gồm:
Trang 71.4.1 Khoa học vệ sinh lao động (KHVSLĐ).
Nhiệm vụ của KHVSLĐ là khảo sát, đánh giá các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sảnxuất; nghiên cứu ảnh hưởng của chúng đến cơ thể người lao động Từ đó đề ra tiêu chuẩn giới hạn chophép của các yếu tố có hại, đề ra các chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý, đề xuất các biện pháp y học vàcác phương hướng cho các giải pháp để cải thiện điều kiện lao động Sau đó đánh giá hiệu quả của cácgiải pháp đó đối với người lao động
1.4.2 Các ngành khoa học về kỹ thuật vệ sinh
Thông gió chống nóng và điều hoà không khí, chống bụi và hơi khí độc chống ồn và rụng động
chống các tia bức xạ có hại, kỹ thuật chiếu sáng là những lĩnh vực khoa học chuyên ngành Chúng đi
sâu nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp khoa học kỹ thuật để loại trừ những yếu tố có hại phát sinhtrong sản xuất, cải thiện môi trường lao động Nhờ đó người lao động làm việc dễ chịu, thoải mái và cónăng suất lao động cao hơn, tai nạn lao động cũng sẽ giảm đi:
1.4.3 Kỹ thuật an toàn
Kỹ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm phòngngừa tác động của các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương trong sản xuất đối với người lao động Để đạtđược điều đó khoa học về kỹ thuật an toàn đi sâu nghiên cứu và đánh giá tình trạng an toàn của các thiết
bị là quá trình sản xuất, đề ra những yêu cầu an toàn để bảo vệ con người khi làm việc tiếp xúc với vùngnguy hiểm; tiến hành xây đựng các tiêu chuẩn qui trình hướng dẫn, nội dung an toàn để buộc người laođộng phải tuân theo trong khi làm việc
Việc áp dụng thành tựu của tự động hoá, điều khiển học để thay thế và cách ly người lao động khỏinơi nguy hiểm và độc hại là một phương hướng hết sức quan trọng của kỹ thuật an toàn Việc chủ động loạitrừ các yếu tố nguy hiểm và có hại ngay từ đầu trong giai đoạn thiết kế, thi công các công trình, thiết bị máymóc là một phương hướng tích cực để thực hiện việc chuyển từ "kỹ thuật an toàn"sang "an toàn kỹ thuật"
1.4.4 Khoa học về các phương tiện bảo vệ người lao động
Ngành khoa học này có nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo những phương tiện bảo vệ tập thểhay cá nhân người lao động Chúng được sử dụng trong sản xuất nhằm chống lại những ảnh hưởng củacác yếu tố nguy hiểm và có hại, khi các biện pháp về kỹ thuật vệ sinh và kỹ thuật an toàn không thể loạitrừ được chúng Để có được những phương tiện bảo vệ hiệu quả cao, có chất lượng và thẩm mỹ cao,người ta đã sử dụng thành tựu của nhiều ngành khoa học từ khoa học tự nhiên như vật lý, hoá học, khoa
học về vật liệu mỹ thuật công nghiệp đến các ngành sinh lý học, nhân chủng học Ngày nay các
phương tiện bảo vệ cá nhân như mặt nạ phòng độc, kính màu chống bức xạ, quần áo chống nóng, quần áo
kháng áp suất các loại bao tay, giầy, ủng cách điện v.v là những phương tiện thiết yếu trong quá trình
Tiêu chuẩn nhà nước Việt Nam định nghĩa:
Ecgônômi là môn khoa học liên ngành nghiên cứu tổng hợp sự thích ứng giữa các phương tiện kỹ thuật và môi trường lao động với khả năng của con người về giải phẫu, sinh lý, tâm lý nhằm đảm bảo cho lao động có hiệu quả nhất, đồng thời bảo vệ sức khoẻ, an toàn cho con người.
b) Sự tác động giữa người - máy - môi trường.
Tại chỗ làm việc, ecgônômi coi cả 2 yếu tố bảo vệ sức khoẻ cho người lao động và năng suất laođộng quan trọng như nhau
Ecgônômi tập trung vào sự thích ứng của máy móc, công cụ với người điều khiển nhờ vào việcthiết kế
Tập trung vào sự thích nghi giữa người lao động với máy nhờ sự tuyển chọn, huấn luyện
Tập trung vào việc tối ưu hoá môi trường xung quanh với con người và sự thích nghi của conngười với điều kiện môi trường
Mục tiêu chính của Ecgônômi trong quan hệ người - máy và người - môi trường là tối ưu hoá cáctác động tương hô sau:
- Giữa người điều khiển và trang bị
- Giữa người điều khiển và chỗ làm việc
- Giữa người điều khiển với môi trường lao động
Trang 8Khả năng sinh học của con người thường chỉ điều chỉnh được trong một phạm vi giới hạn nào đó,
vì vậy để thiết bị thích hợp cho một nghề thì trước tiên phải thích hợp với người sử dụng nó, vì vậy khithiết kế các trang thiết bị người ta phải chú ý đến tính năng sử dụng phù hợp với người điều khiển nó
Môi trường tại chỗ làm việc chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, nhưng phải chú ý đếnyêu cầu bảo đảm sự thuận lợi cho người lao động khi làm việc Các yếu tố về ánh sáng, tiếng ồn, rungđộng, độ thông thoáng tác động đến hiệu quả công việc Các yếu tố về sinh lý, xã hội, thời gian và tổ chứclao động ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần của người lao động
c) Nhân trắc học ecgônômi với chỗ làm việc
Người lao động phải làm việc trong tư thế gò bó ngồi hoặc đứng trong thời gian dài, thường bị đaulưng, đau cổ và căng thẳng cơ bắp Hiện tượng bị chói loá do chiếu sáng không tốt làm giảm hiệu quảcông việc, gây mệt mỏi thị giác và thần kinh, gây tâm lý khó chịu
Sự khác biệt về chủng tộc và nhân chủng học cần được chú ý khi nhập khẩu hay chuyển giao côngnghệ của nước ngoài, vì sự khác biệt về cấu trúc văn hoá xã hội có thể dẫn đến hậu quả xấu
Chẳng hạn người Việt Nam nhỏ bé phải làm việc với máy móc công cụ phương tiện vận chuyểnđược thiết kế cho người châu âu to lớn, thì luôn phải gắng sức nên nhanh chóng bị mệt mỏi các thao tác
sẽ chậm và thiết chính xác
Nhân trắc học ecgônômi với mục đích là nghiên cứu những tương quan giữa người lao động vàcác phương tiện lao động với yêu cầu đảm bảo thuận tiện nhất cho người lao động khi làm việc để có thểđạt được năng suất lao động cao nhất và đảm bảo tốt nhất sức khoẻ cho người lao động
Những nguyên tắc ecgônômi trong thiết kế hệ thống lao động như sau:
- Thiết kế chỗ làm việc
Chỗ làm việc là đơn vị nguyên vẹn nhỏ nhất của hệ thống lao riêng, trong đó con người điều khiểncác phương tiện kỹ thuật (cơ cấu điều khiển, thiết bị thông tin, trang bị phụ trợ) và đối tượng lao động
- Khi thiết kế các phương tiện kỹ thuật cần phải dựa trên các nguyên tắc sau:
+ Cơ sở nhân trắc học, cơ sinh tâm sinh lý và đặc tính khác của người lao động.
+ Cơ sở vệ sinh lao động.
+ Đạt yêu cầu thẩm mỹ kỹ thuật.
- Thiết kế không gian làm việc và phương tiện lao động dựa trên cơ sở sau:
+ Thích ứng với kích thước người điều khiển.
+ Phù hợp với tư thế của cơ thể con người, lực cơ bắp và chuyển động.
+ Có tín hiệu, cơ cấu điều khiển, thông tin phản hồi.
- Thiết kế môi trường lao động
Môi trường lao động cần phải được thiết kế sao cho tránh được tác động có hại của các yếu tố vật
lý, hoá học, sinh học và đạt được điều kiện tối ưu cho hoạt động chức năng của con người
- Thiết kế quá trình lao động
Thiết kế quá trình lao động để bảo vệ sức khoe và an toàn cho người lao động, tạo cho họ cảmgiác dễ chịu, thoải mái và dễ dàng thực hiện mục tiêu lao động Cần phải loại trừ sự quá tải gây nên bởitính chất công việc vượt quá giới hạn chức năng hoạt động tâm sinh lý của người lao động
d) Đánh giá và chứng nhận chất lượng về an toàn lao động và ecgônômi đối với máy móc, thiết bịsản suất, chỗ làm việc và quá trình công nghệ
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) tai nạn lao động liên quan đến vận hành máy móc chiếm10% tổng số con số thống kê, 39% tai nạn do máy gây ra làm mất một phần, mất hoàn toàn khả năng laođộng hoặc chết người
Ở nước ta việc áp dụng các yêu cầu, tiêu chuẩn ecgônômi trong thiết kế chế tạo máy, thiết bị sảnxuất chưa được quan tâm và đánh giá đúng mức
Hiện nay, thiết bị máy móc cũ, thiếu đồng bộ, không đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn và ecgônômi
là tình trạng phổ biến Vì vậy nguy cơ gây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp đang đe doạ sức khoẻngười lao động
Việc nhập khẩu và chuyển giao công nghệ giữa các nước khác nhau làm người lao động phải gánhchịu hậu quả, bệnh nghề nghiệp do không đảm bảo an toàn và ecgônômi
Phạm vi đánh giá về ecgônômi và an toàn lao động đối với máy, thiết bị bao gồm:
- An toàn vận hành: đố bền các chi tiết quyết định độ an toàn, độ tin cậy tránh được sự cố các chấnthương cơ học, tránh điện giật, chống cháy nổ cũng như an toàn khi vận chuyển, lắp ráp và bảo dưỡng
- Tư thế và không gian làm việc
- Các điều kiện nhìn rõ ban ngày và ban đêm
Trang 9Mức chịu đựng về thể lực: chịu đựng động và tĩnh đối với tay, chân và các bộ phận khác của cơ thể.
- Mức độ an toàn của các yếu tố có hại phát sinh bởi máy móc, thiết bị công nghệ cũng như môi
trường xung quanh: bụi tiếng ồn, rung động, các tia bức xạ
- Những yêu cầu về thẩm mỹ, bố cục không gian, sơ đồ bố trí, tạo dáng, màu sắc
- Những yêu cầu về an toàn và vệ sinh lao động ở mỗi quốc gia thường được lập thành hệ thốngchứng nhận và dấu chất lượng về an toàn và ecgônômi đối với máy móc thiết bị
1.5 XÂY DUNG VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG
1.5.1 Quá trình xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật, chế độ chính sách bảo hộ lao động ở
Việt Nam
Bảo hộ lao động là một chính sách kinh tế quan trọng của đảng và Nhà nước ta Đảng và Nhànước Việt Nam qua các thời kỳ đều rất quan tâm đến xây dựng hệ thống văn bản pháp luật chế độ chínhsách xã hội cho phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội Trong thời kỳ đầu, ngay sau khi cách mạngtháng tám thành công, trong điều kiện còn vô cùng khó khăn, tháng 3/1947 Hồ Chủ Tịch đã ký sắc lệnh
số 29SL Đó là sắc lệnh đầu tiên của nước ta về lao động trong đó có những điều khoản liên quan đến bảo
hộ lao động
Sau đại hội đảng lần thứ 3, để thực hiện chủ chương tăng cường công tác bảo hộ lao động đẩymạnh xây dựng kinh tế ở miền Bắc hội đồng chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời về bảo hộ lao độngkèm theo nghị định 181-CP ngày 18/12/1964 Đây là văn bản đầu tiên của nước ta quy định tương đốitoàn diện những vấn đề về bảo hộ lao động Điều lệ gồm 6 chương, 38 điều cùng với nhiều thông tư quiđịnh cụ thể những vấn đề về bảo hộ lao động, qui định rõ trách nhiệm của các ngành, các cấp về bảo hộlao động trước nhà nước Nó đã có tác dụng đối với việc bảo đảm an toàn vệ sinh lao động trong một thờigian tương đối dài
Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới ngày 10/9/1991 hội đồng nhà nước đã quyết định banhành pháp lệnh bảo hộ lao động Pháp lệnh qui định nội dung về bảo hộ lao động và trách nhiệm của các
cơ quan nhà nước, các ngành, các cấp, tổ chức xã hội, người sử dụng lao động và người lao động
Trách nhiệm này quán triệt từ khâu quy hoạch xây dựng, thiết kế, thi công, chế tạo đến việc xácđịnh địa điểm lắp đặt, vận chuyển, bảo quản, sử dụng các loại máy, thiết bị, vật tư theo yêu cầu an toànlao động, vệ sinh lao động
Từ tuyển chọn, đào tạo, sử dụng người lao động đến các công tác tuyên truyền, giáo dục, huấnluyện về bảo hộ lao động, kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý những vi phạm luật pháp, chế độ chínhsách bảo hộ lao động
Đặc biệt là mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động tronglĩnh vực bảo hộ lao động đã được pháp lệnh xác định cụ thể rõ ràng Lần đầu tiên quyền được bảo đảmđiều kiện làm việc an toàn vệ sinh của người lao động được pháp luật công nhận và bảo vệ Nội dung củapháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đúc rút những kinh nghiệm thực tiễn chỉ đạo và tổ chức thực hiệnđiều lệ và được hoàn chỉnh, bổ sung: nâng cao tính pháp lý, bảo đảm sự đồng bộ và phù hợp với cơ chế
quản lý mới của giai đoạn này
Tuy nhiên để phù hợp với những quy định của hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt namnăm 1992 về lao động, về sử dụng và quản lý lao động ngày 23/6/1994 quốc hội đã thông qua bộ luật laođộng của nước ta trong đó có chương 9 về an toàn lao động, vệ sinh lao động Đây là văn bản có tínhpháp lý cao nhất của nước ta về bảo hộ lao động Sau đó chính phủ ban hành nghị định 06/CP ngày20/1/1995 quy định chi tiết một số điều của bộ luật lao động về an toàn vệ sinh lao động cùng với hàngloạt thông tư, chỉ thị, qui phạm an toàn, tiêu chuẩn vệ sinh mới được ban hành hoặc điều chỉnh, sửa đổitạo hệ thống luật pháp, chế độ chính sách bảo hộ lao động của nước ta
1.5.2 Hệ thống luật pháp chế độ chính sách bảo hộ lao động của Việt Nam
Trong thập kỷ 90 nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước chúng ta đã đẩy mạnh công tác xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật bảo hộlao động nói riêng
Đến nay chúng ta đã có một hệ thống văn bản pháp luật chế độ chính sách bảo hộ lao động tươngđối đầy đủ
Trang 101.5.3 Những nội dung về an toàn vệ sinh lao động trong bộ luật lao động
Những nội dung này được qui định chủ yếu trong chương 9 an toàn lao động, vệ sinh lao động của
bộ luật lao động và được qui định chi tiết trong nghị định 06/CP ngày 20/1/1995 của chính phủ
Các nội dung của nghị định được sắp xếp thành 3 phần sau đây:
a) Đối tượng và phạm vi áp dụng chương 9 của bộ luật lao động và nghị định 06/CP (được qui định trong điều 2, 3, 4 chương I của bộ luật lao động và được cụ thể hoá trong điều 1 nghị định 06/CP).
Đối tượng và phạm vi được áp dụng các qui định về phạm vi an toàn lao động vệ sinh lao độngbao gồm: mọi tổ chức, cá nhân sử dụng lao động, mọi công chức, viên chức, mọi người lao động kể cảngười học nghề làm thuê trong các lĩnh vực, các thành phần kinh tế trong lực lượng vũ trong và các doanhnghiệp, tổ chức, cơ quan nước ngoài, tổ chức quốc tế đóng trên lãnh thổ Việt Nam
b) An toàn lao động, vệ sinh lao động
Vấn đề này được thể hiện trong từng phần hoặc toàn bộ các điều 96, 97, 98, 100 101, 102, 103,
104 và được cụ thể hoá trong chương II của NĐ 06/CP từ điều 2 đến diều 8 bao gồm những nội dungchính sau đây:
Trong xây dựng, mở rộng, cải tạo các công trình, sử dụng bảo quản, lưu dữ các loại máy vật tư,các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động thì các chủ đầu tư, người sử dụnglao động phải lập luận chứng về các biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động
Luận chứng phải có đầy đủ nội dung với các phương pháp phòng ngừa xử lý và phải được cơquan thanh tra an toàn vệ sinh lao động chấp thuận, phải cụ thể hoá các yêu cầu nội dung, biện pháp bảođảm an toàn vệ sinh lao động theo luận chứng đã được duyệt khi thực hiện
Việc thực hiện tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động là bắt buộc Người sử dụng lao độngphải xây dựng các qui trình bảo đảm an toàn vệ sinh lao động cho từng loại máy, thiết bị vật tư và nộidung an toàn vệ sinh làm việc
Việc nhập khẩu các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động,
vệ sinh lao động phải được phép của cơ quan có thẩm quyền
- Nơi làm việc có nhiều yếu tố độc hại phải kiểm tra đo lường các yếu tố độc hại ít nhất mỗi nămmột lần, phải lập hồ sơ lưu giữ và theo dõi đúng qui định, phải kiểm tra và có biện pháp xử lý ngay khithấy có hiện tượng bất thường:
- Qui định những việc cần làm ở nơi làm việc có yếu tố nguy hiểm độc hại dễ gây tai nạn lao động đểcấp cứu tai nạn, xử lý sự cố như: trang bị phương tiện cấp cứu, lập phương án sử lý sự cố, tổ chức đội cáp cứu
- Qui định những biện pháp khác nhằm tăng cường bảo đảm an toàn vệ sinh lao động bảo vệ sứckhoẻ cho người lao động như: Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân khám sức khoẻ định kỳ huấn luyện
về an toàn vệ sinh lao động bồi dưỡng hiện vật cho ncười lao động
c) Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Vấn đề này được qui định trong các điều 105, 106, 107,108 của bộ luật lao động và được cụ thểhoá trong các điều 9, 10, 11, 12 chương III nghị định 06/CP với những nội dung chính sau đây:
- Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị lai nạn lao động: sơ cứu, cấp cứu kịpthời Nếu có tai nạn lao động nặng, chết người phải giữ nguyên hiện trường và báo ngay cho cơ quan laođộng, y tế, công đoàn cấp tỉnh và công an gần nhất
Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị mắc bệnh nghề nghiệp là phải điều trịtheo chuyên khoa, khám sức khoẻ định kỳ và lập hồ sơ sức khoẻ riêng biệt
- Trách nhiệm của người sử dụng lao động bồi thường cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnhnghề nghiệp
- Trách nhiệm của người sử dụng lao động là tổ chức điều tra các vụ tai nạn lao động có sự thamgia của đại diện ban chấp hành công đoàn, lập biên bản theo đúng qui định
- Trách nhiệm của người sử dụng lao động là khai báo, thống kê và báo cáo tất cả vụ tai nạn laođộng, các trường hợp bị bệnh nghề nghiệp
1.5.4 Nhiệm vụ của các ngành các cấp về công tác bảo hộ lao động
a) Nghĩa vụ và quyền của nhà nước, quản lý nhà nước trong công tác bảo hộ lao động.
Điều 95.180,181 của bộ luật lao động Điều 17 18, 19 của NĐ 06/CP
* Nghĩa vụ và quyền của Nhà nước
Trong công tác bảo hộ lao động nhà nước có những nghĩa vụ và quyền hạn sau đây:
- Xây dược và ban hành luật pháp, chế độ chính sách bảo hộ lao động, hệ thống tiêu chuẩn quitrình, qui phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Trang 11- Quản lý nhà nước về bảo hộ lao động: hướng dẫn chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện luật pháp,chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, qui trình, qui phạm về an toàn vệ sinh lao động, kiểm tra, đôn đốc, thanhtra việc thực hiện, khen thưởng những đơn vị cá nhân có thành tích và xử lý các vi phạm về an toàn laođộng, vệ sinh lao động.
- Lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngânsách nhà nước đầu tư nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động đào tạo cán bộ bảo hộ lao động
* Bộ máy tổ chức quản lý công tác bảo hộ lao động ở trung ương địa phương
Bộ máy này bao gồm các tổ chức sau:
- Hội đồng quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động (gọi tắt là bảo hộ lao động) sẽ đượcthành lập theo điều 1 8 của NĐ06/CP Hội đồng làm nhiệm vụ tư tấn cho thủ tướng chính phủ và tổ chứcphối hợp hoạt động của các ngành, các cấp về an toàn lao động, vệ sinh lao động
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về an toàn lao động đối vớiCác ngành và các địa phương trong cả nước và có trách nhiệm
+ Xây dựng trình ban hành hoặc ban hành các văn bản pháp luật chế độ chính sách bảo hộ lao động, hệ
thống qui phạm nhà nước về an toàn lao động, tiêu chuẩn phân loại lao động theo điều kiện lao động
+ Hướng dân chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện các văn bản trên, quản lý thống nhất hệ thống
qui phạm trên
+ Thanh tra về an toàn lao động.
+ Thông tin, huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động.
+ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn lao động.
- Bộ Y tế thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực vệ sinh lao động và có trách nhiệm sau:
+ Xây dựng trình ban hành, ban hành và quản lý thống nhất hệ thống qui phạm vệ sinh lao động,
tiêu chuẩn sức khoẻ đối với các nghề, công việc
+ Hướng dẫn, chỉ đạo các ngành các cấp thực hiện các qui định về vệ sinh lao động
+ Thanh tra về vệ sinh lao động.
+ Tổ chức khám sức khoẻ và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
- Bộ khoa học và công nghệ có trách nhiệm sau:
+ Quản lý thống nhất việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật về an toàn lao động vệ sinh lao động + Ban hành hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, qui cách các phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động.
+ Phối hợp với Bộ lao động - Thương binh và xã hội, Bộ Y tế xây dựng, ban hành và quản ký
thống nhất hệ thống tiêu chuẩn nhà nước về an toàn lao động vệ sinh lao động
Bộ giáo dục và đào tạo có trách nhiệm chỉ đạo nội dung an toàn lao động, vệ sinh lao động vàochương trình dạy trong các trường đại học, các trường kỹ thuật, quản lý và dạy nghề
Các bộ các nghành khác có trách nhiệm ban hành hệ thống tiêu chuẩn, qui phạm an toàn vệ sinh laođộng cấp ngành sau khi có thảo thuận bằng vãn bản của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế
Việc quản lý Nhà nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động trong các lĩnh vực phóng xạ, thăm
dò khai thác dầu khí, các phương tiện vận tải đường sắt đường thuỷ, đường bộ đường hàng không vàtrong các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang do các cơ quan quản lý ngành đó chịu trách nhiệm có sự phốihợp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế
- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm:
+ Thực hiện quản lý nhà nước về an toàn lao động vệ sinh lao động trong phạm vi địa phương mình + Xây dựng các mục tiêu đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động đưa vào kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội và ngân sách của địa phương
b) Nghĩa vụ và quyền của người sử dụng lao động trong công tác bảo hộ lao động.
* Nghĩa vụ
Điều 13 chương IV của nghị định 06/CP qui định người sử dụng lao động có nghĩa vụ sau:
- Hàng năm khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải lập kế hoạch biệnpháp an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động
Trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và thực hiện các chế độ khác về an toàn lao động, vệsinh lao động đối với người lao động theo qui định của nhà nước
- Cử người giám sát việc thực hiện các qui định, nội dung, biện pháp an toàn lao động, vệ sinh laođộng trong doanh nghiệp, phối hợp với công đoàn cơ sở xây dựng và duy trì mạng lưới an toàn vệ sinh
- Xây dựng nội qui, qui trình an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với từng loại máy thiết
bị, vật tư kể cả khi đổi mới công nghệ máy, thiết bị, vật tư và nơi làm việc theo tiêu chuẩn qui định củanhà nước
Trang 12- Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn thực hiện các tiêu chuẩn, qui định biện pháp an toàn, vệ sinh laođộng đối với người lao động.
- Tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động theo tiêu chuẩn, chế độ qui định
- Chấp hành nghiêm chỉnh qui định khai báo điều tra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp vàđịnh kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo kết quả tình hình thực hiện an toàn lao động, vệ sinh lao động, cảithiện điều kiện lao động với sở lao động - thương binh và xã hội nơi doanh nghiệp hoạt động
* Quyền lợi
Điều 14 chương IV của nghị định 06/CP qui định quyền của người sử dụng lao động như sau:
- Buộc người lao động phải tuân thủ các qui định, nội dung, hiến pháp về an toàn lao động, vệ sinh lao động.Khen thưởng người chấp hành tốt và kỷ luật người vi phạm trong việc thực hiện an toàn lao động,
vệ sinh lao động
Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quyết định của thanh tra về an toàn lao động
vệ sinh lao động nhưng vẫn phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định đó
c) Nghĩa vụ và quyền của người lao động trong công tác bảo hộ lao động.
* Nghĩa vụ
Điều 15 chương IV nghị định 06/CP qui định nghĩa vụ của người lao động như sau:
- Chấp hành các qui định, nội qui về an toàn lao động, vệ sinh lao động có liên quan đến côngviệc, nhiệm vụ được giao
- Phải sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp, nếu làm mất hưhỏng thì phải bồi thường
- Phải báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây tai nạn lao động bệnhnghề nghiệp, gây độc hại hoặc sự cố nguy hiểm; tham gia cấp cứu hà khắc phục hậu quả tai nạn lao độngkhi có lệnh của người sử dụng lao động
* Quyền
Điều 16 chương IV nghị định 06/CP qui định quyền của người lao động như sau:
- Yêu cầu người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh, cải thiện điều kiệnlao động, trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, huấn luyện, thực hiện biện pháp an toàn lao động,
vệ sinh lao động
Từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, đedoạ nghiêm trọng lính mạng sức khoẻ của mình và phải báo cáo ngay với người phụ trách trực tiếp, từchối trở lại làm việc nơi nói trên nếu những nguy cơ nói trên chưa được khắc phục
- Khiếu nại hoặc tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động vi phạmqui định của nhà nước hoặc không thực hiện đúng các giao kết về an toàn lao động, vệ sinh lao độngtrong hợp đồng lao động, thoả ước lao động
d) Tổ chức công đoàn (gọi tắt là công đoàn)
* Trách nhiệm và quyền của công đoàn
Căn cứ điều 156 của bộ luật lao động, điều 6 chương II luật công đoàn năm 1990, các điều 20, 21của NĐ/CP, Tống liên đoàn Lao động Việt Nam đã cụ thể hoá các nghĩa vụ và quyền của công đoàn vềbảo hộ lao động trong nghị quyết 01/TLĐ ngày 21/4/1995 của đoàn chủ tịch Tổng liên đoàn Lao độngViệt Nam với các nội dung sau:
- Tham gia với các cấp chính quyền, cơ quan quản lý và sử dụng người lao động xây dựng các vănbản pháp luật các tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động, chế độ chính sách báo hộ lao động, kếhoạch báo hộ lao động các biện pháp bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động
- Tham gia với các cơ quan nhà nước xây dựng chương trình bảo hộ lao động quốc gia, tham giaxây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động Tổngliên đoàn quản lý và chỉ đạo các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động, tiến hành các hoạtđộng nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động
- Cử đại diện tham gia vào các đoàn điều tra tai nạn lao động, phối hợp theo dõi tình hình tai nạnlao động, cháy nổ, bệnh nghệ nghiệp
- Tham gia việc xét khen thưởng xử lý các vi phạm về bảo hộ lao động
- Thay mặt người lao động ký thoả ước lao động tập thể với người sử dụng lao động trong đó cócác nội dung bảo hộ lao động
- Thực hiện quyền kiểm tra giám sát việc thi hành pháp luật, chế độ chính sách, tiêu chuẩn, quiđịnh về bảo hộ lao động, về việc thực hiện các điều về bảo hộ lao động trong thoả ước tập thể đã ký vớingười sử dụng lao động
Trang 13- Tham gia tổ chức tuyên truyền phổ biến kiến thức an toàn, vệ sinh lao động, chế độ chính sáchbảo hộ lao động, quyền lợi và nghĩa vụ bảo hộ lao động Giáo dục vận động mọi người lao động và người
sử dụng lao động thực hiện tốt trách nhiệm, nghĩa vụ về bảo hộ lao động Tham gia huấn luyện bảo hộ laođộng cho người sử dụng lao động và người lao động, đào tạo kỹ sư sau đại học về ngành bảo hộ lao động
Tổ chức phong trào quần chúng về bảo hộ lao động phát huy sáng kiến cải thiện điều kiện làm việc, tổchức quán lý mạng lưới an toàn vệ sinh viên và những đoàn viên hoạt động tích cực về bảo hộ lao động
* Nhiệm vụ và quyền hạn của công đoàn doanh nghiệp.
Mục V thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT - BLĐTBXH - TLĐLĐVN ngày 31/10/1998 qui địnhcông đoàn doanh nghiệp có nhiệm vụ và quyền sau đây:
+ Động viên khuyến khích người lao động phát huy sáng kiến cải tiến thiết bị máy móc nhằm cải
thiện môi trường làm việc, giảm nhẹ sức lao động
+ Tổ chức lấy ý kiến tập thể người lao động; tham gia xây dựng nội qui qui chế quản lý về an toàn
vệ sinh lao động; xây dựng kế hoạch bảo hộ lao động: đánh giá việc thực hiện các chế độ chính sách bảo
hộ lao động, biện pháp bảo đảm an toàn, sức khoẻ người lao động
+ Tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động bảo hộ lao động của công đoàn ở doanh nghiệp cùng với
người sử dụng lao động
+ Phối hợp tổ chức các hoạt động để đẩy mạnh các phong trào bảo đảm an toàn vệ sinh lao động,
bồi dưỡng nghiệp vụ và các hoạt động bảo hộ lao động đối với mạng lưới an toàn vệ sinh viên
- Quyền:
+ Tham gia xây dựng các qui chế, nội qui về quản lý bảo hộ lao động, an toàn lao động và vệ sinh
lao động với người sử dụng lao động
+ Tham gia các đoàn kiểm tra công tác bảo hộ lao động do doanh nghiệp tổ chức; tham dự các
cuộc họp kết luận của các đoàn thanh tra, kiểm tra, các đoàn điều tra tai nạn lao động
+ Tham gia điều tra tai nạn lao động; nắm tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và việc
thực hiện kế hoạch bảo hộ lao động và các biện pháp bảo đảm an toàn sút khoẻ người lao động trong sảnxuất; đề xuất các biện pháp khắc phục thiếu sót, tồn tại
Trang 14CHƯƠNG 2 VỆ SINH LAO ĐỘNG 2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỆ SINH LAO ĐỘNG
2.1.1 Đối tượng, nhiệm vụ của vệ sinh lao động.
Vệ sinh lao động là môn khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố có hại trong sản xuấtđối với sức khoẻ người lao động, tìm các biện pháp nhằm cải thiện điều kiện lao động, phòng ngừa cácbệnh nghề nghiệp và nâng cao khả năng lao động cho người lao động trong điều kiện sản xuất
Trong sản xuất, người lao động có thể phải tiếp xúc với những yếu tố có ảnh hưởng xấu đến sứckhoẻ, các yếu tố này gọi là những tác hại nghề nghiệp Làm trong những nghề khác nhau, có thể gặpnhững lác hại nghề nghiệp khác nhau Ví dụ: nghề rèn, đúc kim loại yếu tố tác hại nghề nghiệp chính lànhiệt độ cao, nghề dệt là tiếng ồn và bụi
Tác hại nghề nghiệp ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động ở nhiều mức độ như mệt mỏi,suy nhược, giảm khả năng lao động, làm tăng các bệnh thông thường (cảm cúm, viêm họng, đau dạ
dày ) thậm chí còn gây ra các bệnh nghề nghiệp Ví dụ: bệnh phổi nhiễm bụi ở người lao động tiếp xúc
với bụi đá, bụi than bệnh nhiễm độc chì ở công nhân, sản xuất acquy, bệnh nhiễm xạ ở công nhân khai
thác các chất phóng xạ
Để đạt được mục đích nâng cao khả năng làm việc, phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp cho ngườilao động trong điều kiện sản xuất thì vệ sinh lao động có nhiệm vụ sau đây:
Nghiên cứu đặc điểm vệ sinh của các quá trình sản xuất
- Nghiên cứu các biến đổi sinh lý sinh hoá của cơ thể trong các điều kiện lao động khác nhau
- Nghiên cứu việc tổ chức lao động và nghỉ ngơi hợp lý
- Nghiên cứu các biện pháp đề phòng tình trạng mệt mỏi trong lao động, hạn chế ảnh hưởng củacác yếu tố tác hại nghề nghiệp trong sán xuất, đánh giá hiệu quả của các biện pháp đó
Quy định các tiêu chuẩn vệ sinh, chế độ vệ sinh xí nghiệp và cá nhân, chế độ bảo hộ lao động
Tổ chức khám tuyển và sắp xếp hợp lý công nhân vào làm việc ở các bộ phẩm khác nhau trong xí nghiệp.Quản lý theo dõi tình hình sức khoẻ người lao động, tổ chức khám sức khoẻ định kỳ, phát hiệnsớm bệnh nghề nghiệp
Giám định khả năng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, mắc bệnh nghề nghiệp vàcác bệnh mãn tính khác
Tiến hành kiểm tra đôn đốc việc thực hiện các biện pháp vệ sinh và an toàn lao động trong sản xuất.Như vậy vệ sinh lao động đóng vai trò rất quan trọng vào việc bảo vệ sức khoẻ cho người laođộng và nâng cao khả năng làm việc của họ
2.1.2 Các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong sản xuất
Phát hiện các yếu tố tác hại nghề nghiệp và đánh giá mức độ ảnh hưởng của nó đối với cơ thểngười lao động là một nội dung công tác quan trọng của vệ sinh lao động Khi điều tra nghiên cứu mộtnghề nghiệp, người làm công tác vệ sinh lao động trong nghề ni,hiệp này cần xác định đây là những yếu
tố gì Mức độ lác hại của chúng đến đâu? Phạm vi tác hại là cá biệt hay phổ biến ở nhiều người? Phươnghướng và các biện pháp ngăn chặn, đề phòng tác hại ra sao'? Công việc này đòi hỏi phải được tiến hành
một cách có hệ thống tỷ mỷ, khoa học và chính xác
Các yếu tố tác hại nghề nghiệp có thể phân thành các loại sau:
2.1.2.1 Các yếu tố tác hại liên quan đến quá trình sản xuất
Trang 15- Thời giờ làm việc liên tục quá lâu, làm liên tục không nghỉ làm thông ca.
- Cường độ lao động quá nặng nhọc, không phù hợp với tình trạng sức khoẻ người lao động
- Chế độ làm tiệc và nghỉ ngơi không hợp lý
Làm việc với tư thế gò bó không thoải mái như: Cúi khom, vặn mình, ngồi hoặc đứng quá lâu
Sự hoạt động khẩn trương, căng thẳng quá độ của các hệ thống và giác quan như hệ vận động thầnkinh, thị giác, thính giác, trong thời gian làm việc
- Công cụ sán xuất không phù hợp với cơ thể công nhân bề mặt trọng lượng, hình dáng, kích thước
2.1.2.3 Các tác hại liên quan đến điều kiện vệ sinh an toàn
- Chiếu ánh sáng hoặc sắp xếp bố trí hệ thống chiếu sáng không hợp lý
- Làm việc ở ngoài trời có thời tiết xấu, nóng về mùa hè, lạnh về mùa đông
- Phân xưởng chật chội và việc sắp xếp nơi làm việc lộn xộn, mất trật tự, không ngăn nắp
- Thiếu thiết bị thông gió, chống bụi, chống nóng và chống hơi khí độc
- Thiếu trang bị phòng hộ lao động, hoặc có nhưng sử dụng bảo quản không tốt
- Việc thực hiện quy tắc vệ sinh an toàn lao động còn chưa triệt để và nghiêm chỉnh
- Làm những công việc nguy hiểm và có hại, nhưng chưa được cơ khí hoá, phải thao tác hoàn toàntheo phương pháp thủ công
Trong các điều kiện sản xuất khác nhau, ảnh hưởng của những tác hại nghề nghiệp kể trên cũng cóthể khác nhau Dựa theo tính chất nghiêm trọng của tác hại nghề nghiệp và phạm vi tồn tại của nó rộnghay hẹp, người ta còn phân các yếu tố tác hại nghề nghiệp ra làm 4 loại sau:
a) Loại có tính chất tác hại tương đối lớn, phạm vi ảnh hưởng tương đối rộng bao gồm các chấtđộc hại trong sản xuất gây nhiễm độc nghề nghiệp thường gặp như chì, benzen, thuỷ ngân, ma ngan, CO,
xạ mạnh gây ra say nóng
b) Loại có lính tác hại tương đối nghiêm trọng nhưng hiện nay phạm vi ảnh hưởng còn chưa phổbiến như: các hợp chất hữu cơ của kim loại và á kim như thuỷ ngân hữu cơ, a sen hữu cơ, các hợp chấthoá hợp cao phân tử và các nguyên tố hiếm; các chất phóng xạ và tia phóng xạ Các loại này tương laidùng nhiều có thể gây ra nhiễm độc cấp tính hoặc bệnh nghề nghiệp nặng, cán phải hết sức chú ý
c) Loại có phạm vi ảnh hưởng rộng nhưng tính chất tác hại không rõ lắm bao gồm: ánh sáng mạnh
và tia lử ngoại gây bệnh viêm mắt, chiếu sáng không tốt, có thế gây ra loạn thị và ảnh hưởng đến năngsuất lao động, tiếng ồn, rung động gây tổn thương đến khả năng làm việc, tác đông xấu do thiếu sót trongviệc xây dựng, thiết kế phân xưởng sản xuất
Các tác hại nghề nghiệp trên tuy ảnh hưởng đối với sức khoẻ người lao động không lớn lắm,
nhưng phạm vi ảnh hưởng rộng và có quan hệ mật thiết đến việc nâng cao năng suất lao động do đó trong
công tác BHLĐ cần có sự chú ý nhất định
d) Loại có tính chất đặc biệt và mới như: Làm việc trong điều kiện áp suất cao hoặc thấp, làm việcvới các loại máy phát sóng cao tần và siêu cao tần (ra đa, cô luyến), làm việc trong điều kiện có gia tốc,những vấn đề có liên quan đến khai thác dầu mỏ, hơi đốt và chế biến các sản phẩm của dầu mỏ đềudẫn đến phát sinh bệnh (bệnh nghề nghiệp)
2.1.3 Biện pháp đề phòng tác hại nghề nghiệp
Loại trừ các yếu tố tác hại nghề nghiệp là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt
chẽ của nhiều bộ phận như kỹ thuật sản xuất, an toàn lao động y tế, thiết kế thi công Tuỳ tình hình cu
thể có thể áp dụng các biện pháp đề phòng sau:
a) Biện pháp kỹ thuật công nghệ
Cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ như: cơ giới hoá, tự động hoá, dùng các chất không độc
ho(-lc ít độc thay thế cho những chất có tính độc cao
b) Biện pháp kỹ thuật vệ sinh
Các biện pháp về kỹ thuật vệ sinh như sử dụng hệ thống thông gió, hệ thống chiếu sáng nơi sản
xuất Tận dụng triệt để thông gió tự nhiên, chiếu sáng tự nhiên cũng là những biện pháp góp phần cảithiện điều kiện làm việc
c) Biện pháp tổ chức lao động khoa học
Thực hiện việc phân công lao động hợp lý theo đặc điểm sinh lý của công nhân, tìm ra những biệnpháp cải tiến làm cho lao động bớt nặng nhọc, tiêu hao năng lượng ít hơn hoặc làm cho người lao độngthích nghi được với công sụ sản xuất mới, hoặc làm cho lao động thích nghi được với con người Điềunày vừa tạo năng suất lao động cao hơn lại an toàn hơn
Trang 16d) Biện pháp y tế bảo vệ sức khoẻ
Kiểm tra sức khoẻ người lao động, khám tuyển để không chọn người mắc 1 số bệnh nào đó vàolàm việc ở những nơi có yếu tố bất lợi cho sức khỏe, gì sẽ làm cho bệnh nặng thêm hoặc dễ đưa đến mắcbệnh nghề nghiệp
Khám định kỳ cho người lao động tiếp xúc với các yếu tố độc hại nhằm phát hiện sớm bệnh nghềnghiệp và những bệnh mãn tính khác để kịp thời có biện pháp giải quyết
Theo dõi sức khoẻ người lao động 1 cách liên tục như vậy mới quản lý bảo vệ được sức khoẻ laođộng, kéo dài tuổi đời, đặc biệt là tuổi nghề lao đóng
Ngoài ra còn phải tiến hành giám định khả năng lao động và hướng dẫn tập luyện phục hồi lại khảnăng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, mắc bệnh nghề nghiệp và các bệnh mãn tính khác
đã được điều trị thường xuyên kiểm tra vệ sinh an toàn lao động và cung cấp đầy đủ thức ăn, nước uốngđảm bảo chất lượng cho người lao động làm việc với các chất độc hại
e) Biện pháp phòng hộ lao động
Đây là biện pháp bổ trợ nhưng trong nhiều trường hợp, khi các biện pháp cải tiến quá trình côngnghệ, biện pháp kỹ thuật vệ sinh chưa thực hiện được thì nó đóng vai trò chủ yếu trong việc đảm bảo antoàn cho người lao động trong sản xuất và phòng bệnh nghề nghiệp
Dựa theo tính chất độc hại trong ẩn xuất mỗi nghề người lao động sẽ được trang bị dụng cụ phòng
hộ thích hợp
2.2 VI KHÍ HẬU TRONG SẢN XUẤT
Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp gồm các yếu tố:nhiệt độ, độ ẩm bức xạ nhiệt và vận tốc chuyển động không khí Điều kiện vi khí hậu trong sản xuất phụthuộc vào tính chất của quá trình công nghệ và khí hậu địa phương
Về mặt vệ sinh, vi khí hậu có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ, bệnh tật của người lao động
Làm việc lâu trong điều kiện vi khí hậu lạnh và ẩm có thể mắc bệnh thấp khớp, viêm đường hôhấp trên, viêm phổi và làm cho bệnh lao nặng thêm
Vi khí hậu lạnh khô làm cho rối loạn vân mạch thêm trầm trọng, làm giảm tiết niêm dịch đường
hô hấp, gây ra khô niêm mạc, nứt nẻ da Vi khí hậu nóng ẩm làm giảm khả năng bay hơi mồ hôi, lạo điềukiện gây ra rối loạn thăng bằng nhiệt, làm cho mệt mỏi xuất hiện sớm, nó còn tạo điều kiện cho vi sinhvật phát triển, gây ra các bệnh ngoài da
Tuỳ theo tính chất toả nhiệt của quá trình sản xuất người ta chia ra 3 loại vi khí hậu sau:
cơ khí, xưởng dệt ).
