Một số khái niệm cơ bản về Thẩm định giá “ Thẩm định giá là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho mộtmục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân nhắc
Trang 1ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề tài: Sự hình thành và các giai đoạn phát triển của hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam.
Đề cương chi tiết
Chương I Sự hình thành của tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam
1 Hoạt động thẩm định giá quốc tế
1.1 Một số khái niệm cơ bản về thẩm định giá và tiêu chuẩn thẩm định giá
1.1.1 Thẩm định giá là gì?
1.1.2 Thế nào là một tiêu chuẩn thẩm định giá
1.2 Hoạt động thẩm định giá trên thế giới
2 Sự hình thành của hoạt động thẩm định giá Việt Nam
2.1 Sự hình thành hoạt động thẩm định giá Việt Nam
2.2 Sự cần thiết của tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam
Chương II Các giai đoạn phát triển của hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam.
1 Giai đoạn trước năm 2005
1.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam
1.2 Yêu cầu thực tiễn cần hình thành các tiêu chuẩn thẩm đinh giá
2 Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2008
2.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam
2.2 Hình thành các tiêu chuẩn thẩm định giá đầu tiên
2.3 Bổ sung, hoàn thiện một số tiêu chuẩn thẩm định giá
3 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay
3.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam
3.2 Bổ sung và hoàn thiện một số tiêu chuẩn thẩm định giá khác
Chương III Một số hạn chế và nguyên nhân của hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam hiện nay.
1 Hạn chế của hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam hiện nay
Trang 22 Nguyên nhân của những hạn chế trong hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam
2.1 Nguyên nhân khách quan
2.2 Nguyên nhân chủ quan
3 Một số kiến nghị của các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thẩm định giá
BÀI LÀM:
Chương I Sự hình thành của tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam
1 Hoạt động thẩm định giá quốc tế
1.1 Một số khái niệm cơ bản về Thẩm định giá
“ Thẩm định giá là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho mộtmục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả đặcđiểm của tài sản và cũng như xem xét đến tất cả những yếu tố kinh tế cơ bản củathị trường, bao gồm các loại đầu tư lựa chọn” (Lim Lan Yuan – Singapore)
Theo điều 4, Pháp lệnh giá của Việt nam: Thẩm định giá là việc đánh giá làviệc đánh giá hay đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địađiểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt nam hoặc theo thông lệ quốctế”
Từ các cách tiếp cận trên đây, có thể khái quát hóa định nghĩa về thẩm định
giá như sau: “ Thẩm định giá là sự ước tính giá trị hiện tại cảu tài sản hoặc quyền
về tài sản dưới hình thái tiền tệ ở một thời gian và địa điểm cụ thể, có mục đích nhất định và sử dụng dữ liệu, các yếu tố thị trường”.
Trang 31.1.2 Thế nào là một tiêu chuẩn thẩm định giá?
Tiêu chuẩn thẩm định giá là sự quy định có tính pháp lý do các cơ quan quản
lý hoặc các tổ chức ban hành Việc quy định nhằm đảm bảo tính khách quan, tínhkhoa học và có thể so sánh được của các kết quả thẩm định giá Nó cũng nhằmđảm bảo và giảm bớt những tranh chấp có thể xảy ra Trên bình diện quốc tế, việcquy định các tiêu chuẩn thẩm định giá nhằm đạt đến sự thống nhất và chuẩn mựccủa các hoạt động thẩm định giá, đạt tới sự ứng dụng thích hợp và nghiêm ngặt củacác tiêu chuẩn kế toán quốc tế và có thể so sánh xuyên quốc gia
Cấu trúc của mỗi tiêu chuẩn bao gồm 2 phần là phần Quy định chung xác định mục đích của tiêu chuẩn, phạm vi áp dụng và một số thuật ngữ liên quan và phần Nội dung tiêu chuẩn Ngoài ra, một số tiêu chuẩn còn bao gồm phần Phụ lục Doanh
nghiệp thẩm định giá và thẩm định viên về giá khi thực hiện các hoạt động thẩmđịnh giá tài sản có trách nhiệm phải tuân thủ những quy định tại các tiêu chuẩnthẩm định giá Việt Nam Trong trường hợp khách hàng và bên thứ ba sử dụngchứng thư thẩm định giá, họ cũng phải tuân thủ những quy định của tiêu chuẩn này
