1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín dụng đầu tư phát triển nhà nước thực trạng và giải pháp

41 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 289,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước đã hỗ trợ nguồn vốn để các doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, giảm chi phí đầu vào, tăng

Trang 1

Lời mở đầu

Trước xu hướng hội nhập kinh tế thế hiện nay, đòi hỏi nền kinh tế trong nước phải đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để thực hiện được yêu cầu đó, cần phải có các điều kiện về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng kinh tế phát triển Trong điều kiện nền kinh tế của đất nước còn nhiều khó khăn, ngân sách nhà nước hạn hẹp thì hình thức tín dụng đầu tư phát triển tỏ ra rất thích hợp trong việc huy động và quản lý nguồn lực của nhà nước cho đầu

tư phát triển

Thông qua chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước đã hỗ trợ nguồn vốn để các doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, giảm chi phí đầu vào, tăng khả năng cạnh tranh…Là công cụ điều tiết

vĩ mô của Chính phủ đối với nền kinh tế, hoạt động tín dụng đã quản lý và sử dụng nguồn vốn ưu đãi hiệu quả hơn, phù hợp với các ưu tiên phát triển của đất nước trong từng thời kỳ, góp phần phát triển cân đối nền kinh tế Bên cạnh những đóng góp mà hoạt động tín dụng ĐTPT thì vẫn còn tồn tại hạn chế nhất định

Xuất phát từ những lý do đó việc nghiên cứu đề tài: “Tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước Thực trạng và giải pháp” là cần thiết để có những giải pháp

tăng cường hoạt động tín dụng ĐTPT, phát huy hơn nữa vai trò của hoạt động này đối với sự phát triển kinh tế, xã hội

Em xin chân thành cảm ơn cô Phan Thị Thu Hiền đã hướng dẫn em hoàn thành đề tài này!

Trang 2

Đề tài: Tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước

Thực trạng và giải pháp

Chương I: Những lý luận chung về tín dụng đầu tư phát triển

nhà Nước I/ Khái niệm về tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước:

Đầu tư phát triển là hình thưc đầu tư nhằm nâng cao năng lực sản xuất hiện

có và tạo ra năng lực sản xuất mới Đây là tiền đề để thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng, ứng dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Đầu tư phát triển thúc đẩy kinh tế song song với thay đổi kinh tế-xã hội

Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển, các quốc gia phải có nguồn vốn đầu tư phát triển thông qua tích lũy vốn trong và ngoài nước Vốn đầu tư phát triển là nguồn vốn không thể thiếu trong nền kinh tế Nguồn vốn này hình thành bởi vốn đầu tư phát triển của tất cả các thành phần kinh tế xã hội, bao gồm: vốn đầu tư phát triển của Nhà nước, của doanh nghiệp, vốn nhàn rỗi của các tổ chức dân cư trong nước và vốn đầu tư của các cá nhân tổ chức nước ngoài

Tín dụng đầu tư phát triển là một hình thức nhằm thực hiện chính sách đầu

tư phát triển của Nhà nước, thể hiện mối quan hệ vay – trả giữa Nhà nước ( hiện nay là Ngân hàng Phát triển Việt Nam đại diện cho nhà nước) với các pháp nhân

và thể nhân hoạt động trong nền kinh tế được Nhà nước hỗ trợ với chính sách ưu đãi cho từng đối tượng cụ thể nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhất định theo định hướng của Nhà nước

II/ Đặc điểm và hình thức hoạt động của tín dụng ĐTPT Nhà nước:

1 Đặc điểm của tín dụng ĐTPT Nhà nước:

- Thực hiện theo nguyên tắc không cạnh tranh với các Ngân hàng thương mại đảm bảo sự phối hợp bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, phù hợp với nguyên tắc thị trường và thông lệ quốc tế

- Là hình thức tín dụng trung và dài hạn, đầu tư nhằm mục đích hướng đến việc xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cho nền kinh tế

Trang 3

- Chủ thể trong hoạt động tín dụng đầu tư luôn là nhà nước(hay Ngân hàng phát triển Việt Nam)

- Tín dụng đầu tư phát triển có chức năng phân phối và phân bổ các nguồn lực tài chính cho sự phát triển kinh tê – xã hội của đất nước

- Tính chất ưu đãi của tín dụng ĐTPT thể hiện ở một số điểm như: lãi suất thấp, quy mô cho vay lớn, thời gian cho vay dài, điều kiện đảm bảo nợ vay

ưu đãi hơn…

- Tín dụng đầu tư phát triển có tính lịch sử Khi nền kinh tế phát triển thì phạm

vi của tín dụng đầu tư phát triển thu hẹp lại và chuyển đổi sang các hình thức tín dụng khác

2 Các hình thức hoạt động của tín dụng ĐTPT Nhà nước:

- Trực tiếp: chính phủ trực tiếp đầu tư hoặc cho vay với lãi suất ưu đãi đối

với các dự án thuộc lĩnh vực ưu tiên Hoặc chính phủ có thể bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn của các tổ chức tín dụng