Vi khí hậu lạnh, toả nhiệt ít hơn 20kcal/m' không khí 1 giờ (trong xưởng lên men rượu, bia nhà
phản ứng hoá học sinh nhiệt, bức xạ nhiệt của mặt trời, nhiệt do người sản ra Chính các nguồn nhiệt
b) Bức xạ nhiệt
Bức xạ nhiệt là những hạt năng lượng truyền trong không khí dưới dạng dao động sóng điện từgồm tia hồng ngoại, tia sáng thường và tia tử ngoại
lử ngoại phát ra càng nhiều
c) Độ ẩm
Trang 17Đây là lượng hơi nước có trong khí, đo bằng gam trong một mét khối không khí, hoặc bằng sứctrương hơi nước bằng mm cột thuỷ ngân.
Về mặt vệ sinh, thường lấy độ ẩm tương đối là tỷ lệ phần trăm giữa độ ẩm tuyệt đối ở một thờiđiểm nào đó so với độ ẩm tối đa
Độ ẩm tối đa là độ ẩm đã bão hoà hơi nước
Độ ẩm tuyệt đối là độ ẩm trong không khí đo được
Điều lệ vệ sinh quy định độ ẩm tương đối ở nơi sản xuất nên trong khoảng 75 - 85%.
2.2.2 Điều hoà thân nhiệt ở người.
do trung tâm chỉ huy điều nhiệt điều khiển Để duy trì thăng bằng nhiệt trong điều kiện vi khí hậu nóng cơthể thải nhiệt thừa bằng cách giãn mạch ngoại biên và tăng cường tiết mồ hôi
lít mồ hôi bay hơi hoàn toàn thải ra dược chừng 580 kcal Còn trong điều kiện vi khí hậu lạnh cơ thể tăngcường quá trình sinh nhiệt và hạn chế quá trình thai nhiệt để duy trì sự thăng bằng nhiệt
Thăng bằng nhiệt chỉ có thể thực hiện được trong phạm vi trường điều nhiệt gồm 2 vùng: Vùngđiều nhiệt hoá học và vùng điều nhiệt lý học: Vượt quá giới hạn này về phía dưới cơ thể sẽ bị nhiễm lạnh,ngược lại về phía trên cơ thể sẽ bị quá nóng (hình 2.5)
a) Điều nhiệt hoá học:
Đây là quá trình biến đổi sinh nhật do sự ôxy hoá các chất dinh dưỡng Biến đổi chuyển hoá thayđổi theo nhiệt độ không khí bên ngoài và trạng thái lao động hay nghỉ ngơi của cơ thể Quá trình chuyếnhoá tăng khi nhiệt độ bên ngoài thấp và lao động nặng, ngược lại quá trình giảm khi nhiệt độ môi trườngcao và cơ thể ở trạng thái nghỉ ngơi (bảng 2.1)
Bảng 2.1 Bi n ết: đổi quá trình điều nhiệt theo nhiệt độ không khí i quá trình i u nhi t theo nhi t đ ều nhiệt theo nhiệt độ không khí ệt theo nhiệt độ không khí ệt theo nhiệt độ không khí đội dung chi tiết: không khíLoại điều
Thay đổi của nhiệt độ
Kết quả điều nhiệt
sinh nhiệt
Chuyển hoátăng
mà ta tiếp xúc có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ da Bởi vậy sàn nhà bàn ghế, các bộ phận điều khiển máy mà
ta thường xuyên tiếp xúc cần được bọc bằng chất cách nhiệt (gỗ, da ) để tránh sự mất nhiệt quá nhiều
hoặc nhận thêm nhiệt khi nó có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ da
Thải nhiệt bằng đối lưu là hình thức truyền nhiệt theo thuyết động học phân tử, do lớp không khí ởxung quanh được thay bằng lớp không khí khác lạnh hơn Cho nên chuyển động của không khí có tácdụng làm mát cơ thể trong mùa hè nóng bức, hoặc làm cho cơ thể bị cảm lạnh trong mùa đông giá rét
Thải nhiệt bằng bức xạ: do cơ thể phát ra các tia bức xạ nhiệt, khi nhiệt độ trung bình của các bềmặt xung quanh thấp hơn nhiệt độ da Ngược lại cơ thể nhận thêm nhiệt bức xạ khi nhiệt độ trung bìnhcủa các bề mặt xung quanh có thể nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ da
này cơ thể chỉ còn thải nhiệt bằng cách bay hơi mồ hôi để duy trì thăng bằng nhiệt
Các yếu tố vi khí hậu có ảnh hưởng đến khả năng điều hoà nhiệt của cơ thể Nhiệt độ không khí vàlưu chuyển không khí quyết định sự trao đổi nhiệt bằng đối lưu Nhiệt độ bề mặt các vật xung quanh(tường, trần sàn, máy) quyết định sự trao đổi nhiệt bằng bức xạ Độ ẩm tương đối của không khí quyếtđịnh sự trao đổi nhiệt bằng bay hơi mồ hôi
Vì vậy, cần thay đổi các yếu tố vi khí hậu trên, tạo điều kiện cho cơ thể duy trì sự thăng bằng nhiệt
khí nên ở mức dưới 0,2 m/s Độ ẩm tương đối của không khí nén giữ ở mức 50% - 20%.
của không khí nên dao động trong khoảng 1-3 m/s
Trang 182.2.3 Ảnh hưởng của vi khí hậu đến cơ thể
2.2.3.1 Ảnh hưởng của vi khí hậu nóng.
Làm việc trong điều kiện vi khí hậu nóng có thể xảy ra các biến đổi sinh lý, bệnh lý
a) Biến đổi sinh lý
- Nhiệt độ da; đặc biệt là vùng da trán, rất nhạy cảm đối với các biến đổi nhiệt bên ngoài Biến đổi
về cảm giác nhiệt theo nhiệt độ da trán cho trong bảng 2.2
Bảng 2.2. Thang c m giác nhi t theo nhi t ảm giác nhiệt theo nhiệt độ da trán ệt theo nhiệt độ không khí ệt theo nhiệt độ không khí đội dung chi tiết: da trán
Nhiệt độ da trán
( 0 C) Cảm giác nhiệt
Nhiệt độ da trán ( 0 C) Cảm giác nhiệt
Dễ chịu
31,5 - 32,532,5 - 33,5
> 33,5
NóngRất nóngNóng ngạt
Nhiệt thân (ở dưới lưỡi)
động, có sự nguy hiểm sinh chứng say nóng
Chuyển hoá nước:
Trong cơ thể người ở trạng thái bình thường có sự cân bằng giữa lượng nước ăn uống vào (2,5 - 3lít/ngày) và thải ra 1,5 lít qua thận; 0,2 lít qua phân, còn lại theo mồ hôi và hơi thở ra ngoài
Làm việc trong điều kiện nóng, để duy trì thăng bằng nhiệt, cơ thể phải tiết nhiều mồ hôi, có khitới 5-7 lít trong 1 ca làm việc Kèm theo mồ hôi, cơ thể còn mất một lượng muối ăn đáng kể khoảng 20
Do mất nước nhiều, làm cho khối lượng, tỷ trọng và độ nhớt của máu thay đổi, tim phả làm việcnhiều hơn đế cung cấp năng lượng và thải hết lượng nhiệt thừa cho cơ thể Cũng vì thế nước thải qua thậnchỉ còn khoảng 10 - 15% so với lúc bình thường, làm cho chức phận thận bị ảnh hưởng Mặt khác do mấtnước nhiều, phải uống nước nhiều làm cho dịch bị loãng nên mất cảm giác thèm ăn và mất ngon Cũng vìthế, chức năng diệt trùng của dịch vị bị hạn chế, làm cho dạ dày, ruột dễ bị viêm nhiễm, chức phận chốngđộc và sinh glycogen của gan cũng bị ảnh hưởng
Chức phận hoạt động của hệ thần kinh trung ương cũng bị ảnh hưởng (giảm sự chú ý, hợp đồng động tác,giảm quá trình kích thích và tốc độ phản xạ kéo dài thời gian phản ứng) nên thường dễ bị tai nạn lao động
Trong điều kiện vi khí hậu nóng, các bệnh thường gặp tăng lên gấp 2 so với lúc bình thường Rốiloạn bệnh lý do vi khí hậu nóng thường gặp là chúng say nóng và chứng co giật, làm cho con người bị
thở nhanh Trường hợp nặng cơ thể bị choáng, mạch nhỏ, thở nông, có thể mất 1 phần hoặc toàn bộ trígiác, hôn mê, co giật Đặc biệt có cơn co giật cơ rất đau toàn thân vật vã
Để cấp cứu nạn nhân trong trường hợp này cần đưa ngay ra nơi thoáng, cho thuốc trợ hô hấp, trợtim mạch và các thuốc trợ lực cấp cứu khác
2.2.3.2 Ảnh hưởng của vi khí hậu lạnh
Ảnh hưởng này làm cho cơ thể mất nhiệt, nhịp tim nhịp thở giảm và thông kém và sức đề kháng
cơ thể giảm
2.2.3.3 Ảnh hưởng của bức xạ nhiệt
Làm việc với kim loại nung nóng, nóng chảy có thể bị ảnh hưởng bởi các tia bức xạ nhiệt: tiahồng ngoại, tia tử ngoại
+ Tia hồng ngoại:
Tuỳ theo cường độ bức xạ tia hồng ngoại có các mức tác dụng nhiệt khác nhau (bảng 2.3)
Bảng 2-3 Mức tác dụng của bức xạ hồng ngo i ại
YếuVừa phảiTrung bìnhNhiều Cao
Thời gian dàiChịu được 3 - 5 phútChịu được 40 - 60 giâyChịu được 20 - 30 giâyChịu được 12 - 24 giây
Trang 194,0 - 5,0
> 5,0
MạnhRất mạnh
Chịu được 8 - 10 giâyChịu được 3 - 5 giây
Mức tác dụng còn phụ thuộc vào bước sóng, diện tích bị chiếu, góc chiếu tới của tia bức xạ
Thông thường tia hồng ngoại có bước sóng ngắn, có sức rọi sâu vào dưới da tỏi 3cm; gây ra tác dụng tạichỗ làm cho bỏng, rộp và phồng da gây cảm giác nóng bỏng
Làm việc ngoài trời nóng, im gió, oi bức tia bức xạ nhiệt có thể xuyên 1 qua xương hộp sọ vào tổchức não, hun nóng tổ chức não màng não gây ra các biến đối quan trọng, còn gọi là say nắng Say nắngthường gặp ở những người lao động ngoài trời nắng gắt Tia hồng ngoại còn gây ra bệnh đục nhân mắt(bệnh thông manh nghề nghiệp) thường gặp ở thợ nấu thép, thợ hàn, thợ thổi thuỷ tinh do thiếu kínhphòng hộ Bệnh xảy ra muộn sau 20 - 30 năm làm việc, thị lực giảm dần, có thể bị mù hẳn
+ Tia tử ngoại gồm các bức xạ có bước sóng từ 400 - 7,6 mm, có thể chia làm 3 loại:
Tia tử ngoại A có bước sóng dài 400 - 315 nm
Tia tử ngoại B có bước sóng trung bình 315 - 280 nm.
Tia tử ngoại C có bước sóng ngắn dưới 280 nm
Người lao động làm việc ở ngoài trời phải tiếp xúc với tia tử ngoại A của mặt trời Tia tử ngoại Acòn được sinh ra bởi đèn dây tóc đèn huỳnh quang, tia lửa hàn, gây tác hại cho thợ hàn người điều khiểncác loại đèn, người làm ở buồng điều khiển máy chiếu phim và vô tuyến truyền hình
Tia tử ngoại B được phát ra bởi bóng đèn thuỷ ngân, lò nấu thép hồ quang
Để phòng ngừa tác hại của tia tử ngoại, Tổ chức tao động Quốc tế đã công bố trị số giới hạn tiếpxúc cho phép của mức độ chiếu dội và thời gian tiếp xúc như sau:
Những tia tử ngoại có bước sóng từ 320 - 400 mm chiếu lên da và mắt không có bảo vệ không quá
260270280290300305310315
4.63.03.44.710502001000Thời gian tiếp xúc cho phép có thể xác định theo bảng 2.5 Ở đây nó quy định thời gian tiếp xúctương ứng với độ phát phát quang hiệu dụng
Bảng 2.5 Th i gian ti p xúc v i tia t ngo i cho phép ời gian tiếp xúc với tia tử ngoại cho phép ết: ới hạn chiếu rọi tiếp xúc với tia tử ngoại B cho phép ử ngoại B cho phép ạiThời gian
Hiện nay tia laze được sử dụng nhiều trong nghiên cứu khoa học, trong công nghiệp trong y học
Nó gây bỏng da, bỏng màng võng mạc, còn có tác dụng điện học, hoá học, cơ học
2.2.4 Biện pháp phòng chống tác hại của vi khí hậu xấu
Biện pháp phòng chống để làm giảm hoặc mất tác hại của các yếu tố vi khí hậu trong xí nghiệpbao gồm các biện pháp sau:
2.2.4.1 Biện pháp phòng chống tác hại của vi khí hậu nóng
a) Biện pháp kỹ thuật:
Để duy trì tiêu chuẩn vi khí hậu các nhà sản xuất cần dùng các biện pháp sau:
Trang 20Trong các phân xưởng nhà máy nóng, độc hại cần được tự động hoá và cơ khí hoá, điều khiển vàquan sát từ xa, để làm giảm nhẹ lao động và nguy hiểm cho công nhân Đưa ứng dụng các thiết bị truyềnhình vào để thực hiện điều khiển và quan sát từ xa
Cách ly nguồn nhiệt đối lưu và bức xạ ở nơi lao động bằng cách dùng những vật liệu cách nhiệtbọc quanh lò, quanh ống dẫn như hợp chất manhê 85% với atbet 15%; hợp chất atbotermit được chế tạo
từ phế liệu atbet 70%, trepen 20% và atbet 10%; hợp chất sevelit gồm manhê, phấn và 15% atbet; bông
thuỷ tinh Các hợp chất này làm giảm nhiệt độ bề mặt nung nóng và do đó giảm được nhiệt độ không khí
Lập thời gian biểu sản xuất sao cho những công đoạn sản xuất toả nhiệt nhiều không vận hànhcùng 1 lúc mà rải ra trong ca lao động
Bố trí xếp dặt hợp lý các lò và các nguồn nhiệt lớn cách xa nơi lao động ngay từ khi thiết kế mặtbằng nhà máy Sử dụng hợp lý hệ thống thông gió tự nhiên và thông gió cơ khí trong khi sản xuất mớiđảm bảo chống nóng tốt
Phun nước hạt mịn để làm mát làm ẩm không khí, quần áo người lao động, ngoài ra còn có tácdụng làm sạch bụi trong không khí Dùng màn nước thưa bố trí trước cửa lò để hấp thụ các tia bức xạ
Màn nước dày 2 tâm có thể hấp thụ 80 - 90% năng lượng bức xạ Nước để phun phải là nước sạch
Trong thực tế còn dùng vòi tắm khí cho các phân xưởng quá nóng Khi dùng phải chú ý: bố trí ởnơi lao động ổn định, dòng khí phải có nhiệt độ thích hợp và thổi đều lên khắp cơ thể Người ta quy địnhtốc độ chuyển động của dòng không khí tắm thay đổi theo nhiệt độ không khí, nhăm tạo ra điều kiện dễchịu như bảng 2.6
Bảng 2.6 S t ự tương ứng của vận tốc dòng khí tắm và nhiệt độ không khí ương ứng của vận tốc dòng khí tắm và nhiệt độ không khí ng ng c a v n t c dòng khí t m v nhi t ức giới hạn chiếu rọi tiếp xúc với tia tử ngoại B cho phép ủa vận tốc dòng khí tắm và nhiệt độ không khí ận tốc dòng khí tắm và nhiệt độ không khí ốc dòng khí tắm và nhiệt độ không khí ắm và nhiệt độ không khí à nhiệt độ không khí ệt theo nhiệt độ không khí đội dung chi tiết: không khí
Vận tốc không khí tắm (m/s) Nhiệt độ không khí 0 C
+ Dùng những vật liệu có tính cách nhiệt cao như samôt, sa mốt nhẹ, diatomit.
+ Làm lớp cách nhiệt dày thêm nhưng không được làm tăng thêm trọng lượng thiết bị.