để việc hợp tác giữa các bên đạt hiệu quả cao nhất
1.2 Hoạt động thẩm định giá trên thế giới.
Thẩm định giá là một hoạt động tồn tại khách quan trong đời sống kinh tế xãhội của các nước phát triển theo hướng nền kinh tế thị trường Bằng sự chứng minhcủa thực tiễn từ những năm 1940, thẩm định giá đã được xác định là một hoạt độngtài chính có vai trò quan trọng trong việc ban hành các quyết định liên quan đếnviệc sở hữu, mua bán, tính thuế, cầm cố, thế chấp và kinh doanh tài sản Đặc biệt,trong những năm sau thời kỳ 1970 của thế kỷ XX, khi thị trường tài chính quốc tếxuất hiện và việc toàn cầu hóa thị trường, một lần nữa vai trò của hoạt động thẩmđịnh giá lại được khẳng định trong việc phát triển kinh tế của các quốc gia
Ủy ban tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế được thành lập năm 1981 với tênban đầu là Ủy ban các tiêu chuẩn thẩm định giá tài sản quốc tế (TIVSC) Ủy bantrên đã đổi tên vào năm 1994 và hiện nay được biết đến như là Ủy ban Tiêu chuẩnthẩm định giá quốc tế (IVSC) có trụ sở đặt tại London, Vương quốc Anh Từ năm
2003, IVSC đã là một hiệp hội hợp nhất, bao gồm các hiệp hội thẩm định giá
Trang 4chuyên nghiệp trên toàn thế giới được quy định bởi các Điều lệ của Hiệp hội vàtheo đuổi hai mục tiêu cơ bản sau:
Thứ nhất: Phổ biến các tiêu chuẩn thẩm định giá và khuyến khích sự chấp nhận cáctiêu chuẩn này trên phạm vi toàn thế giới
Thứ hai: Làm hài hòa các tiêu chuẩn giữa các quốc gia trên thế giới để nhận diện
và thể hiện công khai các khác biệt trong báo cáo và ứng dụng của các tiêu chuẩnnếu có
Cho đến nay Ủy ban tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế đã thực hiện 9 lần xétlại tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế, được xuất bản vào các năm 1985, 1994,
1997, 2000, 2001, 2003, 2005, 2007 và 2011 Ấn bản thứ 9 được coi là ấn bảnquan trọng nhất cho đến nay
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2005, hơn 90 nước đã quy định hoặc cho phép sửdụng các tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế (IFRSS) được Hội đồng Tiêu chuẩn
Kế toán Quốc tế đưa ra Nhằm đảm bảo rằng các tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tếđang điều khiển hoạt động thẩm định giá là nhất quán với các yêu cầu của cácthẩm định viên theo các tiêu chuẩn lập báo cáo tài chính quốc tế
2 Sự hình thành hoạt động thẩm định giá ở Việt Nam
2.1 Sự hình thành hoạt động thẩm định giá tại Việt Nam
Sự phát triển của nền kinh tế từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt ra yêu cầu phát triển nhanhchóng hoạt động thẩm định , nhằm đáp ứng đòi hỏi của quá trình tái cấu trúc doanhnghiệp và các tổ chức, các nhu cầu mua bán, trao đổi của các bên tham gia thịtrường Trải qua hơn 2 thập kỷ hình thành và phát triển, hoạt động thẩm định giáVIệt Nam ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong việc gópphần làm lành mạnh hóa hệ thống tài chính quốc gia, giảm rủi ro cho người thamgia thị trường, giúp nền kinh tế vận hành một cách trơn tru, hiệu quả
2.2 Sự cần thiết của tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam
Trước sự hình thành và phát triển của hoạt động thẩm định giá tại Việt Namđặt ra yêu cầu quản lý cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền Quá trình thẩmđịnh giá phải được thực hiện theo các chuẩn mực được quy định sẵn nhằm đảm
Trang 5bảo tính khoa học và thuận tiện cho công tác quản lý Sự thay đổi kinh tế nhanhchóng trong những năm gần đây đã nâng cao nhận thức về tầm quan trọng củacông tác thẩm định giá tài sản chuyên nghiệp của các bên tham gia thị trường Xuhướng toàn cầu hóa cảu thị trường đầu tư đã làm tăng thêm yêu cầu về các tiêuchuẩn thẩm định giá được quốc tế công nhận.