- Gián tiếp: Chính phủ cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp, cá nhân như

các thông tin về thị trường trong và ngoài nước, nghiên cứu thị trường theo yêu cầu của doanh nghiệp

III/ Các tổ chức thực hiện tín dụng ĐTPT Nhà nước:

Các tổ chức tài chính phát triển được coi là công cụ đặc biệt quan trọng của Chính phủ để thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế phù hợp Nhiệm vụ của các tổ chức này nhằm cung cấp tín dụng cho các lĩnh vực khuyến khích đầu tư, lĩnh vực xuất nhập khẩu và lĩnh vực phát triển nông thôn

Với đặc điểm quan trọng là công cụ nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH của Nhà nước, tín dụng ĐTPT của Nhà nước được giao cho một tổ chức

cụ thể để triển khai nhằm đảm bảo sự quản lý, giám sát và thực thi một cách có hiệu quả để đạt được mục tiêu đề ra Đa số các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam, đều thành lập một tổ chức trung gian tài chính để thực hiện nhiệm vụ này với tên gọi phổ biến là “Ngân hàng phát triển” Và mô hình NHPT đã chứng tỏ được tính ưu việt của nó trong hoạt động tín dụng ĐTPT Nhà nước

IV/ Nguồn vốn hoạt động cho tín dụng đầu tư:

- Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước:

Trang 4

+Vốn điều lệ của Ngân hàng phát triển Việt Nam

+ Vốn ngân sách nhà nước cho các dự án theo kế hoạch hàng năm

+ Vốn ODA được chính phủ giao

- Nhận tiền gửi ủy thác của các tổ chức trong và ngoài nước:

- Vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức kinh

tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức trong và ngoài nước

V/ Đối tượng của hoạt động tín dụng đầu tư:

Đối tượng của tín dụng ĐTPT mang tính đặc trưng về không gian và thời gian Nó phụ thuộc vào các chính sách phát triển cũng như chiên lược công nghiệp hóa của mỗi quốc gia Ví dụ như các quốc gia đang phát triển ở Đông Á là công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu, vì vậy đối tượng của tín dụng ĐTPT chủ yếu là các dự án thuộc các ngành công nghiệp mũi nhọn, ngành công nghệ cao, các dự án phát triển vùng nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu…

Đối tượng của tín dụng ĐTPT chỉ mang tính tương đối, nó sẽ thay đổi khi chiến lược, kế hoạch, hoàn cảnh kinh tế đất nước thay đổi Bên cạnh đó đối tượng tín dụng ĐTPT phải xuất phát từ mục đích của tín dụng ĐTPT của Nhà nước Do

đó, đối tượng vay vốn tín dụng ĐTPT không chỉ tập trung vào các khu vực có khả năng phát triển mà còn có các khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn

Đối tượng vay vốn có tác dụng tạo đà, lôi kéo các ngành nghề, lĩnh vực khác phát triển Việc lựa chọn đối tượng vay vốn có ý nghĩa quan trọng trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nên cần được tiến hành một

Trang 5

cách khoa học, điều này tạo sự ổn định trong hoạt động đầu tư, nâng cao hiệu quả trong sử dụng nguồn vốn tín dụng ĐTPT Nhà nước.

Trang 6

Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng đầu tư phát

triển tại Việt Nam

KFW rất chú trọng trong công tác quản lý rủi ro tín dụng Để phòng ngừa rủi ro phát sinh do thay đổi lãi suất và tỷ giá, KFW tham gia vào một số các giao dịch có kỳ hạn tương lai KFW đã tiến hành một số bước để cải thiện khả năng cải thiện tài sản nợ của mình, và những bước này đã góp phần tăng khả năng sinh lời và ổn định tài chính của ngân hàng

Về lãi suất cho vay: Thời gian đầu thực hiện KFW cấp tín dụng với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường nhưng sau đó lãi suất sẽ được điều chỉnh sát với lãi suất thị trường để giảm sự bao cấp của Nhà nước Bên cạnh việc giảm ưu đãi

về lãi suất là mở rộng thời hạn cho vay, chất lượng dịch vụ, điều kiện vay vốn…

Trang 7

Hệ thống kế toán kiểm toán của KFW được quy định tại Luật KFW, trong

đó quy định rằng báo cáo kế toán hàng năm do hội đồng quản trị soạn thảo, có

sự tham gia ý kiến của cơ quan kiểm toán Chính phủ Các báo cáo tài chính của KFW phải được lập phù hợp với các quy định của kế toán ngân hàng

1.2 Ngân hàng phát triển Trung Quốc( CDB):

CDB được thành lập vào tháng 3 năm 1994 Là tổ chức chịu sự điều hành trực tiếp từ Quốc vụ viện, CDB phải trình báo các hoạt động lên Quốc vụ viện theo quy định Hội đồng quản lý được thành lập như một đơn vị điều hành nội bộ; bao gồm các thành viên đại diện cho: Ủy ban kế hoạch Nhà nước, Ủy ban thương mại và kinh tế Nhà nước, Bộ ngoại thương và hợp tác kinh tế, Kiểm toán

