BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ PHAN PHƯƠNG LOAN ĐẶC ĐIỂM THÀNH THỤC SINH DỤC VÀ ỨNG DỤNG HORMON STEROID TRONG SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ RÔ BIỂN Pristolepis fasciata Bleeker,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
PHAN PHƯƠNG LOAN
ĐẶC ĐIỂM THÀNH THỤC SINH DỤC VÀ ỨNG DỤNG HORMON STEROID TRONG
SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ RÔ BIỂN Pristolepis fasciata (Bleeker, 1851)
Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã số: 62620301 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ THỦY SẢN
2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
PHAN PHƯƠNG LOAN
ĐẶC ĐIỂM THÀNH THỤC SINH DỤC VÀ ỨNG DỤNG HORMON STEROID TRONG
SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ RÔ BIỂN Pristolepis fasciata (Bleeker, 1851)
Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã số: 62620301 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ THỦY SẢN
Người hướng dẫn khoa học
TS Phạm Thanh Liêm
TS Bùi Minh Tâm
2016
Trang 3Công trình được hoàn thành tại: Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thanh Liêm
Phản biện 1:……… Phản biện 2:……… Phản biện 3:………
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Trường
Họp tại……… Vào …… giờ………, ngày………tháng…… năm………
Có thể tìm luận án tại:
1 Trung tâm học liệu Trường Đại học Cần Thơ
2 Thư viện Quốc gia
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LUẬN ÁN 1.1 Giới thiệu
Cá rô biển Pristolepis fasciata (Bleeker, 1851) là loài cá bản địa đặc
trưng của miền Nam, Việt Nam Đây là loài rộng muối, phân bố cả trong nước ngọt và lợ Cá rô biển có phẩm chất thịt ngon và không có xương giăm nên được người dân Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ưa thích Trong vài năm gần đây đối tượng này trở nên khan hiếm do tình trạng lạm thác nên sản lượng đánh bắt không đủ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Giá bán hiện tại trên thị trường của cá rô biển khá cao, từ 120.000-150.000 đồng/kg ở kích cỡ 10-12 con/kg (Phan Phương Loan, 2014) Chính
vì vậy, cá rô biển sẽ là đối tượng rất có tiềm năng để phát triển nuôi trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL cũng như khắp cả nước
Để có thể đưa cá rô biển trở thành đối tượng nuôi quan trọng trong tương lai thì việc sản xuất ra con giống nhân tạo đủ về số lượng và tốt về chất lượng là yêu cầu đầu tiên Hiện nay, các công trình nghiên cứu về cá
rô biển được công bố còn rất hạn chế Để phát triển nuôi cá rô biển trong tương lai thì cần có nhiều nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh học, đặc biệt
về sinh lý sinh sản, về các biện pháp thuần dưỡng, nuôi vỗ cá bố mẹ, kích thích sinh sản nhân tạo, ương giống,…
Trong nghiên cứu và thực tế sinh sản nhân tạo các loài cá ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng, các chất kích thích sinh sản có nguồn gốc tự nhiên như kích dục tố trong não thùy thể cá và chế phẩm HCG (Human Chorionic Gonadotropin) hoặc những chất được tổng hợp từ công nghệ sinh học như LHRHa (Luteinizing Hormone-Releasing Hormone analogue) thường được sử dụng (Nguyễn Tường Anh, 1997)
Ngoài những chất kích thích sinh sản trên, một số nghiên cứu sinh sản nhân tạo trong và ngoài nước trên cá cho thấy các hormon steroid C21
như progesteron (P), 17 - hydroxyprogesteron (17P) và 17α, 20β-dihydroxy progesteron (17,20P) có hiệu quả gây chín và rụng trứng ở quy mô thí