Trong phạm vi quốc gia, nếu thiếu các tiêu chuẩn thẩm định giá sẽ thiếu cơ sởchuẩn mực đảm bảo tính khoa học, khách quan và có thể so sánh kết quả định giácủa các thẩm định viên Thẩm định giá phù hợp có thể so sánh là cần thiết nhằmđảm bảo thông tintài chính chất lương cao cung cấp cho những người sử dụng báocáo tài chính, mua bán tài sản và sử dụng các kết quả thẩm định giá vào các mụcđích khác nhau, giảm bớt tranh chấp giữa các bên Quy định các tiêu chuẩn thẩmđịnh giá được thừa nhận và áp dụng ở các quốc gia sẽ đạt được sự ứng dụng thíchhợp và nghiêm ngặt của các tiêu chuẩn kế toán quốc tế và có thể so sánh xuyênquốc gia
Chương II Các giai đoạn phát triển của hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam
1 Giai đoạn trước năm 2005
1.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam
1.1.1 Kinh tế tăng trưởng với tốc độ tương đối cao, vượt qua thời kỳ suy giảm về tốc độ tăng trưởng; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Sau đại hội VI năm 1986, Việt Nam chính thức thực hiện công cuộc đổi mới
từ cơ chế bao tập trung, bao cấp thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCNvới những thay đổi lớn trong các chính sách ngoại giao, kinh tế của mình Kinh tếViệt Nam bắt đầu có những chuyển biến tốt trong những năm tiếp theo, từ chỗ phảinhập khẩu lương thực, Việt Nam đã sản xuất đủ tự cung cấp, có dự trữ và còn xuấtkhẩu gạo Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực xảy ra cuối năm 1997
đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam Tổng sản phẩm trong nước trongnhững năm 1992-1997 thường đạt mức tăng trưởng hàng năm 8-9% đã đột ngộtgiảm xuống chỉ còn tăng 5,8% vào năm 1998 và tăng 4,8% vào năm 1999 Nhưng
Trang 6từ năm 2000 đến nay, nền kinh tế nước ta đã lấy lại được đà tăng trưởng với tốc độtăng năm sau luôn luôn cao hơn năm trước (Năm 2000 tăng 6,79%; năm 2001 tăng6,89%; năm 2002 tăng 7,08%; năm 2003 tăng 7,34%; năm 2004 tăng 7,79% vànăm 2005 ước tính tăng 8,43%) Tính ra trong 5 năm 2001-2005, bình quân mỗinăm tổng sản phẩm trong nước tăng 7,51%, đưa quy mô nền kinh tế năm 2005 gấp1,44 lần năm 2000.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi năm trong 5 năm 2001-2005đạt 7,51% không những cao hơn hẳn tốc độ tăng bình quân 6,95% mỗi năm trong
kế hoạch 5 năm 1996-2000 mà còn đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăngtrưởng cao của khu vực
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
5 năm 2001-2005
%
2001
2002
2003
2004
Ướctính2005
BQmỗinăm2001-2005
7,0 8
9,48
10,48
10,22
10,65
10,24
6,54
Trang 7tương đối cao mà cơ cấu kinh tế còn tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệphoá, hiện đại hoá Nếu phân chia nền kinh tế thành 3 khu vực: (1) Nông lâm nghiệp
và thuỷ sản; (2) Công nghiệp và xây dựng; (3) Dịch vụ, thì tỷ trọng giá trị tăngthêm theo giá thực tế chiếm trong tổng sản phẩm trong nước của khu vực côngnghiệp và xây dựng đã tăng từ 36,73% năm 2000 lên 38,13% năm 2001; 38,49%năm 2002; 39,47% năm 2003; 40,21% năm 2004 và năm 2005 ước tính chiếm41,04% Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tuy đạt tốc độ tăng bình quân hàngnăm 5,42% về giá trị sản xuất và 3,83% về giá trị tăng thêm, nhưng tỷ trọng trongtổng sản phẩm trong nước đã giảm từ 24,53% năm 2000 xuống 23,24% năm 2001;23,03% năm 2003; 21,81% năm 2004 và ước tính năm 2005 chỉ còn 20,89% Khuvực dịch vụ vẫn duy trì được tỷ trọng chiếm trên dưới 38% tổng sản phẩm trongnước Tỷ trọng của ba khu vực qua các năm như trên đã thể hiện rất rõ nền kinh tếtiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.2 Huy động vốn đầu tư đạt kết quả cao, tạo nguồn lực tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội
Đầu tư phát triển là một trong những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế
và giải quyết nhiều vấn đề xã hội vì hoạt động này trực tiếp làm tăng tài sản cốđịnh, tài sản lưu động, tài sản trí tuệ và số lượng cũng như chất lượng nguồn nhânlực; đồng thời góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chương trình mục tiêuquốc gia nhằm nâng cao mức sống dân cư và mặt bằng dân trí; bảo vệ môi trườngsinh thái và đưa các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác vào cuộc sống
Do nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư phát triển như vậy nên trongnhững năm vừa qua đã có nhiều chính sách và giải pháp khơi dậy nguồn nội lực vàtranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để huy động vốn cho đầu tư phát triển Nhờvậy, tổng số vốn đầu tư phát triển 5 năm 2001-2005 theo giá thực tế đã đạt trên
1200 nghìn tỷ đồng, gấp trên 2 lần tổng số vốn đầu tư phát triển huy động đượctrong kế hoạch 5 năm 1996-2000 Tính ra, vốn đầu tư phát triển bình quân mỗinăm trong 5 năm 2001-2005 đạt trên 240 nghìn tỷ đồng, bằng 201,6% mức bìnhquân mỗi năm trong kế hoạch 5 năm 1996-2000
Trang 8Tỷ lệ vốn đầu tư so với tổng sản phẩm trong nước đã tăng từ 35,42% năm
2001 lên 37,16% năm 2002; 37,76% năm 2003; 38,45% năm 2004 và ước tínhnăm 2005 là 38,67% Tỷ lệ đầu tư của nước ta hiện nay chỉ thấp hơn Trung Quốc,còn cao hơn hầu hết các nước trong khu vực (Tỷ lệ đầu tư so với tổng sản phẩmtrong nước năm 2004 của Trung Quốc là 45,7%; Hàn Quốc 29,3%; Thái Lan37,8%; Ma-lai-xi-a 22,5%; Phi-li-pin 19,6%; In-đô-nê-xi-a 19,5%; Xin-ga-po15,3%
Tỷ lệ vốn đầu tư so với
tổng sản phẩm trong nước 2001 - 2005
Vốn đầu tưtheo giáthực tế
Tổng sản phẩmtrong nước theogiá thực tế
Tỷ lệ vốn đầu tư
so với tổng sảnphẩm trongnước (%)
Trang 9lên 26,2% năm 2002; 29,7% năm 2003; 30,9% năm 2004 và ước tính năm 2005 là32,4%.
Giai đoạn từ năm 2000- 2005 cũng là giai đoạn hình thành và chập chữngcủa thị trường chứng khoán Việt Nam với dấu mốc là ngày 20/07/2000 với việc đivào hoạt động của sản giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh Ngày 8/3/2005Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN) chính thức đi vàohoạt động Giai đoạn tỉnh ngủ dần xuất hiện từ năm 2005 khi tỷ lệ nắm giữcủa nhà đầu tư nước ngoài được nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngânhàng) Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được sựquan tâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trường chưatạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh tếcũng như tới cuộc sống của mỗi người dân
Cùng với việc triển khai nhiều giải pháp huy động các nguồn vốn trongnước, việc thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài tiếp tục được chú trọng, nhất là thuhút vốn FDI và vốn ODA Trong 5 năm 2001-2005 đã cấp giấy phép cho 3745 dự
án đầu tư trực tiếp của nước ngoài với số vốn đăng ký 19,9 tỷ USD Đến nay trênlãnh thổ nước ta đã có các nhà đầu tư của trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong
đó có 100 công ty đa quốc gia Số vốn ODA do các nhà tài trợ cam kết dành chonước ta trong 5 năm 2001-2005 cũng lên tới trên 15 tỷ USD, đưa tổng số vốn ODAcam kết trong 13 Hội nghị quốc tế về ODA dành cho Việt Nam từ năm 1993 đếnnay lên trên 32 tỷ USD Số vốn ODA cam kết này đã được hiện thực hoá bằngnhiều hiệp định cụ thể với tổng trị giá 24 tỷ USD và thực tế đã giải ngân được 16
tỷ USD, trong đó 5 năm 2001-2005 giải ngân được 8 tỷ USD
1.2 Yêu cầu thực tiễn cần có các tiêu chuẩn thẩm định giá
Đáp ứng nhu cầu phát triển chung của nền kinh tế nói chung và thị trường tàichính nói riêng, đến năm 2005, Trung ương có 2 Trung tâm Thẩm định giá thuộc