Mỗi năm CDB được kiểm tra tổng thể một lần xem các chính sách hoạt động của CDB có phù hợp với chính sách quốc gia hay không, không hề có việc kiểm tra nhỏ lẻ ở tầm vi mô và Hội đồng quản lý không được phép can thiệp tùy tiện vào các hoạt động hàng ngày của CDB

Nguồn vốn của CDB phần lớn từ phát hành trái phiếu Trái phiếu của CDB phát hành trong nước được Chính phủ bảo lãnh Phần lớn các trái phiếu

5 năm được các ngân hàng thương mại và trái phiếu 8 năm do tiết kiệm bưu điện mua Lãi suất do ngân hàng nhân dân quyết định và có cân nhắc tới lãi suất của các công cụ tài chính khác có cùng thời hạn Từ năm 1998, CDB đưa

ra một phần hệ thống đấu thầu thông qua việc kết hợp một nhóm các ngân hàng thương mại để quyết định lãi suất của trái phiếu, do vậy mà huy động được vốn với lãi suất thấp

Các hình thức hỗ trợ của CDB ngày càng được đa dạng hơn Đặc biệt là việc mở rộng hình thức tư vấn đầu tư cho các dự án Đây là hình thức mới

Trang 8

nhưng lại mang lại hiệu quả cao đối với các dự án đầu tư Hiện nay CDB đã tư vấn cho các dự án mới của Nhà nước trước khi nó được trình lên nội các

2 Vai trò của tín dụng ĐTPT nhà nước đối với phát triển kinh tế:

Tín dụng ĐTPT Nhà nước ra đời nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu ĐTPT ngày càng lớn của nền kinh tế và sự giới hạn của nguồn lực tài chính công, nhất là của NSNN Tuy nhiên cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế thị trường thì tín dụng ĐTPT Nhà nước ngày càng có vai trò quan trọng

Thứ nhất, chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước hỗ trợ tích cực cho

việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Tín dụng đầu tư là công cụ để Nhà nước tham gia quản lý và điều tiết nền kinh tế

Thứ hai, chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước động viên thúc đẩy

các doanh nghiệp Việt Nam tích cực tìm kiếm thị trường, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất để thúc đẩy sản xuất hàng hóa, tăng kim ngạch xuất khẩu hàng năm của Việt Nam, góp phần cải thiện cán cân thương mại quốc tế, giảm bớt nhập siêu như hiện nay

Thứ ba, cung cấp một lượng vốn cho việc đầu tư phát triển các dự án ở các khu

vực, vùng, ngành khó khăn nhằm khai thác tài nguyên tại chỗ, giải quyết việc làm cho người lao động, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội

Thứ tư, thông qua hệ thống tín dụng ĐTPT của Nhà nước tạo thêm một kênh huy

động vốn cho đầu tư phát triển, phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế đất nước

Thứ năm, góp phần nâng cao vị thế của quốc gia, tạo điều kiện mở rộng và phát

triển hoạt động kinh tế đối ngoại

II/ Tổng quan về tín dụng đầu tư phát triển nhà nước tại Việt Nam:

1 Giai đoạn trước năm 1990:

Sau khi miền Bắc được giải phóng, để khôi phục nền kinh tế bị tàn phá trong chiến tranh trong khi nguồn vốn tiết kiệm đầu tư của dân cư quá nhỏ, Nhà nước

đã phải sử dụng nguồn vốn Ngân sách cấp cho các doanh nghiệp Nhà nước, các chương trình xây dựng

Trang 9

Theo nghị định 177 – TTg ngày 26/4/1957 của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng kiến thiết Việt Nam được thành lập với chức năng cơ bản: cung cấp vốn kiến thiết cơ bản theo kế hoạch và dự toán Nhà nước duyệt; quản lý toàn bộ vốn Ngân sách Nhà nước dùng vào kiến thiết cơ bản Bên cạnh Ngân hàng kiến thiết Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng thực hiện cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản Điều này tạo ra sự chồng chéo, khó tập trung quản lý hoạt động ĐTPT của Nhà nước.