nghiệm in vitro hoặc sản xuất (Nguyễn Tường Anh, 1999a) Để có cơ sở
khoa học nhằm đưa các hormon steroid vào thực tiễn sản xuất thì việc so sánh và đánh giá tác dụng gây chín và rụng trứng của chúng so với các chất kích thích sinh sản thường được sử dụng hiện nay trên một đối tượng cụ thể
là cần thiết Điều này cũng nhằm đa dạng hoá chất kích thích sinh sản trong sản xuất giống nhân tạo cá nói chung và cá rô biển nói riêng
Với các lý do trên, đề tài “Đặc điểm thành thục sinh dục và ứng
dụng hormon steroid trong sinh sản nhân tạo cá rô biển Pristolepis fasciata (Bleeker, 1851)” được thực hiện
Trang 51.2 Mục tiêu tổng quát của luận án
Bổ sung dữ liệu khoa học về các đặc điểm sinh học của cá rô biển, về khả năng gây chín và rụng trứng của hormon steroid trên cá rô biển, cung cấp cơ sở lý luận nhằm phát triển quy trình sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm cá rô biển; từ đó góp phần đa dạng hóa đối tượng cá nuôi cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về mặt khoa học, luận án cung cấp các kiến thức cơ bản về các đặc điểm sinh học sinh sản của cá rô biển, cung cấp những số liệu khoa học về ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sự thành thục sinh dục của cá khi được thuần dưỡng và nuôi trong ao đất Đặc biệt, các nghiên cứu trong luận án
đã tìm ra được phương thức sử dụng hormon steroid trong sinh sản nhân tạo cá rô biển Bên cạnh đó, với kết quả nghiên cứu về sự phát triển ống tiêu hoá sẽ góp phần nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá trong quá trình ương giống Những kết luận của luận án sẽ là nguồn dữ liệu khoa học quan trọng góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo cá rô biển, tạo
ra khả năng cung cấp con giống và góp phần đưa cá rô biển thành một đối tượng nuôi mới đầy tiềm năng và hiệu quả kinh tế
1.4 Những điểm mới của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án đã có những đóng góp mới về lý
thuyết và ứng dụng trong sản xuất
- Cung cấp các dẫn liệu mới về các đặc điểm sinh học sinh sản của cá rô biển như kích thước thành thục lần đầu, đặc điểm phát triển tuyến sinh dục, hệ
số thành thục, sức sinh sản, mùa vụ sinh sản của cá Những dẫn liệu này làm
cơ sở khoa học cho việc xây dựng giải pháp bảo vệ nguồn lợi, thuần dưỡng và góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo đối tượng này
- Xác định được phương pháp nuôi, loại thức ăn phù hợp và khả năng thành thục của cá rô biển trong điều kiện nuôi nhốt Kết quả này góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo đối tượng này
- Đã đánh giá được khả năng và xác định phương pháp sử dụng 3 loại steroid là 17,20P; 17P và P để kích thích cá rô biển sinh sản: có thể kích thích cá sinh sản thành công với 17,20P trong liều quyết định sau liều
sơ bộ với HCG hay LRH-A3 Việc sử dụng các hormon steroid kích thích
cá rô biển sinh sản là hoàn toàn mới và kết quả này góp phần đa dạng chất kích thích sinh sản trong quy trình sản xuất giống nhân tạo đối tượng này
- Nghiên cứu đã xác định được quá trình phát triển phôi, ấu trùng và
cá con của cá rô biển như thời gian ấu trùng dinh dưỡng bằng noãn hoàng, thời gian hoàn thiện quá trình phát triển ống tiêu hoá cũng như thời điểm cá
Trang 6bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài Những kết quả này góp phần quan trọng trong việc ương giống thành công đối tượng này
