LỜI MỞ ĐẦUĐể thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinhdoanh, vốn là điều kiện không thể thiếu, nó phản ánh nguồn lực tài chính đượcđầu tư vào sản xuất kinh doan
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinhdoanh, vốn là điều kiện không thể thiếu, nó phản ánh nguồn lực tài chính đượcđầu tư vào sản xuất kinh doanh Nhu cầu về vốn là một trong những bức xúccủa doanh nghiệp, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà các doanh nghiệpđều mong muốn đầu tư mở rộng sản xuất, đa dạng hoá dịch vụ nhằm tăngcường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sau khi Việt Nam gia nhập Tổchức Thương mại Thế giới (WTO) Doanh nghiệp có nhiều hình thức để huyđộng vốn như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn ngân hàng, tín dụng từnhà cung cấp, thuê tài chính, v.v Mỗi cách thức huy động vốn đều có những
ưu, nhược điểm riêng Tuy nhiên, do trình độ phát triển của hệ thống tài chínhchưa cao, cũng như một số hạn chế mang tính chủ quan khác, thực trạng huyđộng vốn của các doanh nghiệp trong nước hiện còn tồn tại nhiều bất cậpcần sớm được giải quyết Điển hình là tình trạng doanh nghiệp quá phụthuộc vào nguồn vốn vay ngân hàng – một nguồn vốn không dễ tiếp cận,trong khi đó lại bỏ qua hoặc ít để ý tới các nguồn huy động nhiều tiềm năngkhác
Trong quá trình học tập và nghiên cứu tìm hiểu về tình hình hoạt độngtài chính của các doanh nghiệp hiện nay, em nhận thấy việc làm thế nào đểhuy động vốn cho doanh nghiệp và huy động vốn bằng cách nào đang làmột bài toán khó Nhất là những doanh nghiệp đang trong giai đoạn phát triểnmạnh mẽ và có các yêu cầu cấp thiết về việc mở rộng huy động vốn để phục
vụ cho sự mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Do vậy, em đă
lựa chọn đề tài cho Tiểu luận Lý thuyết tài chính tiền tệ của mình là: “ Ngồn vốn và các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.”
Trang 2Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bố cục đề tài gồm 3 chương:
Chương I : Cơ sở lý luận về vốn
Chương II : Thực trạng về vốn và các phương thức huy động vốn tại doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Chương III : Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Để tìm hiểu kỹ lưỡng và sâu sắc về tính huy động vốn của các doanhnghiệp Việt Nam thì đòi hỏi phải có nhiều thời gian hơn Do trình độ còn hạnchế và thời gian nghiên cứu không nhiều nên em chỉ tập trung vào những vấn đề
cơ bản nhất về vốn và các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp Tiểuluận chắc chắn không tránh khỏi nhiều sai sót, em rất mong nhận được nhữngđóng góp của thầy cô, bạn bè và những người quan tâm
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Thầy Nguyễn HữuTài - Giảng viên khoa Tài chính- Ngân hàng, Đại học Kinh Tế Quốc Dân, đãgiúp em hoàn thành tốt đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn.!
Hà Nội ngày 20 tháng 08 năm 2012
Sinh viên
Đào Vũ Minh Hường
Trang 3CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN.
1.1 Khái niệm về vốn trong doanh nghiệp
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập 1 doanh nghiệp vàtiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình doanh nghiệp,vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh
Dưới góc độ doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơbản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khách làm đầu vào cho quá tŕnh sảnxuất kinh doanh Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá tŕnh sản xuấtvật chất riêng biệt mà trong toàn bộ quá tŕnh sản xuất và tái sản xuất liên tụctrong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp từ khi bắt đầu đến khi kết thúc quátŕnh sản xuất
Như vậy, một cách thông dụng nhất, vốn có thể hiểu là các nguồn tiền tàitrợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn tiền này đượchình thành dưới nhiều cách thức khác nhau và tại các thời điểm khác nhau Giátrị nguồn vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinhdoanh Tùy từng loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể mà mỗi doanhnghiệp có các phương thực tạo vốn và huy động vốn khác nhau
1.2 Phân loại vốn của doanh nghiệp
Trong quá tŕnh sản xuất kinh doanh để quản lý và sử dụng vốn một cách
có hiệu quả các doanh nghiệp đều tiến hành phân loại vốn Tùy vào mục đích vàloại hình của từng doanh nghiệp mà vốn được phân loại theo các tiêu thức khác
nhau
Trang 41.2.1 Phân loại vốn theo nguồn hình thành:
- Vốn huy động của doanh nghiệp
Đối với mỗi doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường, vốn chủ
sở hữu có vai trò quan trọng nhưng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồnvốn Để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tăngcường huy động các nguồn vốn khác dưới hình thức vay nợ, liên doanh liên kết,phát hành trái phiếu
+ Vốn liên doanh liên kết :
Các doanh nghiệp có thể liên doanh, hợp tác với nhau để huy động thựchiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Vốn tín dụng thương mại :
Tín dụng thương mại là các khoản mục chịu từ người cung cấp hoặc ứngtrước của khánh hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng Tuy các khoản tín
Trang 5dụng thương mại thường có thời gian ngắn hạn nhưng nếu doanh nghiệp biếtquản lý một cách có khoa học có thể đáp ứng phần nào nhu cầu vốn lưu động.
Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình thành, nó là cơ sở đểdoanh nghiệp lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp theo loại hình sở hữu, ngành nghềkinh doanh, quy mô, quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như chiến lượcđầu tư
1.2.2 Phân loại vốn theo phương thức chu chuyển
- Vốn cố định của doanh nghiệp
Số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng, lắp đặt tài sản cố địnhhữu hình hay vô hình gọi là vốn cố định của doanh nghiệp Quy mô của vốn cốđịnh nhiều hay ít sẽ tác động đến quy mô của tài sản cố định, ngược lại nhữngđặc điểm vận động của tài sản cố định trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởngquyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển vốn cố định
Đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trính sản xuất kinhdoanh:
+ Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh , Vốn cố địnhchu chuyển giá trị dần dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗichu kỳ kinh doanh
+ Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoànthành 1 vòng chu chuyển
+ Vốn cố định chỉ hoàn thành 1 vòng chu chuyển khi tái sản xuấtđược tài sản cố định về mặt giá trị - tức là khi thu hồi đủ tiền khấu hao tài sản cốđịnh
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là bộ phận quan trọng chiếm tỷtrọng tương đối lớn Việc quản lý vốn cố định đòi hỏi phải gắn liền với việcquản lý tài sản cố định vì điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụngvốn sản xuất của doanh nghiệp
- Vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn lưu động của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất kinhdoanh ứng trước về tài sản lưu động, là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động
Trang 6Vốn lưu động của doan nghiệp thường xuyên vận động chuyển hóa lầnlượt qua nhiều hình thái khác nhau Đối với doanh nghiệp sản xuất, vốn lưuđộng từ hình thái ban đầu là tiền được chuyển hóa sang hình thái vật tư dự trữ,sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hóa, khi kết thúc quá trình tiêu thụ lại trở
về hình thái ban đầu là tiền Đối với doanh nghiệp thương mại, sự vận động củavốn lưu động nhanh hơn, từ hình thái vốn bằng tiền chuyển hóa sang hình tháihàng hóa cuối cùng lại trở về hình thái là tiền Quá trình hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng, nên sự tuần hoàn của vốn cũngdiễn ra liên tục lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển củavốn lưu động
1.3.Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp.
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp Vốn là điều kiệnkhông thể thiếu được để thành lập 1 doanh nghiệp và tiến hành các hoạt độngsản xuất kinh doanh Trong quản lý tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý việchuy động và sự luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình tháikhác nhau của tài sản và hiệu quả và tài chính
Vai trò của vốn được thể hiện qua các khía cạnh sau:
1.3.1 Vốn là điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp.
Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập 1 doanh nghiệp Về mặtpháp lý, mỗi doanh nghiệp khi thành lập đều phải có 1 lượng vốn nhất định vàphải lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định do Nhà nước quy định đối với lĩnhvực kinh doanh đó Như vậy, vốn lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành vàtồn tại của doanh nghiệp trước Pháp luật
Trang 71.3.2 Vốn là cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Sau khi thành lập , doanh nghiệp phải tiến hành hoạt động sản xuất kinhdoanh Do đó, đòi hỏi phải có tiền để chi tiêu, mua sắm nguyên vật liệu, máymóc, trả lương… Số tiền này không thể lấy đâu khác ngoài nguồn vốn củadoanh nghiệp Khi nguồn vốn tạm thời không đủ đáp ứng nhu cầu của hoạt độngkinh doanh thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng khó khăn về ngân quỹ Cáchoạt động hàng ngày của doanh nghiệp sẽ bị đình trệ, suy giảm Nếu tình trạngnày không được khắc phục kịp thời thì doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng khókhăn tài chính triền miên, hoạt động sản xuất kinh doanh bị gián đoạn từ đó cóthể khiến công ty đi đến kết cục cuối cùng là phá sản, giải thể…
1.3.3 Vốn là cơ sở cho việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình phát triển của mình, doanh nghiệp luôn mong muốn
mở rộng sản xuất kinh doanh, giữ vững và vươn lên trong thị trường Để làmđược điều đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục đổi mới, đầu tư, táiđầu tư, cải tiến máy móc, thiết bị, công nghệ, hệ thống phân phốisản phẩm Để làm được tất cả những công việc đó doanh nghiệpkhông thể không cần đến nguồn vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.Vốncòn là nhân tố cực kỳ quan trọng giúp doanh nghiệp nâng caokhảnăng cạnh tranh trên thị trường Vốn không những là cơ sở để doanhnghiệp có thể nâng cao khả năng sản xuất, tăng cường mạng lưới phân phối màcòn có thể giúp doanh nghiệp vượt qua các đối thủ cạnh tranh hayhơn nữa là loại bỏ họ bằng các chính sách marketing hiệu quả (tăngcường quảng cáo, giảm giá, khuyến mãi…)
Như vậy, vốn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải nhận thức vấn đề này một cách
rõ ràng, từ đó phải có một chính sách huy động vốn nhanh chóng, hiệu quả để cóthể tồn tại và không ngừng phát triển trên thương trường
1.4 Các phương thức huy động vốn.
Trang 81.4.1 Huy động vốn chủ sở hữu
1.4.1.1 Vốn góp ban đầu.
Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ đầu tư cũng phải bỏ ra 1lượng vốn nhất định để đầu tư Đối với doanh nghiệp Nhà nước ( thuộc sở hữuNhà nước ) nguồn vốn tự có ban đầu chính là vốn đầu tư của Ngân sách Nhànước
Trong công ty tư nhân, chủ doanh nghiệp phải có đủ số vốn pháp định cầnthiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp Vốn pháp định là mức vốn tối thiểuphải có theo quy định của Pháp luật để thành lập doanh nghiệp
Đối với công ty cổ phần, nguồn vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tốquyết định để hình thành công ty Mỗi cổ đông là 1 chủ sở hữu của công ty vàchỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên trị giá cổ phần mà họ nắm giữ Tuy nhiên,không phải công ty cổ phần nào cũng giống nhau cho nên cách thức huy độngvốn cổ phần cũng khác nhau ( sẽ được trình bày chi tiết hơn về cổ phiếu và vấn
Cổ phiếu thường.
Cổ phiếu thường (hay còn gọi là cổ phiếu thông thường ) là loại cổ phiếuthông dụng nhất vì các ưu điểm của nó đáp ứng được các yêu cầu của các ngườiđầu tư và công ty phát hành Lượng cổ phiếu tối đa mà công ty được cơ quanquản lý Nhà nước cho phép phát hành gọi là vốn cổ phần được phép phát hành.Muốn tăng vốn cổ phần cần phải được đại hội cổ đông cho phép
Trang 9Phần lớn những cổ phiếu đã phát hành nằm trong tay nhà đầu tư – cổđông được coi là đang lưu hành trên thị trường Công ty có thể mua lại số cổphiếu đó với những mục đích khác nhau và việc mua lại đó phụ thuộc vào cácyếu tố như: tình hình cân đối vốn và khả năng đầu tư, tình hình trên thị trườngchứng khoán…
Mệnh giá và thị giá cổ phiếu.
Giá trị ghi trên mặt cổ phiếu gọi là mệnh giá, giá cả của cổ phiếu trên thịtrường được gọi là thị giá Trị giá của cổ phiếu ghi trong sổ sách kế toán củacông ty được gọi là giá trị ghi sổ của cổ phiếu Tuy nhiên, mệnh giá chỉ có ýnghĩa khi phát hành cổ phiếu và đối với khoảng thời gian ngắn sau khi pháthành
Quyền hạn của cổ đông.
Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường chính là những người sở hữu công
ty, do đó họ có quyền trước hết đối với tài sản và sự phân chia tài sản hoặc thunhập của công ty Cổ đông có quyền tham gia kiểm soát và theo dõi quản lý cáccông việc của công ty thông qua cơ chế đại diện và biểu quyết
Cổ phiếu ưu đãi.
Thông thường, cổ phiếu ưu đãi chiếm 1 tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổphiếu được công ty phát hành Cổ phiếu ữu đãi có đặc điểm là thường có mức cổtức cố định Người chủ của cổ phiếu này thường được nhận tiền lãi trước các cổđông thường khác Nếu số lãi chỉ để đủ trả cổ tức cho cổ đông ưu tiên thì các cổđông thông thường sẽ không được nhận cổ tức cho kỳ đó Một vấn đề rất quantrọng cần đề cập khi phát hành cổ phiếu này là thuế Khác với chi phí lãi vayđược giảm trừ khi tính thuế thu nhập của công ty, cổ tức được lấy từ lợi nhuậnsau thuế Đó là hạn chế của cổ phiếu ưu tiên Tuy nhiên, cổ phiếu ưu đãi vẫn cónhững ưu điểm đối với cả công ty phát hành và đối với cả nhà đầu tư
Chứng khoán có thể chuyển đổi.
Giấy bảo đảm: Người sở hữu giấy bảo đảm có thể mua 1 số lượng cổ
phiếu thường được quy định trước với giá cả và thời gian xác định
Trang 10Trái phiếu chuyển đổi: cho phép chuyển đổi thành 1 số lượng nhất định
các cổ phiếu thường Nếu thị giá của cổ phiếu tăng lên thì người giữ trái phiếu
có cơ may nhận được lợi nhuận cao
1.4.1.3 Nguồn vốn nội bộ
Về lợi nhuận không chia: Rất nhiều công ty coi trọng chính sách tái đầu
tư từ lợi nhuận để lại Tuy nhiên, đối với các công ty cổ phần, việc để lại lợinhuận có liên quan đến 1 số các yếu tố nhạy cảm Khi công ty để lại lợi nhuận
để tái đầu tư thì các cổ đông không được nhận cổ tức nhưng bù lại học ó quyền
sở hữu vốn cổ phần tăng lên của công ty Từ đó làm cho trị giá ghi sổ của các cổphiếu cũng tăng lên Điều này khuyến khích cổ đông nắm giữ cố phiếu lâu dài,nhưng cũng làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt, do cổđông chỉ nhận được 1 phần cổ tức nhỏ hơn
Về khấu hao tài sản cố định : Xét về mặt tài chính, khấu hao tài sản cố
định là 1 cách thu hồi vốn đầu tư ứng trước Cho nên, trong thực tế, các doanhnghiệp có quyền sử dụng linh hoạt số tiền trích khấu hao sao có hiệu quả vàhoàn trả đúng hạn để tái sản xuất giản đơn hoặc tái sản xuất mở rộng tài sản cốđịnh khi có nhu cầu
Ngoài ra, các doanh nghiệp có thể huy động thêm vốn nhờ vào các quỹnhư : quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính…
1.4.2 Huy động vốn vay.
1.4.2.1 Tín dụng ngân hàng.
Có thể nói rằng, nguồn vốn vay ngân hàng là 1 trong những nguồn vốn rấtquan trọng không chỉ đối với bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với cả nềnkinh tế Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng để đảmbảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo
có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp
Về mặt thời hạn, vốn vay có thể chia thành : vay dài hạn ( lớn hơn 5 năm),vay trung hạn ( từ 1 đến 5 năm ) và vay ngắn hạn ( nhỏ hơn 1 năm ) Hoặc theo
Trang 11tính chất và mục đích sử dụng thì chia thành : vay đầu tư tài sản cố định, đầu tưvốn lưu động và vay để phục vụ dự án.