Trước yêu cầu giải quyết tốt mối quan hệ giữa cấp phát và cho vay vốn Nhà nước, ngày 24/6/1981, Hội đồng chính phủ đã ra quyết định 259- CP chuyển Ngân hàng kiến thiết Việt Nam thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2 Giai đoạn từ năm 1990-1994:

Trong bối cảnh chung của công cuộc cải cách kinh tế, Chính phủ đã chủ trương từng bước chuyển dần các công trình được cấp vốn Nhà nước sang vay vốn để đầu tư phát triển Theo đó từ năm 1990 Nhà nước cấp vốn cho Ngân hàng đầu tư và Xây dựng để hình thành nguồn vốn tín dụng đầu tư Cùng với nguồn vốn Nhà nước cấp Ngân hàng có trách nhiệm huy động thêm nguồn vốn khác để thực hiện cho vay đầu tư Ngân hàng đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, thực hiện thêm chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng, chủ yếu trong lĩnh vực ĐTPT

Hoạt động tín dụng ĐTPT trong giai đoạn này vẫn mang tính chất bao cấp,

ưu đãi quá lớn, được thực hiện chủ yếu dưới hình thức cấp phát, không hoàn lại

Cơ chế thực hiện mang nặng tính hành chính, bao cấp

3 Giai đoạn từ năm 1995-1999:(thời kì chuyển tiếp)

Trước nhu cầu nâng cao hiệu quả tín dụng ĐTPT Nhà nước, thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho ĐTPT đồng thời tách bạch dần hoạt động cho vay chính sách ra khỏi vay thương mại Chính phủ đã thành lập Tổng cục

Trang 10

Đầu tư phát triển, trực thuộc Bộ Tài chính, với nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về Tài chính ĐTPT, tổ chức việc thực hiện việc cấp phát vốn Ngân sách Nhà nước đầu tư và vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước đối với các dự án, mục tiêu, chương trình theo danh mục do Chính phủ quyết định hàng năm Cũng trong thời gian này, Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia được thành lập ngày 9/12/1995 theo quyết định 808/TTg của Thủ tướng chính phủ, để huy động vốn và cho vay đối với các dự án đầu tư phát triển các ngành, nghề, thuộc diện ưu đãi và các vùng kinh tế khó khăn theo quy định của Chính phủ

Như vậy trong thời gian từ 1995 – 1999, hoạt động tín dụng ĐTPT Nhà nước được nhiều tổ chức chung tay thực hiện, đó là: Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV), Tổng cục đầu tư phát triển, trực thuộc Bộ tài chính, Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia thuộc Chính phủ và các Ngân hàng thương mại quốc doanh khác

4 Giai đoạn từ năm 2000-2005:(thời kì hoạt động theo cơ chế thị trường)

Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới toàn diện cơ chế quản lý kinh tế và cơ chế quản lý tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, nhằm góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế theo tinh thần, nghị quyết TW 4 và

TW 6 lần 1 khóa VIII Tháng 6 năm 1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số

43/1999/NĐ – CP về tín dụng ĐTPT của Nhà nước, đồng thời thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển (QHTPT) theo Nghị định số 50/1999/NĐ– CP ngày 8/7/1999 để thực hiện chính sách tín dụng ĐTPT Nhà nước(Ngoài ra có kèm theo thực hiện tín dụng xuất khẩu).

Đây là một bước đi quan trọng trong việc đổi mới quản lý tín dụng ĐTPT Nhà nước, tập trung vào một đầu mối, khắc phục những tồn tại của cơ chế tín dụng ĐTPT trong 10 năm trước theo hướng giảm bao cấp, tăng cường hiệu quả vốn đầu tư, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ đầu tư và cơ quan cho vay, tách bạch tín dụng chính sách và tín dụng thương mại trong lĩnh vực đầu

tư xây dựng cơ bản Tháng 4/2004, chính phủ ban hành nghị định

Trang 11

106/2004/NĐ-CP ngày 01/04/2004 về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước thay thế nghị định 43/1999/NĐ-CP, với một số thay đổi chính về mục đích tín dụng ĐTPT, bổ sung các hình thức cho vay, đối tượng ngành nghề cũng thu hẹp…

Như vậy trong giai đoạn này đã có nhiều thay đổi đáng kể trong hoạt động tín dụng ĐTPT, việc kế thừa và tiếp tục cải tiến hoạt động và bộ máy của DAF một tổ chức mới ra đời mở ra giai đoạn mới cho của hoạt động tín dụng đầu tư Nhà nước

5 Giai đoạn từ năm 2006 đến nay:

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (Vietnam Development Bank - VDB) được thành lập trên cơ sở Quỹ Hỗ trợ Phát triển theo quyết định 108/2006/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 19/05/2006 Là một đơn vị cho vay chính sách phi lợi nhuận, với số vốn điều lệ lên tới 10 nghìn tỷ đồng Cùng với Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, VDB có mục tiêu đóng góp vào quá trình xoá đói giảm nghèo thông qua các khoản vay cho các công trình xây dựng thuỷ lợi và giao thông nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng cho các làng nghề, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cho các vùng sâu, vùng xa và hỗ trợ xuất khẩu

So với hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển, Ngân hàng Phát triển hiện nay sẽ được tăng quyền chủ động, tăng tính trách nhiệm trong đánh giá, thẩm định cho vay các dự án và có quyền từ chối cho vay đối với những dự án kém hiệu quả NHPT kế thừa mọi quyền lợi, trách nhiệm từ QHTPT, nhưng hoạt động chuyên nghiệp hơn, có quyền lợi và trách nhiệm cao hơn, thể hiện tốt hơn vai trò

là công cụ chính sách của Chính Phủ trong hoạt động tín dụng ĐTPT Nhà nước

III/ Thực trạng hoạt động ĐTPT nhà nước từ năm 2000 đến nay:

1 Giai đoạn từ năm 2000-2006:

1.1 Tổ chức hoạt động:

 Cơ chế chính sách

Trong giai đoạn này Chính phủ đã ban hành nghị định về tín dụng ĐTPT là: Nghị định số 106/2004/NĐ-CP ngày 1/4/2004 Nghị định 106 ra đời khắc phục những tồn tại của Nghị định 43 Theo đó:

Trang 12

- Đối tượng hưởng trợ cấp ưu đãi bị cắt giảm để tránh tình trạng đầu tư dàn trải

- Nguồn vốn huy động được mở rộng để giảm sự phụ thuộc vào NSNN

- Lãi suất cho vay được điều chỉnh theo hướng giảm bao cấp

 Tổ chức thực hiện

Hoạt động nghiệp vụ của QHTPT là huy động vốn và cho vay vốn trung dài hạn đối với các dự án ĐTPT kinh tế xã hội nhưng QHTPT không phải là ngân hàng thương mại, không chịu sự điều chỉnh của các luật tổ chức tín dụng và chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Hệ thống QHTPT gồm QHTPT TW và 61 chi nhánh quỹ, thực hiện hạch toán tập trung, có thực hiện phân cấp ủy quyền cho các chi nhánh và điều chỉnh vốn giữa chi nhánh Quỹ và QHTPT TW

Sang Nghị định 106 đã có những thay đổi trong hoạt động của QHTPT Theo quy định mới của Nghị định 106 Bộ kế hoạch đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính lập dự toán NSNN cấp bù chênh lệch lãi suất, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho hoạt động tín dụng ĐTPT Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín dụng ĐTPT không chỉ nâng cao hơn nữa vai trò của hoạt động này đối với sự phát triển của nền kinh tế còn thể hiện một sự đổi mới đáng ghi nhận trong việc ban hành chính sách và quan điểm cải cách nền tài chính công

1.2 Nguồn vốn hoạt động và đối tượng:

Nguồn vốn đã được mở rộng cả về quy mô và hình thức Tuy nhiên nguồn vốn hoạt động vẫn còn phụ thuộc nhiều và NSNN Nguồn vốn được chia thành vốn NSNN và vốn QHTPT huy động Trong đó vốn từ phát hành TPCP được giao cho QHTPT phát hành thuộc về vốn QHTPT huy động Năm 2002, QHTPT

đã huy động vốn dưới hình thức phát hành TPCP trên thị trường chứng khoán tạo

ra công cụ đầu tư tài chính dài hạn 10 năm, 15 năm xuất hiện lần đầu tiên trên thị trường tài chính Việt Nam Đến năm 2004, nguồn vốn huy động từ phát hành TPCP của QHTPT chiếm hơn 30% tổng nguồn vốn hoạt động của Quỹ, góp phần quan trọng nâng tỷ lệ các nguồn vốn huy động từ thị trường từ 7.3% năm 2000 lên 58% cuối năm 2004

Cơ chế huy động chưa thật sự gắn với thị trường, hạn chế đến khả năng huy động vốn cho ĐTPT, đặc biệt là huy động qua phát hành TPCP vì tính thanh

Trang 13

khoản của trái phiếu còn thấp do chưa có thị trường thứ cấp và chưa được cầm cố, chiết khấu tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Phương thức huy động vốn theo quy định chưa đa dạng từ loại tiền, hình thức đến đối tượng huy động…đã làm hạn chế việc khai thác các nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội cho ĐTPT

Trong giai đoạn này, đối tượng hưởng ưu đãi là các dự án đầu tư tại các vùng khó khăn thuộc một số ngành nghề theo quy định Điều này đã làm hạn chế khả năng vay vốn cho các dự án bởi để đảm bảo tính hiệu quả thì một số dự án khó có thể đầu tư tại các vùng khó khăn Bên cạnh đó các đối tượng hưởng ưu đãi rất rộng rãi, lên tới gần 40 nhóm đối tượng gây ra tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả Để khắc phục được điều này Nghị định 106 đã quy định lại về đối tượng hưởng ưu đãi trong đó không phân biệt địa bàn đầu tư và thu hẹp đối tượng hưởng ưu đãi Từ gần 40 nhóm giảm xuống còn trên 14 nhóm đối tượng Các đối tượng vay vốn tín dụng thuộc các ngành công nghiệp nặng bị thắt chặt thì các ngành chế biến nông lâm- thủy hải sản lại được mở rộng diện ưu đãi Các đối tượng tập trung vào các lĩnh vực, sản phẩm quan trọng cần khuyến khích của nền kinh tế như dự án trồng rừng nguyên liệu giấy, bột giấy, dự án sản xuất giống gốc…