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ năm 2011-2014 Tất cả các thí nghiệm được thực hiện tại Khoa Thuỷ Sản, Trường Đại học Cần Thơ và Khoa Nông Nghiệp – Tài Nguyên Thiên Nhiên, Trường Đại học An Giang
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Cá rô biển Pristolepis fasciata (Bleeker, 1851)
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá rô biển
3.3.1.1 Phương pháp thu mẫu
- Mẫu cá rô biển có khối lượng từ 19-360 gam/con được thu ở các điểm trên tuyến sông Hậu thuộc địa bàn tỉnh An Giang liên tục từ tháng 5/2012 đến tháng 4/2013 Mẫu cá được bảo quản trong dung dịch formol 10%và tiêu bản mô học buồng trứng được thực hiện theo phương pháp của Drury and Wallington (1967) và Kiernan (1990) Tiêu bản được nhuộm với thuốc nhuộm Haematoxyline và Eosin (H&E) theo Hinton (1990)
- Xác định sức sinh sản theo Banegal (1967)
- Xác định đường kính trứng bằng thước đo trên kính hiển vi với số lượng trứng là 30 tế bào trên 1 mẫu
3.3.2 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản cá rô biển
3.3.2.1 Phương pháp thu mẫu
Mẫu cá rô biển được thu trên địa bàn tỉnh An Giang có khối lượng trung bình 51,8 gam/con và chiều dài trung bình 12,9 cm trong mùa sinh sản của cá ngoài tự nhiên để có đủ các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục Mẫu cá được giữ sống và chuyển về phòng thí nghiệm Bộ môn Dinh dưỡng và Chế biến thuỷ sản để tiếp tục phân tích
3.3.2.2 Các chỉ tiêu phân tích
Trang 7- Các chỉ tiêu máu: số lượng hồng cầu; tỷ lệ huyết cầu (hematocrit), thể tích trung bình hồng cầu được xác định theo phương pháp của Larsen and Snieszko (1961; trích bởi Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Tư, 2010)
- Protein cơ và gan cá được xác định theo phương pháp của Lowry et
al (1951), sử dụng Bovine serum albumin (BSA, Sigma) làm đường chuẩn
- Hàm lượng vitellogenin được xác định thông qua hàm lượng phosphate protein huyết tương
3.3.3 Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục sinh dục cá rô biển bằng các loại thức ăn khác nhau
3.3.3.1 Hệ thống thí nghiệm
Thí nghiệm nuôi vỗ thành thục sinh dục cá rô biển được bố trí trong
9 giai bằng lưới (30 m2
/giai) đặt trong ao đất Mực nước trong giai sâu 1,8
m Nước trong ao được trao đổi một tháng 2 lần theo thuỷ triều Trong ao,
hệ thống phun mưa được thiết kế ở các vị trí đặt giai nhằm tăng cường ôxy
3.3.3.2 Cá dùng trong thí nghiệm
Cá dùng trong thí nghiệm được đánh bắt từ tự nhiên Cá được thích ứng trong các giai để làm quen với điều kiện nuôi nhốt và thức ăn chế biến (3 tháng) Tiến hành chọn những cá có kích cỡ tương đồng và khoẻ mạnh
Trang 8- NT 2: 50% cá tạp + 50% thức ăn công nghiệp (theo khối lượng)
- NT 3: 100% thức ăn công nghiệp
Bảng 1 Kết quả phân tích thức ăn nuôi vỗ thành thục cá rô biển (theo % khối
lượng tự nhiên của thức ăn)
3.3.3.4 Cho ăn và chăm sóc
Cá được cho ăn ngày 2 lần vào lúc 8 giờ và 17 giờ với mức thỏa mãn theo nhu cầu Các chỉ tiêu thủy lý – hóa (nhiệt độ, ôxy hoà tan, pH, amôn tổng số (TAN) và nitrite): định kỳ 1 tuần đo 1 lần vào lúc 6 giờ sáng và 14 giờ chiều theo các phương pháp chuẩn
3.3.3.5 Các chỉ tiêu phân tích
- Hệ số thành thục (GSI) và tỷ lệ thành thục của cá được đánh giá 1 tháng/lần từ khi bố trí thí nghiệm nuôi vỗ Thời gian bắt đầu thí nghiệm nuôi vỗ đến khi kết thúc là 3 tháng