Nguồn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm, nhưng nguồn vốn này cũng
có những hạn chế nhất định Đó là những hạn chế về điều kiện tín dụng, kiểmsoát của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn ( lãi suất )
Về điều kiện tín dụng : Các ngân hàng khi cho vay vốn luôn luôn phảiđảm bảo an toàn tín dụng, hạn chế rủi ro tín dụng thông qua 1 hệ thống các biệnpháp bảo đảm tín dụng Cho nên, khi đi vay, các doanh nghiệp phải cung cấpnhững báo cáo tài chính và những thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của ngânhàng
Các điều kiện bảo đảm tiền vay: Khi đi vay, các ngân hàng thường yêucầu doanh nghiệp phải có các bảo đảm tín dụng, phổ biến nhất là các tài sản thếchấp Trong nhiều trường hợp, bên đi vay không thể đáp ứng được hết các điềukiện về giấy tờ, thủ tuc pháp lý… do đó, doanh nghiệp cần phải tính đến các yếu
tố này khi tiếp cần nguồn vốn vay ngân hàng
Sự kiểm soát của ngân hàng cho vay: Một khi doanh nghiệp vay vốnngân hàng thì cúng phải chịu sự kiểm soát của ngân hàng cho vay về mục đích
Trang 12nguồn vốn tín dụng thương mại Nguồn vốn này được hình thành 1 cách tựnhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp Các điều kiệnràng buộc được ấn định khi 2 bên ký hợp đồng mua bán hay hợp đồng kinhdoanh nói chung Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớnđối với không chỉ các doanh nghiệp mà còn đối với cả toàn bộ nền kinh tế nóichung Trong 1 số công ty, nguồn vốn tín dụng thương mại dưới dạng các khoảnphải trả có thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, thậm chỉ có thể chiếm tới 40%tổng nguồn vốn Tuy nhiên, cần nhận thấy tính chất rủi ro của quan hệ tín dụngthương mại khi quy mô tài trợ vượt quá giới hạn an toàn.
1.4.2.3 Phát hành trái phiếu.
Trái phiếu là các giấy tờ có vay nợ dài hạn và trung hạn bao gồm tráiphiếu chính phủ và trái phiếu công ty Thời hạn thông thường là 1 năm, 3 năm, 5năm…Trái phiếu còn được gọi là trái khoán
Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì có liên quan đếnchi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của tráiphiếu Trước khi quyết định cần phải hiểu rõ đặc điểm của từng loại trái phiếu.Hiện nay, trên thị trường nhiều nước đang có những loại trái phiếu đang lưuhành sau:
Trái phiếu có lãi suất cố định.
Loại trái phiếu này thường được sử dụng phổ biến Lãi suất được ghi ngaytrên mặt trên của trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó Như vậy
cả người đi vay và người cho vay đều biết rõ mức lãi suất của khoản nợ trongsuốt kỳ hạn của trái phiếu Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng được quy định rõ.Trái phiếu cũng có thể phát hành kèm theo phiếu nhỏ để lĩnh tiền lãi gọi là phiếuCoupon và do vậy loại này có tên là trái phiếu coupon
Để huy động vốn trên thị trường bằng trái phiếu, phải tính đến mức độhấp dẫn của trái phiếu Tính hấp dẫn phụ thuộc vào mấy yếu tố sau:
Thứ nhất: Lãi suất của trái phiếu.
Trang 13Đương nhiên, nhà đầu tư muốn hưởng mức lãi suất cao Nhưng công typhát hành phải cân nhắc kỹ sao cho mức lãi suất phải phù hợp Lãi suất tráiphiếu phải được đặt ra trong mối tương quan so sánh với lãi suất trên thị trườngvốn, đặc biệt phải tính đến sự cạnh tranh với trái phiếu của các công ty khác.Ngoài ra, có thể đưa thêm các yếu tố khuyến khích vào trái phiếu thì có thểkhông cần nâng cao mức lãi suất
Thứ hai: Kỳ hạn của trái phiếu:
Đây cũng là yếu tố quan trọng khi cân nhắc phát hành trái phiếu của cácdoanh nghiệp
Thứ ba: Uy tín của công ty và mức độ rủi ro.
Mức độ thuận lợi và tính hấp dẫn của trái phiếu công ty luôn luôn phụthuộc vào uy tín của công ty, nhất là dộ tin cậy về tài chính
Trong việc phát hành trái phiếu, cũng cần chú ý đến mệnh giá vì nó cóliên quan đến sức mua của dân chúng Khi phát hành, phải xác định 1 mức giávừa phải để nhiều người có thể mua được, tạo sự lưu thông dễ dàng cho tráiphiếu trên thị trường
Trái phiếu có lãi suất thay đổi.