Bộ Tài chính có khoảng 18 thẩm định viên được Bộ trưởng Bộ Tài chính cấp thẻthẩm định viên về giá.Hoạt động của 2 trung tâm chủ yếu hoạt động trong các lĩnhvực: Tài sản Nhà nước phải thẩm định giá; xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nước
để cổ phần hóa; xác định giá trị tài sản theo yêu cầu của khách hàng.Tổng giá trị tài
Trang 10sản thẩm định của 2 trung tâm này khoảng 238.400 tỷ đồng Ở địa phương, cảnước có 34 trung tâm Thẩm định giá trực thuộc Sở Tài chính; nhiệm vụ chủ yếucủa các trung tâm này là thẩm định giá tài sản Nhà nước phải thẩm định giá, tài sảntheo yêu cầu của khách hàng.
Cùng với sự hội nhập kinh tế thế giới, sự ra đời và đo vào hoạt động của cáctrung tâm thẩm định giá tại Việt Nam đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết trong côngtác quản lý nhà nước cho hoạt động này Hoạt động thẩm định giá cần được quychuẩn một cách khoa học, hợp lý để thuận tiện cho công tác quản lý
2 Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2008
2.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam
2.1.1 Nền kinh tế vĩ mô có dấu hiệu mất ổn định, tăng trưởng chậm lại nhưng vẫn
có những bước phát triển nhất định về mặ lượng và chất
Trong giai đoạn 2005-2008, đà tăng trưởng của Việt Nam có dấu hiệu chậmlại trong nửa đầu của giai đoạn (2005-2007) với những bất ổn vĩ mô bắt đầu tích tụ
và bộc lộ Điển hình là chính sách kích thích kinh tế thông qua nới lỏng tín dụngbắt nguồn từ những năm đầu thập niên 2000 để chống lại đà suy giảm tăng trưởngxuất hiện vào năm 1999-2000 đã tích tụ nguyên nhân gây ra lạm phát cao bắt đầubộc phát từ giữa năm 2007 Thêm vào đó, việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO) vào tháng 11-2006 mở ra một thời kỳ hội nhập sâu rộng chưa từng có,khiến mức giao lưu thương mại và đầu tư quốc tế tăng vọt, dẫn đến những bất ổn
do dòng vốn vào (cả đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp) tăng mạnh, khiến việc kiểm soát
vĩ mô trở nên lúng túng Cộng với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, trong hainăm 2008-2009, tăng trưởng kinh tế ở mức thấp đi liền với lạm phát cao (đặc biệttrong 2008), thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách đều cao
Trang 11Xuất khẩu (%GDP) 69.36 73.61 76.90 78.21
Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Việt Nam, 2005-2008
Trang 12Trong hai năm đầu (2006 – 2007) Việt Nam đã tiến thêm được một bướctrên chặng đường phát triển mới, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Sangnhững năm cuối của thời kỳ kế hoạch, nhất là từ Quý II năm 2007 mặc dù lạm pháttrong nước bắt đầu tăng cao, tiếp đến là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoáikinh tế toàn cầu đã tác động không thuận đến nền kinh tế nước ta, nhưng Việt Nam
đã sớm vượt qua và vẫn giữ vững được ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăngtrưởng khá với mức tăng trưởng bình quân trong cả thời kì 2006 – 2010 khoảng7%; mặt bằng kinh tế - xã hội được nâng lên đáng kể Điều này được chứng minhqua những chỉ tiêu trong một số lĩnh vực lớn như sau:
- Quy mô và năng lực sản xuất của các ngành đều tăng GDP (tính theo giá trị
so sánh) năm 2010 gấp 2 lần so với năm 2000; (tính theo giá trị thực tế tính bằngđồng đô la Mỹ) ước đạt trên 101 tỉ USD, gấp hơn 3,2 lần năm 2000 (31,2 tỉ USD);(theo giá thực tế bình quân đầu người) ước khoảng 1.160 USD, vượt mục tiêu kếhoạch đề ra là 1.050 – 1.100 USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thunhập thấp và trở thành nước có mức thu nhập trung bình Hầu hết các ngành, lĩnhvực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá
- Cấu trúc kinh tế đã có những thay đổi tích cực, hứa hẹn sáng sủa hơn trongtầm nhìn dài hạn Giao lưu kinh tế quốc tế phát triển Kim ngạch hàng hóa xuấtkhẩu thời kỳ 2006-2010 đạt 56 tỉ USD/năm, bằng 2,5 lần thời kỳ 2001-2005 vàtăng 17,2%/năm Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng ngày càng tăng, từ 4 mặthàng có kim ngạch trên 3 tỉ USD năm 2006 đã tăng lên 8 mặt hàng năm 2010
2.1.2 Xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới và các nguồn vốn đầu tư phát triển cho Việt Nam
Với việc gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO vào đầu năm
2007, Việt Nam đứng trước cơ hội thu hút được nhiều vốn đầu tư nướcngoài cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng đất nước Tổng vốn đầu tư đượchuy động đưa vào phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006- 2010) theo giáhiện hành đạt khoảng 3.062 nghìn tỉ đồng (tăng 14,4% so với kế hoạch)bằng 42,7% GDP, gấp hơn 2,5 lần so với 5 năm trước đó (2001 – 2005) Thu
Trang 13hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn vốn ODA ngày càng tăng và cónhiều thuận lợi Vốn FDI thực hiện năm 2006 đạt 4,1 tỉ USD, năm 2007 đạt8,0 tỉ, năm 2008 đạt 11,5 tỉ USD, chiếm tới 30,9% tổng vốn đầu tư toàn xãhội, cao hơn rất nhiều so với năm trước Năm 2009 và 2010, mặc dù vốnđăng ký giảm nhưng vốn FDI thực hiện vẫn đạt 10 tỉ USD vào năm 2009 vàkhoảng 11 tỉ vào năm 2010 (tăng 157,5% so với năm 2006) Thời kỳ 2006-
2010, FDI thực hiện tăng bình quân 25,7%/năm Hệ thống kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội được cải thiện đáng kể tạo tiền đề thúc đẩy tăng trưởng vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội Nhiều nhà máy côngnghiệp lớn, kỹ thuật cao, nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất,cụm công nghiệp được ra đời và đi vào hoạt động hiệu quả, góp phần xóađói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân ở tất cả các vùng, miền trong cả nước
- Đây cũng là giai đoạn bùng nổ của thị trường chứng khoán Việt Nam,theothống kê của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tính đến hết năm 2005, tổng giá trịthị trường chứng khoán việt Nam đạt gần 40.000 tỷ đồng, chiếm 0,69% tổng thunhập quốc nội (GDP) Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện có 4.500 tỷđồng cổ phiếu, 300 tỷ đồng chứng chỉ quỹ đầu tư và gần 35.000 tỷ đồng trái phiếuchính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, thu hút 28.300 tài khoản giaodịch Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng của thị trường chứng khoán gấp đôi
so với năm 2004, huy động được 44,600 tỷ đồng, hiện giờ giá trị cổ phiếu sovới GDP của cả nước đạt gần 1% Với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đếngiữa năm 2006 thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăngtrưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉ sau Zimbabwe Và sự bừng dậy của thị trườngnon trẻ này đang ngày càng "hút hồn" các nhà đầu tư trong và ngoài nước Khôngthể phủ nhận năm 2006 vừa qua thị trường chứng khoán Việt Nam non trẻnày đã có “màn trình diễn” tuyệt vời và có thể sẽ không bao giờ có lại được vớikhối lượng vốn hoá tăng gấp 15 lần trong vòng 1 năm Năm 2006 , TTCKViệt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index tại sàn giao dịch TP Hồ Chí
Trang 14Minh (HASTC) tăng 144% năm 2006, tại sàn giao dịch Hà Nội (Hastc) tăng152,4% Thị trường chứng khoán Việt Nam 2006: VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần
so đầu năm Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm22,7% GDP) giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạtkhoảng 4 tỉ USD, chiếm 16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường Thị trườngchứng khoán Việt Nam đã đạt dỉnh vào năm 2007 khi Luật Chứng khoán có hiệulực từ ngày 01/01/2007 góp phần thúc đẩy thị trường phát triển và tăng cường khảnăng hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế Tính công khai, minh bạch của các
