1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ở đại học quốc gia hà nội

93 390 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, khi Nhà nước và xã hội ngày càng quan tâm hơn đến việc giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục thì KĐCL giáo dục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng góp phần định hướng các hoạt độn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

ĐÀO THỊ THANH HUYỀN

KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

ĐÀO THỊ THANH HUYỀN

KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế

Trang 3

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan luận văn này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin và số liệu sử dụng trong luận văn đƣợc trích dẫn từ các nguồn tài liệu đầy đủ Kết quả phân tích trong luận văn này là trung thực Luận văn không trùng với bất kì đề tài nghiên cứu khoa học nào

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Văn Dũng người đã hết sức tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và định hướng cho tôi chọn đề tài nghiên cứu, cơ sở

lý luận cũng như khảo sát thực tế trong quá trình thực hiện viết luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo tại Khoa Kinh tế chính trị - Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN đã dạy dỗ tôi, cung cấp cho tôi những kiến thức trong suốt quá trình học tập để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp tại trung tâm ĐBCL trường đại học Kinh tế ĐHQGHN, các bạn đồng nghiệp trong ĐHQGHN đã cho tôi nhiều lời khuyên quý báu, đã cung cấp cho tôi những tài liệu, thông tin, tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu, tham khảo các tài liệu phục vụ cho bản luận văn cũng như đã giúp đỡ và giành thời gian trả lời phỏng vấn, khảo sát để tôi có số liệu cho việc phân tích luận văn này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn với gia đình tôi, đã động viên, khuyến khích, tạo điều kiện tốt nhất về thời gian, vật chất và tinh thần để tôi có thể hoàn thành tốt bài luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Đào Thị Thanh Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

1.2 Cơ sở lý luận về kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học 7

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.2.2 Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học 13

1.3 Kinh nghiệm kiểm định chất lượng giáo dục đại học của một số nước trên thế giới 24

1.3.1 Kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở Thái Lan 24

1.3.2 Kiểm định chất lượng ở Anh Quốc 25

1.3.3 Kiểm định chất lượng ở Hoa Kỳ 26

1.3.4 Bài học Kinh nghiệm cho ĐHQGHN 27

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Địa bàn nghiên cứu 30

2.2 Hướng tiếp cận trong nghiên cứu 30

2.3 Phương pháp thu thập thông tin 32

2.4 Phương pháp xử lý số liệu 34

2.5 Phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp 35

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ GIÁO DỤC TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI HIỆN NAY 37

3.1 Giới thiệu chung về dịch vụ giáo dục đại học tại ĐHQGHN 37

3.2 Mô hình Đảm bảo chất lượng bên trong của ĐHQGHN 38

3.3 Phân tích công tác kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục tại ĐHQGHN 43

3.3.1 Qui trình kiểm định chất lượng tại ĐHQGHN 43

3.3.2 Thực trạng xây dựng và cập nhật các công cụ kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục tại ĐHQGHN 45

3.3.3 Nguồn lực thực hiện Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục tại ĐHQGHN 48

Trang 6

3.3.4 Thực trạng kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục của các đơn vị và CTĐT

thuộc ĐHQGHN 53

3.3.5 Thực trạng công tác lấy ý kiến phản hồi từ các bên liên quan 56

3.4 Đánh giá chung về kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục tại ĐHQGHN 58

3.4.1 Những kết quả đạt được 58

3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 59

CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 62

4.1 Những nhân tố mới ảnh hưởng đến kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học tại Đại học Quốc gia Hà Nội 62

4.1.1 Bối cảnh quốc tế 62

4.1.2 Hội nhập quốc tế về giáo dục đại học của Việt Nam 64

4.1.3 Định hướng phát triển giáo dục Đại học Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035 66

4.1.4 Định hướng phát triển của Đại học Quốc gia Hà Nội 68

4.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm định chất lượng giáo dục trong thời gian tới 69

4.2.1 Nâng cao nhận thức về kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục 70

4.2.2 Phát triển nguồn nhân lực kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục 70

4.2.3 Tăng cường hoạt động kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học 72

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC

Trang 7

6 KĐCLDVGDĐH Kiểm định chất lƣợng dịch vụ giáo dục đại học

Trang 8

ii

DANH MỤC BẢNG

Trang 9

iii

DANH MỤC CÁC HÌNH

4 Hình 3.4 Mô hình ĐBCL hoạt động nghiên cứu khoa học

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồn nhân lực đang trở thành động lực chủ yếu đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước Vấn đề này đang đặt ra cho nền giáo dục đại học một nhiệm vụ hết sức to lớn và cấp bách Để thực hiện được nhiệm

vụ trên, giáo dục đại học tại Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) ngoài việc không ngừng mở rộng quy mô còn phải duy trì, thường xuyên nâng cao chất lượng

và hiệu quả đào tạo Trong những năm gần đây, hệ thống giáo dục tại ĐHQGHN được phát triển hết sức mạnh mẽ Mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học đã được phân bố rộng khắp trong cả nước, đang được đa dạng hóa cả về loại hình và phương thức đào tạo, nguồn lực… theo hướng hội nhập với xu thế chung của thế giới Quy

mô đào tạo cũng được tăng nhanh để từng bước đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội Chất lượng, dịch vụ đào tạo đã có những chuyển biến tốt về nhiều mặt

Giáo dục đại học Việt Nam trong thế kỳ XXI đang tiếp tục thực hiện ba chức năng quan trọng của mình Đó là: đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước, sản sinh những tri thức mới cho khoa học và cung cấp các dịch vụ cho xã hội Giáo dục đại học Việt Nam ngày nay đang đứng trước những thách thức mới Hiện tượng quốc tế hóa và toàn cầu hóa, hiện tượng giáo dục đại học xuyên biên giới, sự phát triển nhanh và mạnh của khoa học và công nghệ đòi hỏi giáo dục đại học Việt Nam phải vươn lên, phải đi trước, đón đầu để đảm bảo đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đảm bảo cho đất nước ngày một phát triển ổn định

và bền vững Giao dục đại học phải phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước, phục

vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần vào việc xây dựng và hình thành một xã hội học tập tại ĐHQGHN

Kiểm định chất lượng (KĐCL) giáo dục là công cụ quản lý nhà nước đối với chất lượng dịch vụ giáo dục đại học; không chỉ để đảm bảo nhà trường có trách nhiệm đối với chất lượng đào tạo mà còn mang lại động lực cải tiến và nâng cao

Trang 11

2

chất lượng chương trình giáo dục cũng như chất lượng toàn bộ các hoạt động của nhà trường Hơn nữa, khi Nhà nước và xã hội ngày càng quan tâm hơn đến việc giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục thì KĐCL giáo dục có ý nghĩa đặc biệt

quan trọng góp phần định hướng các hoạt động xã hội như: (i) Định hướng lựa chọn đầu tư của người học-của phụ huynh đối với cơ sở/chương trình giáo dục đại học có chất lượng và hiệu quả hơn mà phù hợp với khả năng của mình; (ii) Định hướng lựa chọn đầu tư của Nhà nước để đào tạo nguồn nhân lực theo những ngành nghề cần thiết cho sự phát triển trong tương lai; (iii) Định hướng đầu tư của các doanh nghiệp cần nguồn nhân lực thích hợp cho doanh nghiệp của mình; (iv) Định hướng cho các nhà đầu tư nuớc ngoài làm từ thiện hay cần phát triển vốn của mình; (v) Định hướng phát triển cho các cơ sở/chương trình giáo dục đại học để tăng cường năng lực cạnh tranh trong và ngoài nước; (vi) Định hướng cho sự hợp tác đào tạo (chuyển đổi, công nhận văn bằng chướng chỉ …) của các cơ sở/chương trình giáo

dục trong và ngoài nước với nhau

Mặt khác, với quan điểm KĐCL giáo dục là một giải pháp quản lý chất lượng

và hiệu quả nhằm các mục tiêu: (i) Đánh giá hiện trạng của cơ sở/chương trình giáo

dục đại học đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra như thế nào?; (ii) Đánh giá hiện trạng những điểm mạnh, tồn tại so với các tiêu chuẩn đề ra của cơ sở/chương trình giáo dục; (iii) Trên cơ sở các điểm mạnh và các tồn tại phát hiện được, định ra kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục tồn tại để phát triển; (iv) Thực hiện KĐCL là xây dựng văn hoá chất lượng (VHCL) cho cơ sở /chương trình giáo dục