1.3 Hình thứ hoạt động:

1.3.1 Hình thức cho vay ĐTPT

Để khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, bao cấp tràn lan Nghị định 106 có quy định mới thu hẹp đối tượng hưởng ưu đãi và đặc biệt là các đối tượng vay vốn Với quy định mới về lãi suất đã làm cho lãi suất sát với lãi suất thị trường hơn và giảm tính bao cấp ở mức lãi suất cũ Đồng thời với việc tăng lãi suất làm tăng cường quyền hạn của QHTPT trong việc giám sát, quyết định cho vay nhằm đảm bảo đầu tư có hiệu quả Về thời hạn cho vay được xác định dài hơn theo khả năng trả nợ của chủ đầu tư nhưng tối đa không quá 12 năm Bên cạnh đó còn có quy định về bảo đảm tiền vay Điều này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân tiếp cận dễ hơn với vốn tín dụng ưu đãi và đảm bảo các thành phần kinh tế phát triển đồng đều hơn

Trang 14

Bảng 1: Kết quả cho vay đầu tư trung và dài hạn của QHTPT giai đoạn

13511 tỷ đồng Đến năm 2004 do cơ chế cho vay thay đổi theo hướng thu hẹp đối tượng cho vay nên vốn giải ngân giảm xuống còn 10648 tỷ đồng Việc giải ngân vẫn chưa được tiến hành một cách hiệu quả nên tốc độ giải ngân còn chậm Chất lượng tín dụng chưa cao, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao và ngày càng có xu hướng tăng thêm Điều này cho thấy công tác thẩm định dự án, công tác thanh tra kiểm tra và quản lý nguồn vay còn chưa tốt

Trang 15

Bảng 2: Cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế quốc dân

Đơn vị: tỷ đồng

Nguồn: QHTPT

Cơ cấu cho vay đầu tư của Quỹ thay đổi dần qua từng năm Cơ cấu cho vay thể hiện rõ định hướng ĐTPT theo hướng CNH-HĐH Tỷ trọng cho vay các dự án thuộc ngành công nghiệp xây dựng, giao thông vận tải có xu hướng tăng nhanh

Từ năm 2000 đến năm 2003 tỷ trọng cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn Đến năm 2004 cơ chế cho vay có sự thay đổi nên tỷ trọng ngày càng giảm xuống còn 87% và đến năm 2005 là 85% Sự thay đổi này cho thấy xu hướng giảm sự bao cấp đối với các doanh nghiệp nhà nước đã có sự chú trọng đầu tư vào các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Đối với hoạt động tín dụng đầu tư phát triển phân theo vùng kinh tế

TT(

%)

Số vốn

TT(

%)

Số vốn

TT(

%)

Số vốn

TT (%)

Trang 16

Bảng 3: Cơ cấu cho vay theo vùng kinh tế giai đoạn 2000 – 2005

Đơn vị: tỷ đồng

Nguồn: QHTPT

Cơ cấu cho vay cho thấy sự phát triển tương đối nhanh của vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, Đông Bắc, Đồng bằng sông Cửu Long so với các vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên

Ngoài chính sách tín dụng ĐTPT cũng chú trọng đến hình thức tín dụng xuất khẩu Tín dụng xuất khẩu là hình thức cho vay ngắn hạn với các dự án sản xuất hàng xuất khẩu nhằm hỗ trợ các sản phẩm trong nước xuất khẩu sang nước ngoài, tăng cường mối quan hệ quốc tế, góp phần thực hiện tốt đường lối công nghiệp hóa của đất nước

Tính đến 30/6/2005, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ vốn cho chiến lược xuất khẩu QHTPT đã đầu tư trên 6580 tỷ đồng vốn trung và dài hạn cho 700 dự án sản xuất hàng xuất khẩu và trên 23000 tỷ đồng để hỗ trợ gần 2000 doanh nghiệp thực hiện thành công trên 5500 hợp đồng xuất khẩu hàng thủy sản gạo, dệt may…vào các thị trường lớn như ASEAN, EU, Mỹ, Nhật…góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước khoảng 17%/năm trong giai đoạn 2000-2005

S

T

T Vùng

Các chỉ tiêu theo vùng kinh tế

Số vốn vay theo HĐTD Dư nợ

Số

dự án

Số vốn vay

Tỷ trọng vốn vay(%)

Tổng số

Tỷ trọng(%)

Trang 17

Bảng 4: Tỷ trọng cho vay theo mặt hàng vào thị trường giai đoạn 2000-2005(%)

Nguồn:QHTPT

Cơ cấu trên cho thấy tỷ trọng cho vay của mặt hàng thủy sản chiếm tỷ trọng lớn

nhất là 34.7%, sau đó đến gạo là 29.7% Các mặt hàng này đều là các mặt hàng lợi thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế Tỷ trọng này đã phản ánh phần nào tác động của hoạt động tín dụng ưu đãi đối với việc phát huy lợi thế so sánh các sản phẩm trong nước trên thị trường nước ngoài