+ Dùng màn chắn nhiệt mà thực chất là gương phản xạ nhiệt bên trong thiết bị nhiệt, nhờ đó phía
ngoài thiết bị nhiệt độ sẽ không cao lắm
Các cửa sổ thiết bị là nơi nhiệt thất thoát ra ngoài, nên diện tích cửa sổ phải là tối thiểu những lúckhông cần thiết thì đóng kín
Trong trường hợp vỏ các thiết bị nhiệt do điều kiện kỹ thuật mà nhiệt độ vẫn còn cao không nhữnglàm nóng môi trường mà còn làm hỏng thiết bị, thì cần phải làm nguội vỏ thiết bị Để làm nguội vỏ thiết
bị có thể dùng nước và nước hoá hơi Dùng màn chắn nhiệt, nó không những chắn bức xạ nhiệt thà còn
ngăn tia lửa và các đẩy thép bong ra khi nguội kim loại lỏng, sắt thép trong luyện thép Màn chắn có
hai loại : loại phản xạ và loại hấp thụ, có loại cố định và loại di động Màn chắn nhiệt thường được chế
tạo bằng sắt tráng kẽm, tôn trắng, nhôm, lá nhôm mỏng ; có thể 1 lớp và có thể nhiều lớp ở giữa 2 lớp
có nước lưu chuyển để làm giảm nhiệt độ rất có hiệu quả
b, Biện pháp vệ sinh y tế
Quy định chế độ lao động thích hợp cho các nghề Trong điều kiện vi khí hậu nóng, Tổ chức Laođộng Quốc tế đã lấy chỉ số nhiệt tam cầu làm tiêu chuẩn xét mức giới hạn cho phép khi tiếp xúc với nhiệtcho các chế độ lao động, nghỉ ngơi khác nhau (xem bảng 2-4)
Nơi nghỉ cho công nhân làm việc ở nơi có nhiệt độ cao có thể là các phòng đặc biệt hoặc ở xanguồn phát nhiệt - có nhiệt độ thấp, có tốc độ chuyển động không khí thích hợp và có ghế ngồi thoải mái.Phòng nghỉ cần phải được cách ly tốt với nguồn nhiệt, đặc biệt là nguồn bức xạ Tường phòng nghỉ làmbằng vật liệu cách nhiệt atbet, xung quanh tường bố trí các vòi tắm khí có nhiệt độ thấp, tạo điều kiện tốtcho cơ thể thải nhiệt thừa bằng đối lưu và bức xạ Trường hợp không có khả năng thiết kế các phòng nhưthế thì bố trí nơi nghỉ ngay trong xưởng với điều kiện cách ly được với nguồn phát nhiệt bằng các tấm gôdán, cót dán và được trang bị các vòi tắm khí
Trang 21Thiết kế khoảng nghỉ với kích thước tuỳ ý, xung quanh được bao 1 màn nước hình trụ đứng cao2m Ngoài ra còn trang bị các vòi nước ấm và lạnh cho công nhân tắm trong thời gian nghỉ hoặc để cấpcứu khi bị say nóng
+ Chế độ uống:
Khi làm việc trong điều kiện vi khí hậu nóng mồ hôi ra nhiều theo mồ hôi là các muối khoáng,vitamin; để giữ cân bằng nước trong cơ thể cần cho công nhân uống nước có pha thêm các muối kali,natri, can xi, photpho và bổ xung thêm các vitamin B, C, đường, axít hữu cơ Nên uống ít một, khoảng150ml trong khoảng thời gian từ 15 - 20 phút Còn với công nhân mới, khi chưa quen với khí hậu nóng,cần được bổ xung thêm vào nước uống 1 lượng muối ăn với nồng độ 0,1% NaCl cho 1 lít) Theo kinh
nghiệm, người Việt Nam chúng ta có nhiều thức uống từ thảo mộc như chè xanh, rau má, rau sam có
pha thêm muối ăn có tác dụng giải khát tốt, trong đó nước rau muống trội hơn cả, ngoài việc duy trì sựcân bằng nước, còn bồi phụ thêm cho cơ thể là ton kim và 30mg sinh tố C trong 1 lít
+ Chế độ ăn hợp lý:
Khi làm việc trong điều kiện nóng, năng lượng tiêu hao cao hơn 1 ít so với điều kiện bình thường,nhưng do mất nước, mất muối, làm cho công nhân mất cảm giác ăn ngon nên thường ăn không hết khẩuphần Bởi vậy cần phải nấu nướng hợp khẩu vị, chú ý làm cho món ăn ngon lành, kích thích được người
ăn làm cho họ ăn hết khẩu phần ăn hàng ngày Bữa ăn chính nên để vào sau giờ lao động, lúc đó dịch vịtiết ra nhiều, hồi phục được cảm giác ăn ngon, sẽ ăn được nhiều Trong giờ lao động đảm bảo cho côngnhân được ăn nhiều đường, các thức ăn dễ hấp thụ, dễ tiêu, đưa lại năng lượng nhanh nhất cho lao động
Khám tuyển và khám định kỳ hàng năm để phát hiện số người mắc một số bệnh không được phéptiếp xúc với nóng như bệnh tim mạch, bệnh thận, bệnh hen, lao phổi, các bệnh nội tiết, động kinh và các
bệnh thần kinh khác.
c) Biện pháp phòng hộ cá nhân
+ Quần áo bảo hộ lao động:
Quần áo bảo hộ cần đạt 2 yêu cầu: Cản nhiệt từ bên ngoài và thoát nhiệt thừa từ bên trong ra
Thường dùng quần áo vải bạt, sợi bong hoặc da nỉ, thậm chí có khi bằng sợi amiăng thuỷ tinh rộng
thoáng, áo bỏ ngoài quần, quần ngoài giầy
Bảo vệ đầu cần dùng những loại vải đặc biệt để chống nóng và tránh bị hỏng
Bảo vệ chân, tay bằng giày chịu nhiệt và đang tay đặc biệt
Bảo vệ mắt bằng kính màu đặc biệt để giảm tối đa bức xạ nhiệt cho mắt Mắt kính có khi đượcphủ một lớp kim loại mỏng phản xạ tốt bức xạ
2.2.4.2 Biện pháp phòng chống tác hại của vi khí hậu lạnh
Mùa đông phải đề phòng cảm lạnh cho công nhân bằng cách che chắn tốt, tránh gió lùa Cácxưởng lớn, ở cửa ra vào dùng hệ thống gió sưởi ấm, màn khí nóng để cản không khí lạnh tràn vào
Phải có đủ quần áo cho công nhân Quần áo may thế nào để công nhân mặc thoải mái và thải được
mồ hôi khi lao động nặng Có thể mặc quần áo bông hoặc len Công nhân làm việc trong điều kiện ẩm cầndùng loại quần áo không thấm ẩm như vải bạt hoặc vải cao su
Bảo vệ chân nên dùng giày da, ủng nhưng phải luôn khô
Khẩu phần ổn chống rét phải đủ mỡ, dầu thực vật Tỷ lệ mỡ tốt nhất nên đạt được 35 - 40% tổng năng lượng
2.3 CHỐNG TIẾNG ỒN TRONG SẢN XUẤT
2.3.1 Khái niệm chung về tiếng ồn
Bước sóng tần số f, và vận tốc lan truyền c liên hệ với nhau theo công thức: c = f
Vận tốc lan truyền sóng âm phụ thuộc vào tính chất và mật độ của môi trường
thép, nhôm, thuỷ tinh là 5000m/s, trong đồng là 3500m/s, trong chì là 1300m/s, trong cao su là 40 - 50m/s
2.3.1.2 Phân loại tiếng ồn:
- Tiếng ồn thống kê: Trong sản xuất, nguồn âm là các vật thể rắn, lỏng và khí dao động Tổ hợphỗn loạn các âm khác nhau về cường độ và tần số trong phạm vi từ 16 - 20000Hz gọi là tiếng ồn thống kê
Trang 22- Tiếng ồng có âm sắc rõ rệt gọi là tiếng ồn có âm sắc.
- Theo môi trường truyền âm có thể phân ra
+ Tiếng ồn kết cấu
Tiếng ồn kết cấu sinh ra khi vật thể dao động tiếp xúc trực tiếp với các bộ phận máy móc, đường
ống, nền móng, với các kết cấu xây dựng Lúc đó năng lượng âm của nguồn lan truyền trong các vật
thể ấy ở dưới dạng sóng dọc hoặc sóng ngang (hoặc đồng thời cả sóng dọc và sóng ngang)
- Tiếng ồn không khí.
Nếu nguồn âm không liên hệ với 1 kết cấu nào cả thì tiếng ồn lan truyền vào không khí và đượcgọi là tiếng ồn không khí
Theo đặc tính của nguồn ồn có thể phân ra:
+ Tiếng ồn cơ học: sinh ra do sự chuyển động của các chi tiết hoặc bộ phận máy có khối lượng
không cân bằng Đặc biệt nó rất lớn ở các mối lắp ghép đã bị rơ mòn
+ Tiếng ồn va chạm: sinh ra do thực hiện các quá trình công nghệ: Thí dụ: rèn, dập tán + Tiếng ồn khí động: Sinh ra khi hơi chuyển động với vận tốc cao Thí dụ: Tiếng ồn do các luồng
hơi của động cơ phản lực, tiếng ồn khi máy nén hút không khí
+ Tiếng nổ hoặc xung: sinh ra khi động cơ đốt trang hoặc động cơ đieden làm việc.
- Theo giải tần số có các loại tiếng ồn sau:
+ Tiếng ồn tần số cho khi f >1000Hz.
+ Tiếng ồn tần số trung bình khi f = 300 - 1000Hz.
Bảng 2.7 M c n c a m t s ngu n do s n xu t ức giới hạn chiếu rọi tiếp xúc với tia tử ngoại B cho phép ồn của một số nguồn do sản xuất ủa vận tốc dòng khí tắm và nhiệt độ không khí ội dung chi tiết: ốc dòng khí tắm và nhiệt độ không khí ồn của một số nguồn do sản xuất ảm giác nhiệt theo nhiệt độ da trán ất
99 - 115
108 - 11398102120
2) Tiếng ồn cơ khí
Máy gia công phá (bóc vỏ)Máy tiện
Máy khoanMáy bàoMáy màiMáy đánh bóng
118105110
L: Là trị số tăng thêm phụ thuộc vào hiệu mức ồn của 2 nguồn
Các trị số của số gia L xác định theo bảng 2.9
Bảng 2.9 Giá trị của L
Trang 232.3.1.3 Phổ của tiếng ồn.
Cũng giống như các âm phức tạp, tiếng ồn có thể chia thành các tông thành phần đơn giản theoquan hệ giữa cường độ và tần số Cách biểu diễn biểu đồ các thành phần của tiếng ồn gọi là phổ và nó là 1trong những đặc tính quan trọng nhất của âm thanh
Tuỳ theo đặc điểm của tiếng ồn mà phổ biến của nó có thể là thưa (rời rạc), liên tục hoặc hỗn hợp.Phổ thưa của tiếng ồn (biểu hiện bằng các tông đơn đúng riêng rẽ) gặp trong một số máy điện cơnhư tiếng còi, tiếng máy phát, Năng lượng âm của nó có cực đại ở một vài tần số
2.3.2 Ảnh hưởng của tiếng ồn tới cơ thể con người
Người ta thu nhận được các kích thích âm thanh là nhờ cơ quan thính giác Tuy rằng người ta thunhận âm thanh thông qua nó nhưng tiếng ồn tác động trước hết hệ thần kinh trung ương, sau đó đến hệthống tim mạch và nhiều cơ quan khác Cuối cùng đến cơ quan thính giác Tác hại của tiếng ồn chủ yếuphụ thuộc vào mức ồn Tuy nhiên tần số lặp lại của tiếng ồn và đặc điểm của nó cũng có ảnh hưởng lớn.Tiếng ồn phổ liên tục gây tác dụng khó chịu ít hơn tiếng ồn gián đoạn Tiếng ồn có các thành phần tần sốcao khó chịu hơn tiếng ồn có tần số thấp Khó chịu nhất là tiếng ồn thay đổi cả về tần số là cường độ Ảnhhưởng của tiếng ồn đối với cơ thể còn phụ thuộc vào hướng của năng lượng âm tới, thời gian tác dụng của
nó trong 1 ngày làm việc vào thời gian công nhân làm tiệc trong phân xưởng ồn, vào độ nhạy cảm riêngcủa từng người, cũng như vào lứa tuổi giới tính và trạng thái cơ thể của người đó
a, Ảnh hưởng của tiếng ồn đến cơ quan thính giác
Khi chịu tác dụng của tiếng ồn, độ nhạy cảm thính giác giảm xuống, ngưỡng nghe tăng lên Hiệntượng đó được gọi là sự thích nghi của thính giác Khi rời khỏi môi trường ồn ào đến nơi yên tĩnh độnhạy cảm phục hồi lại rất nhanh chỉ sau 2 - 3 phút Khoảng thời gian này gọi là thời gian phục hồi thính.tiếp xúc với tiếng ồn càng to thì thời gian phục hồi thính giác càng lâu Nhưng sự thích nghi của thínhgiác chỉ có 1 giới hạn nhất định Dưới tác dụng kéo dài của từng ồn, thính lực giảm sút, độ nhạy cảmthính giác giảm đi rõ rệt: nhất là ở tần số cao (giảm quá 15dB, có khi tới 30 - 50dB, sau khi lời khỏi nơi
ồn phải một thời gian dài vài giờ hoặc vài ngày thính giác mới hồi phục được, đồng thời có cảm giác mệtmỏi ở cơ quan thính giác
Để bảo vệ thính giác, người ta quy định thời gian chịu được tối đa tác động của tiếng ồn trong mỗingày phụ thuộc vào mức ồn khác nhau, bảng 2.1
Bảng 2.1 Thời gian chịu được tối đa tiếng ồn của tai người
Thời gian tác động
(số giờ trong ngày) Mức ồn (dB)
Thời gian tác động (số giờ trong ngày) Mức ồn (dB)
21,51,00,5
100102105110
Nếu tác dụng của tiếng ồn lặp lại nhiều lần hiện tượng mệt mỏi kéo dài thì thính giác không cókhả năng hồi phục hoàn toàn về trạng thái bình thường Sau 1 thời gian dài sẽ phát triển thành những biếnđổi có tính chất bệnh lý, dẫn đến các thoái hoá trong tai, gây ra các bệnh nặng tai và bệnh điếc Cường độtối thiểu của liếng ồn có thể gây ra tác dụng mệt mỏi đối với cơ quan thính giác phụ thuộc vào thành phầntần số của nó Đối với tần số 2000 - 4000Hz tác dụng mệt mỏi sẽ bắt đầu từ 80dB, đối với tần số 5000 -6000Hz thì từ 60dB
Giai đoạn đầu công nhân có cảm giác đau đầu và ù tai, đôi khi thấy chóng mặt và buồn nôn Sau
đó các hiện tượng này trở thành thường xuyên hơn Trong quá trình bệnh nặng tai phát triển màng nhĩ sẽdày lên và hơi bị lõm vào trong, đồng thời ở đầu các dây thần kinh thính giác có một số thay đổi Cáctrung tâm thính giác dưới não điều hoà dinh dưỡng của tai sẽ rất mệt mỏi dẫn đến sự rối loạn việc cungcấp các tế bào cảm giác
Nhiều nghiên cứu đã xác định được rằng mức độ hạ tháp độ nhạy của tai tỉ lệ với thời gian làm
việc trong tiếng ồn Trong khoảng 3 - 5 năm đầu, độ nhạy của tai sẽ giảm nhanh hơn nhiều so với những
năm sau Mức giảm yếu rõ rệt của tai quan sát thế khi người công nhân làm việc trong mức ồn 90: 100dB
là sau 20 năm, khi mức ồn 100 : 105dB là sau 14 năm và khi mức ồn quá 105dB là sau 6 năm Tuy nhiênđiều này còn phụ thuộc vào độ nhạy cảm riêng của từng người Thí dụ tiếng ồn tần số cao có mức cường
Trang 24độ 100dB gây ra dấu hiệu của bệnh nặng tai ở 1 số người chỉ sau mấy tháng, nhưng với 1 số khác thì lạisau mấy năm.
b, Ảnh hưởng của tiếng ồn tới các cơ quan khác
Tiếng ồn có cường độ cao và trung bình kích thích mạnh hệ thống thần kinh trung ương, gây ra rốiloạn về chức năng thần kinh, và thông qua hệ thống thần kinh tác động lên các cơ quan và hệ thống kháccủa cơ thể
Tiếng ồn mạnh thường gây cho lực công nhân bệnh đau đầu chóng mặt, cảm giác sợ hãi, sự bựctức vô cớ, trạng thái tâm thần không ổn định Dưới tác dụng của tiếng ồn, trong cơ thể con người xảy ra 1loạt thay đổi, biểu hiện qua sự rối loạn trạng thái bình thường của hệ thống thần kinh
Tiếng ồn ngay cả khi không đáng kể (ở mức 50-70dB) cũng tạo ra một tải trọng đáng kể lên hệthống thần kinh của con người Tải trọng này lâu dần có thể đạt đến trị số rất lớn, đặc biệt đối với nhữngngười hoạt động trí óc
Tiếng ồn cũng gây ra những thay đổi trong hệ thống tim mạch kèm theo sự rối loạn trương lựcbình thường của mạch máu và rối loạn nhịp tim
Tiếng ồn còn làm rối loạn chức năng bình thường của dạ dày: Làm giảm sự tiết dịch vị và độ toan,
sự co bóp bình thường của dạ đày bị ảnh hưởng, vì vậy công nhân làm việc trong các xưởng ồn thườngmắc bệnh viêm dạ dày
Những công nhân làm việc trong các phân xưởng ồn cũng bị bệnh cao huyết áp
Tiếng ồn làm giảm sự tập trung khi làm việc là nguyên nhân gây ra mệt mỏi sớm và làm giảmnăng suất lao động, giảm chất lượng công việc, tăng phế phẩm và tai nạn lao động
Trong sản xuất, nhiều khi tiếng ồn quá mức làm che lấp tiếng nói, làm mờ các tín hiệu âm thanh,
sự trao đổi thông tin trở nên khó khăn, làm ảnh hưởng đến sản xuất và an toàn lao động Khi tiếng nóinghe không rõ còn gây ảnh hưởng xấu dến tâm lý con người
Trên hình 2-12 cho quan hệ giữa độ rõ của tiếng nói và mức ồn Mức ồn 20dB còn chưa ảnhhưởng đến độ rõ tiếng nói Mức ồn càng cao thì độ rõ tiếng nói càng giảm Độ rõ 75% (tương ứng vớimức ồn 40dB) được coi là độ rõ thoả mãn, bắt đầu 45dB, độ rõ tiếng ồn giảm nhanh Khi mức ồn 70dB vàlớn hơn tiếng nói không còn rõ nữa
2.3.3 Biện pháp chống tiếng ồn
2.3.3.1 Biện pháp nói chung
Từ lúc thiết kế quy hoạch tổng mặt bằng nhà máy đã phải bắt đầu nghiên cứu các biện pháp quyhoạch - xây dựng chống tiếng ồn ngay trong phạm vi của nhà máy và ngăn chặn tiếng ồn lan ra các vùngxung quanh Giữa các khu nhà sản xuất có tiếng ồn phải trồng các giải cây xanh bảo vệ để chống tiếng ồn
và làm sạch môi trường Giữa Xí nghiệp và các khu nhà còn phải có khoảng cách tối thiểu để tiếng ồnkhông vượt mức cho phép
2.3.3.2 Giảm tiếng ồn tại nguồn phát sinh
Đây là biện pháp chống tiếng ồn chủ yếu gì khi máy móc làm việc sinh ra tiếng ồn thì dù nhỏ cũng
có thể trớ thành nguồn ồn lớn
Các máy và động cơ làm việc Sinh ra mức ồn cao có thể do các nguyên nhân sau:
Do đặc điểm cấu trúc của máy khi làm việc sinh ra va chạm và masát giữa các bộ phận và chi tiết.Thí dụ: Va chạm của cặp bánh răng khi ăn khớp sinh ra tiếng ồn
- Do chế tạo thiết bị không chính xác Thí dụ: Chế tạo bước và biến dạng răng của bánh răngkhông chính xác, bề mặt răng không đảm bảo độ nhãn bóng
Do chất lượng lắp ráp kém Thí dụ: Điều chỉnh khe hở của các mối lắp ghép không hợp lý
Do vi phạm quy tắc kỹ thuật sử dụng máy Thí dụ: chế độ làm việc của máy không đúng với chế
độ quy định
- Không tiến hành sửa chữa máy theo định kỳ, chất lượng sửa chữa kém
Do quá trình công nghệ chưa hoàn thiện Thí dụ: Việc ném các chi tiết bằng kim loại xuống nềncần thay bằng cách hạ nó xuống nhẹ nhàng và đặt chúng lên bề mặt ít gây ồn
Để giảm tiếng ồn tại nguồn phát sinh có thể thực hiện theo các phương pháp sau:
a, Biện pháp công nghệ
Không nên sử dụng các thiết bị và dụng cụ sản xuất cũ có tiếng ồn lớn, mà nên sử dụng các thiết
bị và dụng cụ mới, hiện đại có liếng ồn thấp
Sử dụng các công nghệ sản xuất có mức gây ồn thấp: Thí dụ, thay việc tán, dập bằng ép
b, Biện pháp kết cấu
Trang 25Thay thế các chi tiết kết cấu gây ồn lớn báng các chi tiết, kết cấu có mức gây ồn thấp.