Mục đích chính của kiểm định chất lượng là nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục đại học, hạn chế tác động xấu của cơ chế thị trường đến phát triển giáo dục đại học; nhằm đảm bảo đạt được những chuẩn mực nhất định trong đào tạo, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng nguồn nhân lực và đảm bảo quyền lợi cho người học Một số nơi, kiểm định còn nhằm mục đích giải trình với xã hội, với các cơ quan quyền lực hay với các cơ quan, tổ chức tài trợ, cấp kinh phí Một số không ít các tổ chức, cơ quan quan tâm đến việc trường đại học/ ngành đào tạo đã được kiểm định hay chưa trước khi đưa ra quyết định tài trợ hay không tài trợ cho trường đại học /

Trang 12

3

ngành đào tạo đó Học sinh và phụ huynh, trước khi lựa chọn trường để đăng ký dự tuyển cũng cân nhắc xem nhà trường hay ngành đào tạo có được kiểm định không, việc kiểm định này không chỉ là đảm bảo nhà trường có trách nhiệm đối với chất lượng đào tạo, với “sản phẩm” của nhà nhà trường mà còn mang lại động lực cải tiến và nâng cao chất lượng chương trình đào tạo cũng như chất lượng toàn trường

Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những cơ sở giáo dục đại học đi tiên phong trong hoạt động kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học và đạt nhưng kết quả nhất định Tuy nhiên, sự thống nhất về sự cần thiết kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học trong đội ngũ cán bộ, giảng viên chưa cao; nhiều giải pháp kiểm định chưa nhận được sự đồng tình rộng rãi; không ít người còn ngại tốn kém cho cơ sở đào tạo…

Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học tại Đại học Quốc gia Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ

quản lý kinh tế tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN

Câu hỏi nghiên cứu của luận văn: ĐHQGHN cần phải làm gì và làm như thế nào

để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng kiểm định dịch vụ giáo dục trong thời gian tới?

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu hoạt động KĐCLDVGDĐH với tư cách là công cụ quản lý nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục đại học tại ĐHQGHN

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về KĐCLDVGDĐH với tư cách là công cụ quản lý nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục đại học

- Phân tích thực trạng KĐCLDVGDĐH với tư cách là công cụ quản lý nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục đại học tại ĐHQGHN; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân

- Khuyến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác KĐCLDVGDĐH ở ĐHQGHN trong thời gian tới

Trang 13

4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu KĐCLDVGDĐH ở ĐHQGHN với tư cách là công cụ

quản lý chất lượng dịch vụ giáo dục đại học trong điều kiện Việt Nam đang đẩy

mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Kiểm định chất lượng giáo dục đại học tại các trường đại học

trực thuộc ĐHQGHN

- Về thời gian: Số liệu công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học từ khi

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học đến năm 2014

- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu các vấn đề trong công tác KĐCLDVGDĐH

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận, thực tiễn về chất lượng giáo dục đại học

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng công tác kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ở ĐHQGHN hiện nay

Chương 4: Đề xuất, Khuyến nghị giải pháp hoàn thiện công tác kiểm định chất

lượng dịch vụ giáo dục đại học ở ĐHQGHN

Trang 14

5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong bất kỳ thời đại nào hay ở bất kỳ quốc gia nào, chất lượng giáo dục luôn

là vấn đề quan tâm hàng đầu của toàn xã hội vì tầm quan trọng của nó đối với sự nghiệp phát triển đất nước Đất nước thịnh hay suy, yếu hay mạnh, phụ thuộc phần lớn vào chất lượng sản phẩm giáo dục Đối với các trường đại học cũng như các cơ

sở đào tạo hiện nay, phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo luôn được xem là nhiệm

vụ quan trọng nhất Chính vì vậy, việc nghiên cứu về kiểm định chất lượng giáo dục đặc biệt là giáo dục đại học nhận được rất nhiều quan tâm và có nhiều nghiên cứu

đã được thực hiện Mỗi nghiên cứu tiếp cận ở một khía cạnh khác nhau của công tác kiểm định chất lượng giáo dục Dưới đây xin được liệt kê một vài nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến chủ đề này

Trong nghiên cứu của mình năm 2013, tác giả Phạm Xuân Thanh đã khái quát

hệ thống ĐBCL giáo dục mà Việt Nam đang xây dựng gồm 3 cấu phần: Hệ thống ĐBCL bên trong của trường; Hệ thống ĐBCL bên ngoài trường (bao gồm các chủ trương chính sách, quy trình và công cụ đánh giá); Hệ thống các tổ chức ĐBCL bên ngoài (hay còn gọi là các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục) Việc xây dựng một hệ thống ĐBCL và kiểm định chất lượng giáo dục ở cấp quốc gia có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc duy trì các chuẩn mực và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục ở Việt Nam Hệ thống ĐBCL và kiểm định chất lượng giáo dục sẽ cung cấp các cơ sở đề Nhà nước đưa ra các chính sách đầu tư hiệu quả cho hệ thống giáo dục, sinh viên dễ dàng định hướng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp hoặc mong muốn tiếp tục nâng cao trình độ Các nhà tuyển dụng dễ dàng lựa chọn được những cán bộ có chuyên môn, tiết kiệm đáng kể chi phí đào tạo lại cho nhân viên mới tuyển dụng (Phạm Xuân Thanh, 2014)

Trang 15

6

Tác giả Yung-Chi Hou (angela) (2011) và cộng sự trong nghiên cứu về ĐBCL của Đài Loan đã đưa ra quan điểm về ảnh hưởng của ĐBCL trong đó kiểm định chất lượng giáo dục dẫn đến các quyết định về chính sách giáo dục ở Đài Loan Nghiên cứu này cũng chỉ ra KĐCLGD đã tác động đến chất lượng giảng dạy và học tập, đặc biệt là tác động đến chất lượng chung của các chương trình đào tạo (Tạ Thị Thu Hiền, 2012)

Tác giả Lee Harvey (2006) trong nghiên cứu về tác động của ĐBCL trong giáo dục đại học đã chỉ ra mối liên hệ giữa KĐCLGD đến sự thay đổi về chất lượng của trường đại học (Lee Harvey, 2006)

Nguyễn Hải Long (2013) trong nghiên cứu về ảnh hưởng của công tác kiểm định chất lượng dạy nghề đối với phương pháp giảng dạy đã chỉ ra sự ảnh hưởng của công tác kiểm định chất lượng dạy nghề đối với phương pháp giảng dạy của học viên Đề tài đã đánh giá mức độ thành thạo các phương pháp giảng dạy của giảng viên, mức độ áp dụng các phương pháp giảng dạy của học viên và mức độ sử dụng các công cụ hỗ trợ trong quá trình giảng dạy của giảng viên trước và sau khi được kiểm định chất lượng Đồng thời đề tài cũng đánh giá chung về mức độ ảnh hưởng của các công tác kiểm định chất lượng dạy nghề đối với phương pháp dạy của giảng viên (Lê Đức Ngọc, 2004)

Theo tác giả Lê Văn Hảo (2011), một trường đại học có thể có một hệ thống ĐBCL bên trong tốt mà không thực hiệm Kiểm định chất lượng, tuy nhiên rất khó để

có một trường đại học được kiểm định chất lượng mà ở đó không có một hệ thống ĐBCL bên trong hiệu quả Luận điểm này của tác giả nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ĐBCL bên trong trong đó có hoạt động tự đánh giá và cải tiến chất lượng Việc đánh giá ngoài và đăng ký kiểm định chất lượng để được công nhận chất lượng chỉ có

ý nghĩa khi trường đại học cam kết cải tiến chất lượng (Lê Văn Hảo, 2012)

Tác giả Nguyễn Phương Nga (2007) khi nghiên cứu về “Tác động của tự đánh giá để kiểm định chất lượng tới cán bộ và giảng viên các trường đại học” đã đưa ra những đánh giá cơ bản về tác động của công tác tự đánh giá để kiểm định chất lượng đến cán bộ và giản viên trường đại học khu vực Hà Nội Trong đề tài này, tác giả đã

Trang 16

Có thể nói mỗi nước có lựa chọn khác nhau cho việc ĐBCL giáo dục đại học Việt Nam lựa chọn chính sách KĐCLGD là bắt buộc đối với trường đại học giúp các trường đại học giải trình và cam kết với xã hội về chất lượng Tuy nhiên, nghiên cứu về kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ở Việt Nam chưa nhiều và nghiên cứu một cách hệ thống về kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục

đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội thì chưa có

1.2 Cơ sở lý luận về kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

Chất lượng luôn là vấn đề quan tâm nhất đối với tất cả các ngành, các lĩnh vực Nhưng chất lượng lại là một khái niệm rất không rõ ràng, thông thường mỗi người nhận thức theo một kiểu khác nhau, tuỳ theo thời kỳ khái niệm chất lượng cũng có những biến chuyển