tổ chức niêm yết được tăng cường: VNIndex đạt đỉnh 1.170,67 điểm ; Index chạm mốc 459,36 điểm và sau đó lại sụt giảm vào năm 2008
HASTC-2.1.3 Dịch vụ thẩm định giá phát triển
Đáp ứng nhu cầu của thị trường, Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày03/08/2005 của Chính phủ về thẩm định giá; Thông tư 176/2009/TT-BTC ngày13/03/2006 của Bộ Tài Chính về thẩm định giá, hoạt động thẩm định giá đã đượctăng cường cả về chất lượng đào tạo, số lượng thẩm định viên và số lượng các tổchức tham gia thị trường thẩm định giá
Tính đến tháng 6 năm 2008 cả nước có gần 2500 người làm việc trong lĩnh vựcthẩm định giá, trong đó có 216 người được cấp thẻ thẩm định viên về giá và có 174thẩm định viên đăng ký hành nghê tại47 doanh nghiệp thẩm định giá được Bộ TàiChính thông báo có đủ điều kiện hoạt động trong lĩnh vực thẩm định giá Ngoài racòn có các tổ chức thẩm định giá trị doanh nghiệp nhà nước để cổ phẩn hóa theoNghị định 109/2007/NĐ-CP về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Trong giaiđoạn này các trung tâm thẩm định giá đã chuyển sang hình thức Doanh nghiệpthẩm định giá theo
2.2 Hình thành các tiêu chuẩn thẩm định giá đầu tiên
Trước những yêu câu thực tế về hoạt động thẩm định giá ở Việt Nam, ngày
18 tháng 4 năm 2005 Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 24/2005/QĐ-BTCcủa Bộ trưởng Bộ Tài Chính kèm theo ba tiêu chuẩn thẩm định giá đầu tiêu củaViệt Nam là:
Trang 15Tiêu chuẩn số 1 ( TĐGVN 01): Giá trị thị trường làm cơ sở cho thẩm định giá tài
sản Tiêu chuẩn này quy định nội dung về giá trị thị trường của tài sản và vận dụnggiá trị thị trường khi tiến hành thẩm định giá tài sản
Nội dung chính của TĐGVN 01:
1 Mục đích của tiêu chuẩn
2 Phạm vi áp dụng
03 Nội dung giá trị thị trường của tài sản như sau: "Giá trị thị trường của một tàisản là mức giá ước tính sẽ được mua bán trên thị trường vào thời điểm thẩm địnhgiá, giữa một bên là người mua sẵn sàng mua và một bên là người bán sẵn sàngbán, trong một giao dịch mua bán khách quan và độc lập, trong điều kiện thươngmại bình thường"
04 Giải thích Nội dung trên đây
05 Giá trị thị trường thể hiện mức giá hình thành trên thị trường công khai và cạnhtranh
06 Giá trị thị trường thể hiện mức giá ước tính mà trên cơ sở đó, bên bán và bênmua thoả thuận tại một thời điểm sau khi cả hai bên đã khảo sát, cân nhắc đầy đủcác cơ hội và lựa chọn tốt nhất cho mình từ các thông tin trên thị trường trước khiđưa ra quyết định mua hoặc quyết định bán một cách hòan tòan tự nguyện, khôngnhiệt tình mua hoặc nhiệt tình bán quá mức
07 Căn cứ xác định Giá trị thị trường:
08 Trường hợp có sự hạn chế thông tin, dữ liệu trên thị trường (ví dụ thẩm địnhgiá một số loại máy móc, thiết bị, vật tư chuyên dùng nào đó), thẩm định viên phảinêu rõ thực trạng này và phải báo cáo mức độ ảnh hưởng hay không ảnh hưởngđến kết quả thẩm định giá trị do sự hạn chế các số liệu đó
09 Thẩm định viên phải thận trọng trong phân tích và phản ánh trạng thái của thịtrường, thông báo đầy đủ kết quả các cuộc điều tra, khảo sát và những phát hiệncủa mình trong báo cáo kết quả thẩm định giá khi giá cả thị trường tăng hoặc giảmbất thường/đột biến, tạo nên rủi ro trong thẩm định giá do đánh giá giá trị tài sảnquá cao hoặc quá thấp
Trang 1610 Thẩm định viên phải nêu rõ những thông tin, dữ liệu (quy định tại điểm 07 củaTiêu chuẩn này) đã sử dụng làm căn cứ để tìm ra giá trị thị trường, mục đích củaviệc thẩm định giá, tính hợp lý của các thông số để phân tích, lập luận và bảo vệcho các ý kiến, kết luận và kết quả thẩm định mà thẩm định viên nêu ra trong báocáo kết quả khi thẩm định giá trị thị trường của tài sản.