Tỷ trọng cho vay theo thị trường tập trung vào các thị trường lớn như EU, Trung Quốc, ASEAN Đây là các thị trường xuất khẩu truyền thống của Việt Nam Tuy nhiên trong giai đoạn hội nhập quốc tế cần phải nâng cao tỷ trọng cho vay các mặt hàng, xuất khẩu vào các thị trường lớn và tiềm năng như Mỹ và Nhật Bản.Bên cạnh hoạt động cho vay đầu tư; cho vay ngắn hạn hỗ trợ xuất khẩu thì hoạt động cho vay lại vốn ODA và vốn ủy thác cũng được tăng cường Nguồn vốn ODA được bộ Tài chính ủy thác cho QHTPT quản lý và cho vay đối với các dự

án thuộc đối tượng ưu đãi Tính đến ngày 30/6/2005, quỹ đang quản lý và cho vay lại 261 dự án vay vốn ODA, với tổng số vốn vay theo hợp đồng tín dụng đã ký 5.88 tỷ USD, đã giải ngân được trên 3 tỷ USD, dư nợ 40003 tỷ đồng Hoạt động cho vay lại vốn ODA đã có sự tăng trưởng mạnh về số lượng và chất lượng Số

dự án tăng 1.5 lần, tổng dư nợ tăng 2.6 lần Nhờ kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo đúng nguyên tắc, đúng chế độ về quản lý đầu tư và xây dựng nên ngoài việc quản

lý các dự án ODA cho vay lại theo ủy thác của Bộ tài chính, quỹ đã được một số

tổ chức quốc tế, chính phủ các nước ủy thác quản lý khoảng 323 triệu USD dưới dạng các quỹ quay vòng

1.3.2 Hình thức hỗ trợ lãi suất sau đầu tư

Tỷ trọng theo mặt hàng Tỷ trọng theo thị trường

Trang 18

Đây là hình thức Nhà nước hỗ trợ một phần lãi suất của chủ đầu tư vay vốn của các tổ chức tín dụng để đầu tư dự án, sau khi dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng và trả được nợ Trong giai đoạn này, Số vốn cấp cho hình thức này ngày càng tăng cao Từ 0.3 tỷ năm 2000 đã lên đến 111 tỷ năm 2004 Nếu như năm

2000 chỉ có 49 dự án thì năm 2005 đã có gần 1850 dự án được Quỹ cam kết hỗ trợ lãi suất sau đầu tư với tổng số vốn đã ký hợp đồng hỗ trợ lãi suất sau đầu tư lên tới 1550 tỷ đồng, đây là nguồn vốn mới nên góp phần thu hút hàng chục ngàn

tỷ đồng từ các nhà đầu tư và các tổ chức tín dụng cho ĐTPT Kết quả này cho thấy hình thức hỗ trợ sau đầu tư ngày càng được đẩy mạnh khuyến khích chủ đầu

tư dự án bằng nguồn vốn vay thương mại

1.3.3 Hình thức bảo lãnh tín dụng đầu tư

Đây là hình thức QHTPT cam kết với tổ chức tín dụng cho vay vốn về việc trả nợ đầy đủ, đúng hạn của bên đi vay Trong trường hợp bên đi vay không trả được nợ hoặc trả không đủ nợ khi đến hạn thì Quỹ sẽ trả nợ thay cho bên đi vay Đây là một hình thức tín dụng có tính chất bền vững không mang tính trợ cấp như cho vay đầu tư phát triển hay hỗ trợ lãi suất sau đầu tư Tuy nhiên trong giai đoạn này quỹ mới chỉ ký hợp đồng bảo lãnh tín dụng đầu tư cho một vài dự án với tổng số vốn chỉ khoảng 5-6 tỷ đồng Sở dĩ hình thức này chưa được mở rộng vì theo quy định dự án đầu tư phải được quỹ thẩm định phương án tài chính và phương án trả

nợ Như vậy dự án đầu tư phải trải qua hai lần thẩm định, gây ra thủ tục phiền hà, tốn thời gian cho chủ đầu tư Hơn nữa nếu dự án đủ khả năng vay vốn thì tổ chức tín dụng không đòi hỏi sự bảo lãnh của QHTPT Chỉ trong trường hợp dự án chứa đựng nhiều rủi ro, tổ chức tín dụng không sẵn sàng cho vay thì mới cần đến sự bảo lãnh của Quỹ Vì thế cần có cơ chế san se rủi ro hợp lý giữa các tổ chức tín dụng và Quỹ HTPT đồng thời chủ đầu tư cần có sự lựa chọn hợp lý đảm bảo đủ khả năng trả nợ và hiệu quả trong đầu tư để tránh tổn thất, cho Quỹ khi nhận bảo lãnh

2 Giai đoạn từ năm 2006 đến nay:

2.1 Tổ chức hoạt động:

 Cơ chế chính sách

Trang 19

- Chính phủ đã ban hành Nghị định 151 về tín dụng ĐTPT để thay thế cho nghị định 106 khắc phục những hạn chế của cơ chế chính sách cũ Nghị định 151