Để đi đến một nhận thức đúng đắn, khoa học về khái niệm “chất lượng” trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, trước hết chúng ta cần tìm hiểu một số quan niệm

về “chất lượng” trong lĩnh vực kinh tế Có thể nói rằng vấn đề chất lượng trong thời đại ngày nay luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm là mục tiêu sống còn của các doanh nghiệp Song quan niệm về chất lượng cho đến hiện nay vẫn chưa có

Trang 17

8

sự thống nhất Chất lượng thông thường được hiểu như một cái gì đó mang hàm ý tuyệt đối hoặc tuyệt hảo, khó có thể đạt tới được Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, quan niệm về chất lượng luôn gắn với việc sử dụng sản phẩm hay dịch vụ và chất lượng thường được gắn chính bằng sự hài lòng của khách hàng Tất nhiên không chỉ nghe ý kiến của khách hàng và đáp ứng nhu cầu của họ là đủ mà các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ còn phải lưu tâm giải quyết nhiều vấn đề khác Hiện nay duy trì chất lượng và nâng cao chất lượng không còn là chuyện mới, trong chúng ta ai cũng biết bất cứ một sản phẩm nào cũng cần phải đạt được những chuẩn mực chất lượng nhất định, tạo ra sự hài lòng của khách hàng, cung cấp dịch vụ hoàn hảo mới có thể tiêu thụ được sản phẩm Chất lượng được duy trì ổn định sẽ tạo lòng tin trong khách hàng chính thông qua hình thức kiểm tra chất lượng, những sản phẩm nào đáp ứng được các chuẩn mực của chất lượng thì được lưu hành, những sản phẩm nào không ĐBCL thì bị loại bỏ Song đây chỉ là một khâu kiểm tra chất lượng sản phẩm trong một dây truyền sản xuất khép kín vì thường gây lãng phí bởi các sản phẩm bị loại bỏ khá nhiều Nên có thể hiểu một cách sơ bộ rằng muốn có một sản phẩm có chất lượng, đòi hỏi phải có các điều kiện đảm bảo nó trong cả một công nghệ dây truyền sản xuất khép kín

Để đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về chất lượng quả thực là điều không đơn giản, mà lý do chính ở chỗ ý tưởng về chất lượng là rất rộng, quan niệm chất lượng nhiều khi mang tính cảm tính và đạo đức nhiều hơn những chỉ số khách quan Nên ngay trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ cũng có cách quan niệm về chất lượng khác nhau

Dưới đây là một vài định nghĩa về chất lượng

1 – Chất lượng là “Tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn pháp – NFX 50 – 109)

2 - Theo định nghĩa của ISO 9000 – 2000 “Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”

Trang 18

9

3 - Theo tổ chức ĐBCL giáo dục đại học quốc tế (IQAAHE – International Network

of Quality Assuaance Agencies in Higher Education), đã đưa ra hai khái niệm chất lượng giáo dục

- Tuân theo các chuẩn quy định

- Đạt được các mục tiêu đề ra

Qua phân tích các quan niệm về chất lượng trong lĩnh vực sản xuất và dịch

vụ có thể đi đến định nghĩa như sau: Chất lượng là cái làm hài lòng, vượt qua những nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng Muốn có sán phẩm hay dịch vụ

có chất lượng thì những sản phẩm hay dịch vụ đó phải đạt được những chuẩn mực

đã được định sẵn

Qua những phân tích trên một lần nữa khẳng định việc đưa ra khái niệm chất lượng một cách khoa học, chính xác là vấn đề khó, nên trong lĩnh vực giáo dục đào tạo khi muốn đưa ra định nghĩa về chất lượng với đầy đủ nội hàm của nó còn là điều khó hơn nhiều Dưới đây chúng ta cùng tìm hiểu và phân tích những quan niệm về chất lượng trong giáo dục và đào tạo để làm rõ vấn đề trên

 Chất lượng dịch vụ giáo dục đại học

Chất lượng trong dịch vụ giáo dục đại học là một ý tưởng phức tạp, khó xác

định và đánh giá Nhưng dù sao điều quan trọng hơn hết chính là: Sinh viên đã học như thế nào, họ có thể làm được gì và phẩm chất của họ ra sao nhờ kết quả tương tác giữa họ với giáo chức và nhà trưòng đại học

Trong quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học

(Ban hành kèm theo quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm

2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) Chất lượng giáo dục trường đại học được định

nghĩa là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương và của cả nước

Trong cuốn sách Kiểm định chất lượng giáo dục đại học do GS.TS Nguyễn Đức Chính làm chủ biên, đã đưa ra 6 quan điểm về chất lượng trong giáo dục đại học như sau:

Trang 19

10

1 Chất lượng được đánh giá bằng “đầu vào”

2 Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”

3 Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”

4 Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”

5 Chất lượng được đánh giá bằng “văn hoá tổ chức riêng”

6 Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm toán”

Như vậy có thể thấy rằng ngay bản thân những người làm công tác giáo dục, các nhà quản lý cũng có cách nhìn nhận, quan niệm về chất lượng giáo dục đại học không thống nhất

Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo từ lâu nay chúng ta thường nói chất lượng thế này, chất lượng thế khác, phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo… nhất

là đối với các nhà trường, các cơ sở giáo dục khi mà họ đang phấn đấu để nâng cao chất lượng đào tạo Chất lượng và không ngừng nâng cao chất lượng được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và có ý nghĩa sống còn đến sự tồn tại và phát triển của mỗi nhà trường, đó cũng chính là thước đo để đánh giá, so sánh trường này với trường kia, cơ sở giáo dục này với cơ sở giáo dục khác Chất lượng đào tạo còn là cơ sở giúp các nhà quản

lý giáo dục và cả cộng đồng xã hội đánh giá, phân loại giữa các nhà trường Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưng chất lượng vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường vì cách hiểu, cách quan niệm và tiếp cận ở mỗi con người có sự khác nhau, khó thống nhất Không giống như trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ, chất lượng trong giáo dục đào tạo là một khái niệm rất trừu tượng, khó xác định nên khi tiếp cận ở góc độ này thì có cách hiểu chất lượng thế này, còn khi tiếp cận ở góc độ khác lại có cách hiểu và chất lượng khác đi

Một số quan niệm về chất lượng trong giáo dục đào tạo:

- Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã

đề ra đối với một chương trình đào tạo (Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp ĐHQGHN)

- Chất lượng đào tạo là kết quả của các quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành

Trang 20

Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là “con người lao động”, có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong hệ thống đào tạo Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên… và còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỉ lệ có việc làm sau khi tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc, cụ thể ở các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sản xuất, dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp

Chất lượng đào tạo trước hết phải là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp Quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lược đào tạo mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của thị trường, như qua hệ cung cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng

và bố trí công việc của nhà nước và người sử dụng lao động Do đó, khả năng thích ứng còn phản ảnh cả về hiệu quả đào tạo ngoài xã hội và thị trường lao động

Qua việc phân tích nội hàm từ các quan điểm và những cách tiếp cận trên,

chúng ta có thể đưa ra khái niệm “chất lượng” trong giáo dục đào tạo như sau: Chất lượng giáo dục của một nhà trường hay một cơ sở giáo dục phải được tuân thủ theo một quy trình chặt chẽ, nhằm đạt được các chuẩn mực đề ra

Trang 21

12

 Các mô hình quản lý chất lượng dịch vụ giáo dục đào tạo

Quản lý chất lượng là một thuật ngữ được sử dụng để miêu tả các phương pháp và quy trình được tiến hành nhằm kiểm tra, đánh giá các sản phẩm có đảm bảo được các thông số, các quy định và đạt được mục đích đặt ra hay không

Trong đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng, quản lý chất lượng đào tạo là quá trình tổ chức thực hiện có hệ thống các biện pháp quản lý toàn bộ quá trình đào tạo nhằm đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu người sử dụng lao động (từ khâu tìm hiểu nhu cầu thị trường lao động, thiết

kế chương trình đào tạo đến công tác tuyển sinh, tổ chức đào tạo và kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo)

Hiện nay có 3 mô hình quản lý chất lượng thường được sử dụng, đó là:

(1) Mô hình BS 5750/ISO 9000 của Anh: Bản chất của mô hình này là một hệ thống

các văn bản quy định tiêu chuẩn và quy trình chi tiết, nghiêm ngặt ở mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, đảm bảo cho mọi sản phẩm hay dịch vụ phải phù hợp với mẫu mã, quy cách, các thông số kỹ thuật quy định trước đó Theo quan điểm cơ bản của mô hình BS 5750/ISO 9000 thì đây là hệ thống chất lượng và phải có khả năng tạo ra các sản phẩm có chất lượng nhất quán

(2) Mô hình các yếu tố tổ chức: Mô hình này dựa vào các yếu tố để đánh giá: Chất

lượng “đầu vào”; chất lượng quá trình đào tạo; chất lượng “đầu ra”; chất lượng “sản phẩm” (kết quả đào tạo); chất lượng giá trị gia tăng (hiệu quả)