Tiêu chuẩn số 03 (TĐGVN 03): Những quy tắc đạo đức hành nghề thẩm định giá
tài sản Tiêu chuẩn này quy định những quy tắc đạo đức chi phối thẩm định viên vềgiá, doanh nghiệp, tổ chức thẩm định giá trong quá trình hành nghề thẩm định giátài sản
Nội dung chính của TĐGVN 03
01 Mục đích của tiêu chuẩn
02 Phạm vi áp dụng
03 Doanh nghiệp, tổ chức thẩm định giá và thẩm định viên phải luôn tôn trọng vàchấp hành đúng pháp luật của nhà nước trong quá trình hành nghề Thẩm định viênphải là người có đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm cần thiết đểtiến hành thẩm định giá tài sản
04 Các tiêu chuẩn đạo đức và trình độ chuyên môn nghề nghiệp thẩm định giá màDoanh nghiệp, tổ chức thẩm định giá và thẩm định viên phải tuân thủ
4.1 Tiêu chuẩn đạo đức
09 Công khai, minh bạch
10 Năng lực chuyên môn và tính thận trọng
11 Tư cách nghề nghiệp
12 Tuân thủ tiêu chuẩn chuyên môn
Trang 1713 Thẩm định viên chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của nội dung báo cáo kếtquả thẩm định giá Giám đốc doanh nghiệp, người đứng đầu tổ chức thẩm định giáchịu trách nhiệm cuối cùng về tính đúng đắn của nội dung báo cáo kết quả thẩmđịnh giá và chứng thư thẩm định giá trước pháp luật, khách hàng hoặc bên thứ ba.
Tiêu chuẩn số 04 (TĐGVN 04): Báo cáo kết quả, hồ sơ và chứng thư thẩm định
giá Tiêu chuẩn này quy định hình thức, nội dung của báo cáo kết quả, hồ sơ vàchứng thư thẩm định giastrij tài sản do Doanh nghiệp, tổ chức thẩm định giá vàthẩm định viên về giá thực hiện, công bố khi hoàn thành công việc thẩm định giátrị tài sản
Nội dung chính của TĐGVN 04
01 Mục đích tiêu chuẩn
02 Phạm vi áp dụng
03 Giải thích các thuật ngữ trong tiêu chuẩn
04 Báo cáo kết quả thẩm định giá phải thể hiện những thông tin đúng theo thực tế,mang tính mô tả và dựa trên bằng chứng cụ thể để thuyết minh về mức giá của tàisản qua thẩm định giá Những thông tin này phải được trình bày theo một trình tựlô-gíc, hợp lý, từ mô tả về tài sản đến những yếu tố tác động tới giá trị thị trườngcủa tài sản, phân tích những dữ liệu thu thập trên thị trường để có được kết quảthẩm định giá Báo cáo kết quả phải thể hiện được những lập luận, cách thức,phương pháp được áp dụng trong quá trình thẩm định và giải thích một cách rõràng tất cả những vấn đề có tác động đến giá trị tài sản
05 Nội dung chi tiết của báo cáo kết quả thẩm định giá
06 Hồ sơ thẩm định giá
07 Chứng thư thẩm định giá
MẪU CHỨNG THƯ THẨM ĐỊNH GIÁ
(áp dụng đối với đất đai, công trình kiến trúc trên đất)