Tuy gọi là lãi suất thay đổi nhưng loại này có lãi suất phụ thuộc vào 1 sốyếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lãi suất trên thị trường quốc tế Trong điềukiện lạm phát cao, lãi suất thị trường không ổn định thì các nhà đầu tư mongmuốn được hưởng 1 mức lãi suất thỏa đáng khi so sánh với tình hình thị trường
Vì vậy, 1 số người ưa thích lãi suất trái phiếu thả nổi Tuy nhiên, lãi suất này có
1 số nhược điểm sau:
Thứ nhất: Công ty không thể biết chắc chắn về chi phí lãi vay của trái
phiếu, gây khó khăn cho phần việc lập kế hoạch tài chính
Thứ hai: Việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do phải
theo dõi và thông báo các lần điều chỉnh lãi suất cho người mua ttrais phiếu
Trái phiếu có thể thu hồi.
Trang 14Một số công ty lựa chọn việc phát hành trái phiếu có thể thu hồi, tức làcông ty có thể mua lại trong 1 thời gian nào đó Loại trái phiếu này được quyđịnh rõ khi phát hành, quy định cả về thời hạn và giá cả khi công ty chuộc lạitrái phiếu.
Loại trái phiếu này có ưu điểm là :
Thứ nhất: Có thể được sử dụng như 1 cách điều chỉnh lượng vốn sử
dụng Khi không cần thiết công ty có thể mua lại, tức là điều chỉnh giảm vốnvay
Thứ hai : Công ty có thể tay trái phiếu loại này bằng 1 nguồn tài chính
khác bằng cách mua laị các trái phiếu đó
Tuy nhiên, nếu không có những hấp dẫn nào đó thì trái phiếu này khôngđược ưa thích
\
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ VỐN VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY.
Trang 152.1 Thực trạng vốn chủ.
Theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có trên 500.000 doanh nghiệp đăng
ký hoạt động, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 97%, đóng góp 47%GDP, 40% ngân sách nhà nước và tạo ra gần một triệu việc làm mỗi năm Tuynhiên, quy mô vốn tự có của khối này thấp hơn rất nhiều so với khối doanhnghiệp nhà nước Phần lớn vốn tự có của các doanh nghiệp vừa và nhỏ được tạo
ra từ vốn riêng của chủ doanh nghiệp, vốn góp của bạn bè, cổ đông, họ hàng.Trên cả nước, số doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn tự có dưới 1 tỷ đồng hiệnchiếm 41,80%, số doanh nghiệp có vốn từ 1 đến 5 tỷ đồng chiếm 37,03%, sốdoanh nghiệp có vốn từ 5 đến 10 tỷ đồng chỉ chiếm 8,15% Tính trung bình, mộtdoanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay có khoảng 3,6 tỷ đồng vốn chủ sở hữu, đápứng khoảng 5% đến 10% vốn luân chuyển trung bình của khối này Để đưa racác đánh giá nhanh về chất lượng phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở ViệtNam sau 10 năm thực thi Luật doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu độc lậpEconomica (UNDP) đã phân tích số liệu tổng điều tra doanh nghiệp từ năm
2001 đến năm 2009, kết quả cho thấy:
Khu vực doanh nghiệp tư nhân có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tăng
từ 4,4% năm 2000 lên 7,1% năm 2008, trong khi con số này của doanh nghiệpNhà nước là từ 7,9% lên 12,4% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là từ19,8% lên 23,9%
Mức cải thiện tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản có của khu vực doanhnghiệp tư nhân cũng thấp hơn 2 khu vực doanh nghiệp còn lại Cụ thể, tỷ lệ lợinhuận trên tổng tài sản của khu vực doanh nghiệp tư nhân tăng từ 1,63% trongnăm 2000 lên 1,76% vào năm 2008, so với mức từ 2,35% lên 3,38% của doanhnghiệp Nhà nước và từ 8,97% lên 9,55% của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài
Kết quả trên cho thấy quy mô vốn nhỏ, năng lực kém cùng với tốc độ tăngtrưởng chậm, lợi nhuận để lại cho tái đầu tư không nhiều đã dẫn đến những khókhăn cho doanh nghiệp trong việc chuyển sang kinh doanh quy mô lớn Hơn