- Lãi suất cho vay điều chỉnh sát với thị trường hơn

- Mở rộng thêm các hình thức tín dụng ĐTPT như: bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bão lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng

 Tổ chức thực hiện

NHPT Việt Nam kế thừa mọi quyển lợi trách nhiệm từ QHTPT Hoạt động của Ngân hàng không vì mục đích lợi nhuận, được chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp NSNN, từng bước tiến tới cân đối về tài chính

Trong giai đoạn hội nhập hiện nay ngoài chức năng nhiệm vụ như đã được quy định đối với QHTPT thì NHPT còn có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, tham gia hệ thống thanh toán trong nước, quốc tế và thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tín dụng ĐTPT và tín dụng xuất khẩu

Trách nhiệm quyền hạn của các cơ quan Nhà nước đối với NHPT ngày càng được tăng cường để quản lý và phối hợp với NHPT thực hiện tốt hơn công tác đầu tư phát triển Trong đó ngân hàng Nhà nước Việt Nam giám sát NHPT trong việc thực hiện các nghiệp vụ theo quy định của pháp luật: bộ thương mại thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng và thẩm quyền liên quan đến danh mục tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, Bộ nội vụ: hướng dẫn NHPT thực hiện đúng các chế độ chính sách quản lý và đào tạo cán bộ viên chức

2.2 Nguồn vốn và đối tượng:

Nguồn vốn hoạt động ngày càng được mở rộng thêm từ nhiều nguồn theo hướng giảm bao cấp về vốn ngân sách và tăng nguồn vốn huy động từ các nguồn lực nhàn rỗi trong xã hội Ngoài hình thức huy động phát hành TPCP, NHPT được quyền phát hành TP NHPT và Kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi theo quy định Ngoài ra, nguồn vốn vay của công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện, bảo

Trang 20

hiểm xã hội, các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước và nguồn vốn

ủy thác cũng đóng góp một lượng vốn tương đối lớn dành cho nhu cầu ĐTPT

Bảng 5: Số vốn huy động qua các năm

10 năm và 15 năm là nguồn vốn lớn để NHPT đầu tư cho các dự án dài hạn và

có vai trò quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị niêm yết trên thị trường chứng khoán, góp phần đa dạng hóa các công cụ nợ, gia tăng sự tích tụ tài chính, thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn, đặc biệt là vốn dài hạn Trên cơ sở bảo toàn và không ngừng phát triển vốn, đến nay, nguồn vốn chủ

sở hữu của NHPT đến 31/12/2010 tăng 90%, tức là bằng 190% so với thời điểm nhận bàn giao từ Quỹ HTPT

Bảng 6: Nguồn vốn tín dụng ĐTPT giai đoạn 2006-2007

Đơn vị: tỷ đồng

Ngày đăng: 25/02/2016, 12:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kết quả cho vay đầu tư trung và dài hạn của QHTPT giai đoạn 2000- - Tín dụng đầu tư phát triển nhà nước  thực trạng và giải pháp
Bảng 1 Kết quả cho vay đầu tư trung và dài hạn của QHTPT giai đoạn 2000- (Trang 14)
Bảng 2: Cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế quốc dân - Tín dụng đầu tư phát triển nhà nước  thực trạng và giải pháp
Bảng 2 Cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế quốc dân (Trang 15)
Bảng 3: Cơ cấu cho vay theo vùng kinh tế giai đoạn 2000 – 2005 - Tín dụng đầu tư phát triển nhà nước  thực trạng và giải pháp
Bảng 3 Cơ cấu cho vay theo vùng kinh tế giai đoạn 2000 – 2005 (Trang 16)
Bảng 4: Tỷ trọng cho vay theo mặt hàng vào thị trường giai đoạn 2000-2005(%) - Tín dụng đầu tư phát triển nhà nước  thực trạng và giải pháp
Bảng 4 Tỷ trọng cho vay theo mặt hàng vào thị trường giai đoạn 2000-2005(%) (Trang 17)
Bảng 5: Số vốn huy động qua các năm - Tín dụng đầu tư phát triển nhà nước  thực trạng và giải pháp
Bảng 5 Số vốn huy động qua các năm (Trang 20)
Bảng 7: Kết quả cho vay đầu tư giai đoạn 2006-2007 - Tín dụng đầu tư phát triển nhà nước  thực trạng và giải pháp
Bảng 7 Kết quả cho vay đầu tư giai đoạn 2006-2007 (Trang 23)
Bảng 8: Cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế giai đoạn 2006-2007 - Tín dụng đầu tư phát triển nhà nước  thực trạng và giải pháp
Bảng 8 Cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế giai đoạn 2006-2007 (Trang 24)
Bảng 10: Doanh số và dư nợ cho vay tín dụng xuất khẩu - Tín dụng đầu tư phát triển nhà nước  thực trạng và giải pháp
Bảng 10 Doanh số và dư nợ cho vay tín dụng xuất khẩu (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w