(3) Mô hình quản lý chất lượng tổng thể (TQM): Đây là mô hình có nguồn gốc từ

hoạt động thương mại và công nghiệp nhưng lại rất phù hợp với hoạt động giáo dục bởi: Đặc trưng của mô hình quản lý chất lượng tổng thể không áp đặt cho một hệ thống tiêu chuẩn cứng nhắc cho bất kỳ cơ sở đào tạo nào, nó bao trùm lên toàn bộ

cơ sở đào tạo; triết lý của mô hình quản lý chất lượng tổng thể là tất cả mọi người

dù ở cương vị nào, vào bất cứ thời điểm nào đều là người quản lý chất lượng những phần việc mà mình được giao và hoàn thành nó một cách tốt nhất, với mục đích tối cao là làm thoả mãn nhu cầu của khách hàng

Trang 22

13

Từ phân tích 3 mô hình trên ta thấy, mô hình BS5750/ISO 9000 của Anh cho rằng hệ thống chất lượng phải có khả năng tạo ra các sản phẩm có chất lượng nhất quán Điều này khó có thể áp dụng trong giáo dục đại học bởi lẽ khó có thể gọi người học, người hưởng thụ giáo dục đại học là “sản phẩm”, hơn nữa cho dù có định nghĩa thế nào về sản phẩm của giáo dục đại học đi chăng nữa thì cũng khó có thể tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng như nhau Do vậy mô hình này có lẽ được

sử dụng nhiều trong các ngành sản xuất kinh doanh và dịch vụ còn trong hoạt động giáo dục khi áp dụng mô hình này còn nhiều vấn đề chưa phù hợp vì: “Sản phẩm” trong lĩnh vực giáo dục đào tạo là “Con người” mà con người thì khó có chất lượng như nhau Còn mô hình quản lý chất lượng tổng thể (TQM)-một mô hình cũng có xuất xứ từ thương mại và công nghiệp nhưng tỏ ra phù hợp hơn với giáo dục đại học Nếu xem chất lượng là sự phù hợp, trùng khớp với mục tiêu thì hoạt động giáo dục đào tạo khi vận dụng mô hình này là phù hợp và hiệu quả hơn cả bởi vì: Tính khách quan và độ tin cây cao; chú trọng theo dõi và thoả mãn nhu cầu của người học; xác định mức chuẩn đặt ra theo nguồn lực hiện có; xác định lĩnh vực có thể cải tiến và sử dụng nguồn lực tác động

1.2.2 Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học

1.2.2.1 Khái niệm và mục tiêu

Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đào tạo nhằm đảm bảo với cộng đồng cũng như các tổ chức hữu quan rằng: Một cơ sở giáo dục hay một chương trình môn học có những mục tiêu đào tạo rõ ràng và phù hợp, bên cạnh đó còn có đủ các điều kiện để thực hiện và đạt được các mục tiêu cũng như có khả năng phát triển bền vững

Kiểm định chất lượng đào tạo đại học nhằm hai mục đích: Khẳng định rằng một chương trình, một khoa hay một trường nào đó đã đạt được hay vượt những chuẩn mực nhất định về chất lượng, từ đó hỗ trợ trường liên tục cải tiến chất lượng

“Kiểm định chất lượng giáo dục” là hoạt động đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ GD&ĐT quy định đối với trường ở từng trình độ đào tạo (theo quyết định số: 76/2007/QĐ-BGDĐT ngày 14/12/2007) Trong nghiên cứu này, chất lượng được hiểu là sự phù hợp với các mục tiêu đề ra; kiểm định chất lượng giáo dục đại học là hoạt động đánh giá và công nhận mức

Trang 23

14

độ cơ sở giáo dục đại học hoặc chương trình đào tạo đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục về nội dung, chương trình giáo dục

Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học là một quá trình trường đại học

tự đánh giá theo Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng, tiếp theo là đánh giá ngoài và Hội đồng (tổ chức/cơ quan) kiểm định chất lượng, dựa trên các báo cáo, sẽ đưa ra một quyết định công nhận một trường đại học hay một chương trình đào tạo của nhà trường đáp ứng các chuẩn mực đã quy định Một đánh giá không nhằm mục đích đưa ra một quyết định công nhận thì không gọi là kiểm định chất lượng

1.2.2.2 Vai trò

Thứ nhất, kiểm định chất lượng giáo dục giúp cho các nhà quản lý, các trường đại học xem xét toàn bộ hoạt động của nhà trường một cách có hệ thống để từ đó có

điều chỉnh các hoạt động của trường theo một chuẩn mực nhất định Đã có nhiều

quan điểm khác nhau về chất lượng đào tạo như chất lượng được đánh giá bởi đầu vào của sinh viên cho rằng chất lượng một trường đại học phụ thuộc vào chất lượng đầu vào của sinh viên được tuyển vào trường đó tức là trường nào có điểm tuyển sinh cao là có chất lượng cao

Một số quan điểm khác về chất lượng giáo dục đại học cho rằng “đầu vào” của giáo dục đại học có tầm quan trong hơn nhiều so với “đầu ra” “Đầu ra” chính là sản phẩm của giáo dục đại học được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó Chất lượng đầu ra thể hiện chủ yếu thông qua kết quả học tập của sinh viên, ở bảng điểm của sinh viên Trong điều kiện hiện nay mỗi trường có hệ thống phương pháp đánh giá, cách cho điểm khác nhau nên bảng điểm “đẹp” chưa hẳn là sinh viên xuất sắc Thực tế này cho thấy rất nhiều sinh viên đã tốt nghiệp ở các trường với bằng tốt nghiệp loại giỏi vẫn xin học bằng hai đúng chuyên ngành đó ở một trường đại học khác

Những quan niệm trên chỉ cho thấy một khía cạnh của chất lượng đào tạo Vì vậy, chỉ thông qua kiểm định chất lượng mới có cái nhìn tổng thể về toàn bộ hoạt động của nhà trường từ đó đánh giá chính xác chất lượng của trường đó

Trang 24

15

Bản thân kiểm định chất lượng không tạo ra ngay chất lượng đào tạo mà nó là tấm gương phản ánh chất lượng đào tạo Giống như người soi gương, bản thân cái gương không thể làm cho người ta đẹp hơn nhưng thông qua việc soi gương người ta biết được những mặt mạnh, mặt yếu của mình để từ đó có hành vi ứng xử phù hợp

Thứ hai, kiểm định chất lượng giúp cho các trường đại học định hướng và xác

định chuẩn chất lượng nhất định Theo quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT của Bộ

trưởng Bộ GD&ĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học, nhà trường được kiểm định và đánh giá toàn diện các mặt hoạt động của trường với mười tiêu chuẩn Mỗi tiêu chuẩn có nhiều tiêu chí cụ thể Các tiêu chuẩn này chính là các định hướng cho việc xây dựng và phát triển nhà trường trong giai đoạn hiện nay

Ở đây chúng ta cũng cần nhận thức rằng các tiêu chuẩn được nêu trong quyết định 65/2007 là mức tối thiểu mà các trường cần phải đạt được nhằm ĐBCL đào tạo Thông qua việc kiểm định chất lượng, mỗi trường đại học sẽ phải từng bước xác định chuẩn cho từng hoạt động trong quá trình đào tạo, từ đó ĐBCL đầu ra Có thể nói “chiếc thước kiểm định chất lượng” có tính định hướng rất tốt, rất cụ thể cho các trường

Thứ ba, kiểm định chất lượng tạo ra cơ chế ĐBCL vừa linh hoạt, vừa chặt chẽ

Cơ chế ĐBCL bao gồm tự đánh giá và đánh giá bên ngoài Kết quả của mỗi quá trình

là các báo cáo tự đánh giá và báo cáo đánh giá ngoài Để thực hiện tốt cơ chế này, mỗi trường đại học cần xây dựng hệ thống ĐBCL nội bộ (Internal Quality Assurance – IQA) đồng thời Bộ GD&ĐT, các tổ chức kiểm định độc lập và các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác thực hiện ĐBCL bên ngoài (External Quality Assurance – EQA) Giữa ĐBCL nội bộ và ĐBCL bên ngoài luôn có thông tin phản hồi của mỗi hoạt động, mỗi quá trình Do đó, tính phản biện, tranh luận để đi đến thống nhất về chất lượng được đảm bảo Cơ chế ĐBCL được thể hiện trong sơ đồ dưới đây

Qua thực thế các trường đại học đã tiến hành kiểm định năm 2005-2006, các bản báo cáo tự đánh giá của các trường là báo những báo cáo rất đầy đủ, chi tiết và

cụ thể về hiện trạng chất lượng của trường Báo cáo đã chỉ rõ những mặt mạnh, những mặt hạn chế đồng thời định ra phương hướng hoàn thiện, củng cố và nâng

