1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của trần nhân tông và huyền quang dưới góc nhìn so sánh

130 1,6K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 664 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó sẽ nhắc nhở thế hệcháu con niềm tự hào về một dân tộc đã sản sinh ra những người con vĩ đạinhư thế -những con người như Trần Nhân Tông, Huyền Quang.Đó là những lý do để chúng tôi lựa

Trang 1

Tôi xin cam đoan:

Những nội dung được trình bày trong luận văn là nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đoàn Thị Thu Vân.

Mọi tham khảo và trích dẫn sử dụng trong luận văn đều ghi nguồn gốc cụ thể (tên tác giả, tên công trình, thời gian công bố).

Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Học viên Đinh Thị Đào

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể thầy cô khoa Ngữ Văn, phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường.

Nhân đây, tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên và chia sẻ với tôi những khó khăn Đặc biệt, xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất tới PGS TS Đoàn Thị Thu Vân, người thầy đã tận tâm hướng dẫn và góp ý cho tôi để hoàn thiện luận văn này.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2015

Học viên Đinh Thị Đào

Trang 3

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Đóng góp của luận văn 13

7 Cấu trúc luận văn 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 15

1.1 Giới thuyết khái niệm 15

1.1.1 Cảm hứng 15

1.1.2 Cảm hứng về thiên nhiên 18

1.2 Trần Nhân Tông và Huyền Quang – Con người, cuộc đời và thơ ca 22

1.2.1 Trần Nhân Tông 22

1.2.2 Huyền Quang 26

Chương 2 CẢM HỨNG THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA TRẦN NHÂN TÔNG VÀ HUYỀN QUANG 31

2.1 Cảm hứng thiên nhiên trong thơ ca thời Lý - Trần 31

Trang 4

2.2.2 Thiên nhiên hòa trộn giữa thực và hư, thực và mộng 50

2.2.3 Thiên nhiên khai ngộ tâm hồn người 58

2.3 Cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của Huyền Quang 65

2.3.1 Thiên nhiên thơ mộng, khoáng đạt và thanh thoát 65

2.3.2 Thiên nhiên hòa nhập không phân biệt với chủ thể trong trạng thái “quên”.79 2.3.3 Thiên nhiên chan chứa tình người 84

Chương 3 TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT TRONG CẢM HỨNG THIÊN NHIÊN Ở SÁNG TÁC CỦA TRẦN NHÂN TÔNG VÀ HUYỀN QUANG 93

3.1 Những nét tương đồng 93

3.2 Những nét dị biệt 108

KẾT LUẬN 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trần Nhân Tông và Huyền Quang được biết đến là hai nhà Thiền họclớn của dân tộc Trần Nhân Tông trước hết là một vị vua tài ba, người đã lãnhđạo quân dân nhà Trần hai lần đánh bại vó ngựa hung bạo của giặc Nguyên -Mông Trần Nhân Tông còn là người nổi tiếng khoan hòa nhân ái và thươngdân hết mực Dưới sự lãnh đạo của Trần Nhân Tông, triều đại nhà Trần ngàycàng ổn định và có những bước phát triển đáng kể Sau khi đất nước đã ổnđịnh, đời sống nhân dân được ấm no, Trần Nhân Tông truyền ngôi lại cho contrai là Trần Anh Tông và kể từ đây, cuộc đời của Trần Nhân Tông gắn vớinghiệp tu hành Người chuyên tâm vào nghiên cứu Phật học, đi thuyết pháp ởnhiều nơi và đã sáng lập ra dòng thiền Trúc Lâm Mặc dù không xuất thân từhoàng tộc như Trần Nhân Tông song Huyền Quang cũng được biết đến là mộtngười “sinh ra vì đạo” với nguồn gốc xuất thân và cuộc đời nhuốm màuhuyền thoại Ông là người kế tục Trần Nhân Tông và Pháp Loa, trở thành vị

tổ thứ ba của dòng thiền Trúc Lâm Có thể nói, ngoài sự nghiệp hoằng dươngphật pháp, xây dựng và phát triển dòng thiền Trúc Lâm thành một dòng Thiềnriêng của Việt Nam, những bậc cao tăng ấy còn đóng góp vào kho tàng vănhọc dân tộc những tác phẩm đặc sắc, có giá trị nghệ thuật cao Điều đó chothấy, bên cạnh một thiền sư, cả hai cùng được biết đến là những nhà thơ tàihoa Tuy nhiên, những tác phẩm văn học của họ vẫn chưa thực sự được quantâm đúng mức Điều này có thể thấy qua số lượng các công trình nghiên cứu

về Trần Nhân Tông, Huyền Quang với tư cách là nhà vua, thiền sư nhiều hơncác công trình nghiên cứu chuyên biệt về tác phẩm của họ

Hơn nữa, khi nghiên cứu về trước tác của Trần Nhân Tông và HuyềnQuang, giới nghiên cứu thường nhấn mạnh đến tính triết lý, giáo huấn của các

Trang 6

tác phẩm mà ít ai nhấn mạnh đến chất trữ tình Có lẽ vì cho rằng, những thiền

sư dù có cảm xúc trước những vang động của đời nhưng tất cả đều được lọcqua lăng kính của thiền, dưới cái nhìn thiền nên cảm xúc không phải là củamột con người bình thường nữa mà là cảm xúc của một người đã thấu hiểu lẽsắc không, vượt lên trên tất cả những xúc cảm bình thường Nhưng một điềucần thấy rằng trước khi trở thành một nhà sư, các vị ấy cũng là một conngười, cũng có những xúc cảm của con người Vậy nên, trong các tác phẩmcủa Trần Nhân Tông và Huyền Quang, bên cạnh con người thiền sư, chúng tacòn thấy bóng dáng của con người bình thường, con người thi sĩ, con ngườivới những rung cảm trước cuộc đời Đó là những xúc cảm khi xuân về trênmấy khóm hoa của Trần Nhân Tông hay tình thương của một Huyền Quangtrước cảnh tên tướng giặc trong lao tù hoài vọng cố hương…

Một điểm nữa cần chú ý là trong di sản thơ của Trần Nhân Tông vàHuyền Quang, những vần thơ viết về thiên nhiên có thể coi như những viênngọc quý trong kho tàng thơ ca dân tộc Nếu trộn lẫn các thi phẩm của haithiền sư vào những bài thơ về thiên nhiên của những nhà thơ đích thực thì thậtkhó để mà phân biệt được đâu là thơ của thiền sư bởi giữa chúng dường nhưchỉ có một đường biên thật mỏng manh mà nếu không thật tinh tế thì khó cóthể phát hiện được Dù vậy, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiêncứu một cách hệ thống thơ viết về thiên nhiên của Trần Nhân Tông hay củaHuyền Quang và cũng chưa có một công trình nào đi vào so sánh những vầnthơ viết về thiên nhiên của hai tác giả này

Thời gian cứ vận hành theo quy luật của nó và kéo theo đó thời đạithịnh trị của dân tộc- thời đại Lý - Trần ngày càng lùi xa Đó là một quy luậtcủa tự nhiên và tất nhiên, con người không thể níu kéo được Nhưng những gì

là tinh hoa của thời đại ấy sẽ trường tồn cùng dân tộc, sống mãi với thời gian

Trang 7

qua những trang văn lưu lại cho đời Vì vậy, việc nghiên cứu di sản thơ củaTrần Nhân Tông và Huyền Quang sẽ góp phần vào việc bảo tồn những di sảnvăn hóa của dân tộc, làm sống dậy hào khí một thời Nó sẽ nhắc nhở thế hệcháu con niềm tự hào về một dân tộc đã sản sinh ra những người con vĩ đạinhư thế -những con người như Trần Nhân Tông, Huyền Quang.

Đó là những lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài Cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc nhìn so sánh.

Chúng tôi mong rằng sẽ góp một phần nhỏ bé vào hành trình tìm hiểu conngười và tư tưởng của hai vị sư tổ dòng thiền Trúc Lâm

2 Lịch sử vấn đề

Đến nay, theo tư liệu văn học, có thể khẳng định rằng Cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc nhìn so sánh chưa được đề cập đến trong một công trình nghiên cứu cụ thể nào Tất

nhiên, xoay quanh cuộc đời và sự nghiệp của Huyền Quang và Trần NhânTông đã có không ít công trình nghiên cứu thuộc ngành Lịch sử, Văn học,Phật học Tuy nhiên vì tính chất của chuyên ngành, chúng tôi chỉ khái quátnhững công trình, những bài viết khai thác dưới góc độ văn học hoặc ít nhiều

có liên quan đến văn học Dưới đây có thể kể đến những công trình, nhữngbài viết nghiên cứu tiêu biểu nhất

2.1 Lịch sử nghiên cứu Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa họcbởi ông không chỉ là một vị vua sáng - người đã có công lớn trong lịch sửchống giặc ngoại xâm của dân tộc, một thiền giả xuất sắc - tác giả của nhiềucông trình nghiên cứu Phật học mà còn là một nhà thơ lớn Tuy nhiên, theo sựtìm hiểu của chúng tôi, ở góc độ là một thi sĩ, Trần Nhân Tông chưa được

Trang 8

quan tâm đúng mức bởi số lượng công trình, bài nghiên cứu về Trần NhânTông còn khá ít và nhỏ lẻ Dưới đây là một số công trình, bài nghiên cứu màchúng tôi khảo sát được.