Thí dụ: nếu điều kiện cho phép thay ổ bi bằng ổ bạc, thay bộ truyền bánh răng thẳng bằng bộtruyền bánh răng nghiêng hoặc bánh răng hình chữ V thay bánh răng kim loại bằng bánh răng phi kimloại Tiếng ồn của bộ truyền bánh răng được chế tạo bằng chất dẻo khi vận hành với tất cả các tốc độ đềutạo tiếng ồn nhỏ hơn khi vận hành bánh răng bằng thép Mức ồn lớn nhất đối với bánh răng bằng chất dẻokhông vượt quá 75dB còn mức ồn của bánh răng bằng thép tới 95dB
Thay đổi tính đàn hồi và khối lượng của các bộ phận máy, nhằm thay đổi tần số dao động riêngcủa nó để tránh hiện tượng cộng hưởng
c) Biện pháp tổ chức
Quy hoạch hợp lý thời gian làm việc của các xưởng ồn
- Bố trí các xưởng ồn làm việc vào những buổi ít người
- Lập đồ thị làm việc cho công nhân để họ có khả năng nghỉ ngơi hợp lý, làm giảm thời gian cómặt của công nhân ở những xưởng có mức ồn cao
2.3.3.3 Giảm tiếng ồn trên đường lan truyền
Ở đây chủ yếu áp dụng các nguyên tắc hút âm và cách âm
a, Dùng nguyên tắc hút ẩm
Năng lượng âm lan truyền trong không khí, khi gặp bề mặt kết cấu thì một phân năng lượng sẽ phản xạlại, 1 phần bị vật liệu của kết cấu hút đi và 1 phần xuyên qua kết cấu rồi bức xạ sang phòng bên cạnh
Sự phản xạ và hút năng lượng âm phụ thuộc vào tần số và góc tới của sóng âm, vào các tính chất
vật lý của kết cấu phân cách, như độ rỗng, độ cứng của vật liệu, chiều đày của kết cấu
b, Nguyên lý cách âm
Khi sóng âm tới bề mặt kết cấu nào đó, dưới tác dụng của nó, kết cấu này chịu dao động cưỡngbức, do đó trở thành một nguồn âm mới và bức xạ năng lượng sang phòng bên cạnh
2.4 PHÒNG CHỐNG NHIỄM ĐỘC TRONG SẢN XUẤT
2.4.1 Khái niệm về tác dụng của chất độc
- Chất độc công nghiệp là những chất dùng trong sản xuất, khi xâm nhập vào cơ thể con người dùchỉ một liều lượng nhỏ cũng gây lên tình trạng bệnh lý Bệnh do chất độc gây ra trong sản xuất gọi lànhiễm độc nghề nghiệp
Ảnh hưởng của chất độc đối với cơ thể con người lao động là do hai yếu tố quyết định: Ngoại tố,
do tác động của chất độc và nội tố, do trạng thái cơ thể Tuỳ theo hai yếu tố này mà xảy ra mức độ tácdụng khác nhau
Khi độc tính chất độc yếu, nồng độ dưới mức cho phép, cơ thể khoẻ mạnh, mặc dù thời gian tiếpxúc lâu, cũng không gây ảnh hưởng gì Chỉ khi nào cơ thể yếu mới xảy ra tác dụng không đặc hiệu củachất độc như cảm, viêm mũi viêm họng, v,v
Khi nồng độ vượt quá giới hạn cho phép sức đề kháng của cơ thể yếu, độc chất sẽ gây ra nhiễmđộc nghề nghiệp
Khi nồng độ chất độc cao, tuy thời gian tiếp xúc không lâu và cơ thể khoẻ mạnh vẫn bị nhiễm độccấp tính, thậm chí có thế gây tử vong
Một số chất độc còn gây ra vết tích nghề nghiệp như da bắt màu, mọc chai, mụn cóc làm mất
vẻ đẹp của cơ thể
Trong sản xuất chất độc thường thấy dưới dạng đặc, lỏng, hơi, bụi, khói khí.v.v gặp trong các
nguyên liệu như chì, sản phẩm trung gian (như các dung môi hữu cơ: Các sản phẩm trong quá trình chưngcất dầu mỏ) và các phế liệu (như CO do cháy không hoàn toàn)
Chất phóng xạ và tia phóng xạ: tia phóng xạ là những tia mắt thường không trông thấy được vàphát ra do sự biến đổi bên trong hạt nhân nguyên tử của một số nguyên tố và có khả năng tôn hoá vậtchất Những nguyên tố có hạt nhân nguyên tử phát ra các tia này gọi là nguyên tố phóng xạ
Hiện nay người ta đã biết khoảng 50 nguyên tố phóng xạ tự nhiên và 1000 nguyên tố đồng vịphóng xạ nhân tạo Bảng 2.20D là một số chất phóng xạ thông dụng
2.4.2 Sự xâm nhập, chuyển hoá và đào thải chất độc
2.4.2.1 Đường xâm nhập của chất độc
Chất độc có thể vào cơ thể bằng đường hô hấp, tiêu hoá và qua da
a) Theo đường hô hấp
Nhiễm độc theo đường này là thường gặp nhất và nguy hiểm nhất trong nhiễm độc nghề nghiệpchiếm tới 95% Hầu hết các chất độc ở thể khí, hơi bụi, đều có thể qua dường hô hấp Khi xâm nhập quaphế quản các phế bào đi thắng vào máu đến khắp các cơ quan gây nhiễm độc
Trang 26b) Theo đường tiêu hoá:
Chất độc theo đường này thường do ăn, uống, hút thuốc trong khi làm việc hoặc nuốt phải chấtđộc đọng lại ở trên đường hô hấp Ở đây chất độc qua gan và được giải độc bằng các phản ứng sinh hoáphức tạp nên ít nguy hiểm hơn
2.4.2.2 Chuyển hoá biến đổi
Các chất độc trong cơ thể tham gia vào các quá trình sinh hoá phức tạp trong các tổ chức của cơ
thê và chịu các biến đổi như phản ứng ôxi hoá khử, thuỷ phân v.v Phần lớn chúng được biến thành chất ít độc
hoặc hoàn toàn không độc Thí dụ như ninh oxi hoá thành nitrơrat và rượu êtilic o xi hoá thành CO2 và nước Mộtvài chất lại chuyển hoá thành chất độc hơn Thí dụ, rượu mêtilic oxi hoá thành fomanđêhit Trong quá trình nàygan, thận có vai trò rất quan trọng đó là những cơ quan tham gia giải độc
2.4.2.3 Phân bố tích chứa độc
Có một số chất không gây tác dụng độc ngay khi xâm nhập vào cơ thể, mà nó tích chứa ở một số
cơ quan, dưới dạng các hợp chất không độc như chì, fluor tập trung vào trong xương, acsen, vàng vàotrong da, hoặc lắng đọng vào gan, thận Đến một lúc nào đó dưới ảnh hưởng của điều kiện nội ngoại thayđổi, các chất này được huy động nhanh chóng, đưa vào máu gây nhiễm độc
2.4.2.4 Đào thải chất độc
Chất độc hoá học hoặc sản phẩm chuyển hoá sinh học của nó được đưa ra ngoài cơ thể bằng phổi,thận và các tuyến nội tiết Các chất kim loại nặng như chì, thuỷ ngân, mangan thải qua đường ruột, đườngthận Các chất tan trong mỡ (thuỷ ngân, crôm, chì), được thải qua da, qua sữa (gây nhiễm độc cho trẻ sơsinh bú sữa mẹ), theo nước bọt (gây viêm mồm), theo kinh nguyệt (gây rối loạn kinh nguyệt) Các chất cótính bay hơi như rượu, đe, xăng theo hơi thở ra ngoài
Đường bài tiết chất độc ra ngoài rất có giá trị cho việc chuẩn đoán và điều trị giải độc nghề nghiệpđược kịp thời
2.4.3 Tác hại của chất độc và nhiễm độc nghề nghiệp thường gặp
2.4.3.1 Phân loại
Dựa vào tác dụng chủ yếu của chất độc người ta chia thành các nhóm sau:
+ Gây bỏng da: Mức độ nặng nhẹ tuỳ theo hoá chất đặc hay loang bao gồm axit sunfuric, axitclohidric, bồ tạ, amoniăc, Bỏng thường xảy ra ở chân, tay, sau 10 phút có thể gây bỏng nặng, Axitnitric gây bỏng nhanh nhất Bỏng nặng thường gây ra choáng, mạch nhanh và yếu, khó thở, sốt cao, tiểutiện ít, nôn mửa, mệt lả rồi mê man
+ Bỏng ở niêm mạc: Do hoá chất bắn vào mồm, mũi, mắt, da hoặc hút hay hít phải sẽ gây ranhững vết bỏng rộp, sưng đỏ niêm mạc và rất đau đớn
Nếu bắn nhẹ vào mắt gây ra tổn thương ở màng tiếp hợp, có thể mù hoặc làm giảm thị lực
+ Chất kích thích dường hô hấp trên và phế quản: như hơi brôm, hơi ôzôn; v.v
+ Chất kích thích phế bào: NO2; NO3; fotgen Cơ chế tác dụng chú yếu của các, chít này là hoà
tan vào trong niêm dịch tạo ra axit kích thích gây phù phổi cấp
Nhóm ba: chất gây ngạt
+ Gây ngạt đơn thuần: CO2; êtan; mê tan; azốt do làm loãng dưỡng khí
+ Gây ngạt hoá học: Co hòa hợp với hêmôglôbin tạo thành cacboxihêmôglôbin, axít cianhydric và
hợp chất cianogen ức chế hô hấp tổ chức citôcơrôrnôxidaga anilin hợp chất quan và ni trô của beng entạo thành méthêmơgơlôbin làm mất khả năng vận chuyển o xi của hồng cầu gây rối loạn hô hấp
Nhóm bốn: chất tác dụng chủ yếu lên hệ thần kinh trung ương gây mê, gây tê Đó là các hợp chất
- Nhóm năm: chất gây độc cho hệ thống cơ quan
Trang 27+ Chất gây tổn thương cho một hay nhiều cơ quan như các loại hiđrô cacbua, lulogen clorua mê tin bromua mênh vv .
+ Chất gây tổn thương cho hệ thống tạo máu: bengen, phê nôn; gây thiếu máu như acsen
+ Các kim loại và á kim độc như: chì, thuỷ ngân, cadini, mangan, hợp chất acsen, fôtforua.
2.4.3.2 Một số chất độc và nhiễm độc nghề nghiệp thường gặp
- Chì Pb: Chì là một trong những kim loại đầu tiên được sử dụng và được phát hiện sớm nhất.Hiện nay nó được dùng nhiều trong công nghiệp: khai thác chế bản quặng chì sản xuất bột chì màu.nghề sản xuất ăcquy, đồ sành, sứ, thuỷ linh v.v
Chì có thể vào cơ thê qua đường hô hấp, liêu hoá, gây độc chủ yếu cho hệ thần kinh hệ tạo máu.gây rối loạn tiêu hoá.v.v
Nhiễm độc chì cáp tính thường gặp là cơn đau bụng báo hiệu bằng táo bón lâu ngày rồi phát thànhcơn đau bụng dữ dội, đột ngột và kèm theo huyết áp cho: mạch chậm Nhiễm độc mãn tính với các hội chứngsuy nhược thần kinh viêm nhiễm dây thần kinh, gây dối loạn cảm giác tê bại, liệt cơ, liệt chi là kèm theo với hộichứng thiếu máu, nhược sắc, bạch cầu giảm, có khi kết hợp với chứng đêm dạ dày, viêm ruột
tránh hiện tượng nổ sớm Nó là chất lỏng, sánh, bốc hơi ở nhiệt độ thấp có mùi thơm ngọt Xông pha chì
có màu đỏ tím
Nhiễm độc các chất nó thường xảy ra ở nơi sản xuất tetramctin chì, ở trạm pha xăng; nơi thử động
cơ máy bay, xe hơi; ở các giữa và các xướng sửa chữa xe Chúng xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường
hô hấp, dường qua da (dễ tan thấm qua lớp mỡ dưới cái) Với nồng độ các chất này là 0,182mg/lit khôngkhí đã gây chết súc vật sau 18 giờ Thường các chất này gây ra nhiễm độc cấp tính cho hệ thần kinh trungương: gây hưng phấn mạnh, gây rối loạn giấc ngủ với áo giác ghê sợ, làm cho bệnh nhân muốn tự sát.Tetramettin chì có tác dụng độc yếu hơn gần 5 lần so với têtraêtin chì
không khí 2 lần Thủy ngân được sử dụng phổ biến trong công nghiệp chế lạo muối thuỷ ngân; làm thuốcgiun calomen, thuốc lợi niệu; còn dùng chế tạo thuốc diệt sâu, nấm bệnh trong nông nghiệp Hơi thuỷ
Thuỷ ngân xâm nhập vào cơ thể, chủ yếu bằng đường hô hấp, đường tiêu hoá và đường da.Thường gây ra nhiễm độc mãn tính: Làm thương tổn hệ thần kinh, run tay chân, rung mi mắt, làm mấtngủ, giảm trí nhớ, gây rối loạn tiêu hoá, viêm răng lợi, viêm dại tiểu tràng, gây rối loạn chức năng gan
Ở nữ giới còn gây rối loạn kinh nguyệt, đau bụng kinh, ít kinh, dễ bị sảy thai
- Cacbon oxít - CO là một loại khí không màu, không mùi không kích thích tỉ trọng 0.967 Được
tạo ra do sự cháy không hoàn loàn thường gặp ở lò cao, máy nổ, khí đốt v.v Khi hít thở khí Co do có
ái tính với hêmôglôbin gấp 250 lần so với oxy, nó sẽ cướp oxy của hêmôglôbin và tạo thành cacboxyhêmôglôbin làm mất khả năng vận chuyển oxy của máu đến các tổ chức và gây ra ngạt
Nhiễm độc cấp thường gây ra đau đầu, ù tai chóng mặt buồn nôn, mệt mỏi co giật rồi bị hôn mê.Nhiễm độc thể nặng bị hôn mê ngay, chân tay mềm nhũn, mặt xanh tím và bị phù phổi cấp Nhiễm độcmãn tính thường bị đau đầu dai dẳng, chóng mặt, mệt mỏi sút cân
hoà tan dầu mỡ, sơn, cao su làm keo dán giầy, dép
Benzen có trong xăng từ 5 - 20% Nó vào cơ thể chủ yếu bằng đường hô hấp và gây ra hội chứng
thiếu máu nặng chảy máu răng lợi thậm chí gây ra suy tuy hồng cầu giảm còn 1,2 triệu bạch cầu còn vàinghìn, tiểu cầu còn vài vạn và cuối cùng bị suy nhược, xanh ao và chết vì nhiễm trùng huyết Nhiễm độccấp gây ra tình trạng say, kích thích mạch hệ thần kinh trung ương
- Thuốc trừ sâu: hiện nay ta thường dùng hợp chất chỉ hữu cơ, lân hữu cơ thuỷ ngân hữu cơ để bảo
vệ cây trồng diệt nấm mốc ruồi muỗi
Hợp chất chỉ hữu cơ thường dùng là hợp chất DDT (dicloro diphenin lricloetan)
666(hecxaclorocyclohexan), loại lindan có 99% đồng phân gama, hỗn hợp DDT lo + 666 2% toxaphen
Các chất này vào cơ thể theo đường tiêu hoá (95% theo thức ăn), hô hấp Trong cơ thể chúng giữlại ở lớp mỡ dưới cái, gan, thận, tim rất khó phân huỷ và thải ra một cách chậm chạp qua phân, nước tiểu,
sữa mẹ dưới dạng DDE (dicloro diphenin dicloroetylen) và DDA (a xít dicloro diplleninacetic)
Do cấu trúc bền vững nên chúng tích luỹ lâu trong cơ thể, do đó ngày nay các nhà bác học đãnghiêm cấm sử dụng
Trang 28Ngoài nhiễm độc cấp làm việc lâu với DDT và hợp chất có thể bị nhiễm độc mãn tính: hội chứngsuy nhược thần kinh, viêm gan thận dạ dày, ruột, v.v
Hợp chất lân hữu cơ:
Hợp chất này thường gây ra nhiễm độc cấp do chất độc thấm qua da, qua đường hô hấp vào cơ thể làm liệt
cơ Làm việc lâu dài với hợp chất này có thể bị nhiễm độc mãn tính gây ra hội chứng suy nhược thần kinh
- Asen: Nhiễm độc cấp tính asen có thể chết người, đau bụng, nôn, đêm thần kinh ngoại biên suytuỷ, cơ tim bị tổn thương
Nhiễm độc mãn tính gây viêm da mặt, viêm màng kết hợp, viêm mũi, thủng vách ngăn mũi, thiếumáu, gan to, xơ gan, ung thư gan và ung thư da
- Mangan gây rối loạn tâm thần, nói khó, dáng đi bất thường, viêm và bụi phổi, viêm gan, đêm thận.Nhôm gây bệnh bụi phổi và hen
- Crôm gây loét da loét niêm mạc, chảy máu mũi thủng vách ngăn mũi, kích thích hô hấp gây ho,
co thoắt phế quản và ung thư phổi
2.4.4 ảnh hưởng của tia phóng xạ và chất phóng xạ đối với cơ thể
Tia phóng xạ khi chiếu từ bên ngoài vào bề mặt cơ thể thì được gọi là tia tác dụng ngoại chiếu Chấtphóng xạ xâm nhập vào cơ thể (qua đường thở đường tiêu hoá) tới tận máu tận xương, tận các tổ chức của cơthể đồng thời gây tác dụng chiếu xạ thì tác dụng này gọi là tác dụng nội chiếu (bị chiếu xạ từ bên trong)
Chiếu xạ từ bên ngoài hay từ bên trong đều có thể gây nguy hiểm cho cơ thể, nhưng chiếu xạ từbên trong gây nguy hiểm hơn vì thời gian bị chiếu xạ lâu hơn diện chiếu xạ rộng hơn, cách đào thải chấtphóng xạ ra ngoài cơ thể cũng có những khó khăn nhất định Về mặt lâm sàng khi bị chiếu tia phóng xạhoặc bị nhiễm chất phóng xạ quá liều cơ thể có những biểu hiện sau đây:
+ ảnh hưởng sớm - nhiễm phóng xạ cấp tính.