Trang 25

16

cao chất lượng của trường Nhiều nhà quản lý đã khẳng định, nếu so với các báo cáo thường niên mà nhà trường lập thì báo cáo tự đánh giá là báo cáo đầy đủ nhất, hệ thống nhất

Một điểm đáng lưu ý nữa là trong quá trình kiểm định, tính phản biện đã được chú trọng Sau khi báo cáo tự đánh giá được hoàn thành, nhà trường được đánh giá ngoài Theo qui định hiện hành, việc đánh giá ngoài do những chuyên gia am hiểu

về công tác kiểm định chất lượng và có kinh nghiệm trong quản lý tiến hành Việc đánh giá ngoài là cái nhìn khách quan về chất lượng nhà trường Việc đánh giá ngoài vừa phản biện báo cáo tự đánh giá của nhà trường, vừa bảo đảm lợi ích của xã hội, của nhà tuyển dụng, sinh viên – những đối tượng mà ta thường gọi là khách hàng của nhà trường Hoạt động này góp phần giải quyết các vấn đề đang tồn tại hiện nay là các trường đại học luôn tuyên bố chất lượng đào tạo của họ cao, đảm bảo đáp ứng yêu cầu của xã hội, nhưng xã hội và các nhà tuyển dụng lại thường ca thán rằng chất lượng đào tạo hiện nay chưa tốt, không đáp ứng yêu cầu của họ Như vây, giữa nhà trường và các doanh nghiệp, xã hội,… đã không có tiếng nói chung về chất lượng đào tạo Để có thể giải quyết vấn đề này cần thông qua bên thứ ba là thông qua cuộc đánh giá khách quan từ bên ngoài – một thành tố của kiểm định chất lượng Đánh giá ngoài giúp cho nhà trường nhìn nhận lại chất lượng hiện tại của mình và tuyên bố với khách hàng của trường về hiện trạng chất lượng của trường

1.2.2.3 Nội dung kiểm định

Thực tiễn kiểm định chất lượng giáo dục đào tạo khá đa dạng và phức tạp, nhưng nội dung kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học gồm một quy trình

có 4 bước như sau:

Bước 1: Xây dựng hoặc cập nhật các công cụ kiểm định chất lượng

Bước 2: Tự đánh giá của nhà trường

Bước 3: Đánh giá từ bên ngoài (đánh giá đồng nghiệp)

Bước 4: Công nhận những trường hoặc những chương trình đào tạo đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng

Trang 26

17

Trong bước thứ nhất, các công cụ kiểm định chất lượng bao gồm các tiêu chuẩn/ tiêu chí, các văn bản hướng dẫn và đặc biệt là khung pháp lý cho loại công việc này Ví dụ: Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đại học

Ở đây, tiêu chuẩn được hiểu là mức độ yêu cầu và các đòi hỏi mà nhà trường hay các chương trình đào tạo của nhà trường phải đáp ứng để được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định Các đòi hỏi này bao hàm những yêu cầu về chất lượng, kết quả đạt được, tính hiệu quả, khả năng tài chính vững vàng, sự tuân theo các quy định và luật lệ quốc gia, và sự ổn định của nhà trường

Với cách hiểu này thì tiêu chuẩn chất lượng khá trừu tượng, còn rất định tính

Để dễ đo đếm hơn, các tiêu chuẩn được chia thành các tiêu chuẩn con ít định tính hơn, được gọi là tiêu chí (Ở một số nước như Mỹ và Bắc Mỹ, khái niệm “tiêu chí” được dùng như “tiêu chuẩn”, nhưng ở châu Âu thì “tiêu chí” được dùng theo nghĩa hẹp hơn tiêu chuẩn) Trong bản báo cáo này, các tiêu chí được hiểu là các tiêu chuẩn con dùng để kiểm định công nhận một trường hay một chương trình đào tạo của nhà trường

Ở bước thứ 2, nhà trường sử dụng các công cụ kiểm định chất lượng để triển khai tự đánh giá trong phạm vi một chương trình đào tạo hay trong phạm vi toàn bộ nhà trường Đây là một quá trình tiêu tốn nhiều thời gian và công sức Tự đánh giá không chỉ đơn thuần là viết một báo cáo phê và tự phê Tự đánh giá là một quá trình

tự học tập, tự nghiên cứu và tự hoàn thiện theo các chuẩn mực đã ban hành để nhà trường hay chương trình đào tạo được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định Quá trình này thường kéo dài từ 6 tháng đến 18 tháng Ở Mỹ, quá trình tự đánh giá thường kéo dài 18 tháng Đó là khoảng thời gian cần thiết để nhà trường tự nhận thấy những khiếm khuyết của mình và phấn đấu để khắc phục những khiếm khuyết

đó Ở nhiều nước châu Âu, tuy trước đây chưa áp dụng qui trình kiểm định nhưng

đã sử dụng tự đánh giá như một công cụ tự hoàn thiện nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

Trang 27

do các chuyên gia tốt nhất trong cùng một lĩnh vực chuyên môn triển khai thực hiện Quá trình đánh giá đồng nghiệp nhằm làm sáng tỏ thêm những vấn đề chưa được đề cập đầy đủ trong báo cáo tự đánh giá và nhằm tăng thêm tính giá trị của chính bản báo cáo tự đánh giá Một biện pháp để kiểm soát tính trung thực của báo cáo tự đánh giá và báo cáo của đoàn chuyên gia đánh giá bên ngoài là công bố công khai hai báo cáo này trên các thông tin đại chúng

Khác với các hình thức đánh giá được sử dụng ở Anh quốc và một số nước khác, không có một sự công nhận chính thức kết quả đạt được của từng trường hay của từng ngành đào tạo sau mỗi đợt đánh giá, trong qui trình kiểm định chất lượng, những trường đại học hay ngành đào tạo đạt được các tiêu chuẩn kiểm định đều được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kiểm định Điều này cũng tương

tự như các doanh nghiệp đang được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO Việc một trường đại học hay một ngành đào tạo được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định là một sự xác nhận rằng nhà trường hay chương trình đào tạo đó có đủ các điều kiện cần thiết để đảm bảo là sẽ đào tạo được những sinh viên tốt nghiệp đáp ứng được mục tiêu đào tạo của nhà trường

Ở bước thứ ba, đánh giá bên ngoài (đánh giá đồng nghiệp) là quá trình trường được một đơn vị công nhận có đủ năng lực đánh giá nhằm đưa ra một quyết định công nhận một trường đại học hay một chương trình đào tạo của nhà trường đáp ứng các chuẩn mực quy định (SEAMEO, 2003) Mục đích chính của kiểm định chất lượng là nhằm đảm bảo đạt được những chuẩn mực nhất định trong đào tạo, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng nguồn nhân lực và đảm bảo quyền lợi cho người học Kiểm định còn nhằm mục đích giải trình với xã hội, với các cơ quan quản lý, tổ chức tài trợ, cấp kinh phí Việc một trường đại học hay một chương trình đào tạo

Trang 28

19

được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định là một sự xác nhận rằng nhà trường hay chương trình đào tạo đó có đủ các điều kiện cần thiết để đảm bảo là sẽ đào tạo được những sinh viên tốt nghiệp đáp ứng được mục tiêu đào tạo của trường Thông thường quá trình đánh giá ngoài thường sau khi trường thực hiện tự đánh giá

Căn cứ trên báo cáo tự đánh giá của nhà trường, các chuyên gia đánh giá bên ngoài nghiên cứu báo cáo tự đánh giá, tiến hành đánh giá tại hiện trường, viết báo cáo và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định công nhận đối với trường hoặc cơ sở đào tạo đáp ứng các yêu cầu Chu kỳ kiểm định đối với một trường hoặc

cơ sở đào tạo là 5 năm, sau 5 năm trường hoặc cơ sở đào tạo được công nhận phải tiến hành đánh giá lại để tái chứng nhận Trong thời gian này, tùy tình hình thực tế

có thể có những cuộc đánh giá đặc biệt để kiểm tra tính hiệu lực của giấy chứng nhận đã cấp