Trước hết cần phải nhắc đến cuốn Toàn tập Trần Nhân Tông của Lê

Mạnh Thát (2000) Cuốn sách là một công trình nghiên cứu về cuộc đời và sựnghiệp của Trần Nhân Tông từ khi còn trẻ, gánh vác những công việc trọngđại của dân tộc đến khi ông xuất gia tu hành trên núi Yên Tử và lãnh đạoThiền phái Trúc Lâm Trong công trình này, học giả Lê Mạnh Thát cũng dànhmột phần để khai thác sự nghiệp văn chương của nhà vua, thiền sư thi sĩ TrầnNhân Tông Đáng chú ý là ngoài di sản thơ chữ Hán, hai bài phú Nôm, tác giảcòn sưu tầm được khá đầy đủ những bài giảng, văn thư ngoại giao, vănxuôi… của Trần Nhân Tông

Tiếp theo, có thể kể đến cuốn Thiền học đời Trần của Viện nghiên cứu

Phật giáo (1995) Cuốn sách tập hợp bốn bài nghiên cứu về Trần Nhân Tông.Các bài viết này chủ yếu khai thác dưới góc độ Thiền học Có ba trong tổng

số bốn bài viết trình bày về xuất thân và quá trình dẫn dắt thiền phái TrúcLâm của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông Trong số các bài viết ấy,

không thể bỏ qua bài viết của thiền sư Thích Thanh Từ Thiền Trúc Lâm qua văn thơ Hán Thông qua việc phân tích bốn bài thơ đặc sắc, tác giả đã cho

người đọc cái nhìn cơ bản về con người, tâm hồn và tư tưởng Trần NhânTông Tác giả khẳng định “Chỉ dẫn bao nhiêu bài thơ trên, chúng ta cũng đủthấy Trúc Lâm hồn thơ bát ngát, ý thơ thâm trầm, tâm Thiền bàng bạc, khiếnngười đọc vừa hứng thú vừa thấy tâm hồn rộng mở thênh thang Trúc Lâmnói lên tâm trạng mình đối cảnh sinh tình, mà tình đây là tình đạo”

Nếu cuốn Thiền học đời Trần nhìn nhận Trần Nhân Tông với tư cách

là một thiền giả thì cuốn Thơ Thiền Việt Nam- những vấn đề lịch sử và tư

Trang 9

tưởng nghệ thuật của nhà nghiên cứu Nguyễn Phạm Hùng còn khai thác dưới góc độ là một thi sĩ mà ông gọi là thi sĩ Thiền Tác giải nhấn mạnh đạo và đời trong ông thật là “vô phân biệt” đều có đều không thông qua việc phân tích một bài thơ đặc sắc của Trần Nhân Tông - Thiên Trường vãn vọng Trần Thị Băng Thanh trong Những nghĩ suy từ văn học trung đại đã tiến thêm một

bước khi tìm hiểu về Trần Nhân Tông Tác giả đã chỉ ra rằng núi Yên Tử vừa

là nơi di dưỡng tinh thần vừa là nơi khơi nguồn cảm hứng cho những sáng táccủa Trần Nhân Tông Thiên nhiên tươi đẹp, thơ mộng trữ tình nơi đây đã hòaquyện với tâm hồn nhạy cảm tinh tế tạo nên những tác phẩm mà ở đó “NhânTông hiện ra hầu như trọn vẹn với tư cách nhà thơ” Trong cách cảm nhận vềthiên nhiên, thật khó để có thể phát hiện được đó là xúc cảm của một thiền sư.Chẳng hạn trong những cảm nhận của ông về hoa mai, nhà nghiên cứu TrầnThị Băng Thanh viết “Có biết bao nhà thơ phương Đông đã vịnh hoa mainhưng Nhân Tông vẫn đến với hoa mai bằng những rung cảm riêng vừa thâmtrầm tinh tế, vừa sắc sảo nồng nàn”

Bài nghiên cứu của Phạm Ngọc Lan - Trần Nhân Tông- cảm hứng Thiền trong thơ được in trong tạp chí Văn học số 4/ 1992 cũng là một trong

những bài viết đáng chú ý Chỉ với vẻn vẹn bốn trang viết nhưng người đọc đã

có thể hình dung khá trọn vẹn về Trần Nhân Tông Tác giả bài viết cũngkhẳng định Trần Nhân Tông không chỉ là một vị vua sáng, một thiền sư lỗilạc mà còn là một nhà thơ có phong cách Thơ ông là sự kết hợp hài hòa conngười thiền sư và con người thi nhân Bài viết khai thác chất Thiền trong thơTrần Nhân Tông, đặc biệt những bài thơ viết về thiên nhiên Tác giả chỉ rõ đó

là sự cảm nhận tinh tế, sâu lắng trước thiên nhiên Thiên nhiên không ồn ào

mà đạm bạc gắn với những đường nét nhẹ nhàng, gắn với cảnh lặng lẽ u tịch

để qua đó gửi gắm ý niệm về cuộc đời của một cái Tâm đã đạt đạo…

Trang 10

Đáng chú ý hơn cả là công trình nghiên cứu mang tên Con người nhân văn trong thơ ca Việt Nam sơ kì trung đại của tác giả Đoàn Thị Thu Vân

(2007) Đi dọc chiều dài của lịch sử suốt năm thế kỉ, tác giả đã khám phá ra

vẻ đẹp của con người ẩn sâu trong những áng thơ Trên cơ sở so sánh, ngườiviết đã phát hiện ra vẻ đẹp đặc trưng của con người mỗi thời đại Nếu conngười thời Lý với vẻ đẹp của minh triết, của trí tuệ thì con người thời Trần lạisáng ngời vẻ đẹp mẫn cảm của tâm linh còn con người thời Lê sơ lại nổi bậtvới vẻ đẹp của ý thức trách nhiệm, sự thanh cao của khí tiết kẻ sĩ Trong côngtrình nghiên cứu này, tác giả dành một chương để khai thác vẻ đẹp con ngườinhân văn thời Trần từ tâm hồn của các bậc đế vương, các bậc tướng lĩnh đếntâm hồn của những bậc cao tăng, những người trí thức Trần Nhân Tông vớinhững vần thơ viết về thiên nhiên có lẽ đã có sức hấp dẫn đặc biệt đối với nhànghiên cứu Đoàn Thị Thu Vân Tác giả đã dành một số lượng lớn trang viết(13 trang) cho ông trong khi đối với các tác giả văn học khác chỉ dưới 10trang Bài viết khai thác hai khía cạnh cơ bản: Nét đặc sắc trong thơ TrầnNhân Tông và tâm hồn Trần Nhân Tông qua thơ Đi qua từng trang viết,người đọc sẽ nhận được những xúc cảm mới lạ mà không phải ngòi bútnghiên cứu nào cũng có được bởi lẽ tác giả đã chạm đến những ngóc ngáchsâu kín nhất trong tâm hồn mỗi người Với chất văn bàng bạc Thiền vị, bằngviệc phân tích ba bài thơ tiêu biểu của Trần Nhân Tông, tác giả đã giúp ngườiđọc khám phá thế giới tâm hồn phong phú, giàu xúc cảm của một ông vua -thiền sư - thi sĩ Qua bài viết này ta thấy rõ ràng Trần Nhân Tông hiện lênkhông chỉ là một nhà vua hay một thiền sư với những vần thơ đậm chất triết

lý mà còn là một con người bình thường với những rung cảm rất trần thế mà

bài thơ Xuân hiểu (Buổi sáng mùa xuân) là một ví dụ Bài thơ được coi như một kiến trúc nhìn bề ngoài là một khối đơn giản nhưng càng đi càng phát hiện nhiều tầng lớp ý nghĩa, cảm xúc ở cả chiều rộng lẫn chiều sâu Có thể

Trang 11

nói, nếu ví bài thơ như một ẩn số mà người đọc luôn luôn tìm cách giải mã thìcách giải mã của bài viết này thật “tinh tế và nhạy bén” biết bao.

Trên đây, chúng tôi đã tóm lược ngắn gọn nhất các công trình nghiêncứu về Trần Nhân Tông trên phương diện văn học Ngoài ra, Trần Nhân Tôngcòn được nghiên cứu ở một số sách, bài báo khoa học, luận văn Có thể kểđến:

- Trần Thị Hồng Y (2003), Tìm hiểu thơ các vua thời thịnh Trần (Từ Trần Thái Tông đến Trần Minh Tông), Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn,

Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

- Trần Lý Trai (2008), Giá trị văn học trong tác phẩm của thiền phái Trúc Lâm, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học xã hội

và Nhân văn TP Hồ Chí Minh

- Nguyễn Lang (1979), Việt Nam Phật giáo sử luận (tập 1), NXB Văn

học Hà Nội

2.2 Lịch sử nghiên cứu Huyền Quang

Huyền Quang trước hết là một thiền sư lỗi lạc Vậy nên với tư cách làmột thiền giả, ông xuất hiện nhiều trong các công trình, bài viết nghiên cứu vềthiền học Còn với tư cách là một nhà thơ, số lượng bài nghiên cứu về HuyềnQuang còn khá hạn chế và với quy mô nhỏ Cho đến nay, cuốn sách được coi

là đầy đủ nhất về Huyền Quang là cuốn Huyền Quang - cuộc đời, thơ và đạo

do nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh chủ biên Cuốn sách tập hợp nhiềubài viết đã cho người đọc một cái nhìn hệ thống về cuộc đời và sự nghiệp thơ

ca của ông Trong phần cuối của cuốn sách, tác giả đã liệt kê một thư mục kháđầy đủ các bài nghiên cứu, sưu tầm, đánh giá cùng các giai thoại xoay quanhcuộc đời của thiền sư Điều này khá thuận tiện cho việc nghiên cứu về Huyền

Trang 12

Quang Cuốn sách gồm ba phần Ở phần một, các tác giả trình bày về nguồngốc xuất thân, những giai thoại cùng những năm tháng hành đạo của HuyềnQuang, những lời luận bàn về trước tác của Người Phần hai đi vào giới thiệu

các tác phẩm còn lại gồm tập thơ Ngọc tiên tập và bài phú Nôm Vịnh Vân Yên

tự phú Phần ba là tập hợp các tác phẩm viết về Huyền Quang, coi ông như là

một nhân vật văn học Với dung lượng gần 250 trang, cuốn sách tập trung vàophần giới thiệu thi phẩm đến người đọc Có lẽ vì vậy mà phần viết về HuyềnQuang thi nhân dường như cũng có phần hạn chế Tác giả dành 25 trang đểphân tích, đánh giá, bình luận về gia tài thơ của Huyền Quang Trong đó, cóhai bài nghiên cứu đáng chú ý: một của nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh

và một của nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn Với Ngọc tiên tập - Tiếng thơ nhiều hàm nghĩa thông qua khảo sát 25 bài thơ, tác giả Trần Thị Băng Thanh