Bệnh nhiễm phóng xạ cấp tính có thể xẩy ra rất sớm sau vài giờ hoặc vài ngày khi cơ thể bịnhiễm xạ toàn thân trong một lúc với liều lượng phóng xạ trên 300Rem Trong bệnh phóng xạ cấp tính cócác triệu chứng sau:
- Hiện tượng rối loạn chức phận của hệ thần kinh trung ương đặc biệt là ở vỏ não: Nhức đầu,chóng mặt, nôn mửa, dễ hồi hộp, cáu kỉnh, khó ngủ, chán ăn cảm giác mệt mỏi
- Da bị bỏng hoặc bị tấy đỏ ở chỗ tia phóng xạ chiếu qua
- Cơ quan tạo máu bị tổn thương nặng nề, các tế bào máu ở ngoại vi và ở tuỷ xương bị giảm đặcbiệt là ở dòng bạch cầu và tiểu cầu, hồng cầu cũng giảm nhưng muộn hơn, kết quả là bệnh nhân bị thiếumáu nặng, giảm khả năng chống đỡ các bệnh nhiễm trùng, chảy máu kéo dài
- Gầy, sút cân dần dần, có thể chết trong tình trạng suy nhược toàn bộ cơ thể hoặc bệnh nhiễm trùng nặng.Trong bệnh phóng xạ còn có những rối loạn chuyển hoá chất về nhiều mặt Bệnh phóng xạ cấptính chỉ gặp trong những vụ nổ vũ khí hạt nhân, những tai nạn bất ngờ ở các lò phản ứng nguyên tử, rấthiếm gặp trong điều kiện sản xuất, nghiên cứu thông thường
+ Ảnh hưởng muộn - nhiễm phóng xạ mãn tính.
Trong bệnh phóng xạ mãn tính, các triệu chứng bệnh xuất hiện muộn, nhiều khi lâu tới hàng năm,hàng chục năm kể từ lúc bị chiếu tia phóng xạ hoặc nhiễm chất phóng xạ Bệnh xảy ra khi cơ thể bị nhiễmmột lúc với liều phóng xạ khoảng trên dưới 200 rem hoặc nhiễm những liều lượng nhỏ tia hoặc chấtphóng xạ nhưng trong một khoảng thời gian dài
Triệu chứng sớm nhất trong bệnh nhiễm xạ mãn tính là hội chứng suy nhược thần kinh, suy nhược
cơ thể, tiếp đó là hiện tượng rối loạn chức phận cơ quan tạo máu, rối loạn chuyển hoá chất đường lipit,thoát, muối khoáng, cuối cùng là sự thoái hoá suy sụp chức phận ở toàn bộ các cơ quan và hệ thống
Bệnh nhân bị nhiễm xạ mãn tính có thế có hiện tượng đục nhân mất, ung thư da, ung thư xương, v.v
Bệnh phóng xạ có xảy ra hay không, bệnh nặng hay nhẹ còn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Tổng liều chiếu xạ và liều chiếu xạ mỗi lần
Tổng liều càng lớn tác hại càng mạnh Nhiễm 300 Rem, bệnh nhẹ có thể chữa được Nhiễm 600Rem, bệnh nặng chắc chắn chết Cùng một tăng liền, nếu được chiếu phân tán thành nhiều liều nhỏ thì táchại sẽ ít hơn là bị chiếu gộp cả một lần
- Diện tích cơ thể bị tia phóng xạ chiếu càng rộng càng nguy hiểm, bị chiếu toàn thân nguy hiểmhơn khi bị chiếu ở một bộ phận Vùng bị chiếu gây ra những tác hại nặng nề nhất là vùng đầu, vùng bụng
- Các tế bào trẻ như tế bào ung thư, tế bào của tổ chức thai nhi có tính mẫn cảm với tia phóng xạcao hơn các tế bào già trưởng thành
Tình trạng cơ thể mệt mỏi, đói, nhiễm độc, nhiễm trùng làm tăng thêm tính nhạy cảm của cơ thểđối với tác dụng của tia phóng xạ
Trang 29Bản chất vật lý của tia phóng xạ và đặc tính lý hoá của chất phóng xạ Tia x và nguồn gây tôn hoá
Biết rõ đặc tính và tác hại của các loại tia phóng xạ và chất phóng xạ chúng ta có thê đề ra đượcnhững biện pháp phòng chống tốt nhất để ngăn ngừa những ảnh hưởng của chúng đối với cơ thể
2.4.5 Biện pháp phòng chống nhiễm độc nghề nghiệp
2.4.5.1 Cấp cứu
Nếu xảy ra nhiễm độc cấp tính thì cán bộ y tế, an toàn lao động phải đến ngay nơi xảy ra nhiễmđộc, tổ chức lực lượng cấp cứu ngăn chặn nhiễm độc phối hợp với cơ quan tìm ra nguyên nhân, đề raphương pháp cải thiện điều kiện lao động không cho tái phát
Cách cấp cứu khi có nhiễm độc:
- Đưa ngay nạn nhân ra khỏi nơi nhiễm độc, thay bỏ quần áo, chú ý giữ yên tĩnh, ủ ám cho nạn nhân
- Cho ngay nạn nhân thuốc trợ tim trợ hô hấp hoặc hô hấp nhân tạo
Mất tri giác thì châm vào 3 huyệt: khúc tri, uỷ trung, thập tuyền cho chảy máu hoặc bấm ngón tayvào các huyệt đó
Rửa da bằng nước xà phòng nơi bị thấm chất độc có tính ăn mòn như kiềm, axit và phải rửa ngaybằng nước sạch
2.4.5.2 Biện pháp đề phòng chung về kỹ thuật.
Loại trừ nguyên liệu độc trong sản xuất hoặc đùng chất ít độc hơn
Cấm dùng chì trong sản xuất sơn màu, thay chì trắng bằng kẽm hoặc toàn, dùng xăng, cồn thaycho benzen Không dùng bnaphtilamin trong sản xuất thuốc nhuộm (chất gây ung thư)
- Cơ khí hoá tự động hóa trong quá trình sản xuất hoá chất Các nhà máy hoá chất hiện đại được tự độnghoá sản xuất, điều khiển từ xa và để ngỏ ở ngoài trời, sẽ tránh được nhiễm độc và không gây ứ đọng chất độc
Bọc kín máy móc và thường xuyên kiểm tra chất lượng xem có rò, rỉ, nứt, hở không và sửa chữa kịp thời
- Tổ chức hợp lý quá trình sản xuất Bố trí riêng các bộ phận toả ra hơi độc Nếu nhà có nhiều tầng,hơi độc có tỷ trọng nhỏ hơn không khí thì nên bố trí bộ phận có hơi độc ở tầng cao và đặt ở cuối chiềugió Tường, trần, sàn xây bằng vật liệu không hút ẩm, không ăn mòn và dễ lau chùi
Nếu không thể khép kín được quá trình công nghệ thì phải tổ chức thông gió hút hơi khí độc tạichỗ Ngoài ra phải thiết kế hệ thống thông gió, bơm không khí sạch vào nơi sản xuất để hạ thấp nồng độchất độc còn lại xuống mức cho phép
- Xây dựng và kiện toàn chế độ công tác an toàn lao động
Kiện toàn công tác bảo hộ lao động,-huấn luyện cho công nhân về vệ sinh an toàn trong kỹ nghệhoá chất: biết đường xâm nhập của chất độc vào cơ thể, biết các triệu chứng nhiễm độc đầu tiên, biết cách
tự cấp cứu và tương cứu khi bị nhiễm độc cấp tính Huấn luyện kỹ thuật an toàn trong thao tác, sử dụngcác thiết bị, biết bảo quản sử dụng thiết bị phòng hộ cá nhân
Có kế hoạch kiểm tra an toàn máy móc, kịp thời phát hiện nơi hư hỏng và tu sửa ngay Thường xuyêntheo dõi các công trình thiết bị thông gió, chống hơi, khí, bụi độc để kịp thời sửa chữa khi bị hư hỏng
Làm việc trong gầm tàu, két xăng kín, giếng bỏ lâu không dùng phải kiểm tra hơi khí độc trướckhi làm Khi làm phải có hai người, một người làm và một người theo dõi đề phòng sự cố
Đối với công nhân thường xuyên tiếp xúc với chất độc cần được hưởng chế độ bồi dưỡng hiện vật,
ăn nhiều đạm, thịt, cá, trứng và rau quả xanh có nhiều sinh tố, nhằm nâng cao sức đề kháng của cơ thể đốivới chất độc
Trang 30CHƯƠNG 3 KỸ THUẬT AN TOÀN TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC 3.1 PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY
3.1.1 Ý NGHĨA, VAI TRÒ QUÁ TRÌNH CHÁY VÀ VẤN ĐỀ PHÒNG CHỐNG CHÁY NỔ.
Quá trình cháy có vai trò rất to lớn trong sản xuất công nghiệp, đời sống và quốc phòng Loàingười từ lâu đã phát hiện ra lửa Nhờ sử dụng được ngọn lửa mà con người đã biết đùng thức ăn chín,công cụ sản xuất bằng đá được thay thế bằng kim loại, trình độ sản xuất đã phát triển nhảy vọt
Theo đánh giá của các nhà khoa học thì việc phát minh ra lửa duy trì và sử dụng nó vào sản xuất
và đời sống là một trong những phát minh vĩ đại nhất, giúp con người tách hẳn ra khỏi giới động vật nóichung Nền văn minh của nhân loại đã bước sang giai đoạn mới làm cơ sở cho những tiến bộ vượt bậc củacon người trong các thế kỷ qua
Quá trình cháy được sử dụng rất rộng rãi trong các ngành công nghiệp khác nhau: Trong quốcphòng, giao thông vận tải Trong sinh hoạt, quá trình cháy được phục vụ cho đun nấu Quá trình cháyđem lại hiệu quả to lớn cho các ngành kinh tế Tuy nhiên nếu không kiểm soát được nó thì nó sẽ gây ranhững hậu quả vô cùng nghiêm trọng về tài sản chưa kể đến tính mạng con người Trong một nhà máyliên hợp, thường sản xuất nhiều mặt hàng khác nhau Sản phẩm của công đoạn sản xuất này là nguyênliệu cho công đoạn sản xuất khác Chiều rộng của một nhà máy liên hợp có thể lên tới 1 - 2km, còn chiềudài có thể đến 7 - 8 km Chúng ta có thể thấy nếu cháy nổ xảy ra ở một khâu nào đó trong nhà máy thì hậuquả thiệt hại sẽ to lớn như thế nào về tài sản và tính mạng con người Nhiều nước có các mỏ than trữlượng lớn trong đó có nước ta, những vụ cháy nổ xảy ra trong khi khai thác hầm lò ở nhiều nước đã cướp
đi nhiều sinh mạng Những vụ cháy nổ cũng thường xuyên xảy ra trên các đường ống dẫn dầu-khí trongcác kho chứa dầu-khí, trên các tàu vận tải dầu-khí trên biển không những đã gây ra nhiều tổn thất về mặtkinh tế mà còn làm Ô nhiễm môi trường Những năm gần đây do không kiểm soát được ngọn lửa nên nạncháy rừng đã diễn ra trên quy mô rộng lớn ở nhiều nước Đông Nam Á và châu Mĩ, bầu khí quyển bị ônhiễm nặng nề và rất nhiều hậu quả kéo theo nó
Quá trình cháy được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp, đời sống, quốc phòng, giao thông vậntải nên khả năng cháy nổ là một mối đe doạ thường xuyên đối với mọi đối tượng sử dụng nó Phòngchống cháy nổ là ván đề cấp bách đối với mọi quốc gia, mọi ngành, mọi cơ quan, doanh nghiệp, mọi giađình và mọi người
3.1.2 PHƯƠNG CHÂM, TÍNH CHẤT VÀ NHIỆM VỤ CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY
Công tác phòng cháy chữa cháy muốn đạt được kết quả tốt phải tuân theo phương châm "Tích cựcphòng ngừa, kịp thời cứu chữa, bảo đảm có hiệu quả cao nhất"
Hai mặt phòng ngừa và cứu chữa đều quan trọng, nhưng trước hết phải tích cực phòng ngừa vì đểxảy ra cháy, nổ thì ít nhiều đều gây thiệt hại Song song với việc tích cực phòng ngừa phải tổ chức chuđáo việc cứu chữa kịp thời Muốn như vậy phải nghiên cứu kĩ tính chất sản xuất, cấp bậc công trình; cóphương án phòng cháy chữa cháy chu đáo; trang bị đầy đủ các thiết bị, chất chữa cháy và có tổ chức tậpluyện thường xuyên
Phòng cháy chữa cháy là một bộ phận của công tác bảo hộ lao động, cho nên nó cũng mang đầy
đủ 3 tính chất của công tác bảo hộ lao động
Ngoài ra do đặc điểm của nó, công tác phòng cháy chữa cháy còn có tính chất thứ tư là tính chấtchiến đấu
- Tính quần chúng: mọi người đều tích cực phòng cháy, đấu tranh với những người làm bừa, làm
ẩu và tham gia chữa cháy ngay tại chỗ thì sẽ hạn chế được cháy xảy ra và nếu xảy ra thì sẽ cứu chữa kịpthời và có hiệu quả hạn chế được thiệt hại tới mức thấp nhất Quần chúng tự đảm đương công tác phòngcháy chữa cháy là thể hiện quyền làm chủ của họ trong việc quản lý xã hội, quản lý kinh tế
- Tính pháp luật: pháp lệnh đã quy định rõ nghĩa vụ của mỗi công dân, trách nhiệm của thủ trưởng
cơ quan các cấp đối với công tác phòng cháy chữa cháy nên mọi người bắt buộc phải thi hành Công tácphòng cháy chữa cháy do nhà nước quản lý bằng pháp lệnh, nghị định và những tiêu chuẩn, quy phạm thể
lệ cụ thể áp dụng cho từng ngành nghề, từng công việc Trong các cơ sở sản xuất và chiến đấu lại có quytrình, quy ước những điều phải làm và những điều ngăn cấm nhằm làm loại trừ các nguyên nhân gây racháy, nổ và đề ra các biện pháp cứu chữa kịp thời và có hiệu quả
Trang 31- Tính khoa học kĩ thuật: Công tác phòng cháy chữa cháy có liên quan mật thiết đến nhiều ngànhkhoa học, kĩ thuật Thiếu hiểu biết khoa học kĩ thuật sẽ gây ra cháy, nổ Chỉ có năm vững khoa học kỹthuật thì mới tổ chức việc phòng ngừa và cứu chữa kịp thời có hiệu quả Cách mạng khoa học kĩ thuậtngày càng phát triển, tốc độ, quy mô sản xuất ngày càng tăng, càng cần phải áp dụng các thành tựu khoahọc kĩ thuật mới vào công tác phòng cháy chữa cháy.
Tính chiến đấu: Cháy có thể gọi là "giặc lửa" nó xảy ra bất ngờ và có thể lan rộng nhanh chóng.đòi hỏi con người phải luôn chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, nắm chắc tình hình, áp dụng chiến thuật thíchhợp để đánh nhanh thắng nhanh, có tấn công và bảo vệ, có bao vây và chia cắt, hiệp đồng giữa các lựclượng thì mới dành được hiệu quả cao nhất Nó cũng đòi hỏi một tinh thần dũng cảm, dám hi sinh và ýthức tổ chức kỷ luật cao
Nhiệm vụ cơ bản của lực lượng phòng cháy chữa cháy được pháp lệnh quy định là:
1) Nghiên cứu để Bộ Công an ban hành các điều lệ, biện pháp và tiêu chuẩn kĩ thuật về phòngcháy chữa cháy
2) Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các điều lệ, biện pháp và tiêu chuẩn kỹ thuật về phòng cháychữa cháy ở các cơ quan, xí nghiệp, kho tàng, công trường, hợp tác xã, nhà ở của nhân dân và những nơicần thiết khác
3) Thoả thuận về thiết kế và thiết bị phòng cháy chữa cháy của các công trình xây dựng về kinh tế
và văn hoá và các công trình xây dựng khu nhà lớn trước khi thi công các công trình ấy
4) Chỉ đạo công tác nghiệp vụ phòng cháy chữa cháy và tổ chức phối hợp chiến đấu của các độichữa cháy
5) Tổ chức việc nghiên cứu và phổ biến khoa học kỹ thuật phòng cháy chữa cháy
6) Hướng dẫn việc tuyên truyền giáo dục cho nhân dân về nhiệm vụ và cách thức phòng cháychữa cháy
7) Hướng dẫn và kiểm tra việc sản xuất và mua sắm các máy móc, phương tiện, dụng cụ và hoáchất chữa cháy về mặt chất lượng, số lượng và chuẩn mực
8) Cùng với cơ quan chức năng tiến hành điều tra và kết luận về các vụ cháy
3.1.3 NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ CHÁY NỔ
3.1.3.1 Định nghĩa về cháy
Từ lâu đã có nhiều công trình nghiên cứu về cháy và cho đến nay các nhà khoa học đã đi đến một
kết luận thống nhất: "Cháy là một phản ứng hóa học, có toả nhiệt và phát sinh ra ánh sáng.
Như vậy, cháy xảy ra có 3 dấu hiệu đặc trưng sau:
Bóng đèn khi bật thì phát sáng và toả nhiệt nhưng cũng không được gọi là cháy vì thiếu yếu tốphản ứng hoá học
giữa hai khối khí, hơi một cách đột ngột Ví dụ: quả bóng bay, săm xe đạp bơm căng quá bị nổ Nồi
hơi, bình khí nén không chịu nổi áp lực bên trong cũng gây nổ
- Nổ hoá học là hiện tượng nổ do cháy cực nhanh gây ra Trong khi nổ
hoá học có đủ dấu hiệu phản ứng hoá học, toả nhiệt nhiều và phát sáng Các loại thuốc súng, bom
đạn khi nổ là có hiện tượng nổ hoá học.