1.2.2.4 Tiêu chuẩn Kiểm định

 Các tiêu chuẩn KĐCLDVGDĐH trên thế giới

Trong hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tồn tại ít nhất một tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục Cơ chế và quy định về các tiêu chuẩn Kiểm định chất lượng không đồng nhất giữa các quốc gia và ngay trong từng quốc gia (nếu trong quốc gia đó có nhiều tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học khác nhau) Xin đơn cử tại Hoa Kỳ, là nơi khởi xướng khái niệm kiểm định chất lượng, và có bề dầy kinh nghiệm trên 100 năm về kiểm định chất lượng, có 7 tổ chức kiểm định chất lượng các trường đại học và cao đẳng theo 7 vùng của Hoa Kỳ Các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của các Vùng không hoàn toàn giống nhau, nhưng đều tập trung đánh giá chất lượng đầu vào, quá trình và đầu ra Bên cạnh đó tại Hoa Kỳ, còn

có 4 tổ chức kiểm định chất lượng cho các trường đại học và cao đẳng thuộc các tín ngưỡng khác nhau, hai tổ chức kiểm định chất lượng các loại hình đào tạo đặc thù (thí dụ: đào tạo từ xa) và 50 tổ chức kiểm định chất lượng các chương trình đào tạo các chuyên ngành khác nhau Căn cứ trên những mực tiêu và những yêu cầu nhất định, các tổ chức kiểm định chất lượng xây dựng những tiêu chí đánh giá về kiểm

Trang 29

- Tiêu chuẩn 1: Sứ mạng và mục đích (5 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 2: Lập kế hoạch và đánh giá (12 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 3: Tổ chức và quản lý (12 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 4: Chương trình đào tạo (51 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 5: Giảng viên (22 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 6: sinh viên (bao gồm cả học viên và nghiên cứu sinh) (18 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 7: thư viện và các nguồn thông tin (12 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 8: cơ sở vật chất và công nghệ thông tin (6 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 9: Các nguồn tài chính (14 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 10: Công khai (14 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 11: Tính trung thực, trách nhiệm và đạo đức (11 tiêu chí)

Tổ chức ĐBCL của Châu Âu (ENQA) có 15 tiêu chí kiểm định chất lượng Mạng lưới ĐBCL của các trường hàng đầu Đông Nam Á (AUN-QA) có 11 tiêu chuẩn để kiểm định chất lượng trường đại học, bao gồm:

Trang 30

21

- Sự hài lòng của các bên liên quan

- ĐBCL và vươn tới chuẩn mực quốc tế

Và 18 tiêu chuẩn để kiểm định chất lượng chương trình đào tạo như sau:

- Mục tiêu và kết quả kỳ vọng

- Nội dung chương trình đào tạo

- Khung chương trình

- Tổ chức chương trình đào tạo

- Triết lý sư phạm/ chiến lược dạy và học

- Kiểm tra đánh giá sinh viên

- Sinh viên đánh giá môn học

- Thiết kế chương trình môn học

- Các hoạt động phát triển cán bộ/ nhân viên

- Phản hồi từ các bên liên quan

- Kết quả đầu ra

- Sự hài lòng của các bên liên quan

Nếu so sánh các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ với Châu Âu và với Đông Nam Á, có thể thấy số lượng các tiêu chuẩn khác nhau, nhưng tất cả đều tập trung đánh giá chất lượng đầu vào, quá trình đào tạo và chất lượng đầu ra của trường đại học Nếu đi sâu vào những yêu ầu trong mỗi tiêu chí, chúng ta sẽ thấy yêu cầu của mỗi quốc gia, mỗi châu lục sẽ có những điểm khác nhau, phản ánh đặc thù văn hóa và sự phát triển của xã hội của nước đó, cũng như những đòi hỏi của thị trường lao động địa phương và quốc tế Chính vì vậy nếu so sánh về chất lượng của các trường đại học đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng, ta

Trang 31

22

sẽ thấy chất lượng của các trường đại học trong mỗi quốc gia khác nhua, và chất lượng của các trường đại học đã kiểm định chất lượng trong cùng một quốc gia cũng khác nhau Sở dĩ có sự khác nhau về chất lượng như vậy là vì kiểm định chất lượng sử dụng các tiêu chí đánh giá chất lượng dựa trên sứ mạng và mục tiêu của từng trường

 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục các trường đại học của Việt Nam Các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường đại học do Bộ GD&ĐT ban hành lần đầu tiên vào ngày 02/12/2004 (Kèm theo quyết định số 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/12/2004) có 10 tiêu chuẩn bao gồm 53 tiêu chí với 2 mức đạt được cho mỗi tiêu chí (Mức 1 thấp nhất và mức 2 cao nhất) Sau khi đã thí điểm kiểm định chất lượng 20 trường đại học, Bộ GD&ĐT đã chỉnh sửa lại các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng và đến ngày 01/11/2007, Bộ GD&ĐT ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học (thay thế các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đã ban hành năm 2004) theo quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT, bao gồm

10 tiêu chuẩn với 61 tiêu chí (không có các mức 1 và mức 2, mà chỉ là “đạt” hoặc

“không đạt”) Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học bao gồm:

- Tiêu chuẩn 1: Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học (2 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 2: Tổ chức và quản lý (7 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 3: Chương trình đào tạo (6 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 4: Các hoạt động đào tạo (7 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 5: Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên (8 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 6: Người học (9 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 7: Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ (7 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 8: Hoạt động hợp tác quốc tế (3 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 9: Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác (9 tiêu chí)

- Tiêu chuẩn 10: Tài chính và quản lý tài chính (3 tiêu chí)

Trang 32

23

Nhìn tổng thể, các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học của Việt Nam cũng bao gồm đánh giá đầu vào, quá trình và đánh giá đầu ra Tuy nhiên, nếu so sánh cụ thể về các yêu cầu trong các tiêu chí, ta sẽ thấy có nhiều điểm khác nhau, đặc biệt là mức độ của các yêu cầu Tuy nhiên vấn đề chính cần bàn chưa phải

là các mức độ của các yêu cầu mà là quy trình đánh giá chất lượng và việc sử dụng kết quả đánh giá chất lượng của chúng ta như thế nào?

Chúng ta chưa có một tổ chức kiểm định chất lượng độc lập để triển khai đánh giá chất lượng các trường đại học, đội ngũ những người thực hiện công tác đánh giá chưa được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng đánh giá, mặc dù trúng thầu để thực hiện việc đánh giá là nhà thầu nước ngoài Nhưng thực chất, các nhà thầu nước ngoài chỉ tập huấn về kỹ năng đánh giá cho các đánh giá viên, họ không tư vấn hoặc không có những chỉ đọa về kỹ thuật trong quá trình triển khai đánh giá ngoài 40 trường đại học của Việt Nam

Thêm vào đó, quá trình công nhận kết quả đánh giá chất lượng bị kéo dài Đồng thời những trường đạt tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thì sẽ khác gì với những trường chưa được đánh giá chất lượng hoặc đánh giá chất lượng nhưng không đạt yêu cầu? Điều này chưa được rõ ràng trong các Quy định liên quan về đánh giá chất lượng hoặc Kiểm định chất lượng

Trong quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp của Bộ GD&ĐT (kèm theo quyết định số 76/2007/QĐ-BGDĐT, ban hành ngày 14/12/2009), đưa ra các yêu cầu và trách nhiệm đối với các trường được công nhận đạt các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng và việc thu hồi Chứng chỉ đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng, nếu trường không tiếp tục phấn đấu hoặc có những vi phạm Quy định không đưa ra những quyền lợi mà trường sẽ được hưởng thụ khi đạt các tiêu chuẩn chất lượng

Quy định cũng không đưa ra những yêu cầu hoặc những quy định bắt buộc gì đối với các trường đại học không đạt tiêu chuẩn đánh giá chất lượng Nếu tiếp cận ở góc độ này, các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng và quy định về kiểm định chất lượng

sẽ không tạo ra được tác động để các trường đại học và cao đẳng nâng cao chất

Trang 33

24

lượng Vì kết quả của đánh giá chất lượng giáo dục đại học, đạt hay không đạt, các trường đại học vẫn nhận được kinh phí từ ngân sách Nhà nước (đối với các trường công lập), chỉ tiêu tuyển sinh không thay đổi, các nhà quản lý của nhà trường có lẽ cũng không được thưởng hoặc bị phạt gì? Vậy đánh giá chất lượng giáo dục đại học

có làm thay đổi thực sự chất lượng các trường đại học không?