đã làm nổi bật những giá trị cơ bản của tập thơ và qua đó giúp người đọc hìnhdung được bức chân dung tinh thần của Huyền Quang Bài viết của nhànghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn về bài thơ Nôm duy nhất của ông “Vịnh VânYên tự phú” lại như một sự khai phá thế giới tâm hồn thi sĩ của thiền sư Ởtrong thế giới ấy, ta chỉ thấy một người nghệ sĩ với cuộc sống hòa mình vàothiên nhiên, tận hưởng trọn vẹn tất cả những điều kỳ diệu mà thiên nhiên bantặng Ở đó, ta không còn thấy dấu vết của cuộc sống trần tục nữa mà là cảnhBụt, là cõi vô tâm…

Với chỉ khoảng 9 trang viết nhưng tác giả Nguyễn Phạm Hùng trong

cuốn Thơ Thiền Việt Nam- Những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật đã

cho người đọc rõ hơn về một Huyền Quang thi sĩ Người viết đã đi sâu vàokhai thác di sản thơ để qua đó giải mã về con người và tư tưởng HuyềnQuang Tác giả khẳng định “…thơ của ông rất sâu kín, uẩn khúc không trựcngôn mà hàm ngôn, không kể tâm trạng mà mượn cảnh ngụ tình…” Đó thực

sự là những trang viết rất sâu sắc mà ở đó, tác giả cho thấy một Huyền Quang

Trang 13

với những tâm sự, những cảm xúc cá nhân và cả những suy tư trăn trở trướccuộc đời.

Bài viết Huyền Quang- nhà sư thi sĩ của Nguyễn Phương Chi có thể

coi là một trong những bài viết đầu tiên nghiên cứu Huyền Quang với khíacạnh một nhà thơ Bài viết được đăng trên Tạp chí Văn học năm 1982 gây chú

ý bởi chất văn mượt mà nhẹ nhàng mà sâu lắng, cách cảm nhận văn chươngrất tinh tế, có những phát hiện thú vị Dưới góc độ là người nghiên cứu nhữngthi phẩm viết về thiên nhiên của Huyền Quang, chúng tôi coi đây là người đãđặt nền tảng cho công trình nghiên cứu của mình Chỉ với khoảng một trangviết, tác giả đã phần nào giải mã được con người nhà thơ - một “cái tôi” chủthể Đối với Huyền Quang, thiên nhiên không chỉ như là cái nó vốn có mà

“Thiên nhiên trở thành người bạn cởi mở, chân tình, là nơi nhà thơ có thể giãibày tâm trạng, thổ lộ cảm xúc của mình không chút ngại ngần”

Có lẽ là thiếu sót nếu không kể đến các bài nghiên cứu của các thiền

sư về Huyền Quang thi sĩ Có thể kể đến cuốn Thiền học đời Trần Cuốn sách

tập hợp 28 bài viết về các thiền sư đời Trần từ những người đặt nền móng nhưTrần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ đến những người có vai trò phát triểnnhư Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang Trong đó có bốn bài viết vềthiền sư Huyền Quang Những bài viết này tập trung xoay quanh những

“điểm mờ” trong thân thế đồng thời cũng khẳng định giá trị văn học to lớntrong các sáng tác của ông Ngoài ra cũng cần kể đến bài viết của thiền sư

Thích Phước An Huyền Quang và con đường trầm lặng của mùa thu đăng

trên Tạp chí Văn học số 4, năm 1992

Đoàn Thị Thu Vân khi viết Con người nhân văn trong thơ ca Việt Nam sơ kì trung đại (2007) cũng dành một phần cuốn sách để khẳng định

những nét đặc sắc trong thơ ca Huyền Quang- một tâm hồn nghệ sĩ chan chứa

Trang 14

tình đời Tác giả khẳng định đây là một hiện tượng khá đặc biệt trong làng thơ Thiền đời Trần Lướt theo những vần thơ về thiên nhiên của Huyền

Quang, cùng nhà thơ đi ngao du sóng nước, cùng nghe tiếng sáo vi vu trêndòng sông ngập tràn ánh trăng, cùng thả hồn mình vào hoa cúc… mới thấyhết được một Huyền Quang với tâm hồn khoáng đạt, buông bỏ hết mọi trầntục, sống thanh nhàn thư thái- một tư chất rất nghệ sĩ Tác giả nhận xét “Cảnhthiên nhiên trong thơ Huyền Quang bình dị đơn sơ nhưng để lại ấn tượng sâusắc khó quên bởi được lọc qua tâm hồn nghệ sĩ nhạy bén và giàu rung cảm”.Tinh tế hơn, nhà nghiên cứu Đoàn Thị Thu Vân còn phát hiện ra nhữngkhoảnh khắc đặc biệt của thiền sư – Khoảnh khắc “quên”…

Gần đây, Huyền Quang được đặc biệt quan tâm trong một luận văn

Thạc sĩ mang tên Thơ ca Huyền Quang- con đường của Thiền và cái đẹp của

Nguyễn Thị Hà An (2008) Tác giả đã đi sâu vào khai thác thế giới thơ caHuyền Quang để khám phá ra ba con người dưới ba góc độ: một nhà Thiềnhọc, một triết gia và một nhà thơ Ngoài các công trình nghiên cứu trongnước, tác giả còn tham khảo thêm những công trình nghiên cứu của các họcgiả nước ngoài Có thể nói, đây là một công trình được đầu tư khá kỹ và rấtđáng đề tham khảo

Ngoài ra, thiền sư Huyền Quang còn là đối tượng nghiên cứu củanhiều công trình cũng như bài báo khoa học khác Có thể kể thêm các côngtrình đáng chú ý sau:

- Nguyễn Kim Sơn (2009), “Sự đan xen các khuynh hướng thẩm mỹtrong thơ Huyền Quang (Nghiên cứu trường hợp sáu bài thơ vịnh cúc)”,

Tạp chí Nghiên cứu văn học (4), tr.75-89.

Trang 15

- Lê Từ Hiển (2005), “Basho, Huyền Quang- Sự gặp gỡ với mùa thu hay

sự tương hợp về cảm thức thẩm mỹ”, Tạp chí văn học (7).

Bao quát chung về thiền phái Trúc Lâm có thể kể đến những đóng góp

của Trần Lý Trai (Thích Phước Đạt) trong luận án Tiến sĩ mang tên Giá trị văn học trong tác phẩm của thiền phái Trúc Lâm (2008) Luận án đã bao quát

được những giá trị văn học cơ bản trong các tác phẩm của những tên tuổi nổibật trong dòng thiền này như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Tung,Trần Nhân Tông, Huyền Quang… Theo đánh giá chủ quan của chúng tôi, đây

là một công trình nghiên cứu công phu không chỉ có giá trị Phật học mà còn

có giá trị lớn về văn học Tác giả đã chỉ ra những tư tưởng thiền học đồng thờicũng làm rõ những cảm hứng chủ đạo, những giá trị nghệ thuật của các tácphẩm này Trong công trình này, tác giả đã dành khoảng 7 trang viết về cảmhứng cõi thiên nhiên và thiên nhiên mà đề tài khai thác là thiên nhiên đượcnhìn qua lăng kính của những nhà thiền học, “thiên nhiên mang tính biểutượng bởi một cảm quan Phật giáo Thiền tông”

Trên đây, chúng tôi đã khái quát lịch sử nghiên cứu về Trần Nhân

Tông và Huyền Quang dưới góc độ văn học Có thể khẳng định rằng, cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc nhìn so sánh chưa được đề cập đến trong một công trình nghiên cứu cụ

thể nào Chính vì vậy, chúng tôi sẽ đi sâu về vấn đề trên để làm rõ cảm hứngthiên nhiên trong sáng tác của mỗi thiền sư đồng thời bước đầu so sánh chủ đềnày trong thơ ca của họ nhằm khám phá tâm hồn Trần Nhân Tông, HuyềnQuang qua thơ ca

Trang 16

Luận văn tập trung nghiên cứu cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác

của Trần Nhân Tông và Huyền Quang, một trong những cảm hứng chính

trong các sáng tác của hai tác giả này Dĩ nhiên các phương diện khác của nộidung tư tưởng cũng như phương diện nghệ thuật vẫn được quan tâm ở mức độ

là cơ sở để làm rõ vấn đề Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ,chúng tôi chỉ tập trung khảo sát những sáng tác thơ và phú của hai tác giả này

Song song với đó, chúng tôi bước đầu so sánh cảm hứng thiên nhiên

để chỉ ra nét tương đồng và dị biệt trong cách cảm nhận của mỗi tác giả

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu Cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc nhìn so sánh dựa vào các bản dịch tiếng

Việt của các văn bản dưới đây:

- Thơ văn Lý - Trần (1989) (tập 2), quyển thượng, Viện văn học, Nxb

Khoa học xã hội

Trang 17

- Tổng tập văn học Việt Nam (2000) (tập 2), Trần Lê Sáng (chủ biên),

Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủyếu sau:

- Phương pháp thống kê: chúng tôi tiến hành thống kê số lượng tácphẩm lấy cảm hứng thiên nhiên nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu cảm hứngthiên nhiên trong các tác phẩm của họ

- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: đây là phương pháp được

sử dụng chủ yếu khi khái quát, lí giải sự tương đồng và sự dị biệt trong cảmhứng thiên nhiên của hai tác giả

- Phương pháp so sánh: sử dụng phương pháp này so sánh, đối chiếu

để chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt trong cảm hứng thiên nhiên của haitác giả Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu chính của luận văn

- Phương pháp hệ thống: phương pháp này giúp chúng tôi có cái nhìnkhái quát về đề tài nghiên cứu

Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng thêm phươngpháp liên ngành (vì đề tài liên quan đến Lịch sử, Triết học, Phật học)

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn tìm hiểu Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc độ lànhững thiền sư thi sĩ Vì vậy, thông qua việc phân tích, so sánh di sản thơ củahai tác giả này, chúng tôi sẽ góp phần hiểu thêm về con người, tư tưởng củanhững nhân cách lớn Trần Nhân Tông, Huyền Quang Luận văn cũng có thể

Trang 18

xem như tài liệu tham khảo tốt phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy vềTrần Nhân Tông, Huyền Quang và thơ Thiền Lý - Trần.