3.3.4 Nghiên cứu xác định loại, liều lượng, phương pháp tiêm hormon steroid kích thích cá rô biển chín và rụng trứng
3.3.4.1 Cá thí nghiệm
Cá rô biển dùng trong thí nghiệm này được chọn từ những cá thành thục sinh dục trong thí nghiệm nuôi vỗ Cá được chọn là những cá khoẻ mạnh, thành thục sinh dục tốt (tuyến sinh dục ở giai đoạn IV), khối lượng
từ 50-100 g/con
3.3.4.2 Các loại hormon sử dụng trong nghiên cứu
* Progesterone (P) và 17-hydroxyprogesterone (17P): của Công ty Sigma (Pháp), dạng bột, màu trắng 17α, 20β – dihydroxyprogesterone (17,20P) được điều chế từ 17P bằng phản ứng khử bởi NaBH4 theo
Norymberski and Woods (1955)
- Tất cả các hormon steroid trên được hòa tan trong cồn tuyệt đối
Thể tích các dung dịch 17,20P, 17P và P tiêm cho cá được khống chế ở mức 1 mL cho mỗi kg cá cái và được tiêm vào xoang thân cá
* LRH-A3 do Trung Quốc sản xuất;
* Domperidon (DOM) là của Công ty dược phẩm Hậu Giang
* Human Chorionic Gonadotropin (HCG): sản phẩm của Công ty dịch vụ nuôi trồng thuỷ sản trung ương thuộc Bộ Nông Nghiệp & PTNT
- Các hormon như HCG, LRH-A3+DOM được tiêm vào cơ
3.3.4.3 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1 (TN1): Ảnh hưởng của các loại steroid lên quá trình chín của noãn bào cá rô biển cái
Trang 9Thí nghiệm này gồm 3 thử nghiệm nhằm đánh giá khả năng gây chín noãn bào cá rô biển cũng như liều gây chín tối ưu của 3 loại steroid là P, 17P và 17,20P Trong thí nghiệm này không sử dụng liều sơ bộ để đảm bảo
sự chín noãn bào chỉ do tác động của các steroid Mỗi thử nghiệm được tiến hành trên 9 cá cái, chia ngẫu nhiên thành 3 nghiệm thức như được trình bày
(2006); Tokumoto et al (2011) và Żarski et al (2011)
Các chỉ tiêu phân tích trong TN1
+ Sự thay đổi kích thước trứng sau khi tiêm các loại steroid
Bảng 3 Thí nghiệm kích thích sinh sản cá rô biển bằng 17,20P, 17P và P sau liều
sơ bộ bằng HCG
(tính cho 1 kg cá cái)
Liều quyết định (tính cho 1 kg cá cái)
Trang 10Bảng 4 Thí nghiệm kích thích sinh sản cá rô biển bằng 17,20P, 17P và P sau liều
sơ bộ bằng LRH-A 3 +DOM
(tính cho 1 kg cá cái)
Liều quyết định (tính cho 1 kg cá cái)
Trong TN2 và TN3, cá đực được tiêm 1 lần với HCG hay
LRH-A3+DOM với liều bằng liều sơ bộ (1/3 liều quyết định của cá đối chứng) vào cùng thời điểm tiêm liều quyết định của cá cái Thời gian giữa 2 lần tiêm liều sơ bộ và liều quyết định trong TN2 và TN3 là 8 giờ
Áp dụng hình thức sinh sản bán nhân tạo trong TN2 và TN3: cá sau khi tiêm chất kích thích sinh sản được vào bể đẻ (mức nước trong bể sâu khoảng 40 cm) với tỷ lệ đực/cái = 1/1 để cá tự bắt cặp sinh sản
Các chỉ tiêu phân tích trong TN2 và TN3 gồm: Thời gian hiệu ứng
(giờ); Tỷ lệ cá đẻ (%); Sức sinh sản tương đối thực tế (trứng/g cá cái), Tỷ lệ
- Thời gian cá dinh dưỡng noãn hoàng được xác định thông qua mức
độ giảm đường kính noãn hoàng theo từng thời điểm khác nhau
- Kích cỡ miệng của cá được xác định dựa theo phương pháp của
Shirota (1970)
3.3.5.2 Nghiên cứu sự phát triển ống tiêu hóa từ giai đoạn ấu trùng đến 30 ngày tuổi
- Mẫu cá được thu vào các ngày tuổi 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 15 20,
25 và 30 sau khi nở Quan sát sự biến đổi hình thái ống tiêu hóa trực tiếp dưới kính hiển vi Tiêu bản mô học ống tiêu hóa được thực hiện theo phương pháp mô tả bởi Drury and Wallington (1967) và Kiernan (1990)