1.2.2.5 Sử dụng kết quả kiểm định

Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục là hoạt động đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng do đơn vị quản lý quy định đối với từng trình độ đào tạo Kết quả đánh giá ngoài, đánh giá lại (nếu có) được sử dụng làm cơ

sở để Hội đồng quốc gia kiểm định chất lượng giáo dục thẩm định và đề nghị Bộ trưởng Bộ GD&ĐT công nhận hoặc không công nhận trường đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục

Việc thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục đòi hỏi cơ sở đào tạo phải bỏ

ra những chi phí không nhỏ về sức lực và tiền bạc Để khuyến khích các cơ sở này

tự giác, chủ động thực hiện kiểm định và nâng cao chất lượng giáo dục, cần phải tạo lập môi trường để các cơ sở có kết quả kiểm định tốt có thể được hưởng lợi: thu hút được nhiều sinh viên, được nhà nước ưu đãi…

1.3 Kinh nghiệm kiểm định chất lượng giáo dục đại học của một số nước trên thế giới

1.3.1 Kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở Thái Lan

ĐBCL – được giới thiệu qua hệ thống kiểm tra chất lượng nhà trường, kiểm định chất lượng bên ngoài và kiểm định công nhận – nhằm vào các mục tiêu giáo dục đại học, sự thực hiện, các kết quả học tập hay các chỉ số học tập và cải tiến chất lượng Về cơ cấu tổ chức, hoạt động ĐBCL được chia thành hai mảng độc lập nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau: ĐBCL bên trong do Bộ Công tác Đại học (MUA – the Ministry of University Affairs) quản lý, còn ĐBCL bên ngoài do Cục tiêu chuẩn giáo dục và đánh giá chất lượng quốc gia (Office for National Educational Standards and Quality Assessment – ONESQA) quản lý

Trang 34

25

Chức năng của Cục tiêu chuẩn giáo dục và đánh giá chất lượng quốc gia: thăm trường, cung cấp thông tin cho trường và Bộ Công tác đại học, viết báo đánh giá, giám sát chất lượng đào tạo của các đơn vị Trong khi đó chức năng của Bộ Công tác đại học: đẩy mạnh phong trào chất lượng trong toàn quốc, cụ thể là tổ chức xây dựng hệ thống ĐBCL hoạt động thường xuyên ở các trường, hỗ trợ các trường/ khoa, viện nghiên cứu về ĐBCL quốc tế, xã hội hóa công tác ĐBCL, liên kết các trường – ONESQA – các tổ chức ĐBCL quốc tế Đồng thời, Bộ Công tác đại học ở Thái Lan yêu cầu các trường đại học phải có một hệ thống ĐBCL bên trong trường đại học và cung cấp cho các trường đại học các hướng dẫn với chín lĩnh vực chuẩn chuyên môn

mà các trường đại học phai phát triển bên trong trường mình, bao gồm: sứ mệnh, mục tiêu, kế hoạch; giảng dạy và học tập; các hoạt động vui chơi giải trí của sinh viên; nghiên cứu; dịch vụ giáo dục phục vụ xã họi; giữ gìn văn hóa và nghệ thuật; quản lý hành chính; ngân sách; đảm bảo và nâng cao chất lượng

Hệ thống ĐBCL của từng trường đại học phải thường xuyên cập nhật để đáp ứng các chuẩn mực được yêu cầu Hầu hết các hệ thống ĐBCL của các trường đại học công lập ở Thái Lan dựa trên nguyên tắc là một mô hình “Đầu vào – Quá trình – Đầu ra” và đều phải tập trung vào việc dạy và học Điểm chủ yếu trong hệ thống ĐBCL của Thái Lan là trường đại học phải thành lập, có dẫn chứng bằng tài liệu, thực hiện, duy trì và liên tục cải tiến hệ thống của mình

Hệ thống ĐBCL và đánh giá trường đại học ở Thái Lan bao gồm các đánh giá trong và đánh giá ngoài Các trường đại học chịu trách nhiệm với đánh giá trong, bao gồm việc chuẩn bị tài liệu, bằng chứng, và các trang bị cần thiết cho các

cơ quan đánh giá ngoài Nhằm ĐBCL của hệ thống giáo dục bên trong mỗi trường đại học Thái Lan áp dụng các cơ chế kiểm tra và kiểm toán chất lượng Hiện nay, Cục tiêu chuẩn giáo dục và đánh giá chất lượng quốc gia thực hiện các đánh giá ngoài đối với các trường đại học theo chu kỳ năm năm một lần và trường nào đạt được các tiêu chí chất lượng sẽ được cấp giấy chứng nhận

1.3.2 Kiểm định chất lượng ở Anh Quốc

Thẩm định chất lượng ở Anh Quốc được cục bảo đảm chất lượng thuộc Hội đồng Hiệu trưởng các trường đại học chịu trách nhiệm dựa trên nguyên tắc không

Trang 35

Những cơ chế và cấu trúc được quan tâm trong quá trình kiểm định là: Cơ chế ĐBCL trong thiết kế, tổ chức các khoá học, các chương trình đào tạo, xây dựng

kế hoạch, giám sát giảng dạy các môn học, trao đổi trong giảng dạy, giám sát sự tiến bộ của sinh viên, khuyến khích sự sáng tạo trong sử dụng phương pháp, thiết bị mới, quản lý đội ngũ giảng viên như đánh giá, ý kiến phản hồi của sinh viên, của các cơ quan kiểm nhận người sử dụng lao động

Quá trình thẩm định gồm 3 bước: Tìm hiểu thu thập thông tin về cơ sở giáo dục hay trường đại học được thẩm định; viếng thăm trường đại học được thẩm định; viết báo cáo được thẩm định

Kết quả thẩm định không có ý nghĩa trực tiếp đến việc cấp tài chính đại học

ở Anh Quốc mà chỉ giúp các trường đại học nâng cao chất lượng Kết quả thẩm định có tác dụng báo trước cho lãnh đạo nhà trường những điểm yếu của việc thực hiện cơ chế và quy trình ĐBCL đã có để nhà trường tìm cách cải tiến

1.3.3 Kiểm định chất lượng ở Hoa Kỳ

Mục đích kiểm định chất lượng ở Hoa Kỳ là chứng nhận cơ sở giáo dục đại học đạt dược những tiêu chuẩn cơ bản về nguồn lực và các chỉ số thực hiện để củng cố chất lượng, khuyến khích tự đánh giá, ủng hộ tăng cường tự quản và đảm bảo với công chúng rằng cơ sở giáo dục đại học đạt được những chuẩn mực chất lượng cơ bản

Hoa Kỳ hiện có khoảng 100 cơ quan phi chính phủ tham gia kiểm định các

cơ sở giáo dục đại học và chương trình đào tạo, trong đó có 6 tổ chức kiểm định vùng và 9 tổ chức kiểm định liên bang Các tổ chức kiểm định Quốc gia và vùng được Hội đồng kiểm định giáo dục công nhận với tư cách pháp nhân Chính quyền các tiểu bang sử dụng kết quả kiểm định của các tổ chức kiểm định vùng để xác định mức tài chính sẽ cung cấp cho các cơ sở giáo dục đại học

Trang 36

27

Có hai hình thức kiểm định được sử dụng chính ở Hoa Kỳ:

- Kiểm định cấp trường: Đánh giá cơ sở giáo dục đại học như một thực thể thống nhất trong các lĩnh vực đào tạo, quản lý, cung cấp dịch vụ cho sinh viên, nguồn tài chính và cơ sở vật chất, thiết bị Kiểm định dựa trên các chuẩn mực được các cơ sở giáo dục đại học xây dựng theo tuyên bố sứ mạng và các mục tiêu được cộng đồng của các cơ sở giáo dục đại học nhất trí

- Kiểm định chương trình (ngành) đào tạo: Do các tổ chức kiểm định chuyên ngành tiến hành, áp dụng trong các lĩnh vực đào tạo nhất định Việc kiểm định chương trình đào tạo, đánh giá chương trình theo các mục tiêu tuyên bố, theo các chuẩn mực đã xác lập và xác định mức độ đạt các chuẩn mực đó

Quá trình kiểm định bao gồm việc đánh giá định tính và định lượng, từ việc

sử dụng các chỉ số chi tiết để đánh giá kết quả đầu ra của các cơ sở giáo dục đại học và các chương trình đào tạo Kết quả kiểm định có rất nhiều ý nghĩa Đối với các cơ sở giáo dục đại học và các chương trình đào tạo, kiểm định nhằm khuyến khích tự đánh giá và nâng cao chất lượng Kiểm định đảm bảo sự phù hợp giữa đào tạo với sử dụng và tăng cường sự hợp tác trong nhà trường

1.3.4 Bài học Kinh nghiệm cho ĐHQGHN

Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu một số mô hình đánh giá và kiểm định chất lượng của một số nước trên thế giới như trên, chúng ta có thể khái quát một số nét

cơ bản là bài học kinh nghiệm cho ĐHQGHN trong công tác KĐCLDVGDĐH

- Đơn vị đánh giá kiểm định chất lượng: Tuỳ thuộc vào thực tế của từng quốc

gia mà đơn vị tham gia đánh giá và kiểm định chất lượng có thể là: Trực tiếp từ chính phủ, tổ chức phi chính phủ hoặc từ các tổ chức khác mà được sự khuyến khích và hậu thuẫn của chính phủ: Bộ giáo dục, các trường giáo dục và cao đẳng