3.1.3.3 Nhiệt độ chớp cháy, nhiệt độ bốc cháy, nhiệt độ tự bốc cháy
Trang 32Giả sử có một chất cháy ở trạng thái lỏng ví dụ: nhiên liệu diezen được đặt trong một cốc bằngthép Cốc được nung nóng với tốc độ nâng nhiệt độ xác định Khi tăng dần nhiệt độ của nhiên liệu thì tốc
độ bốc hơi của nó cũng tăng dần Nếu đưa ngọn lửa trần tới miệng cốc thì ngọn lửa sẽ xuất hiện kèm theomột tiếng nổ nhẹ, nhưng sau đó ngọn lửa lại tắt ngay Vậy nhiệt độ tối thiểu tại đó ngọn lửa xuất hiện khitiếp xúc với ngọn lửa trần sau đó lại tắt ngay gọi là nhiệt độ chớp cháy của nhiên liệu diezen Sở dĩ ngọnlửa tắt ngay vì ở nhiệt độ đó tốc độ bay hơi của nhiên liệu diezen nhỏ hơn tốc độ tiêu tốn nhiên liệu vàophản ứng cháy với không khí
Nếu tiếp tục nâng nhiệt độ của nhiên liệu cao hơn nhiệt độ chớp cháy thì sau khi đưa ngọn lửa trầntới miệng cốc quá trình cháy xuất hiện, sau đó ngọn lửa vẫn tiếp tục cháy Nhiệt độ tối thiểu tại đó ngọnlửa xuất hiện và không bị dập tắt gọi là nhiệt độ bốc cháy của nhiên liệu diezen
Giả sử có một hỗn hợp chất cháy và chất oxy hoá, ví dụ metan và không khí được giữ trong mộtbình kín Thành phần của hỗn hợp này được tính toán trước để phản ứng có thể xảy ra được Nung nóngbình từ từ sẽ thấy ở một nhiệt độ nhất định thì hỗn hợp khí trong bình sẽ tự bốc cháy mà không cần cótiếp xúc với ngọn lửa trần hoặc tàn lửa Vậy nhiệt độ tối thiểu tại đó hỗn hợp khí tự bốc cháy không cầntiếp xúc với ngọn lửa trần gọi là nhiệt độ tự bốc cháy của nó
Nhiệt độ chớp cháy, bốc cháy và tự bốc cháy của vật liệu có nhiều ứng dụng trong kĩ thuật phòngchống cháy nổ Ba nhiệt độ này càng thấp thì khả năng cháy, nổ càng lớn, càng nguy hiểm và phải đặcbiệt quan tâm tới các biện pháp phòng, chống cháy nổ
3.1.3.5 Điều kiện cần thết cho quá trình cháy
Để quá trình cháy xuất hiện và phát triển được phải có 3 yếu tố là:
Chất cháy, oxy trong không khí, nguồn nhiệt thích ứng Ba yếu tố trên phải kết hợp với nhau đúng
tỷ lệ, xảy ra cùng một thời gian, tại cùng một địa điểm thì mới đảm bảo sự cháy hình thành
a) Chất cháy: người la chia chất cháy ra 3 loại:
- Chất rắn: gồm các vật liệu ở thể rắn như tre, gỗ, vải sợi,
- Chất lỏng như xăng, dầu,
Chất khí như me tan, hidro
b) Oxy cần cho sự cháy
Trong không khí oxy chiếm 21% thể tích, đại bộ phận của chất cháy đều cần có sự tham gia củaoxy trong không khí Nếu lượng oxy giảm xuống 14: 15% thì cháy không duy trì được nữa
c) Nguồn nhiệt
Có nhiều loại nguồn nhiệt khác nhau dẫn đến một đám cháy Có nguồn nhiệt trực tiếp như ngọnlửa que diêm, nến Có nguồn nhiệt do ma sát các vật rắn sinh ra, có nguồn nhiệt do tác dụng giữa các hoáchất với nhau sinh ra cũng có thể gây cháy Mỗi chất khác nhau cần nguồn nhiệt đốt cháy tương ứng với
nó Ví dụ: một que diêm có thể đốt cháy tờ giấy, song không thể châm vào một khúc gỗ làm bùng cháyngay được
Như vậy việc xác định 3 yếu tố cần thiết cho sự cháy có một ý nghĩa quan trọng trong việc phòngcháy chữa cháy Muốn ngăn chặn đám cháy, phải chủ động loại trừ các yếu tố trên
3.1.3.6 Đặc điểm cháy của các vật liệu khác nhau
Quá trình cháy của các chất rắn, lỏng, khí đều trải qua các giai đoạn chính như nhau: chuẩn bị, làbắt cháy, cháy Hai giai đoạn sau của quá trình cháy của khí và chất lỏng (thực chất là cháy hơi của chấtlỏng) thì giống nhau Nhưng với chất rắn thì quá trình cháy phức tạp hơn nhiều Với chất khí ở giai đoạnchuẩn bị xảy ra các quá trình gia nhiệt, khuấy trộn chất cháy với tác nhân oxy hoá, phân huỷ chất cháy.Với chất lỏng, ngoài những quá trình như chất khí, trong giai đoạn chuẩn bị còn có quá trình bốc hơichuyển chất lỏng thành pha hơi Vì cháy chất lỏng chỉ thực hiện trong pha hơi Giai đoạn chuẩn bị vớichất cháy thể rắn phức tạp hơn nhiều Nó bao gồm sự gia nhiệt, thoát ẩm, thoát chất bốc Một số chất rắncòn thêm quá trình nóng chảy, chảy lỏng rồi mới đến quá trình phân huỷ, oxy hoá
Dưới đây xét đặc điểm cháy của các chất cháy thể rắn, khí, lỏng và bụi
a) Cháy, nổ của hỗn hợp hơi, khí với không khí
Các hỗn hợp hơi, khí với không khí có thể được tạo ra do nhiều nguyên nhân khác nhau trong sảnxuất hay khi sử dụng các chất cháy dạng khí
Trang 33Trong những điều kiện nhất định hỗn hợp này có thể gây cháy hoặc nổ Cả chất cháy và không khíđều ở trạng thái khí nên sự trộn lẫn giữa chúng dễ đạt trạng thái lý tưởng và dễ gây cháy, nổ.
Sự cháy của hỗn hợp bao giờ cũng xuất phát từ một điểm rồi lan truyền ra xung quanh Lượngnhiệt toả ra do phản ứng cháy tại lớp khí đầu tiên sẽ truyền cho các lớp khí chưa cháy bàng phương phápdẫn nhiệt Khi cháy lớp khí đầu tiên có thể tạo ra các tâm hoạt động, các tâm hoạt động này khuếch tánvào lớp khí chưa cháy và kích thích nó Cứ như vậy cho đến khi hết toàn bộ hỗn hợp khí có trong thể tích
Sự cháy dần dần từng lớp như vậy làm cho vùng cháy chuyển dịch trong không gian đó và làm lan truyềnngọn lửa Tốc độ lan truyền ngọn lửa biểu thị cho cường độ quá trình cháy và là một đặc trứng quan trọngcủa nó Cháy ổn định có tốc độ lan truyền ngọn lửa từ vài milimet đến vài centimet trong một giây Tốc
độ cháy gây nợ có thể từ hàng chục tới hàng trăm mét một giây, thậm chí cháy kích nổ (hay còn gọi làcháy nén áp) có thể tốc độ lan truyền tới 1 - 4 km/s Đặc tính cháy, nổ của một vài chất thường gặp chotrong bảng 3.1
Bảng 3.1 Đặc tính cháy, nổ của các khí cháy trong đi u ki n áp su t khí quy n ều nhiệt theo nhiệt độ không khí ệt theo nhiệt độ không khí ất ển
Khí cháy Công thức Nhiệt độ
là phải biết tại chỗ nào sẽ tích tụ loại khí, hơi nào Để phát hiện và xác định nồng độ hơi, khí cháy người
ta dùng các phương pháp phân tích khí thông thường, phân tích khí tự động hay máy báo cháy tự động
b) Cháy, nổ của chất lỏng trong không khí
Tất cả chất lỏng đều có khả năng bay hơi và độ bay hơi phụ thuộc vào nhiệt độ sôi của nó Sựcháy khi nào cũng xảy ta trong pha hơi và trên bể mặt thoáng của chất lỏng Sau khi đã bay hơi thì sựcháy và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình cháy đều giống như sự cháy của hơi, khí
Bảng 3.2 Đặc tính cháy của một vài chất lỏng ở áp suất khí quyển c tính cháy c a m t v i ch t l ng áp su t khí quy n ủa vận tốc dòng khí tắm và nhiệt độ không khí ội dung chi tiết: à nhiệt độ không khí ất ỏng ở áp suất khí quyển ở áp suất khí quyển ất ển
Chất lỏng bốc cháy ( Nhiệt độ 0 C) Giới hạn nổ, % thể tích
Trang 34Khả năng cháy của chất lỏng có thể xác định bằng các thông số khác nhau như nhiệt độ bùngcháy, nhiệt độ bốc cháy, nhiệt độ tự bốc cháy hoặc được xác định trong một dụng cụ tiêu chuẩn Khikhông có số liệu về nhiệt độbùng cháy có thể tính gần đúng theo công thức nghiệm OcmanGreven nhưsau:
Chất lỏng càng dễ cháy thì nhiệt độ bùng cháy càng thấp và nhiệt độ bốc cháy càng gần nhiệt độbùng cháy Bảng 3.2 là đặc tính cháy của một vài chất lỏng ở áp suất khí quyển
c) Cháy nổ của bụi trong không khí
Trong sản xuất, bụi của các chất cháy có thể sinh ra do nhiều nguyên nhân khác nhau Bụi tạo vớikhông khí thành các hỗn hợp cháy, nổ Bụi ồn tại ở nhiều dạng như lắng trên các thiết bị, đường ống,công trình và có thể cháy âm ỉ Bụi lơ lửng trong không khí có thể gây ra hỗn hợp cháy, nổ nguy hiểm Vềtính chất: loại bụi nào cũng có độ xốp, do đó nó có thể hấp thụ các khí cháy, hấp thụ oxy của không khí
và tạo điều kiện cho sự bắt cháy Bụi có kích thước nhỏ nên bề mặt riêng lớn, bề mặt tiếp xúc với khôngkhí lớn và giới hạn nồng độ nổ càng rộng
Bụi nào cũng có độ ẩm và độ ẩm của bụi càng cao thì khả năng bắt cháy càng khó Giữa độ ẩmcủa bụi và độ ẩm của môi trường có cân bằng động Độ ẩm của không khí càng lớn thì nồng độ bụi trongkhông khí càng thấp làm giảm khả năng bắt cháy của bụi
Bụi nào cũng có độ tro Độ tro càng cao thì khả năng bắt cháy càng giảm Phần lớn bụi cháy được
Căn cứ vào tính chất cháy nổ người ta phân bụi thành các loại sau:
1) Bụi lơ lửng gây nổ
*Cấp 1: bụi dễ nổ, có giới hạn nồng độ dưới nhỏ hơn 15g/m3 ví dụ như: bụi của các chất như lưu
huỳnh, êbônit đường, tinh bột, như thông, v
* Cấp 2: Bụi nổ, có giới hạn nồng độ dưới từ 16 - 65g/m Ví dụ: bụi gỗ, bụi than bùn, thuốc
nhuộm
2) Bụi lắng gây cháy
* Cấp 3: Bụi dễ cháy, có nhiệt độ tự bắt cháy thấp hơn 250()C Ví dụ: bụi than gỗ, bụi bông,
* Cấp 4: Bụi cháy: Có nhiệt độ tự bắt cháy cao hơn 2500C Ví dụ: bụi than có hàm lượng trokhoảng 32 - 36%, bụi gỗ
không quá 4 - 6at, tuỳ theo tính chất của bụi và công suất của nguồn sinh mồi lửa
d) Cháy của chất rắn trong không khí
Cháy của chất rắn có hai loại: cháy không có ngọn lửa là đặc thù của các vật liệu như than cốc
than gỗ, kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và cháy có ngọn lửa như gô than bùn
Đám cháy của các vật liệu khác nhau có màu sắc và mùi khác nhau
Đám cháy có ngọn lửa sáng là đặc trưng cháy của các vật liệu hữu cơ với hàm lượng cacbon hơn
Trang 35Khi cháy không hoàn toàn trong đám cháy có những sản phẩm độc và nổ Vải bông, len, than bùn,
gỗ, giấy khi cháy không hoàn toàn sẽ tạo ra 0,4% cacbon oxit 2,2% khí cacbonic Khi cháy xenluloit và
người Phần lớn chất dẻo, sợi nhân tạo khi cháy thường tạo ra rất nhiều cacbonoxít, hidroclorua, amoniac,xianhidric fotgen và vài chất khác có tính độc tố cao
Tóc độ cháy các vật liệu cacbon phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ phản ứng oxy hoá, tốc độ khuếchtán oxy tới vùng cháy, bề mặt riêng của chất cháy, nhiệt độ và áp suất: Tốc độ khuếch tán oxy càng tăngthì tốc độ cháy càng tăng
Cháy kim loại kiềm thổ (như natri, kali ) tạo thành các oxit xốp nằm trên bề mặt kim loại nóngchảy Khi cháy, kim loại chảy lỏng theo các mao quản trong lớp xốp đó mà thấm ra ngoài rồi bị oxy hoátại bề mặt chất xốp đó Kết quả là tạo ra các "nấm" gồm kim loại nóng chảy và các oxit nung đỏ Bề mặtlớp "nấm" đó tăng theo thời gian và có thể đạt vài centimet Kim loại kiềm bắt cháy rất khó và cần nhiềuthời gian Sự bắt cháy của kim loại kiềm chỉ xảy ra sau khi nó đã chảy lỏng, mà cũng chỉ một phần nhỏkim loại thòi Khi cháy manhê, canxi và nhôm sẽ tạo ra những đám mây trắng dày đặc gồm các oxit Do
trông giống như ngọn lửa
Những phoi bào của manhê, hợp kim manhê cháy rất mạnh Phối càng mỏng, tốc độ cháy cànglớn Cháy bụi manhê, nhôm xảy ra chậm Tuy nhiên, chỉ cần một xung lượng cơ học bất kì (lắc, va đậpcủa một tia nước) cũng đủ kích thích sự cháy và có thể chuyển thành nổ
Khả năng cháy của chất rắn được xác định bằng nhiệt độ bắt cháy, nhiệt độ tự bắt cháy Khái niệmbắt cháy và tự bắt cháy của vật rắn cũng có những nét khác chút ít so với nghĩa thông thường của kháiniệm đó
Bắt cháy là giai đoạn đầu của quá trình cháy, xuất hiện khi có mồi lửa trần Nhiệt độ bắt cháy lànhiệt độ thấp nhất khi đó vật bị cháy hoặc bắt đầu cháy âm ỉ và tiếp tục cháy hoặc âm ỉ cháy sau khi bỏ
nhiệt độ thấp nhất cần phải gia nhiệt cho vật chất để do sự tự oxy hoá tiếp tục và nó sẽ tự gia nhiệt đến khi
đàng bốc hơi ở nhiệt độ thường (thăng hoa) như phối pho, naptalin còn được đặc trưng bằng nhiệt độ
Chất có K > 2,1 là loại dễ cháy
K < 0,5 là loại khó cháy
K = 0 là loại không cháy được
e) Một vài dạng cháy đặc biệt
* Các loại chất cháy tự bốc cháy trong không khí
Nhiều chất rắn, đặc biệt là than, có bề mặt riêng lớn nên có khả năng hấp thụ oxy của không khítrên bề mặt của chúng làm cho tốc độ oxy hoá tăng Nếu lượng nhiệt sinh ra không thoát hết ra môitrường xung quanh mà tích lũy lại trong chất rắn, xốp sẽ làm tăng nhiệt độ và tăng tốc độ oxy hoá
Quá trình tích luỹ nhiệt này cứ tiếp tục mãi cho đến một nhiệt độ nhất định thì cháy sẽ xảy ra Quátrình tự bắt cháy của các loại than trong bảo quản làm mất phẩm chất của chúng và ô nhiễm môi trường.Theo nguyên nhân này người ta chia các chất cháy ra theo các nhóm sau:
Nhóm 1: Vật chất có nguồn gốc thực vật như các loại hạt Với các loại vật liệu này ngay ở nhiệt độ
thường đã có những phản ứng sinh học và toả nhiệt Sự tích luỹ nhiệt làm cho tốc độ oxy hoá tăng dần vàxem đó là tự bốc cháy trong khí quyến
Nhóm 2: Các loại than biến tính trung bình và thấp như than bùn, than nâu và than đá.
Trang 36Nhóm 3: Dầu mỡ, trong đó nguy hiểm hơn cả là dầu mỡ thực vật vì có những hợp chất hữu cơ
không no dễ bị trùng hợp và oxy hoá Nếu dầu mỡ bám vào các vật rắn xốp như quần áo, giẻ lau thì
càng dễ gây cháy vì các chất rắn này có bề mặt riêng lớn thúc đẩy quá trình toả nhiệt dẫn đến cháy
Nhóm 4: Các chất tự bắt cháy khi gặp không khí như bụi kẽm, bụi nhôm, hợp chất cơ kim, sunfua kim loại
* Các loại vật chất tự bốc cháy khi gặp nước
hợp chất này khi tác dụng với nước toả nhiều nhiệt và sinh ra các khí cháy được
Ví dụ:
* Các chất khi trộn với các chất hữu cơ gây cháy nổ
trong quá trình phản ứng sinh ra Oxy hoặc halogen ở trạng thái nguyên tử rất hoạt động làm tăng nhanhtốc độ oxy hoá dẫn tới cháy hoặc nổ nguy hiểm
ít nước sẽ cháy với bột nhôm, bột than hoặc bột lưu huỳnh
3.1.4 NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY RA CHÁY
Về khái niệm này, các nhà chuyên môn định ra các dạng khác nhau như nguyên nhân cháy trựctiếp, nguyên nhân cháy gián tiếp, nguyên nhân sâu xa
Ví dụ: Chỉ nói một nguyên nhân do con người gây ra như: vô ý trong đun nấu hay sử dụng điệngây ra cháy, nguyên nhân do cố ý gây cháy (phá hoại) Ở đây đề cập đến những nguyên nhân trực tiếp gâycháy để có những biện pháp phòng ngừa thích hợp
3.1.4.1 Cháy do tác động của ngọn lửa trần hoặc tia lửa, tàn lửa
Đây là nguyên nhân cháy phổ biến vì nhiệt độ của ngọn lửa trần rất cao, đủ sức đốt cháy hầu hết
Trong các nhà và ở nhiều nơi như ống khói, ống xả mô, bếp đang đun nấu, sưởi sấy thường có
tàn lửa, nếu gặp những chất dễ cháy như xăng dầu dễ dẫn đến cháy
3.1.4.2 Cháy do ma sát, va chạm giữa các vật rắn
Đây cũng là một nguyên nhân thường gặp ở các trường hợp máy móc không được bôi trơn tốt, các
Ổ bi, cổ trục cọ sát vào nhau sinh la nhiệt hoặc có khi phát ra tia lửa gây cháy
Trong khi máy hoạt động, nhất là các máy cào bông, sợi đay, máy băm xé nguyên liệu có lẫn vậtliệu bằng kim loại cũng hay gây cháy Trường hợp mở nắp phuy xăng bằng búa sắt đi giầy đinh trên nền
xi măng trong kho xăng, cũng sinh tia lửa dễ gây cháy, nổ
3.1.4.3 Cháy do tác dụng của hoá chất
Trong các khâu sản xuất, bảo quản, vận chuyển và sử dụng hoá chất người ta đề ra những quyđịnh hết sức nghiêm ngặt để phòng các sự cố gây tai nạn cho con người và môi trường nói chung và cháy,
nổ nói riêng
Về mặt phòng cháy chữa cháy phải chú ý thường xuyên phản ứng hoá học toả nhiệt hoặc phát rangọn lửa Người ta phân định như sau:
Các hoá chất tác dụng với nhau sinh nhiệt hoặc hình thành ngọn lửa có thể dẫn đến cháy nếu
không chủ động kiểm soát được chúng trong các phòng thí nghiệm, nơi sản xuất, Ví dụ: chỉ với
amoniac, chỉ với hidro
- Hoá chát gặp không khí, gấp nước: một số hoá chất tiếp xúc với môi trường không khí cũng cókhả năng gây cháy Do đó, việc bảo quản hoá chất đòi hỏi phải thực hiện đúng các quy định Các chất:
Phối pho trắng, bụi kẽm, bụi nhôm, , dễ gây phản ứng trong không khí và nước.
3.1.4.4 Cháy do tác dụng của năng lượng điện
Đây cũng là trường hợp chuyển hoá từ điện năng sang nhiệt năng
Trang 37Trong các trường hợp như chập mạch điện quá tải, nhiệt độ trên dây dẫn tăng cao có thể gây racháy vỏ cách điện, rồi cháy lan sang các vật khác.