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có bachương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Ở chương này, chúng tôi trình bày về một số khái niệm có liên quanđến đề tài như cảm hứng, cảm hứng về thiên nhiên Sau đó, chúng tôi kháiquát những nét cơ bản nhất về cuộc đời, hành trạng và quá trình xuất gia củaTrần Nhân Tông, Huyền Quang

Chương 2: Cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của Trần Nhân Tông vàHuyền Quang

Luận văn sẽ đi tìm hiểu những nét đặc sắc trong cảm hứng thiên nhiêncủa mỗi tác giả này trên cơ sở phân tích di sản thơ của họ

Chương 3: Tương đồng và dị biệt trong cảm hứng thiên nhiên ở sáng tác củaTrần Nhân Tông và Huyền Quang

Trên cơ sở của chương 1 và chương 2, chúng tôi sẽ chỉ ra những néttương đồng và dị biệt trong cách cảm nhận của mỗi người, đồng thời chúngtôi bước đầu đưa ra những lý giải về sự tương đồng và khác biệt đó

Trang 19

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Giới thuyết khái niệm

1.1.1 Cảm hứng

Bất kì một công việc nào muốn thành công cũng hỏi sự đam mê vàthích thú Sáng tạo nghệ thuật cũng không là ngoại lệ Thậm chí đó còn làcông việc đòi hỏi nhiều hơn cả sự đam mê, thích thú Không giống như cáclĩnh vực hoạt động khác, hoạt động sáng tạo nghệ thuật thuộc lĩnh vực chuyênbiệt Nếu ví tác phẩm nghệ thuật như một ngôi nhà thì người nghệ sĩ được coinhư một kiến trúc sư Nhưng người kiến trúc sư có thể biến ngôi nhà trong trí

óc của anh ta thành hiện thực nếu như anh ta có chất liệu Còn với người nghệ

sĩ - kiến trúc sư thì lại khác, chất liệu ngôn từ bao quanh anh ta nhưng nếukhông có cảm hứng sáng tạo thì đó cũng chỉ là ngôi nhà trong tưởng tượng

mà thôi Như vậy, nét đặc biệt của những người làm nghệ thuật đó chính lànhững rung động trong tâm hồn Chính những rung động đó mới tạo ra nhữngtác phẩm nghệ thuật thực sự có giá trị…

Cảm hứng là một khái niệm không còn xa lạ đối với những ngườinghệ sĩ bởi chính nó đã tạo nên phần hồn cho tác phẩm nghệ thuật Dù có cốgượng ép, nhưng nếu không có cảm xúc thì người nghệ sĩ chỉ tạo ra những tácphẩm có xác mà không hồn Ngô Thì Nhậm đã từng viết “Hãy xúc động chongọn bút có thần” có lẽ là vì thế Vậy cảm hứng là gì? Từ xa xưa cho đến nay,

có thể nói có bao nhiêu người nghiên cứu là có bấy nhiêu khái niệm nhưng

tựu trung lại có thể hiểu cảm hứng hay cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm Bê-lin-xki coi cảm hứng chủ đạo là điều

Trang 20

kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó “biến

sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành” [9, tr.45] Như vậy,

khái niệm này dùng để chỉ trạng thái cảm xúc của người nghệ sĩ trước mộthiện tượng trong đời sống mà hiện tượng này được coi như suối nguồn đam

mê, thích thú, thôi thúc họ sáng tạo nghệ thuật Chính giây phút xuất thần ấy,người nghệ sĩ được thăng hoa và tác phẩm là tinh hoa của trạng thái thăng hoa

đó Nói một cách hình tượng như Nguyễn Quýnh trong lời tựa tập Tây hộ mạn hứng của Ninh Tốn1 “Người như sông biển, chữ như nước, hứng thì nhưgió Gió thổi tới sông biển cho nên nước lay động làm thành gợn, thành sóng,thành ba đào Hứng chạm vào người ta cho nên như nổi dậy, không thể nínđược sinh ra trong lòng, ngâm vịnh ngoài miệng, viết nên ở bút nghiên giấymực”

Rõ ràng, nếu không có cảm hứng thì người nghệ sĩ sẽ chết trong chính

họ Vì vậy, bất kì người nghệ sĩ nào cũng đều nuôi dưỡng nguồn cảm hứngcho chính mình Tuy nhiên cảm hứng của mỗi người là không giống nhau, nótựa như nét tính cách của mỗi cá nhân trong cuộc đời này Trở lại phong tràothơ Mới qua những vần thơ của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, tathấy trên cái nền Tây phương ấy, mỗi người lại chọn cho mình một mảnh đấtkhác nhau Hàn Mặc Tử rất thích trăng nên trong thơ Hàn là cả một vũ trụtrăng lung linh huyền ảo, nhiều sắc thái vừa buồn vừa vui, vừa tạo nên trạngthái thăng hoa nhưng cũng là sự đớn đau quằn quại Còn với Chế Lan Viên,hình ảnh tháp Chàm đầy ma mị ám ảnh thế giới thơ ông mà ở đó, ta thấy đầynhững đầu lâu, những yêu ma, hồn máu Nguyễn Bính lại trở về với ngọnnguồn dân tộc với những vần thơ đậm chất dân gian, những thôn Đoài thônĐông, những vườn cau vườn trầu…Tất cả những điều đó cho thấy, người

1 Ninh Tốn (1744-1795) sống thời Lê Trung Hưng, hiệu Mẫn Hiên, Chuyết Sơn thi sĩ, Song An cư sĩ.

Trang 21

nghệ sĩ chỉ “sống” với một không gian đặc biệt và trong không gian đó, họthích thú, họ thể hiện tài năng, họ đem tâm mình “nhả tơ trả nợ” cho đời

Cảm hứng bắt nguồn từ đời sống, được hun đúc từ đời sống Vì vậy,cảm hứng sẽ bị chi phối bởi thời đại mà người nghệ sỹ sinh sống Cảm hứngkhông phải là thứ bất di bất dịch mà nó luôn biến thiên để bắt kịp với sự vậnđộng của xã hội, phản ánh đời sống xã hội Nếu cảm hứng chủ đạo của vănhọc Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV là cảm hứng yêu nước, chống ngoại

xâm và tự hào dân tộc với âm hưởng hào hùng, mang hào khí Đông A (Tụng giá hoàn kinh sư, Hịch tướng sĩ, Tỏ lòng, Phú sông Bạch Đằng…) thì sang

giai đoạn sau (thế kỉ XV - XVII) khi đất nước có nhiều biến động với nhữngcuộc nội chiến thì cảm hứng yêu nước không còn nữa thay vào đó là cảmhứng thế sự với những tác phẩm phản ánh tệ lậu và tình trạng suy thoái về đạo

đức trong xã hội (Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Truyền kì mạn lục của

Nguyễn Dữ…) Đến cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, con người được đặtvào vị trí trung tâm đặc biệt là người phụ nữ nên hình ảnh người phụ nữ xuấthiện nhiều trong văn học Nhà văn lên tiếng bênh vực, đòi quyền sống, quyềnhạnh phúc lứa đôi cho họ Hàng loạt tác phẩm được viết ra trong bối cảnh đó

như Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm), Truyện Kiều (Nguyễn Du), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều)…

Cũng cần phải thấy rằng, dù cho người nghệ sĩ có cảm hứng giốngnhau nhưng mỗi người sẽ cảm nhận theo cách riêng của mình Chẳng hạn,cùng viết về mùa thu nhưng mùa thu với muôn hình vạn trạng Mỗi bài thơđem đến cho ta một dư vị riêng Mùa thu của Nguyễn Khuyến trong trẻo, nhẹnhàng với màu xanh đặc trưng “các điệu xanh” (Xuân Diệu) Thu trong thơBích Khê lại ngập tràn sắc vàng buồn vương

Ơ hay buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông

Trang 22

(Tỳ bà)

Còn với nhà thơ Hữu Thỉnh, thu gắn liền với những gì rất mong manh,

mơ hồ, những khoảnh khắc…

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về

(Sang thu)

Tóm lại, cảm hứng là trạng thái say mê mãnh liệt của người nghệ sĩtrước một khía cạnh, một hiện tượng nào đó trong cuộc sống Mặc dù cảmhứng có muôn hình muôn vẻ nhưng đôi khi ta vẫn thấy có sự gặp gỡ giữanhững tâm hồn Dẫu vậy, người đọc vẫn có thể nhận ra nét riêng không dễtrộn lẫn, là phong cách riêng của mỗi người nghệ sĩ

1.1.2 Cảm hứng về thiên nhiên

Từ thuở sơ khai, con người và thiên nhiên đã có quan hệ gắn bó vớinhau Thiên nhiên cung cấp cho con người những điều kiện cần thiết phục vụcuộc sống Vậy nên, đối với con người, thiên nhiên được coi là bà mẹ thứ hai