- Chức năng của cơ quan đánh giá: Đa phần các nước trên thế giới cho rằng,

chức năng chính của cơ quan kiểm tra, đánh giá là điều phối các hoạt động đánh giá, bao gồm cả việc lập kế hoạch đánh giá, khung phương pháp luận và cả nội dung đánh giá Hay nói cách khác cơ quan đánh giá có chức năng quản lý hành chính Chức năng

và nhiệm vụ của cơ quan đánh giá có ảnh hưởng, tác động đén phương thức đánh giá

Trang 37

28

Nhìn chung, chính phủ giám sát chặt chẽ để các đợt đánh giá được tiến hành theo một

số nguyên tắc và phương pháp cơ bản Những nguyên tắc này được phát triển và cải tiến thường xuyên để đảm bảo việc đánh giá thành công và phù hợp với từng trường đại học và cao đẳng Tuy nhiên các cơ quan đánh giá không trực tiếp tham gia vào quá trình đánh giá mà giao cho các chuyên gia, các chuyên gia có trách nhiệm liên hệ với các trường đại học và cao đẳng để lên kế hoạch và tiến hành đánh giá từng trường, cuối cùng là chuẩn bị báo cáo tổng kết đợt đánh giá

- Mục đích của đánh giá và kiểm định chất lượng: Đánh giá và kiểm định

chất lượng không nằm ngoài mục đích là khẳng định vị thế của mỗi nhà trường với

cơ quan hữu trách cũng như các đơn vị trường bạn, qua đó để không ngừng cải tiến

để nâng cao chất lượng của các trường Thông qua việc đánh giá và kiểm định chất lượng sẽ giúp cho các nhà trường tự nhìn lại chính chất lượng đào tạo của mình hoặc có thể so sánh với các trường khác về chất lượng cũng như các điều kiện ĐBCL có những mặt mạnh nào? Có những điểm yếu gì? Qua đó một mặt nhận rõ được thực tế chất lượng của mình, mặt khác có thể tiến hành những hoạt động cải tiến hoặc điều chỉnh những chuẩn mực, tiêu chuẩn phù hợp hơn Với mong muốn ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục dào tạo của mỗi nhà trường, tạo lòng tin trong sinh viên và cả cộng đồng

- Phạm vi của các quy trình đánh giá: Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới

mới chỉ dừng ở phạm vi đánh giá chất lượng ở các trường đại học và cao đẳng Thực tế cho thấy, do sự khác biệt giữa các quốc gia cũng như hệ thống giáo dục được xây dựng trên những nguyên tắc khác nhau, nên điều này có ảnh hưởng đến tính toàn diện của quy trình đánh giá Tuy nhiên có một sự thống nhất chung của cả hai khu vực đại học và phi đại học Đó là, cùng một phương pháp có thể áp dụng được cho cả hai khu vực miễn là nội dung đánh giá cần phải được điều chỉnh theo các chủ đề trọng tâm, như công tác nghiên cứu, các mối quan hệ với thị trường, đào tạo tại chỗ…

- Các kiểu đánh giá: Thông thường khi tiến hành đánh giá có năm kiểu

chính: Đánh giá môn học; đánh giá chương trình; đánh giá toàn diện; kiểm toán và kiểm định chất lượng

Trang 38

29

- Các yếu tố của phương pháp đánh giá: Phần lớn các nước trên thế giới đều

dựa vào các yếu tố phương pháp đánh giá để khởi xướng các quy trình đánh giá có

hệ thống cấp nhà nước Phương pháp này gồm các yếu tố cơ bản sau: Sự tuân thủ hay sự độc lập trong việc áp dụng các quy trình và phương pháp đối với chính phủ cũng như các trường đại học, tự đánh giá, đánh giá bên ngoài, đánh giá đồng cấp

- Các lĩnh vực đánh giá và kiểm định chất lượng: Hiện nay hầu hết các nước trên

thế giới khi tiến hành hoạt động đánh giá và KĐCL đuợc thực hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy việc lực chọn các lĩnh vực có khác nhau nhung tựu chung lại khi đánh giá và KĐCL của các nước đều được thực hiện một cách toàn diện trên nhiều kĩnh vực khác nhau như: tổ chức quản lý, quá trình đào tạo, đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên, cơ sở vật chất, tài chính…

Trang 39

30

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được tác giả thực hiện tại các trường, khoa và cơ sở đào tạo trực thuộc ĐHQGHN

2.2 Hướng tiếp cận trong nghiên cứu

Bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng như một phương tiện

để khám phá chính đối tượng đó Phương pháp nghiên cứu là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo Thông tin thu thập luôn tồn tại dưới dạng định tính hoặc định lượng Đối tượng khảo sát luôn được xem xét ở cả khía cạnh định tính

và định lượng Hoàn toàn có khả năng là không thể tìm được các thông tinh định lượng vì một lý do nào đó Trong trường hợp đó, phải chấp nhận thông tin định tính

là duy nhất Tiếp cận định tính và định lượng dù bắt đầu từ đâu trước, cuối cùng cũng phải đi đến mục tiêu cuối cùng là nhận thức bản chất định tính của sự vật

Các nghiên cứu hiện đại thường sử dụng các số liệu định lượng nhằm đưa ra các bằng cứ để chứng minh hay kiểm nghiệm các giả thuyết, nhất là các số liệu thu được qua các cuộc điều tra chọn mẫu Tuy nhiên, bản thân các cuộc điều tra đó thường không đủ khả năng đem lại các dữ liệu định tính cần thiết để giải thích sự phức tạp nằm bên trong những hiện tượng được khảo sát Mặt khác, các câu hỏi đóng được sử dụng

để thu thập các thông tin định lượng nếu không được thiết kế và thử nghiệm cẩn thận,

có thể bị người được nghiên cứu hiểu sai, dẫn đến sự giải thích sai của người phân tích

Do đó những dữ liệu định lượng rất cần được bổ sung những kỹ thuật định tính để giúp cho việc xác định thang đo, xây dựng câu hỏi được tốt hơn hoặc tạo ra sự hiểu biết sâu sắc hơn và hỗ trợ cho việc giải thích những vấn đề được nghiên cứu Do đó, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phối hợp nhiều phương pháp để hỗ trợ và kiểm tra lẫn nhau nhằm khẳng định các kết quả nghiên cứu Quy trình tổ chức nghiên cứu được thực hiện theo 4 bước được mô tả như bảng sau:

Trang 40

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến các chuyên gia, nhà quản lý giáo dục để xác định mục đích, yêu cầu, nội dung của vấn đề nghiên cứu

- Phỏng vấn sâu: Nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã

đề ra, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với đối tượng phỏng vấn là các cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ làm công tác đảm bảo và kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục tại các cơ sở đào tạo của ĐHQGHN Nội dung các câu hỏi trong phỏng vấn sâu chủ yếu tập trung vào các nội dung sau: (1) thực trạng công tác xây dựng và cập nhật các công

cụ kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục tại ĐHQGHN; (2) nguồn lực thực hiện công tác kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục; và cuối cùng là (3) thực trạng hoạt động tự đánh giá và đánh giá bên ngoài chương trình đào tạo và cơ sở đào tạo thuộc ĐHQGHN

Ngày đăng: 25/02/2016, 10:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 2.1  Qui trình thực hiện nghiên cứu  31 - Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ở đại học quốc gia hà nội
1 Bảng 2.1 Qui trình thực hiện nghiên cứu 31 (Trang 8)
1  Hình 3.1  Mô hình ĐBCL bên trong ĐHQGHN  39 - Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ở đại học quốc gia hà nội
1 Hình 3.1 Mô hình ĐBCL bên trong ĐHQGHN 39 (Trang 9)
Bảng 2.1. Qui trình thực hiện nghiên cứu - Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ở đại học quốc gia hà nội
Bảng 2.1. Qui trình thực hiện nghiên cứu (Trang 40)
Hình 3.1. Mô hình ĐBCL bên trong ĐHQGHN - Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ở đại học quốc gia hà nội
Hình 3.1. Mô hình ĐBCL bên trong ĐHQGHN (Trang 48)
Hình 3.2. Mô hình ĐBCL theo AUN - Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ở đại học quốc gia hà nội
Hình 3.2. Mô hình ĐBCL theo AUN (Trang 49)
Hình 3.3. Mô hình ĐBCL đào tạo tại ĐHQGHN - Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ở đại học quốc gia hà nội
Hình 3.3. Mô hình ĐBCL đào tạo tại ĐHQGHN (Trang 50)
Hình 3.4. Mô hình ĐBCL hoạt động nghiên cứu khoa học và dịch vụ tại - Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ở đại học quốc gia hà nội
Hình 3.4. Mô hình ĐBCL hoạt động nghiên cứu khoa học và dịch vụ tại (Trang 51)
Hình 3.5. Cơ cấu tổ chức ĐBCL tại ĐHQGHN - Kiểm định chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ở đại học quốc gia hà nội
Hình 3.5. Cơ cấu tổ chức ĐBCL tại ĐHQGHN (Trang 58)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w