3.3.5.3 Khả năng chịu đựng của cá giai đoạn ấu trùng đến 30 ngày tuổi đối với một số yếu tố môi trường
Nghiên cứu được thực hiện với cá rô biển 1, 5, 10, 20 và 30 ngày tuổi sau khi nở
Trang 11a) Xác định nhiệt độ cao và thấp gây chết cá: theo phương pháp của Lahdes and Vainio (2003)
b) Xác định ngưỡng ôxy và cường độ tiêu hao ôxygen: theo phương pháp bình kín (Wokoma and Marioghae, 1996)
c) Xác định pH cao và thấp gây chết cá: theo Wokoma and Marioghae (1996)
d) Xác định độ mặn gây chết cá: theo phương pháp của Bringolf et
al (2005) và Schofield et al (2006)
4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập ở tất cả các thí nghiệm được tính toán giá trị trung bình (TB), độ lệch chuẩn (STD), lớn nhất, nhỏ nhất và được trình bày dưới dạng TB±STD Phân tích thống kê (One-way ANOVA với phép thử DUNCAN) được áp dụng để tìm ra sự khác biệt giữa các trung bình các nghiệm thức ở mức ý nghĩa p<0,05 bằng các phần mềm Excel của Office
2007 và SPSS 16.0 Các số liệu % được chuyển đổi thành arsin trước khi
xử lý thống kê
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá rô biển
4.1.1 Phân biệt giới tính
Khó xác định giới tính bằng các đặc điểm hình thái bên ngoài khi cá còn nhỏ Tuy nhiên, trong mùa sinh sản có thể phân biệt giới tính cá rô biển tương đối dễ dàng
- Cá rô biển cái có tuyến sinh dục phát triển có bụng to hơn cá đực; khi ép lên bụng cá đực thấy sẹ trắng chảy ra
- Cá rô biển đực thường có kích thước nhỏ và mình dẹp hơn cá cái
- Cá rô biển cái thành thục có lỗ sinh dục lớn và tròn hơn lỗ niệu-sinh dục của con đực
- Vi bụng của con đực dài hơn con cái (Hình 2)
Hình 2 Hình dạng bên ngoài của cá rô biển đực (trên) và cái (dưới)
4.1.2 Tỷ lệ đực cái, khối lượng, chiều dài của cá qua các tháng thu mẫu
Trang 12Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cá cái ở các tháng thu mẫu đều có
xu hướng cao hơn cá đực Tỷ lệ đực:cái chung qua các tháng là 1:1,58
Cá rô biển cái thường có khối lượng và chiều dài lớn hơn cá đực (Hình 3)
Sự khác biệt về khối lượng giữa cá rô biển cái và đực là rõ ràng hơn
so với sự khác biệt về chiều dài Khối lượng và chiều dài của cá thu mẫu đạt cực đại vào tháng 8 và tháng 11
Hình 3 Khối lượng (trái) và chiều dài tổng cộng (phải) trung bình của cá rô biển qua
các tháng thu mẫu
4.1.3 Đặc điểm hình thái tuyến sinh dục cá rô biển cái và đực
4.1.3.1 Đặc điểm tuyến sinh dục cái (buồng trứng)
Dựa vào các tiêu chuẩn phân chia các giai đoạn thành thục tuyến sinh dục của Xakun and Buskaia (1968), thì buồng trứng cá rô biển có những đặc điểm phát triển như sau:
- Giai đoạn I (GĐI): buồng trứng chỉ là hai dạng sợi ngắn, nhỏ, màu trắng trong Về mặt tổ chức học, noãn sào chỉ bao gồm tế bào sinh dục là các noãn nguyên bào Noãn nguyên bào có nhiều góc cạnh, kích thước rất nhỏ, tế bào chất ưa kiềm nên bắt màu tím của hematoxylin mạnh, nhân ưa kiềm yếu nên bắt màu nhạt và số tiểu hạch ít Giai đoạn này chỉ xuất hiện đối với những cá rô biển thành thục lần đầu
- Giai đoạn II (GĐII): buồng trứng có kích thước lớn lên, bề mặt có nhiều mạch máu, màu hồng nhạt Lúc này, noãn bào có kích thước khá lớn, màng của noãn bào mỏng và tổ chức liên kết nhiều Thể tích tế bào chất tăng lên Nhân tròn rõ, ưa kiềm và bắt màu nhạt, trong nhân lớn có nhiều tiểu hạch
- Giai đoạn III (GĐIII): thể tích buồng trứng tăng lên, chiếm 1/2 xoang bụng, bề mặt buồng trứng có màu vàng nhạt Noãn bào chuyển sang giai đoạn sinh trưởng chất dinh dưỡng, bắt đầu quá trình tích lũy noãn hoàng Trong tế bào chất xuất hiện nhiều không bào (không bắt màu), nhân lớn bắt màu tím nhạt Tế bào chất vẫn còn ưa kiềm nhưng rất yếu Khối
Trang 13lượng noãn hoàng tăng, noãn hoàng xuất hiện nhiều bắt màu hồng của eosin rất rõ, các hạt noãn hoàng to nằm phía ngoài trong khi các hạt nhỏ nằm sát nhân
- Giai đoạn IV (GĐIV): buồng trứng chiếm phần lớn xoang bụng, căng phồng, nhìn rõ hạt trứng; hạt trứng tròn và căng, màu vàng nhạt, các hạt trứng dễ tách rời Kích thước của noãn bào gia tăng rõ Kết thúc thời kỳ lớn nguyên sinh - noãn hoàng, số tiểu hạch trong nhân giảm và từ từ tan biến bào dịch nhân, nhân không có hình dạng nhất định Kích thước noãn bào lúc này đạt cực đại
- Giai đoạn V (GĐV): là giai đoạn cá đẻ trứng, các sản phẩm sinh dục chảy ra khi ấn nhẹ vào bụng cá, khối lượng tuyến sinh dục từ đầu đến cuối giai đoạn đẻ trứng giảm đi rất nhanh Giai đoạn này thường chỉ bắt gặp
ở cá đang trong quá trình sinh sản Trong quá trình nghiên cứu đã không thu được mẫu cá có buồng trứng ở giai đoạn V Mô tả này dựa trên mẫu cá cho sinh sản nhân tạo
- Giai đoạn VI (GĐVI): sau khi cá đẻ xong, tuyến sinh dục teo lại, mềm nhão, màng tuyến sinh dục nhăn nheo, mạch máu dày đặc, trong buồng trứng có chứa chất dịch màu đỏ Tế bào trứng đã rụng nhưng chưa được đẻ bắt đầu thoái hoá và trở nên dị dạng
Hình 4 Hình dạng (hàng trên) và tổ chức mô học (hàng dưới) của buồng trứng
cá rô biển cái ở các giai đoạn phát triển II, III, IV và VI (từ trái sang phải)
4.1.3.2 Đặc điểm tuyến sinh dục đực (buồng tinh)
Buồng tinh cá rô biển là hai dãi nằm sát hai bên xương sống, một đầu
mở vào lỗ sinh dục, một đầu đính vào mặt lưng xoang thân
- Giai đoạn I (GĐI): buồng tinh chỉ là hai sợi thật mảnh nằm sát hai bên xương sống Về hình thái thì khó xác định giai đoạn I của buồng trứng
và buồng tinh
Trang 14- Giai đoạn II (GĐII): buồng tinh là hai dãi mỏng có màu hồng nhạt,
- Giai đoạn VI (GĐVI): buồng tinh teo nhỏ lại và mềm nhão; bề mặt buồng tinh có màu đỏ bầm
Hình 5 Hình dạng của buồng tinh cá rô biển đực ở các giai đoạn phát triển I, II,
III, IV, V và VI (từ trái sang phải)
4.1.4 Sự biến đổi giai đoạn thành thục sinh dục (GĐTT) cá rô biển đực
và cái qua các tháng thu mẫu
4.1.4.1 Sự quan hệ giữa GĐTT sinh dục và kích thước cá theo thời gian
Kết quả nghiên cứu cho thấy cá rô biển cái thu được có chiều dài tổng cộng (TL) nhỏ nhất là 6,5 cm và lớn nhất là 25,4 cm và cá rô biển đực thu được có chiều dài tổng cộng (TL) nhỏ nhất là 6,3 cm và lớn nhất là 20,8
cm Các giá trị này của cá đực là thấp hơn cá cái Theo Baran et al (2007),
cá rô biển cái có thể đạt thành thục sinh dục với chiều dài tổng cộng từ 7-10
cm Dựa trên kích thước cá rô biển có tuyến sinh dục giai đoạn IV thì có thể thấy có 2 nhóm cá cái: nhóm cá nhỏ có TL≤15 cm và nhóm cá lớn có TL>15 cm; tương tự, có 2 nhóm cá đực: nhóm cá nhỏ có TL≤14 cm và nhóm cá lớn có TL>14 cm Cá kích thước nhỏ thường chiếm tỷ lệ cao hay tuyệt đối trong các nhóm cá có giai đoạn thành thục sinh dục khác nhau, đặc biệt ở giai đoạn phát dục thấp (GĐI, II và III); trong khi cá kích thước lớn thường chiếm tỷ lệ đáng kể hay cao trong các nhóm cá có giai đoạn thành thục sinh dục cao (GĐIV) Đặc biệt, có sự gia tăng chiều dài theo giai đoạn thành thục của nhóm cá kích thước nhỏ