Có lẽ vì thế mà thiên nhiên trở thành một trong những đề tài lớn trong sángtác nghệ thuật nói chung và sáng tác văn chương nói riêng Cảm hứng thiênnhiên có thể hiểu là trạng thái cảm xúc mãnh liệt, là sự hưng phấn của conngười mà thiên nhiên đem lại Lúc này, thiên nhiên không còn là thiên nhiên

vô tình nữa mà nó trở thành người bạn tâm giao của thi nhân Nó khơi gợitrong lòng người những tình cảm vốn bị che lấp thường ngày, những kí ức bịnhòe dần trong bộn bề của cuộc sống, những khát khao, những ước vọng đam

mê, những nỗi u hoài…Con người gửi gắm vào thiên nhiên những tình cảmsâu kín nhất trong tâm hồn

Trang 23

Trong nền văn học dân tộc, thiên nhiên là một đề tài bao trùm trongsáng tác của thi nhân từ văn học dân gian qua văn học trung đại, hiện đại; từthơ Thiền qua thơ Nho, thơ Mới và ở bất kì giai đoạn nào trong nền văn họcdân tộc, thiên nhiên đẹp tươi của non sông đất nước vẫn hiện lên qua nhữngáng thơ văn

Mặc dù vậy nhưng xét về bản chất, cảm hứng thiên nhiên ở mỗi thờiđại có nét khác biệt nhất định Trong văn học dân gian, thiên nhiên mang vẻđẹp thuần khiết, thiên nhiên như là cái nó vốn có Hình ảnh vầng trăng, cánhđồng thẳm xanh bao la, cánh cò bay lả là những hình ảnh chân thực, đờithường Câu thơ viết về vầng trăng này có lẽ cho đến ngàn năm sau vẫnkhông thể nào quên

Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

(Ca dao)Vẫn là thiên nhiên ấy nhưng trong thơ Thiền, thiên nhiên vừa là nónhưng đồng thời vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho triết lý Thiền Vầng trăngđẹp sáng trong hiền hòa kia còn là biểu tượng cho trí tuệ bát nhã của conngười đạt đạo Một đóa hoa mai buổi sớm trỗi dậy nở ra thật đẹp, khoe sắc khinhững bông hoa khác đã tàn tạ héo úa, khi tiết xuân không còn… thật bìnhthường nhưng lại mang trong nó những triết lý vô cùng

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

(Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hếtĐêm qua sân trước một cành mai)

(Cáo tật thị chúng- Mãn Giác)

Nếu trong thơ Thiền, thiên nhiên là biểu tượng cho triết lý thì trongthơ Nho, thiên nhiên mang cốt cách của người quân tử Thi nhân thường

Trang 24

mượn hình ảnh thiên nhiên để bộc lộ khí phách của bản thân Hình ảnh tùng,cúc, trúc, mai là những hình ảnh quen thuộc trong thơ ca thời kỳ này Nhữnghình ảnh ấy xuất hiện nhiều trong thơ ca Nguyễn Trãi, đặc biệt trong tập thơ

Nôm Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi ví mình như cây trúc, cây mai, cứng cỏi

mà thanh cao

Vườn quỳnh dầu chim kêu hót Cõi trần có trúc đứng ngăn

(Tự thán- Bài 40)Tất nhiên đối với người anh hùng ấy, thiên nhiên không chỉ là nơi đểbày tỏ khí tiết thanh cao, vững vàng mà đó còn là bến đậu cho tâm hồn ngàyđêm phiền muộn lo âu cho dân cho nước Nguyễn Trãi coi thiên nhiên là bạn,

là anh em thân thiết:

Núi láng giềng, chim bầu bạn Mây khách khứa, nguyệt anh tam

Và đó cũng là nơi để con người ấy trải lòng mình:

Côn Sơn hữu tuyền

Kì thanh linh linh nhiên , Ngô dĩ vi cầm huyền

Côn Sơn hữu thạch

Vũ tẩy đài phô bích, Ngô dĩ vi đạm tịch.

Trang 25

Nham trung hữu tùng, Vạn lí thúy đồng đồng, Ngô ư thị hồ ngâm khiếu kì trắc…

(Côn Sơn ca)

(Côn Sơn có suối, Tiếng nước chảy rì rầm

Ta coi là đàn cầm.

Côn Sơn có đá, Mưa giội phô rêu xám

Ta coi làm chiếu thảm.

Trên đèo có thông, Muôn dặm biếc mông lung,

Ta thảnh thơi nằm nghỉ bên trong…)

(Bài ca Côn Sơn)

Tuy nhiên có thể khẳng định, cho dù là phương tiện để chuyển tải nộidung khác nhưng thiên nhiên trước hết là thiên nhiên, là vẻ đẹp của chính nó.Ngay cả đến giai đoạn văn học hiện đại sau này cũng vậy, thi nhân mượncảnh để tả tình nhưng đó là những bức tranh đẹp mang hồn dân tộc Thiênnhiên đất nước thật thơ mộng dưới ngòi bút đầy phóng túng của một NguyễnTuân tài năng “Thuyền tôi trôi trên sông Đà Cảnh ven sông ở đây lặng tờ.Hình như vào đời Lý đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế

mà thôi Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa

Mà tịnh không một bóng người Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp.Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm Bờ sông hoang dạinhư một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa.”[5, tr.191]

Trang 26

Như vậy, thiên nhiên là đề tài muôn thuở của thi nhân ta từ xưa đếnnay Ở mỗi thời đại, thiên nhiên còn chứa đựng trong nó những nội dung khácnữa Nhưng xét đến cùng, cảm hứng của người nghệ sĩ xuất phát từ vẻ đẹpthực sự, tiềm ẩn của thiên nhiên mà người nghệ sĩ muốn hòa mình chứ khôngphải xuất phát từ những triết lý khô khan, những bài học đạo đức mà ngườinghệ sĩ muốn truyền giảng.

1.2 Trần Nhân Tông và Huyền Quang – Con người, cuộc đời và thơ ca 1.2.1 Trần Nhân Tông

Theo các nguồn tư liệu hiện còn, Trần Nhân Tông hay Trần Khâm(1258 - 1308) là con đầu lòng của Trần Thánh Tông Lúc mới sinh ra, Trần

Nhân Tông đã có khí chất khác thường Điều này được Đại Việt sử kí toàn thư ghi lại “tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể

chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng Hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiênđồng tử Trên vai bên trái có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việclớn” [22, tr.185] Ngay từ nhỏ, khí chất khác thường ấy của Trần Nhân Tông

đã được bộc lộ rõ Người không những am hiểu tam giáo, Phật điển mà cònrất thông thạo thiên văn, lịch số, y thuật, âm luật Đó là những nền tảng đểhình thành nên một Trần Nhân Tông - nhân vật toàn tài hiếm có trong lịch sử,nơi hội tụ của ba con người: một nhà chính trị kiệt xuất, một thiền sư triết gialỗi lạc và một nhà thơ tài hoa

Trần Nhân Tông là ông vua thứ ba của nhà Trần Sau ba triều đại, ĐạiViệt đã có bước phát triển và ổn định nhất định Tuy nhiên, các thế lựcphương Bắc vẫn luôn lăm le, nhòm ngó bờ cõi hòng biến nước ta thành thuộcđịa của chúng Kế tục sự nghiệp của cha ông lúc mới 20 tuổi, Trần NhânTông đã gặp không ít những khó khăn khi xây dựng và củng cố chính quyền.Lợi dụng chính quyền nước ta còn non trẻ, bọn giặc nhân cơ hội này đã kéoquân sang xâm lược Triều đình nhà Nguyên tiến hành ba cuộc chiến tranh

Trang 27

xâm lược vào các năm 1258, 1285, 1288 Dưới triều đại của Trần Nhân Tông,lịch sử đã ghi nhận những hội nghị lớn của dân tộc gắn liền với điện DiênHồng, bến Bình Than Điều đó đã khẳng định tính chất căng thẳng và quyếtliệt của thời đại Những sự kiện ấy cho thấy dân tộc ta bị đặt vào một tình thếcấp bách và có ý nghĩa sống còn Nhưng bằng tài năng, bản lĩnh cùng vớichính sách ngoại giao vừa khôn khéo mềm mỏng, vừa kiên quyết cứng rắn,với chính sách khoan hòa nhân ái, gắn kết nhân dân trăm họ, Trần Nhân Tông

đã lãnh đạo nhân dân lần lượt đánh bại những ý đồ xâm lược của kẻ thù Cũngcần phải nói thêm, với tầm nhìn chiến lược của một nhà chính trị, Trần NhânTông đã mở rộng lãnh thổ của đất nước xuống phía Nam Đó là việc cho congái Huyền Trân kết duyên cùng vua nước Chiêm Thành Sự kiện này đượcnhìn nhận dưới những góc nhìn khác nhau và đôi khi đích thân vua Trần NhânTông bị đưa ra để chỉ trích Tuy nhiên, từ điểm nhìn của lịch sử mà nói đó làmột chiến lược đúng đắn của vua Trần Đại Việt không cần tốn một mũi tênhòn đạn mà có được hai châu Ô, Lý - vùng đất trọng yếu ảnh hưởng đến sựtồn vong của đất nước

Khi đất nước bước qua giai đoạn đầy khói lửa chiến tranh, vua TrầnNhân Tông tiếp tục có những chính sách nhằm củng cố chính quyền và pháttriển kinh tế Trước hết, đó là việc củng cố chính quyền bằng sự ghi nhậncông lao đóng góp của tướng sĩ trong những trận chiến chống giặc ngoại xâm.Phải khẳng định rằng đó là chính sách thưởng phạt rõ ràng Đối với nhữngngười có công thì thăng chức cùng với bổng lộc Đối với những kẻ có dã tâmbán nước cầu vinh thì tùy vào mức độ nặng nhẹ mà trừng phạt, làm răn chothiên hạ Song song với củng cố chính quyền là việc chăm lo cho dân TrầnNhân Tông chú trọng đến đời sống của nhân dân theo phương châm lấy dânlàm gốc Ngay cả khi đã nhường ngôi cho con để xuất gia nhưng ông vẫncanh cánh trong lòng trách nhiệm với nhân dân Chẳng hạn, khi thấy vua Trần

Trang 28

Anh Tông bổ quan thăng tước cho quá nhiều người, Người phải thốt lên “Saolại có một nước bé như bàn tay mà phong quan tước nhiều đến thế” [22] Sở

dĩ như vậy bởi Trần Nhân Tông không muốn để bộ máy cồng kềnh bòn rútmáu mỡ của nhân dân Người còn tổ chức phát chẩn, miễn thuế cho nhân dânvào những năm mất mùa đói kém, khuyến khích khai khẩn đất hoang …Chính

vì vây, đời sống nhân dân ngày càng thịnh vượng, các ngành nghề phát triểnmạnh Các mặt hàng không chỉ lưu thông trong nước mà còn có sự giaothương với nước ngoài Đời sống tinh thần cũng ngày càng được nâng cao Sự

thay đổi đó khiến cho sứ nhà Nguyên là Trần Phu trong An Nam tức sự không

giấu nổi sự ngỡ ngàng trước sự phát triển vượt bậc của Đại Việt

Không chỉ là một vị vua sáng, Trần Nhân Tông còn là một nhà thiềnhọc, triết gia lỗi lạc của dân tộc Có thể nói, việc xuất gia chính là tâm nguyệnsuốt cuộc đời của nhà vua Theo những tài liệu lịch sử hiện còn, nguyện vọng

ấy xuất hiện ngay từ khi ông còn trẻ nhưng vì thương vua cha, vì gánh tráchnhiệm với đất nước nên đành gác lại Tâm nguyện xuất gia, chuyên tâm vớiđạo đã được thực hiện khi đất nước cơ bản ổn định, sự nghiệp nhà Trần có

người tiếp bước Theo Đại Việt sử kí toàn thư ghi chép lại thì Trần Nhân

Tông xuất gia vào năm 1294 tại núi Vũ Lâm, nay thuộc huyện Hoa Lư, tỉnhNinh Bình nhưng chính thức xuất gia năm 1299 tại núi Yên Tử (nay thuộctỉnh Quảng Ninh) Cho đến nay, việc xuất gia của vua Trần không một ai cóthể biết tường tận nhưng có thể đoán được người truyền tâm ấn và chứng ngộPhật pháp cho Trần Nhân Tông chính là Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung Tưtưởng của Tuệ Trung Thượng Sĩ có ảnh hưởng rất lớn đối với tư tưởng của

nhà vua Điều này có thể thấy qua Thượng sĩ hành trạng - một tác phẩm do

chính tay Trần Nhân Tông viết

Từ khi xuất gia, Trần Nhân Tông đã đi nhiều nơi để thuyết pháp,truyền giảng kinh Phật tới chúng sinh đồng thời tổ chức các buổi tham vấn về

Trang 29

thiền Ông còn là người hướng dẫn nhân dân cách thờ cúng cho phù hợp vớithuần phong mỹ tục của dân tộc Đáng chú ý hơn cả là trên nền tảng của pháiYên Tử, của ba dòng thiền ở Việt Nam lúc bấy giờ là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, VôNgôn Thông và Thảo Đường, Trần Nhân Tông đã sáng lập ra thiền phái TrúcLâm mang đậm bản sắc dân tộc, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thầncủa người Việt Có thể khẳng định, tư tưởng của phái Trúc Lâm là sự kế thừa

và phát triển tư tưởng của phái Yên Tử trước đó và trở thành hệ tư tưởngchính chi phối đời sống văn hóa, chính trị của nhà Trần So với một số thiềnphái Trung Hoa, thiền Trúc Lâm không quá chú trọng đến tọa thiền, cũngkhông là thiền phái dành riêng cho những người xuất gia nên rất gần gũi vànhanh chóng hòa nhập với đời sống nhân dân Trần Nhân Tông đề cao tưtưởng nhập thế tùy duyên, Phật tại tâm Tư tưởng ấy của ông được gửi gắm

trong bài thơ mang khẩu khí của một ẩn sĩ đặt ở cuối bài Cư trần lạc đạo phú:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền (Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói đến thì ăn, nhọc ngủ liềnTrong nhà có báu thôi tìm kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền)

Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà tư tưởng của thiền phái Trúc Lâmvới người khởi thủy là Trần Nhân Tông đã trở thành một môn học chính quycủa thời đại ấy và sau này được các vua thời Lê sơ rất quan tâm

Không chỉ là một vị vua sáng hết mực vì dân vì nước, một thiền sưtriết gia thấu hiểu mọi lẽ của đạo đời, Trần Nhân Tông còn là một người nghệ

sĩ rất mực tài hoa Sáng tác của Trần Nhân Tông bao gồm cả chữ Hán và chữ

Trang 30

Nôm Ông là một trong những tác giả đi đầu trong việc sáng tác thơ phú bằngchữ Nôm, có ý thức xây dựng một nền văn hóa, văn học riêng của dân tộc…

Đương thời, Trần Nhân Tông trước tác khá nhiều Theo Thơ văn Lý - Trần

“Trần Nhân Tông đã có các tác phẩm sau: Trần Nhân Tông thi tập, Đại hương hải ấn thi tập, Tăng già toái sự, Thạch thất mỵ ngữ và bộ Trung hung thực lục do ông sai biên soạn Tuy nhiên, hiện chỉ còn tìm thấy 31 bài thơ, hai

cặp câu thơ lẻ, một bài minh và một bài tán Ngoài ra…còn có hai bài vănNôm biền ngẫu” [19, tr.452] Mặc dù gia tài thơ ca của Trần Nhân Tông cònlại không nhiều song trong số đó không ít bài là những tác phẩm nghệ thuậtđặc sắc Mỗi bài thơ là một bức tranh đẹp về cảnh làng quê đất nước rất đỗithanh bình mà có lẽ không phải bất cứ người nghệ sĩ nào cũng cảm nhận được

nó, cũng nắm bắt được cái thần thái của nó Đọc thơ Trần Nhân Tông, người

ta có thể cảm nhận được sâu hơn ý vị của cái gọi là “thi trung hữu họa”, “thitrung hữu nhạc” Ở một khía cạnh khác, người ta lại thấy rằng đôi lúc nókhông chỉ là bức tranh đẹp mà ẩn sâu trong đó là những triết lý nhân sinh-triết lý về cuộc đời, về kiếp người hay có thể diễn đạt khác đi rằng thơ TrầnNhân Tông là sự kết hợp giữa cảm quan triết học và những rung động nghệ sĩ

1.2.2 Huyền Quang

Nếu Trần Nhân Tông là người đã sáng lập ra dòng thiền Trúc Lâm thìHuyền Quang cùng với Pháp Loa là người góp phần vào quá trình phát triểncủa dòng thiền này Bên cạnh một thiền sư, Huyền Quang còn được biết nhưmột thi sĩ đích thực, một “người tình” của cuộc sống

Huyền Quang (1254 - 1334) có tên tục là Lý Đạo Tái hay Lý Tải Đạo.Ông là người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Bắc Giang nay là huyện GiaLương tỉnh Bắc Ninh - trung tâm Phật giáo lớn nhất nước ta lúc bấy giờ(Trung tâm Luy Lâu nay là Bắc Ninh) Tên tuổi của vị tổ thứ ba phái thiềnTrúc Lâm gắn liền với những câu chuyện nhuốm màu huyền thoại lúc sinh

Trang 31

thời Câu chuyện về sự ra đời đầy huyền bí của ông được ghi trong sách Tam

Tổ thực lục theo bản dịch của Nguyễn Tá Nhí (1765), được trích trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (tập một) do Nguyễn Đăng Na tuyển chọn

và giới thiệu Trong đó có đoạn như sau: “Mẹ của sư Tổ họ Lê, một người đàn bà có đức hạnh, thuận vâng theo chồng, kính dưỡng cha mẹ Năm bà ba mươi tuổi vẫn chưa có con trai nên thường đến cầu đảo ở chùa Ngọc Hoàng…Một hôm bà đến núi Trâu hái thuốc, đi tới chùa Tiên Ma Cô gặp buổi ngày hè nóng bức bà liền ghé chân đến nghỉ mát bên chùa Lúc này gió nồm lồng lộng, mặt trời đã gác non đoài Chợt như có vẻ mông lung chập chờn, bà thấy một con khỉ già to lớn đầu đội mũ triều thiên, mình mặc áo hoàng bào, ôm mặt trời hồng ném vào lòng bà Bà chợt bừng tỉnh, thấy lòng rung động Bà trở về nói chuyện lại với Tiên sinh Tiên sinh bảo:

- Động Thân Dương có tinh khí của loài khỉ không tiêu tan được,

vì thế mà có mộng ứng này, chẳng có gì lạ cả- rồi lại bình thêm- Ném mặt trời vào bụng là điềm Lê thị có thai.

[….] Năm ấy, Sư Tổ xuất sinh Ngày Sư Tổ ra đời có ánh hào quang rực rỡ, hương thơm tỏa ngào ngạt, người ta gọi ngài là Thanh Tịnh Hương hài đồng”.

Câu chuyện về sự ra đời thiền sư Huyền Quang phảng phất không khítái sinh của đấng A Nan tôn giả “các tòa trong chùa đèn nến rực sáng, chưphật trang nghiêm, Kim cương, Long thần hội tụ la liệt” Đó như một điềmbáo cho cuộc đời sau này gắn liền với con đường phật pháp của thiền sư

Không ít ý kiến cho rằng, Tam tổ thực lục đã cố tình huyền thoại hóa

sự ra đời của các vị sư tổ nhằm tạo nên không khí linh thiêng, kỳ bí Dù vậysong không thể phủ nhận tài năng, khí chất và nhân cách cao đẹp của tam tổTrúc Lâm Cuộc đời Huyền Quang tựa như một huyền thoại đẹp về một vịtiên giáng trần lúc ẩn lúc hiện Cho đến nay, chúng ta vẫn còn chưa có lời giải

Trang 32

đáp chính xác về cuộc đời của ông Đặc biệt là quãng thời gian lúc Huyền

Quang còn trẻ Sách Tam Tổ thực lục cho rằng ông làm quan khoảng hai

mươi năm sau đó đến năm năm mươi tuổi mới xuất gia tu hành và bắt đầu

cuộc đời hành đạo ba mươi năm Tuy nhiên, sách Tam tổ hành trạng thì cho

rằng ông thi đỗ trạng nguyên song không ra làm quan mà xin vua cho xuấtgia Có thể nói, tâm nguyện xuất gia của Huyền Quang gặp gỡ tâm nguyệncủa nhà vua Trần Thái Tông, Phật hoàng Trần Nhân Tông Họ có thể buông

bỏ tất cả vì lý tưởng Chỉ có điều, nếu như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tôngcòn day dứt trong việc lựa chọn khi vận mệnh của dân tộc chưa an thì HuyềnQuang nhẹ nhàng hơn Ông sẵn sàng dứt bỏ vinh hoa phú quý, những vướngbận trần tục nguyện một lòng theo đức Phật

Theo Tam Tổ thực lục, Huyền Quang xuất gia vào năm 1305, là học

trò của Pháp sư Bão Phác tại chùa Vũ Ninh Sau đó, ông gặp được vua TrầnNhân Tông Nhận thấy Huyền Quang là người có tâm đạo lại là người thôngminh, học rộng, vốn hiểu biết uyên thâm nên đã yêu cầu ông phò tá sư PhápLoa rồi sau đó nhiều lần giao cho ông soạn các tác phẩm giáo khoa Thiền như

Chư phẩm kinh, Công văn tập, Thích giáo khoa,… Nhà vua rất bằng lòng và khen ngợi “Tất cả qua tay Huyền Quang một chữ không thể tăng, một chữ không thể giảm” Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông còn ưu ái cho ông

theo bước truyền giảng đạo, giảng giải kinh Phật cho phật tử Sau đó, ôngđược lập làm chủ trì chùa Vân Yên trên núi Yên Tử Tại đây vì nể phục tàinăng đức độ của Huyền Quang, hàng ngàn đệ tử đã nối gót theo học Năm

1308, Điều Ngự viên tịch, Pháp Loa trở thành vị tổ thứ hai của Thiền TrúcLâm Trong thời gian này, Huyền Quang trở thành người phụ tá đắc lực choPháp Loa Năm 1330, Pháp Loa trở bệnh nặng và qua đời Từ đó, ông kế tụcPháp Loa lãnh đạo thiền Trúc Lâm cho đến khi ông mất (1334)

Trang 33

Trong cuộc đời tu hành của thiền sư Huyền Quang không thể không

kể đến câu chuyện về việc nhà vua Trần Minh Tông thử lòng ông Nhà vua tựhỏi “Sư già Huyền Quang từ trước đến nay cứ sắc sắc không không, như nướcchẳng gợn sóng như gương chẳng bụi mờ Đó là ngăn hãm lòng dục haykhông có lòng dục? ” Vua liền giao nhiệm vụ cho cung nữ Điểm Bích Chẳngbiết nàng Điểm Bích đã dùng kế gì mà có được dật vàng trước đây vua bancho Huyền Quang? Không ai tường rõ thực hư câu chuyện thế nào chỉ biếtrằng có hai luồng ý kiến bao quanh Một số người nghi ngờ bản lĩnh HuyềnQuang “anh hùng khó qua ải mỹ nhân” cho rằng Huyền Quang đã bị xao độngtrước người đẹp Điểm Bích Có lẽ, họ căn cứ vào bài thơ có phần lả lơi,phóng túng này:

Vằng vặc trăng mai ánh nước Hiu hiu gió trúc ngâm sênh Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ Mâu Thích Ca nào thuở hữu tình

Nhưng đa phần, người ta tin vào nhân cách thanh cao của HuyềnQuang Tấm lòng trong sạch của ông được trời thấu hiểu Câu chuyện được

ghi trong Tam tổ thực lục đầy màu sắc huyền thoại như một lời chiêu tuyết

cho ông “Tất cả mọi tạp vật đều bay đi, chỉ còn đèn nhang của sáu lễ”…

Khi đánh giá về thiền phái Trúc Lâm có người cho rằng, HuyềnQuang là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái của dòng thiềnnày Nhưng xét một cách khách quan, sự đi xuống của phái thiền Trúc Lâm

do quy luật vận động và phát triển của lịch sử thời kì này khi mà nền tảng xãhội lấy Đức trị và Tâm trị không còn phù hợp nữa.Trong những nỗ lực cuốicùng, Huyền Quang đã cố gắng chèo lái con thuyền Trúc Lâm trong sóng giócủa thời đại, đó cũng là điều lịch sử cần ghi nhận Huyền Quang đã dành phầnlớn cuộc đời mình dốc lòng cho đạo, gắn bó với đạo Vậy nên tên tuổi của

Trang 34

Huyền Quang xứng đáng cùng với Pháp Loa và Trần Nhân Tông được đặtngang hàng với sáu vị tổ thiền tông Trung Quốc.

Bên cạnh một Huyền Quang thiền giả, ta còn nhận thấy trong conngười đã đắc đạo ấy mang dấu ấn của một người nghệ sỹ Các nhà nghiên cứuthường xếp thơ Huyền Quang vào thơ thiền Lí -Trần nhưng thơ Thiền của ông

lại mang đậm chất trữ tình Tôn Sĩ Giác trong Nghiên cứu thơ thiền cổ Việt Hán 2 cho rằng “Một số bài thơ của ông người đọc không thể nghĩ rằng chúngđược viết dưới ngòi bút của một Thiền tăng” Đi sâu vào thế giới thơ HuyềnQuang, chúng tôi thấy phần lớn thơ của ông mang đậm dấu ấn của một nhàthơ hơn là của một thiền sư Đó là những xúc cảm với gió, mây, trăng, nướchữu tình thi vị, là những phút “phiêu diêu” cưỡi chơi cánh diều đi về cõi “vôtâm” và đôi lúc là ẩn mình trong nỗi cô đơn…

2 Dẫn theo Nguyễn Thị Hà An

Trang 35

Chương 2 CẢM HỨNG THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA

TRẦN NHÂN TÔNG VÀ HUYỀN QUANG 2.1 Cảm hứng thiên nhiên trong thơ ca thời Lý - Trần

Cảm hứng thiên nhiên trong thơ ca Lý – Trần là đối tượng nghiên cứucủa khá nhiều công trình gắn với những tên tuổi như: Bùi Văn Nguyên, ĐinhGia Khánh, Lê Trí Viễn, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Hữu Sơn, Đoàn Thị ThuVân, Nguyễn Công Lý…Trong các công trình nghiên cứu đó, hầu hết đềuhướng đến kết luận: thiên nhiên trong thơ ca Lý - Trần theo hai xu hướng:mang ý nghĩa trực tiếp và mang ý nghĩa biểu tượng Mặc dù vậy, có nhữngnét khác biệt giữa thời đại Lý và Trần

Thiên nhiên trong thơ ca đời Lý phần lớn gắn với những biểu tượng,

là phương tiện để thể hiện cảm quan thiền học Theo thống kê của Nguyễn

Công Lý trong Văn học Phật giáo thời Lý Trần, diện mạo và đặc điểm thì

những sáng tác này chiếm 139/148 đơn vị tác phẩm với tỷ lệ 94% trong khi

đó ở thời Trần là 182/257 đơn vị tác phẩm với tỷ lệ là trên 70% Những bàithơ về thiên nhiên nhiên trong thơ thiền đời Lý hiện còn không nhiều vàthường là những bài kệ của nhà sư nhằm giải đáp những thắc mắc của đệ tử

về một vấn đề nào đó trong kinh sách của nhà Phật

Chẳng hạn, về lẽ vô thường trong cuộc đời, không ít nhà sư đã bànđến thông qua hình ảnh của thiên nhiên Thiền sư Vạn Hạnh (? - 1018) trướckhi viên tịch có làm một bài kệ như sau:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô.

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

Trang 36

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

(Thân người như ánh chớp, có rồi trở thành không,Vạn vật cây cối mùa xuân thì tươi tốt, mùa thu lại khô héo.Mặc cho thịnh suy xoay vần, không lo sợ,

Thịnh suy cũng như hạt móc phơi trên đầu ngọn cỏ)Cuộc đời của con người cũng tựa như ánh chớp có rồi lại không, rấtnhanh chóng biến mất cũng giống như khi mùa xuân đến thì cây cối đâm chồinảy lộc tốt tươi còn mùa thu thì bắt đầu héo vàng tàn úa chuẩn bị cho một quátrình kết thúc Nhưng điều đó có là gì nếu ta hiểu rõ quá trình sinh- diệt, thịnh

- suy của vạn vật? Vạn vật tồn tại theo quy luật của tự nhiên thì có gì ta phảiphiền lòng, lo sợ Sinh hay diệt, thịnh hay suy đều là lẽ thường tình Vậy nên,cần gì phải vướng bận đau buồn, hãy cứ bình thản đón nhận nó Ta sẽ thấynhững điều ấy cũng thật nhẹ nhàng, nó sẽ nhanh chóng tan biến vào vũ trụ tựanhư hạt sương mỏng manh ở trên đầu ngọn cỏ

Hay cũng vào lúc lâm chung, để nhắc nhở đệ tử chớ có đau buồn về sự

ra đi của mình, thiền sư Giác Hải đã làm một bài kệ bằng những hình ảnh đẹpcủa mùa xuân:

Xuân lai hoa điệp thiện tri thì Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ Hoa điệp bản lai giai thị ảo Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì

(Xuân sang hoa bướm khéo quen thì,

Trang 37

Bướm lượn hoa cười vẫn đúng kỳ.

Nên biết bướm hoa đều huyền ảo,Thây hoa mặc bướm để lòng chi!)

Ở đây, thiền sư Giác Hải cũng bàn về sự tồn tại của con người Sống chết là lẽ tự nhiên như bướm hoa vào mùa xuân thì đua nhau khoe sắc Thânxác con người cũng mong manh, huyền ảo như cuộc đời hoa bướm kia vàhình ảnh bướm hoa khoe sắc chỉ là cái giả, cái tạm bợ mà thôi Cho nên cũngđừng có thấy hoa bướm đẹp mà sinh lòng thương tiếc đau buồn khi nó khôngcòn nữa

-Cùng với quy luật sinh - tử, trụ - diệt, thiền sư đời Lý cũng thường bànđến quy luật hữu - vô, sắc - không, cái có và cái không, thông qua những hìnhảnh đẹp của thiên nhiên Thiền sư Đạo Hạnh (? - 1117) khi được hỏi về Phậttâm có đáp rằng:

Tác hữu trần sa hữu

Vi không nhất thiết không Hữu không như thủy nguyệt Vật trước hữu không không

(Nói có muôn sự cóBảo không hết thảy không

Có không như trăng đáy nướcChớ nên chấp trước có không không)

Trang 38

Nếu bảo là có cũng là có Nếu nói là không cũng là không Sự có và

sự không cũng như trăng dưới đáy nước, vừa có đấy mà cũng không đấy mờ

mờ hư ảo Trong cái có chứa cái không, trong cái không đã có mầm của cái

có Đó là một quá trình vận động biện chứng Chính vì vậy đừng có bám vào

nó mà có cái nhìn phân biệt mà phải vượt lên cái có - không bình thường

Bài kệ dưới đây của thiền sư Khánh Hỷ để trả lời câu hỏi của ngườihọc trò nhưng đồng thời cũng chỉ ra sự lầm lạc của con người khi mang trongmình cái nhìn nhị kiến

Càn khôn tận thị mao đầu thượng Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung

(Trời và đất chứa đựng hết thảy ở trên đầu một sợi lôngMặt trời, mặt trăng chứa đựng trong lòng một hạt cải)Thế nào là lớn thế nào là nhỏ Với chúng ta, cả một vũ trụ thật là tolớn còn sợi lông thật là mỏng manh; một hạt cải thì rất nhỏ còn mặt trăng mặttrời thì lớn vô cùng Nhưng cũng phải thấy rằng, nhỏ là nhỏ với cái gì và lớn

là lớn với cái gì Dù sợi lông hay hạt cải nhỏ nhưng nó lại là cả một thế giớiđối với những loài nhỏ hơn…Rõ ràng, từ cái nhìn nhị kiến của con người mà

có sự phân biệt lầm lạc Nhỏ hay lớn chỉ mang tính tương đối mà thôi

Như vậy, thơ ca thời Lý thông qua hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp đểbiểu đạt triết lý Thiền tông, được thể hiện thông qua hình thức các bài kệtrong quá trình dạy bảo học trò Ở đó, thiên nhiên chưa được khám phá từ vẻđẹp thực sự của nó

Ngược lại, ở thời Trần thiên nhiên không chỉ là phương tiện để truyềnđạt những triết lý Thiền khô khan mà còn là đối tượng thẩm mỹ thực sự Cũng

Trang 39

theo khảo sát của Nguyễn Công Lý có 30% tác phẩm gắn với tính trữ tình sovới 6% ở thời Lý Trong thời kỳ đầu của nhà Trần, dù thiên nhiên được miêu

tả đẹp nhưng dường như vẫn theo quán tính, một số bài thơ vẫn không nằmngoài việc chuyển tải triết lý Thiền tông Chẳng hạn, Trần Thánh Tông có lúc

Song cũng trong thời kỳ đầu của nhà Trần đã manh nha xuất hiệnnhững tác phẩm thơ Thiền đậm chất thơ Chẳng hạn, vua Trần Thái Tông có

bài thơ Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn (Gửi nhà sư Đức Sơn ở am Thanh

Phong)

Phong đả tùng quan nguyệt chiếu đình Tâm kỳ phong cảnh cộng thê thanh.

Cá trung tư vị vô nhân thức

Phó dữ sơn tăng lạc đáo minh

(Gió đập cổng thông trăng sáng trước sân,

Trang 40

Đúng lúc lòng với phong cảnh cùng sáng trong lặng lẽBao nhiêu thú vị trong đó không ai hay,

Cứ để vị sơn tăng vui đến sáng.)Bài thơ vừa đậm chất thơ vừa mang đậm ý vị của Thiền Bài thơ ghilại cảm xúc của Trần Thái Tông một hôm đến am Thanh Phong và thấy ngườibạn đang ngồi ngắm trăng Khuôn mặt người ấy sáng lên vui vẻ với niềm vuinhư được trào ra từ tận trong lòng Nhà thơ có sự đồng cảm nên đã làm thơtặng vị sư đó Đêm trăng sáng trong với gió thu xào xạc đập vào cánh cửa gỗthông Cảnh ấy cũng khá quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày nhưng TrầnThái Tông lại cảm thấy có ý vị riêng mà người ngoài không hiểu được làmcho ông sư vui đến sáng Đó chính là niềm vui tự tại trong tâm hồn, là sự hòanhập trọn vẹn vào thiên nhiên của trăng của gió mà không lo sợ kiếp ngườihữu hạn, trong lòng tự chứa mùa xuân vĩnh hằng…

Về cuối đời Trần, thiên nhiên dần thoát khỏi cái khuôn có sẵn ChấtThiền khô khan được hòa quyện trong những bài thơ mềm mại mà biên độcủa nó được mở rộng bởi thể thơ thất ngôn nhằm khai thác chiều sâu trongcảm xúc, trong cõi lòng thi nhân khi mà thể thơ ngũ ngôn không làm được

Và càng về sau, thơ ca không chỉ có chất triết lý của Phật giáo mà còn có cáiphóng khoáng của Nho gia, cái nhàn dật của Lão Trang Hãy thử khám phámột vài tác phẩm tiêu biểu của thời đại này Trước hết là thơ Trần NhânTông:

Địa tịch đài du cổ, Thời lai xuân vị thâm.

Vân sơn tương viễn cận,

Ngày đăng: 25/02/2016, 08:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Hà An (2008), Thơ ca Huyền Quang- con đường của Thiền và cái đẹp, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Huyền Quang- con đường củaThiền và cái đẹp
Tác giả: Nguyễn Thị Hà An
Năm: 2008
2. Thích Phước An (1992), “Huyền Quang và con đường trầm lặng mùa thu”, Tuyển tập 40 năm Tạp chí Văn học 1960-1999 (tập 2), tr.482-489 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyền Quang và con đường trầm lặng mùathu”, "Tuyển tập 40 năm Tạp chí Văn học 1960-1999 (tập 2)
Tác giả: Thích Phước An
Năm: 1992
3. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
4. Lê Bảo (1997), Thơ văn Lý - Trần (Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường phổ thông), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Lý - Trần
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Ngữ văn 12 (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12 (tập 1)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
6. Minh Chi (1995), “Huyền Quang”, Thiền học đời Trần, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyền Quang”, "Thiền học đời Trần
Tác giả: Minh Chi
Năm: 1995
7. Nguyễn Phương Chi (1982), “Huyền Quang- nhà thơ thi sĩ”, Tạp chí văn học, (3), tr. 75-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyền Quang- nhà thơ thi sĩ”, "Tạp chívăn học
Tác giả: Nguyễn Phương Chi
Năm: 1982
8. Nguyễn Văn Dân (2001), Lý luận văn học so sánh, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốcgia
Năm: 2001
9. Hà Minh Đức (2008), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
10. Lê Bá Hãn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2013), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữvăn học
Tác giả: Lê Bá Hãn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2013
11. Thích Nhất Hạnh (2014), Trái tim của Bụt, Nxb Tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trái tim của Bụt
Tác giả: Thích Nhất Hạnh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 2014
12. Kiều Thu Hoạch (1982), “Tìm hiểu thơ văn các nhà sư”, Tạp chí văn học (6), tr.64-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thơ văn các nhà sư”, "Tạp chí vănhọc
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Năm: 1982
13. Hồ Sĩ Hiệp (1991), Phê bình bình luận văn học - Thơ Đường, Nxb Tổng hợp Khánh Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình bình luận văn học - Thơ Đường
Tác giả: Hồ Sĩ Hiệp
Nhà XB: NxbTổng hợp Khánh Hòa
Năm: 1991
14. Nguyễn Phạm Hùng (1992), “Thơ Thiền và việc lĩnh hội thơ Thiền thời Lý”, Tạp chí văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Thiền và việc lĩnh hội thơ Thiền thờiLý”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 1992
15. Nguyễn Phạm Hùng (1995), Vận dụng quan điểm thể loại vào việc nghiên cứu văn học Việt Nam thời Lý - Trần, Luận án PTS Ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng quan điểm thể loại vào việcnghiên cứu văn học Việt Nam thời Lý - Trần
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 1995
16. Nguyễn Phạm Hùng (1998), Thơ Thiền Việt Nam - những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Thiền Việt Nam - những vấn đề lịchsử và tư tưởng nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1998
17. Nguyễn Phạm Hùng (1999), Văn học Việt Nam (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (từ thế kỉ X đến thế kỉXIX)
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
18. Nguyễn Phạm Hùng (2001), Trên hành trình văn học trung đại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên hành trình văn học trung đại
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: NxbĐại học Quốc gia
Năm: 2001
19. Viện Văn học (1989), Thơ văn Lý - Trần (1989) (tập 2), quyển thượng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Lý - Trần
Tác giả: Viện Văn học
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1989
20. Kiều Thu Hoạch (1965), “Tìm hiểu thơ văn các nhà sư Lý - Trần”, Tạp chí văn học (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thơ văn các nhà sư Lý - Trần”, "Tạpchí văn học
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Năm: 1965

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w