Các trường hợp sinh ra tia lửa điện như đóng ngắt cầu dao, cháy cầu chì, mối nối dây dẫn khôngchặt cũng là những nguồn gây cháy Đối với các dụng cụ điện có công suất cao như bàn là, bếp điện, tủsấy khi sử dụng sẽ toả nhiều nhiệt, sức nóng trên bề mặt rất lớn Ví dụ: Điểm nóng nhất của bóng đèn
84()C Vì vậy các vật nói trên nếu không để đúng vị trí, không thực hiện đầy đủ biện pháp an toàn đều cóthể gây cháy
Nguyên nhân gây ra cháy, nổ trong thực tế rất nhiều và đa dạng không thể mô tả hết Sét cũng gây
ra cháy Nhiệt độ do sét đánh rất cao, hàng chục nghìn độ vượt quá xa nhiệt độ tự bắt cháy của các chấtcháy được Nhiều khi cháy nổ xảy ra do người sản xuất thao tác không đúng quy trình Ví dụ: dùng chất
dễ cháy để nhóm lò, sai trình tự thao tác trong một khâu sản xuất nào đó bảo quản các chất oxy hoá mạnhcùng các chất cháy mạnh trong cùng một nơi như clorat kèm với bột than gỗ bột lưu huỳnh, axit nướcđậm đặc với các hợp chất quan
Cũng cần phải lưu ý rằng nguyên nhân cháy, nổ còn xuất phát từ sự không quan tâm đầy đủ trongthiết kế công nghệ, thiết bị cũng như sự thanh tra, kiểm tra của người quản lý
3.1.5 BIỆN PHÁP PHÒNG CHÁY VÀ NỔ
Phòng cháy là khâu quan trọng nhất trong công tác phòng cháy chữa cháy vì khi đám cháy đã xảy
ra thì dù các biện pháp chống cháy có hiệu quả như thế nào thì thiệt hại vẫn to lớn và kéo dài Trên cơ sớphân tích được các nguyên nhân và điều kiện gây cháy có thể chủ động đề ra các biện pháp phòng ngừathích hợp, không để xảy ra cháy hoặc ngăn chặn kịp thời không cho đám cháy phát triển
3.1.5.1 Biện pháp giáo dục, tuyên truyền, huấn luyện
Cháy, nổ là nguy cơ thường xuyên đe doạ mọi cơ quan, xí nghiệp, doanh nghiệp và có thể xảy rabất cứ lúc nào nếu có sơ xuất, do đó việc tuyên truyền, giáo đục để mọi người hiểu rõ là tự nguyện thamgia vào phòng cháy chữa cháy là vấn đề hết sức cần thiết và quan trọng Trong công tác tuyên truyềnhuấn luyện thường xuyên cần làm rõ bản chất và đặc điểm quá trình cháy của các loại nguyên liệu và sảnphẩm đang sử dụng, các yếu tố dễ dẫn đến cháy, nổ của chúng và phương pháp đề phòng để không gây ra
sự cố Pháp lệnh quy định việc quản lý của nhà nước đối với công tác phòng cháy, chữa cháy nêu rõ Việcphòng cháy chữa cháy là nghĩa vụ của mỗi công dân Việc tổ chức huấn luyện, tuyên truyền giáo dục vềcông tác phòng cháy chữa cháy ở mỗi đơn vị, xí nghiệp là trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị Mồi cơquan, xí nghiệp, kho tàng đều phải có phương án chữa cháy khi có cháy xử lý kịp thời và tổ chức luyệntập thường xuyên để khi có cháy xử lý kịp thời có hiệu quả
3.1.5.2 Biện pháp kĩ thuật
Đây là biện pháp thể hiện ở việc lựa chọn phương pháp sản xuất sơ đồ công nghệ, thiết bị sảnxuất, chọn vật liệu kết cấu, vật liệu xây dựng, biện pháp xây dựng và hệ thống thông tin, báo hiệu, v.v
Để đảm bảo tránh được cháy, nổ khi tiến hành các quá trình kỹ thuật cần có các biện pháp sau đây:
- Thay thế các khâu sản xuất nguy hiểm bằng những khâu ít nguy hiểm hơn hoặc tiến hành cơ khíhoá, tự động hoá
- Thiết bị phải đảm bảo kín Tại các chỗ nối, tháo nút, nạp vào của thiết bị cần phải kín để hạn chếthoát hơi
- Nếu quá trình sản xuất đòi hỏi phải dùng dung môi, trong điều kiện có thể, chọn dung môi khóbay hơi, khó cháy thay cho dung môi dễ bay hơi dễ cháy
Dùng thêm các chất phụ gia trơ các chất ức chế, các chất chống nổ để giảm tính cháy nổ của hỗnhợp cháy Thực hiện các khâu kỹ thuật nguy hiểm về cháy nổ trong môi trường khí trơ, trong điều kiệnchân không
Cách ly hoặc đặt các thiết bị hay công đoạn dễ cháy nổ ra một khu vực xa các thết bị, công đoạnkhác Đặt chúng ở những nơi thoáng gió hoặc đặt hẳn ra ngoài trời
- Loại trừ mọi khả năng phát sinh ra mồi lửa tại những chỗ sản xuất có 1 hiểm của chất cháy trongcác thiết bị, ống dẫn khí hay trong hệ thống thông gió
- Giảm tới mức thấp nhất lượng chất cháy, nổ trong khu vực sản xuất
- Thiết kê lắp đặt các hệ thống thiết bị chống cháy lan truyền
- Xử lý bằng sơn chống cháy, vật liệu không bị cháy
Trang bị hệ thống báo cháy, chữa cháy tự động
3.1.5.3 Biện pháp hành chính, pháp lý
Trang 38Pháp lệnh của Nhà nước về công tác phòng cháy chống cháy quy định về nghĩa vụ của mỗi côngdân trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan và bắt buộc mọi người phải tuân theo Nhà nước quản lý phòngcháy chống cháy bằng pháp lệnh, nghị định hoặc tiêu chuẩn và thể lệ đối với từng ngành nghề sản xuất.Còn các cơ sở sản xuất căn cứ vào đó để đề ra quy trình quy phạm riêng của mình.
3.1.6 CHỮA CHÁY VÀ PHƯƠNG TIỆN CHỮA CHÁY
3.1.6.1 Quá trình phát triển đám cháy
a) Đặc điểm của đám cháy.
Tất cả các đám cháy đều có các đặc điểm chung sau đây
Một đám cháy bao giờ cũng toả nhiệt Nhiệt lượng toả ra ít hay nhiều tuỳ thuộc bản chất vật cháy
và điều kiện của đám cháy, nhiệt tiếp tục đun nóng vật cháy thúc đẩy quá trình cháy phát triển nhanh.Nhiệt lượng của đám cháy toả ra nhiều hay ít có ảnh hưởng lớn đến các biện pháp chữa cháy
Sản phẩm của đám cháy là khói Thành phần của nó tuỳ thuộc vào chất cháy, điều kiện cháy.Trong thành phần của khói, có chất tham gia vào quá trình cháy như cacbon oxit, có chất lại kìm hãm sựcháy như khí cacbonic
Sản phẩm cháy gây trở ngại rất nhiều cho công việc cứu chữa như gây độc cho người cứu chữa, ăn
mòn các thiết bị và hạn chế tầm nhìn của người trinh sát đám cháy
Một đặc trưng quan trọng của đám cháy là tốc độ cháy Tốc độ cháy
phụ thuộc vào bản chất của vật cháy, vào độ ẩm, hướng gió và thế cháy của vật cháy
Có 2 loại tốc độ cháy: tốc độ dài và tốc độ khối
- Tốc độ dài là quãng đường đám cháy phát triển trên bề mặt của chất cháy trong một đơn vị thờigian tính bằng m/nh hay mm/ph
- Tốc độ khối là khối lượng của chất cháy bị hao tổn sau khi cháy trên một đơn vị diện tích và
Tốc độ cháy của một số đưa ra trong bảng 3.3
Bảng 3.3 Tốc độ cháy của một số chất thười gian tiếp xúc với tia tử ngoại cho phép ng g p ặc tính cháy của một vài chất lỏng ở áp suất khí quyển
Tên chất cháy
Tốc độ cháy trung bình Tên chất cháy
Tốc độ cháy trung bình
b) Diễn biến của đám cháy và sự phát triển của nó
Trừ một vài trường hợp đặc biệt, hầu hết các đám cháy đều diễn biến theo 3 gian đoạn sau:
- Giai đoạn đầu: Nguồn nhiệt nung nóng vật cháy đến nhiệt độ bén lửa Giai đoạn này dài hayngắn hạn tuỳ thuộc vào vật cháy Nếu vật cháy là chất dễ cháy thì giai đoạn đầu ngắn, nếu vật cháy là chấtkhó cháy thì giai đoạn đầu dài hơi Khi lửa mới bén cháy, tốc độ phát triển của ngọn lửa còn chậm, nếuphát hiện kịp thời có thể dập tắt đám cháy mau chóng
- Giai đoạn cháy to: Tốc độ phát triển của đám cháy là nhanh nhất, nhiệt độ đám cháy cao nhất,tiêu hao chất cháy nhiều nhất Ơ giai đoạn này lửa có thể lan tràn từ khu vực này sang khu vực khác Sựcháy lan tràn này có thế trực tiếp do ngọn lửa bén sang, cũng có thể do quá trình bức xạ nhiệt truyền nhiệtlàm cho vật cháy dễ bị phân huỷ rồi bén cháy
Trang 39- Giai đoạn kết thúc đám cháy: Ở giai đoạn này nhiệt độ cháy giảm dần tốc độ cháy cũng giảmdần đến không Kết thúc đám cháy thường bằng hai cách khác nhau Đám cháy được cứu chữa kịp thời,loại trừ những điều kiện để đám cháy tiếp tục phát triển thì đám cháy sẽ bị dập tắt Nhưng cũng có nhữngđám cháy không phải do chữa cháy mà kết thúc mà nó có thể tự kết thúc khi một trong những điều kiệncháy không tồn tại Ví dụ: đám cháy đã cháy hết vật liệu hoặc trong đám cháy sinh ra khí trơ tự pha loãngnồng độ oxy đến múc không thể cháy được nữa Diễn biến của đám cháy, sự phát triển của nó phụ thuộcrất nhiều vào nhiệt độ, bản chất vật cháy và oxy.
Đám cháy chỉ có thể xuất hiện khi nhiệt độ của vật cháy đã đạt được một giá trị cần thiết tối thiểu.Nhiệt độ đòi hỏi cao hay thấp phụ thuộc bản chất vật cháy Vật cháy thuộc loại dễ cháy đòi hỏi nhiệt độban đầu không cao và ngược lại Nhiệt độ càng cao thì phản ứng càng sớm xảy ra, đám cháy phát triểncàng nhanh cháy càng sớm Mồi bắt cháy chính là một nguồn nhiệt cung cấp cho vật cháy, nếu gia nhiệtcho nó đến nhiệt độ tối thiểu đó nó có thể bắt cháy được
Sự phát triển đám cháy cũng phụ thuộc vào bản chất vật cháy và sự tiếp xúc của nó với oxy Vậtcháy thuộc loại dễ cháy thì đám cháy phát triển nhanh, tốc độ cháy lớn Vật cháy thuộc loại khó cháy thìđám cháy phát triển chậm, tốc độ cháy nhỏ Khối lượng của vật cháy càng nhiều thì đám cháy phát triểncàng lớn Trong thực tế nhà cửa không làm đúng tiêu chuẩn, không đúng khoảng cách phòng cháy không
có tường ngăn cháy, hàng hoá trong nhà chất quá nhiều là những điều kiện tạo cho đám cháy phát triểnnhanh Sự phát triển của đám cháy còn phụ thuộc vào độ ẩm, mật độ của vật cháy, vị trí để vật cháy Vậtcháy được trải mỏng hoặc xốp có diện tích tiếp xúc với oxy lớn thì đám cháy phát triển nhanh chóng.Ngoài ra sự phát triển của đám cháy còn phụ thuộc vào nồng độ oxy và hướng gió trong vùng cháy
3.1.6.2 Nguyên lý chữa cháy
Từ bản chất quá trình cháy, điều kiện của quá trình cháy và diễn biến của một đám cháy ta thấyrằng, sự cháy sẽ được chấm dứt khi giảm tốc độ phát nhiệt từ vùng cháy và khi tăng tốc độ truyền nhiệt từvùng cháy ra môi trường xung quanh
Giảm tốc độ phát nhiệt hoặc ngừng phát nhiệt trong vùng cháy có thể đạt được bằng cách ức chếphản ứng cháy bằng phương pháp hoá học, pha loãng chất cháy bằng chất không cháy hoặc cách ly chấtphản ứng ra khỏi vùng cháy
Tăng tốc độ truyền nhiệt từ vùng cháy ra môi trường xung quanh có thể đạt được bằng cách làmlạnh nhanh chóng vùng cháy hoặc chất phản ứng
Để thực hiện các quá trình đó người ta dùng các phương pháp khác nhau gọi là phương pháp chữacháy Phương pháp chữa cháy là hoạt động liên tục, chính xác của con người theo một trình tự nhất địnhhướng vào gốc đám cháy, nhằm tạo điều kiện để đập tắt đám cháy Ví dụ: Pha loãng chất phản ứng bằngchất không cháy có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như phun khí, hơi không cháy hoặc phun bụichất lỏng (chất lỏng ở dạng bụi) vào nơi có đám cháy, vào ngọn lửa hay vào chất cháy Do đó pha loãngchất cháy chỉ là nguyên lý mà theo nguyên lý đó có nhiều phương pháp khác nhau để dập tắt đám cháy
Dựa trên nguyên lý như vậy ta có những loại phương pháp chữa cháy sau:
Làm loãng chất tham gia phản ứng bằng cách đưa vào vùng cháy những chất không tham gia phản
2 ức chế phản ứng cháy bằng cách đưa vào vùng cháy những chất có tham gia phản ứng, nhưng
có khả năng biến đổi chiều của phản ứng từ phát nhiệt thành thu nhiệt như brommetyl, brometyl,
3 Ngăn cách không cho oxy thâm nhập vào vùng cháy, như dừng bọt, cát chăn phủ .
4 Làm lạnh vùng cháy cho đến nhiệt độ bắt cháy của các chất cháy
5 Phương pháp tổng hợp Ví dụ: đầu tiên chữa cháy bằng phương pháp làm lạnh sau đó bằngphương pháp cách ly
Trong thực tế các phương pháp chữa cháy không chỉ dựa trên một nguyên lý để dập tắt được đámcháy mà kết hợp nhiều nguyên lý Có như vậy mới dập tắt đám cháy nhanh chóng mang lại hiệu quả cao
Ngoài phương pháp chữa cháy chung, trong công tác chữa cháy còn có nhiều chiến thuật dập tắtđám cháy Chiến thuật chữa cháy là phương pháp chữa một đám cháy cụ thể để đạt được hiệu quả cao
Trong chiến thuật chữa cháy có chiến thuật bao vây triệt tiêu toàn bộ đám cháy, lại có chiến thuậtchia cắt tiêu diệt từng điểm cháy tiến tới tiêu diệt toàn bộ đám cháy áp' dụng chiến thuật chữa cháy nàocho thích hợp phải căn cứ vào đặc điểm của đám cháy, người, phương tiện dụng cụ cứu chữa hiện có đểquyết định việc cứu chữa
3.1.6.3 Các chất chữa cháy
Các chất chữa cháy là chất đưa vào đám cháy nhằm dập tắt nó Có nhiều loại chất chữa cháy nhưchất rắn, chất lỏng và chất khí Mỗi chất có tính chất và phạm vi ứng dụng riêng, song cần có các yêu cầu
Trang 40cơ bản sau: Có hiệu quả chữa cháy cao nghĩa là tiêu hao chất chữa cháy trên một đơn vị diện tích cháytrong một đơn vị thời gian phải là nhỏ nhất, kg/m2.s.
- Tìm kiếm dễ và rẻ tiền
- Không gây độc hại đối với người khi sử dụng, bảo quản
- Không làm hư hỏng thiết bị cứu chữa và thiết bị, đồ vật được cứu chữa
Hiệu quả cứu chữa một đám cháy càng cao nếu cường độ phun chất chữa cháy càng lớn Cường
độ chất chữa cháy là lượng chất chữa cháy (kg,lít) cần thiết để dập tắt 1m2 đám cháy trong 1 giây,
Cường độ phun chất chữa cháy phụ thuộc vào loại chất cháy và loại chất chữa cháy (bảng 3.4)
Bảng 3.4 Cường độ phun chất chữa cháy phụ thuộc vào loại chất cháy.
Tên chất
cháy
Tên chất chữa cháy
0,002 - 0,005
0,5-
-0,17 - 0,75
-0,5 - 1,5
-Cường độ phun càng lớn thì thời gian chữa cháy càng ngắn Nói chung đa số các đám cháy có thờigian chữa cháy nằm trong khoảng từ vài phút đến nửa giờ Những chất chữa cháy được sử dụng rộng rãi ởnước ta có nhiều loại khác nhau
1) Nước có khả năng thu nhiệt lớn ở các đám cháy Lượng nước phun vào đám cháy phụ thuộcvào cường độ phun, vào nhiệt độ cháy và diện tích bề mặt của đám cháy Khi phun nước vào đám cháy bềmặt cháy được làm lạnh do nhiệt tiêu hao làm bốc hơi nước Mặt khác hơi nước cũng pha loãng nồng độhơi cháy để dập tắt đám cháy Nhưng khi chữa cháy phải phun nước trong một thời gian nhất định đểnước thấm vào vật cháy làm lạnh vật cháy xuống dưới nhiệt độ bắt cháy Trong thực tế có một số vậtcháy như bông, len, than gỗ, thóc rất khó ngấm nước Vì vậy khi cứu chữa những loại này cần thêm vàocác chất thuốc chữa cháy để giảm sức căng bề mặt tăng độ ngấm của nước vào vật cháy
Không dược dùng nước để chữa cháy các thiết bị có diện, các kim loại có hoạt tính hoá học như
xăng dầu, trừ những trường hợp đặc biệt phải có sự quyết định của người chỉ huy chữa cháy
2) Hơi nước: Trong công nghiệp hơi nước thường được dùng để chữa cháy Tác dụng chính củahơi nước là pha loãng nồng độ chất cháy và ngăn cản nồng độ oxy đi vào vùng cháy Lượng hơi nước cầnthiết để chữa cháy phải chiếm 35% thể tích nơi chứa hàng bị cháy Thực nghiệm cho thấy chữa cháy chomột phòng kín phải phun với cường độ 0,002kg/m.s, cho một phòng có mở cửa sổ phải phun với cường
độ 0,005kg/m3.s trong thời gian 3 phút thì đám cháy mới dập tắt được
Chữa cháy bằng hơi nước chỉ cho phép đối với các loại hàng hoá, máy móc dưới tác dụng nhiệt vàhơi nước không bị hư hỏng
3) Bụi nước: Bụi nước là nước được phun thành hạt rất bé như bụi làm tăng đáng kể bề mặt tiếpxúc của nó với đám cháy Khi chữa cháy các hạt bụi nước sẽ thu nhiệt của đám cháy rồi bốc hơi, phaloãng nồng độ chất cháy, hạ thấp nhiệt độ đám cháy, hạn chế sự thâm nhập của oxy vào vùng cháy Bụinước còn có tác dụng giảm khói trong đám cháy Bụi nước chỉ được sử dụng khi toàn bộ dòng bụi nướctrùm kín được mặt cháy của đám cháy
4) Bọt chữa cháy: Bọt chữa cháy ở nước ta gồm có 2 loại: Bọt hoá học và bột hoà không khí Tácdụng chủ yếu của bọt chữa cháy là cách ly hỗn hợp cháy với vùng cháy, ngoài ra còn có tác dụng làm
lạnh vùng cháy Bọt chữa cháy chủ yếu dùng để chữa cháy xăng, dầu và chất lỏng bị cháy Cấm sử dụng
bọt chứa cháy để chữa cháy các thiệt bị có điện, chữa cháy các kim loại, đất đèn và những đám cháy
có nhiệt độ cao trên 17000c Vì ở đây sử dụng dung dịch nước.
Ngoài ra còn có một số chất làm bền bọt như sắt sunfat, bột cam thảo
Khi sử dụng trộn 2 dung dịch với nhau, khi đó có các phản ứng sau: