Em xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp cuối khóa với đề tài “Định hướng chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện” đ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tên em là: Nguyễn Thị Ngân Hà, sinh viên lớp Kinh tế phát triển 54B, khoa Kế hoạch và Phát triển
Em xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp cuối khóa với đề tài “Định hướng chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động của Công ty Cổ phần đầu tư
và xây dựng Bưu điện” được thực hiện dưới sự nghiên cứu, tìm tòi của bản thân em,
dưới sự hỗ trợ của Giáo viên hướng dẫn Tiến sĩ Bùi Đức Tuân và sự giúp đỡ của các
anh chị Ban Thương mại và phát triển dịch vụ Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện Em xin cam đoan những số liệu trong chuyên đề là trung thực, không sao chép các bài chuyên đề của khóa trước Nếu phát hiện sự gian lận nào, em xin chịu trách nhiệm với nhà trường và khoa Kế hoạch và Phát triển
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
Nguyễn Thị Ngân Hà
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến các thầy cô trường Đại học Kinh tế quốc dân và các thầy, cô trong khoa Kế hoạch và Phát triển đã tạo điều kiện cho em đi thực tập để có thể nâng cao hiểu biết của mình Em cũng xin cảm ơn ban lãnh đạo Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện cùng với các chú, anh, chị trong Ban Thương mại và phát triển dịch vụ đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập ở Công ty
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo TS Bùi Đức Tuân,
người đã tận tình hỗ trợ, hướng dẫn em trong thời gian qua để em có thể hoàn thành tốt bài chuyên đề tốt nghiệp của mình
Do hạn chế về thời gian, kinh nghiệm cũng như kiến thức thực tế, chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy em rất mong nhận được ý kiến từ các thầy cô
để bài chuyên đề được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
Nguyễn Thị Ngân Hà
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết
Khi kinh tế phát triển kéo theo sự phát triển của các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần cho con người, đặc biệt là sự bùng nổ công nghệ thông tin, và sự phát triển mạnh mẽ của mạng di động Khi dịch vụ điện thoại đã bão hòa thì các nhà mạng cạnh tranh rất khốc liệt để chiếm lĩnh thị trường và thu hút được ngày càng nhiều khách hàng Biện pháp được họ sử dụng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và khó tính của khách hàng là triển khai và phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động, và mảng dịch vụ gia tăng này hiện nay là nguồn thu chính của các nhà mạng, đóng góp một phần không nhỏ vào doanh thu của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện cũng là một trong những nhà cung cấp dịch vụ viễn thông khi nhìn thấy được hiệu quả do mảng này mang lại Hiện nay công
ty đã triển khai dịch vụ giá trị gia tăng này trên hai mạng là vietnamobile (dịch vụ Funvoice và dịch vụ nhạc chuông, nhạc chờ) và Viettel (dịch vụ VoiceEmotion và dịch
vụ đầu số) Doanh thu và lợi nhuận từ các dịch vụ này đã mang lại nguồn thu đáng kể, góp phần vào kết quả chung của toàn công ty trong những năm qua Để đạt được điều này, Công ty đã đưa ra chiến lược phát triển dịch vụ phù hợp với thực tế khách quan, khẳng định được vai trò của chiến lược trong sự tồn tại và phát triển của tổ chức cũng như dịch vụ giá trị gia tăng muốn được khách hàng tiếp nhận thì cũng cần có một chiến lược rõ ràng Sự thành công hay thất bại hiện tại của một công ty được đo lường qua kết quả hoạt động kinh doanh, hệ thống và nguồn lực, còn sự phát triển về lâu dài trong tương lai phụ thuộc chủ yếu vào chiến lược Xã hội luôn thay đổi một cách chóng mặt, nhu cầu của con người thì ngày càng tăng lên, và trên thị trường tồn tại rất nhiều nhà cung ứng hợp tác với các nhà mạng đưa ra các gói dịch vụ giá trị gia tăng, để có thể cạnh tranh được thì công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện phải đưa ra một chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng rõ ràng và các quyết định phù hợp với sự biến động của thị trường Chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng của công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện sẽ giúp công ty biết sử dụng nguồn lực của mình như thế nào, nắm bắt và tận dụng cơ hội kinh doanh ra sao để đưa dịch vụ giá trị gia
Trang 5tăng đi đến đâu trong tương lai Không có một chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng rõ ràng, đúng đắn thì dịch vụ giá trị gia tăng mà công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện cung cấp sẽ như thế nào, liệu có được khách hàng biết đến và sử dụng Chiến lược phá triển còn là căn cứ để hoạch định kế hoạch phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động của công ty
Việc nghiên cứu định hướng chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng sẽ góp phần cho công ty nâng cao được doanh thu và giữ được và mở rộng số lượng khách
hàng của mình ở hiện tại và cả tương lai Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “Định hướng chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện” làm chuyên đề tốt nghiệp.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài “Định hướng chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện” là:
- Chỉ ra được các kết quả phát triển đạt được của Công ty và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động của công ty
- Định hướng chiến lược của Công ty trong thời gian tới và qua quá trình đánh giá tiềm năng phát triển dịch vụ của công ty, đề xuất một số giải pháp trong tương lai nhằm phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động của Công ty
3 Phạm vi nghiên cứu
Bài chuyên đề nghiên cứu trong phạm vi Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện, nghiên cứu các số liệu về tài chính, như doanh thu, lợi nhuận chủ yếu tập trung nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động mà công ty cung cấp đến khách hàng sử dụng
4 Kết cấu chuyên đề
Đề tài được chia thành 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động
Trang 6Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện.
Chương 3: Định hướng chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện
Trang 7CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN MẠNG DI ĐỘNG
1.1 Khái quát về Phát triển dịch vụ
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Khái niệm “Phát triển”
Theo các nhà nghiên cứu xã hội học Pháp, khái niệm Phát triển chỉ mới ra đời từ những năm đầu của thế kỉ XX, sau chiến tranh thế giới thứ nhất Hiện nay, trong giới nghiên cứu khoa học, vấn đề phát triển được xem như là trọng tâm hàng đầu Phát triển tồn tại ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu: tài nguyên con người và phát triển, môi trường và phát triển, phụ nữ gia đình và phát triển, dân tộc và phát triển, tôn giáo và phát triển, con người và phát triển Vậy phát triển là gì?
Theo quan điểm siêu hình: Phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, đồng thời phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp
Để thay đổi suy nghĩ phát triển chỉ là sự thay đổi về lượng, mà không có về chất của trường phái theo quan điểm siêu hình, các nhà khoa học theo trường phái biện chứng duy vật cho rằng: Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao,
từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực
từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật
Ngày nay, nhiều quan điểm về phát triển khác được đưa ra như: Phát triển được định nghĩa khái quát trong Từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn”
Trong Từ điển Bách khoa của Việt Nam, phát triển được định nghĩa là: “Phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới”
Trang 8Như vậy, có thể đưa ra khái niệm cơ bản nhất về Phát triển đó là: Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo
và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ
- Khái niệm “Dịch vụ”
Con người không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn có nhu vầu về tinh thần Các hoạt động dịch vụ ra đời nhằm thỏa mãn các nhu cầu ấy của con người Theo thời gian, dịch vụ ngày càng phát triển và trở nên quan trọng trong cuộc sống loài người, chiếm một vị trí không thể thay đổi Một xã hội càng phát triển thì các hoạt động dịch vụ càng được phổ biến và nâng cao hơn
Theo Philip Kotler, giáo sư Marketing nổi tiếng thế giới, cha đẻ của Marketing hiện đại, cho rằng “ Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”
Theo Businessdictionary, Dịch vụ là sản phẩm vô hình như kế toán, ngân hàng, tư vấn, bảo hiểm, y tế, vận chuyển Những sản phẩm dịch vụ được bán ra, không thể lưu trữ và vận chuyển, không bị hư hỏng, đi vào tồn tại vào thời điểm mua và tiêu thụ.Trong kinh tế học, Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng
là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
Ở Việt Nam, khái niệm dịch vụ cũng được một số nhà nghiên cứu đưa ra PGS.TS Nguyễn Văn Thanh cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và
Trang 9làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”.
Như vậy: Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu
- Khái niệm “Phát triển dịch vụ”
Dịch vụ ra đời không những chỉ đáp ứng một phần nhu cầu tinh thần của con người, mà nó ngày càng phát triển và tiến bộ hơn Dịch vụ cũng là một trong những lĩnh vực nghiên cứu có liên quan đến phát triển Không chỉ đối với toàn xã hội, mà các dịch vụ trong các doanh nghiệp cũng ngày càng được chú trọng, và nó là một nguồn thu đáng kể cho họ Để đáp ứng được những nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, những doanh nghiệp cung cấp các hoạt động dịch vụ cần phải cân nhắc và đưa ra những chiến lược rõ ràng, cụ thể
Theo Boundless marketing, Phát triển dịch vụ được coi là phát triển một doanh nghiệp thông qua một số thông số kỹ thuật Hai câu hỏi chính cần thiết phải trả lời là: Làm thế nào để chúng ta thấy, đạt, và tiếp cận được khách hàng? Làm thế nào để chúng
ta giữ được sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ mới có thể?
Như vậy, Phát triển dịch vụ là quá trình làm đa dạng hóa dịch vụ cả về chủng loại cũng như chất lượng dịch vụ, làm tăng mức độ cảm nhận dịch vụ trên cơ sở phát triển những lợi ích cơ bản thuần túy mà dịch vụ mang lại cho người sử dụng
có những điểm nào cần phải thay đổi để phù hợp với nhu cầu của khách hàng Doanh
Trang 10nghiệp xác định được những điểm yếu để khắc phục và có thể nâng cao chất lượng cũng như các hoạt động của dịch vụ hơn, thay đổi một số yếu tố làm nó mới hơn, phù hợp với thị trường hơn nhằm giữ chân những khách hàng sử dụng và thu hút lượng khách hàng mới tham gia.
Phát triển dịch vụ mới: để tăng thêm doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp, làm gia tăng thị phần trên thị trường, không chỉ là những dịch vụ đang tồn tại, mà doanh nghiệp tiến hành nghiên cứu thị trường, khảo sát thị trường đang phát triển như thế nào, cần gì, mong muốn cái gì và tiến hành đưa ra những ý tưởng mới liên quan đến các dịch vụ Doanh nghiệp sẽ đưa ra những sản phẩm dịch vụ khác, mới mẻ hơn, hấp dẫn hơn, hoàn thiện hơn, ngày càng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hơn.1.1.3 Quy trình phát triển dịch vụ của doanh nghiệp
Để phát triển dịch vụ, doanh nghiệp phải tiến hành nhiều bước khác nhau, nhằm đưa ra những dịch vụ phù hợp với khách hàng, rồi đưa dịch vụ đó đến với khách hàng thông qua các kênh phân phối khác nhau Một quy trình phát triển dịch vụ của doanh nghiệp thường trải qua bảy bước chủ yếu
Bước 1: Nghiên cứu thị trường
Đây là bước đầu tiên và cũng là một trong những bước quan trọng nhất trong quy trình phát triển dịch vụ Để biết khách hàng họ thiếu gì, họ cần gì và muốn như thế nào, tình hình của dịch vụ ra sao thì cần nghiên cứu thị trường Đối với các doanh nghiệp, trước khi quyết định thâm nhập một thị trường, tung ra một sản phẩm (SP) mới, hoặc thực hiện một chiến dịch quảng bá truyền thông, hay quyết định điều chỉnh một trong các yếu tố nào đó như tăng giảm giá, thay đổi mẫu mã sản phẩm, tái định vị họ đều thực hiện bước Nghiên cứu thị trường trước khi xây dựng kế hoạch chi tiết Nghiên cứu thị trường là hoạt động của con người diễn ra trong mối quan hệ với thị trường nhằm tìm hiểu; xác định các thông tin về thị trường, từ đó có thể nắm bắt được những cơ hội kinh doanh xuất hiện trên thị trường Nghiên cứu thị trường có nhiều chức năng liên kết giữa người tiêu dùng, khách hàng và công chúng với các nhà hoạt động thị trường thông qua những thông tin, những thông tin này có thể sử dụng để nhận dạng và xác định các vấn đề cũng như cơ hội Marketing; là cơ sở cho sự cải tiến và đánh giá các
Trang 11hoạt động Marketing Nghiên cứu thị trường có vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là công cụ giúp cho doanh nghiệp hiểu khách hàng
và có thể thu hút được khách hàng thông qua việc điều tra, thu thập và xử lý thông tin đáng tin cậy về thị trường liên quan đến dịch vụ, ảnh hưởng đến các quyết định của doanh nghiệp như: dịch vụ nào đang tồn tại, dịch vụ nào đang được nhiều khách hàng
ưa chuộng, sở thích của khách hàng là gì
Bước 2: Phát triển dịch vụ
Sau khi đã tiến hành khảo sát, thu thập và xử lý thông tin ở bước nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp tiến hành sang bước thứ hai đó là bắt đầu tiến hành Phát triển dịch vụ Sau khi thấy được nhu cầu của khách hàng về dịch vụ đang sử dụng, doanh nghiệp tiến hành phân tích xem phát triển dịch vụ theo hướng nào, bằng cách đưa ra những dịch vụ mới hay đa dạng các loại hình dịch vụ hơn, tiến hành nhiều hoạt động khuyến mại, nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm thu hút số lượng khách hàng nhiều hơn, gắn bó với doanh nghiệp lâu hơn Doanh nghiệp cần có những nhận định chính xác, đưa ra những dịch vụ sao cho nó phù hợp với nhu cầu của con người hiện tại, để các loại hình dịch vụ mới được thị trường nói chung, và được từng cá nhân khách hàng nói riêng tiếp nhận
Bước 3: Thiết kế chính sách giá
Khi đã có được dịch vụ rồi, để thâm nhập vào thị trường, doanh nghiệp bắt đầu xét đến giá cả của sản phẩm dịch vụ Giá là biểu tượng giá trị của sản phẩm, là lợi ích kinh tế của sản phẩm được tính bằng tiền là sự chấp nhận một mức giá phụ thuộc rất lớn vào sự xét đoán lợi ích mà các thành viên tham gia trao đổi đánh giá về mức giá đó Giá là lợi ích được đo bằng tiền, giá là cách thức thể hiện giá trị của sản phẩm Giá có tầm quan trọng đối với cả khách hàng và doanh nghiệp Giá cả là yếu tố quyết định đến hành động của khách hàng, có nên mua hay sử dụng dịch vụ này hay không Đối với doanh nghiệp, giá cả là vũ khí cạnh tranh trên thị trường, quyết định doanh thu và lợi nhuận, và gián tiếp thể hiện chất lượng của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường Để được khách hàng chấp nhận và chú ý, doanh nghiệp cần thực hiện thiết kế chính sách giá phù hợp Đó là tập hợp những cách thức và quy tắc xác định mức giá cơ sở của sản
Trang 12phẩm và quy định biên độ dao động cho phép, biến đổi mức giá cơ sở trong những điều kiện nhất định của hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trên thị trường.
Bước 4: Thiết lập hệ thống phân phối
Sau các bước trên, doanh nghiệp cần xác định hệ thống phân phối sản phẩm dịch
vụ Thiết lập hệ thống kênh phân phối là quá trình kết hợp các quyết định về địa điểm theo yếu tố địa lý và khách hàng để xác định và xây dựng phương án kênh phân phối của doanh nghiệp Dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệt, sự phân phối và tiêu dùng diễn ra liên tục, không tách rời nhau, do đó hệ thống phân phối của dịch vụ khác với các loại hàng hóa thông thường khác Hệ thống phân phối là việc tham gia của doanh nghiệp tác động trực tiếp để đưa khách hàng tới tiêu dùng dịch vụ hoặc đưa dịch vụ tới các thị trường khác nhau để tiếp cận với khách hàng
Bước 5: Các chương trình xúc tiến hỗn hợp
Khi đã có sản phẩm dịch vụ, và có các hệ thống phân phối thì doanh nghiệp cần thực hiện các chương trình xúc tiến hỗn hợp, để đưa khách hàng lại gần và sử dụng dịch vụ trên thị trường Xúc tiến hỗn hợp là truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp tới khách hàng mục tiêu để thuyết phục họ mua và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ, có thể coi đây là hoạt động truyền thông marketing Mục tiêu cơ bản của XTHH là thông báo, thuyết phục và nhắc nhở đối tượng nhận tin Thông qua các nội dung thông điệp, DN thông báo cho KH về sự có mặt của sản phẩm trên thị trường, thuyết phục họ về các ưu việt của sản phẩm so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh và nhằm tạo ảnh hưởng đến khách hàng, họ sẽ nhớ đến sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp nếu có nhu cầu sử dụng sản phẩm Một số hoạt động trong chương trình xúc tiến hỗn hợp được đưa ra như: quảng cáo (truyền thông tin về sản phẩm đến khách hàng với nhiều hình thức khác nhau như phát tờ rơi, giới thiệu qua các kênh thông tin ), khuyến mãi (là tất cả các biện pháp tác động tức thời ngắn hạn để khuyến khích việc dùng thử hoặc mua nhiều hơn sản phẩm/dịch vụ nhờ cung cấp những lợi ích bổ xung cho KH), marketing trực tiếp, bán hàng trực tiếp
Trang 13Bước 6: Các hoạt động chăm sóc khách hàng
Khi khách hàng đã biết đến và sử dụng sản phẩm dịch vụ, thì doanh nghiệp cần tiến hành các hoạt động chăm sóc khách hàng, các hoạt động này rất quan trọng và cần thiết để một doanh nghiệp cung cấp sản phẩm dịch vụ có thể thành công Nó là yếu tố quyết định đến việc khách hàng có tiếp tục sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp nữa không Mỗi khách hàng được chăm sóc tốt có nghĩa là khách hàng có sự hài lòng về tất
cả các hoạt động liên quan đến dịch vụ của doanh nghiệp, họ được quan tâm cả khi chưa có quyết định sử dụng sản phẩm dịch vụ tiếp theo Khách hàng cũng là yếu tố làm tăng lên lượng khách hàng tiềm năng cho doanh nghiệp, thu hút những người khác sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp Vì vậy cần tiến hành hoạt động chăm sóc khách hàng
kể cả trong và sau quá trình sử dụng dịch vụ để họ trở thành những khách hàng trung thành của doanh nghiệp Một số hoạt động chăm sóc khách hàng như: thường xuyên liên lạc với khách hàng, hỏi ý kiến khách hàng về chất lượng của dịch vụ, thái độ của nhân viên đối với khách hàng luôn mềm mỏng, lắng nghe những phản hồi của khách hàng, tiến hành các hoạt động xử lý nếu có sự khiếu nại, thực hiện các chương trình khuyến mãi tri ân khách hàng, các hoạt động bảo hành sản phẩm
Bước 7: Quan hệ hợp tác kinh doanh
Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì giải pháp liên kết, hợp tác kinh doanh giữa các công ty tỏ ra rất hiệu quả Hai doanh nghiệp hợp tác kinh doanh có hiệu quả thể hiện qua các nhân tố đó là sự đồng lòng, giá trị chia
sẻ, tôn trọng lẫn nhau, sự bổ sung kinh nghiệm cùng với các kỹ năng, tạo điều kiện để hai bên có thể thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ
1.2 Khái quát về chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
• Khái niệm “Chiến lược”
Chiến lược đã tồn tại từ lâu đời Chiến lược là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “ Strategos” dựng trong quân sự Từ xưa, từ Chiến lược gắn với các hoạt động liên quan đến quân sự Một xuất bản của từ điển Larous coi: chiến lược là nghệ thuật chỉ
Trang 14huy các phương tiện để giành chiến thắng Chiến lược sẽ giúp quân đội hoạt động có mục đích và tạo những cơ hội để giành được thắng lợi trong các cuộc chiến.
Từ thập kỉ 60 thế kỉ XX, chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh, chiến lược không chỉ gắn với hoạt động quân sự, mà nó còn gắn với các lĩnh vực khác đối với quốc gia như chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước hay của từng địa phương, và đặc biệt chiến lược cũng gắn với doanh nghiệp, tổ chức trong xã hội và đặc biệt nó càng trở nên quan trọng khi kinh tế càng phát triển và tính cạnh tranh ngày càng cao
Để doanh nghiệp có thể tồn tại và hoạt động, phát triển thì cần có chiến lược cụ thể trong một giai đoạn nào đó, thể hiện được mục tiêu, và phương pháp làm thế nào để doanh nghiệp có thể đi đến mục tiêu đó
Theo Alfred Chander: Chiến lược là việc xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và thực hiện các chương trình hành động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu
Henderson, một chiến lược gia đồng thời là nhà sáng lập tập đoàn Tư vấn Boston
đã kết nối khái niệm chiến lược với lợi thế cạnh tranh Chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức Những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thế của bạn
Còn theo BCG: Chiến lược là việc phân bổ các nguồn lực sẵn có với mục đích thay đổi thế cân bằng cạnh tranh và chuyển lợi thế cạnh tranh về phía doanh nghiệp.Như vậy, Chiến lược là quá trình phối hợp và sử dụng hợp lý các nguồn lực trong những thị trường xác định, nhằm khai thác cơ hội kinh doanh, tạo ra lợi thế cạnh tranh
để tạo ra sự phát triển bền vững và ổn định cho doanh nghiệp
- Khái niệm “Chiến lược phát triển”
Cuộc sống luôn thay đổi chóng mặt, để thích nghi và làm mới mình hơn thì doanh nghiệp cần có chiến lược phát triển theo từng giai đoạn khác nhau Chiến lược phát triển góp phần giúp doanh nghiệp phát triển đúng hướng, khai thác tối đa những cơ hội
mà xã hội mang đến và hạn chế được những thách thức đang gặp phải, giúp doanh
Trang 15nghiệp hoạt động đảm bảo, có hiệu quả và bền vững, tăng doanh thu cũng như lợi nhuận của, nâng cao giá trị của từng đơn vị bộ phận Vậy chiến lược phát triển là gì mà
nó có tầm quan trọng như vậy
Chiến lược phát triển là định hướng và phạm vi phát triển dài hạn của một tổ chức, nhằm tận dụng những lợi thế trong sự biến động của môi trường thông qua nguồn lực và khả năng của tổ chức đó
- Khái niệm “Chiến lược phát triển dịch vụ”
Chiến lược phát triển dich vụ là tập trung khả năng vào lượng hóa và phát triển tổng thể Chiến lược phát triển dịch vụ là định hướng và phạm vi phát triển dài hạn của một tổ chức về dịch vụ, nhằm tận dụng những lợi thế trong sự biến động của môi trường thông qua nguồn lực và khả năng của tổ chức đó
Có 4 chiến lược phát triển dịch vụ gồm:
• Chiến lược hệ thống mạng lưới
• Chiến lược tập trung dịch vụ
• Đa dạng hóa hệ thống và chiến lược dịch vụ dưới một nhãn hiệu
• Đa dạng hóa hệ thống và chiến lược dịch vụ đa nhãn hiệu
- Khái niệm Chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng
Chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng là chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng mới tiêu thụ ở các thị trường hiện tại của công ty hoặc là hoàn thiện dịch vụ giá trị gia tăng cũ tại thị trường hiện tại Dịch vụ giá trị gia tăng mới có thể là dịch vụ mới cải tiến, dịch vụ mới hoàn toàn, hoặc dịch vụ mới mô phỏng
1.2.2 Các đặc trưng của chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng
Dịch vụ giá trị gia tăng là một sản phẩm vô hình, không mang hình thái sản phẩm vật chất hữu hình, không thể chuyển nhượng với các sản phẩm hữu hình khác, không thể cầm hay lưu trữ nó, do đó chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng cũng có những đặc trưng đặc biệt để đưa cái sản phẩm vô hình đó đến với khách hàng và xác định được hướng đi cho sản phẩm
Trang 16Chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng có năm đặc trưng cơ bản, đó là: tính lâu dài, tính toàn diện và rõ ràng, tính hiệu quả, tính liên tục và kế thừa, tính rủi ro.Thứ nhất, chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng có tính lâu dài Doanh nghiệp được thành lập với mục đích thu lợi nhuận và lợi ích kinh tế trong dài hạn Để tận dụng được những cơ hội mà thị trường mang lại và có thể vượt qua được những thử thách đặt ra, doanh nghiệp cần có những chiến lược riêng cho mình Đặc biệt, dịch vụ giá trị gia tăng ra đời, không chỉ phục vụ khách hàng trong khoảng thời gian ngắn như một, hai năm muốn tồn tại và được nhiều khách hàng sử dụng thì dịch vụ này cần có một chiến lược phát triển lâu dài, rõ ràng thể hiện được mục tiêu của nó Chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng định hướng mục tiêu, con đường đi của dịch vụ, mang tính định hướng, phản ánh xu thế đi lên của dịch vụ Vì dịch vụ giá trị gia tăng là sản phẩm vô hình, khách hàng không thể thấy trước được, không thể thử để biết chất lượng của sản phẩm, do đó để khách hàng có thể thấy được chất lượng của dịch vụ và có những thay đổi về khoa học công nghệ, làm chuyển biến các mối quan hệ sản xuất, từ
sự biết đến của khách hàng đến việc khách hàng sử dụng vs nhớ đến dịch vụ thì cần một thời gian dài Chính vì vậy mà chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng có tính lâu dài, theo từng giai đoạn khác nhau
Thứ hai, chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng có tính toàn diện và rõ ràng Tính toàn diện của chiến lược phát triển dịch vụ được thể hiện ở trong nội dung các vấn đề mà chiến lược đề cập đến Tính toàn diện thể hiện trước hết ở hệ thống mục tiêu
mô tả và bao quát toàn bộ mục đích cũng như các tiêu đích mà doanh nghiệp hướng các dịch vụ giá trị gia tăng tới đó trong một khoảng thời gian của chiến lược Tính toàn diện cũng thể hiện ở tính bao quát của các giải pháp chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng Các giải pháp chiến lược phát triển phải mang tính hệ thống, khai thác được triệt để mọi thế mạnh, khắc phục được các điểm yếu nhằm tận dụng được các cơ hội từ bên ngoài doanh nghiệp mang lại, hạn chế được và xóa bỏ các đe dọa xuất hiện trong thời kì chiến lược Tính rõ ràng của chiến lược thể hiện ở chỗ cần phải làm rõ các vấn đề liên quan đến dịch vụ giá trị gia tăng Thực trạng của dịch vụ tại doanh nghiệp hiện nay (đã được tiến hành như thế nào, số lượng khách hàng sử dụng là bao nhiêu, doanh nghiệp có những thế mạnh và điểm yếu gì để phát triển dịch vụ giá trị gia tăng),
Trang 17cái gì sẽ xảy ra trong tương lai, mục tiêu mà doanh nghiệp hướng đến, cách thức để đạt được mục tiêu đó như thế nào( cần sử dụng nguồn lực ra sao, nhóm các giải pháp như thế nào, mối quan hệ giữa các giải pháp ), và các công cụ hay phương pháp để xác định xem doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu ở mức độ nào và khi nào thì biết đã đạt được mục tiêu.
Thứ ba, chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng có tính hiệu quả Một doanh nghiệp luôn có mục đích là tối đa hóa lợi nhuận trong cả ngắn hạn và dài hạn Doanh nghiệp cần tận dụng mọi nguồn lực tối đa cho phép để đạt được mục đích đó Muốn vậy, doanh nghiệp cần có một chiến lược phát triển mang tính thiết thực và hiệu quả Tính hiệu quả của chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng thể hiện ở chỗ nó phù hợp với tình hình thực tế và khả năng có thể đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Chiến lược đưa ra phải góp phần làm cho dịch vụ giá trị gia tăng phát triển không ngừng, mang lại kết quả cao Mọi phương án chiến lược được đưa ra và phương án chiến lược được lựa chọn phải dựa trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế - xã hội lâu dài
Thứ tư, chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng mang tính liên tục và kế thừa Để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh về dịch vụ giá trị gia tăng của doanh nghiệp được thực hiện một cách liên tục đòi hỏi các quá trình chiến lược phải kế tiếp nhau, quá trình sau phải tiếp nối và kế thừa những thành tựu và khắc phục những hạn chế của quá trình trước Tính liên tục đòi hỏi các chiến lược phát triển dịch vụ phải
kế tiếp nhau, không xảy ra bất cứ sự gián đoạn chiến lược nào Đây là điều kiện để doanh nghiệp theo đuổi các mục tiêu lâu dài của mình Tính kế thừa đòi hỏi các giải pháp chiến lược phát triển của giai đoạn chiến lược sau phải kế thừa các tinh hoa giải pháp chiến lược phát triển của giai đoạn chiến lược trước Đây là điều kiện để doanh nghiệp thường xuyên khai thác thế mạnh trong hoạch định chiến lược, vừa giảm thời gian tìm tòi, hoạch định chiến lược vừa đảm bảo điều kiện để chiến lược phát triển dịch
vụ thành công
Thứ năm, chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng mang tính rủi ro Một chiến lược phát triển được đưa ra, nếu dựa trên phân tích tình hình sai thì nó có thể là
Trang 18sai lầm, gây nguy hại đến doanh nghiệp Rủi ro về chiến lược phát triển dịch vụ giá trị gia tăng là rủi ro hiện tại và tương lai có ảnh hưởng tới lợi nhuận, tới hoạt động của doanh nghiệp do quyết định hoặc thực hiện không đúng hoặc do không thích nghi kịp với sự thay đổi của ngành Rủi ro về chiến lược phát triển là một phần của việc tương thích giữa mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp và chiến lược phát triển đề ra để đạt được mục tiêu này dựa trên các nguồn lực, bao gồm cả nguồn lực hữu hình lẫn vô hình: các kênh thông tin, hệ thống điều hành doanh nghiệp, mạng lưới phân phối và quy mô quản lý Do đó, doanh nghiệp phải đánh giá được khả năng tác động của nền kinh tế, sự cạnh tranh, sự phát triển khoa học kỹ thuật, sự điều chỉnh của luật pháp có liên quan cũng như môi trường kinh doanh thay đổi.
1.2.3 Ma trận Ansoft về phát triển dịch vụ
Ma trận tăng trưởng sản phẩm/thị trường Ansoff đưa ra một cách thức đơn giản tạo ra bốn lựa chọn định hướng cơ bản khi xây dựng chiến lược Ma trận Ansoff được thể hiện ở hình sau:
(Nguồn: Marketing Chiến lược.com)
Trang 19Hình 1.1 Ma trận Ansoff
- Thâm nhập thị trường (market penetration)
Giới thiệu sản phẩm hiện có vào thị trường hiện hữu tức là thâm nhập thị trường một cách hữu hiệu hơn, sâu hơn Chẳng hạn như việc một công ty mở thêm nhiều điểm bán hàng
- Mở rộng thị trường (new market development)
Mở rộng sản phẩm hiện có ra thị trường mới tức là khai phá thêm thị trường mới nhưng cũng chỉ với sản phẩm hiện có
- Phát triển sản phẩm (new product development)
Phát triển sản phẩm mới vào thị trường hiện hữu có nghĩa là bổ sung thêm sản phẩm mới vào danh mục sản phẩm hiện có để phục vụ cho thị trường hiện đang có Chẳng hạn như khi công ty cho ra một dịch vụ mới cho thị trường hiện tại của mình
- Đa dạng hóa (diversification)
Phát triển sản phẩm mới để mở thị trường mới Tức là đa dạng hoá hoạt động kinh doanh Khả năng nầy tạo ra nhiều cơ hội để doanh nghiệp phát triển kinh doanh, nhưng cũng hàm chứa nhiều rủi ro do doanh nghiệp nhảy vào một lĩnh vực hoàn toàn mới
1.3 Các nhân tố tác động đến chiến lược phát triển dịch vụ của doanh nghiệp
1.3.1 Tác động của các nhân tố bên ngoài
Trang 20- Môi trường quốc tế
Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra khắp thế giới Các nước có xu hướng hợp tác với nhau trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam cũng là một trong những nước thành viên của các tổ chức hợp tác quốc tế Do đó, nền kinh tế trên thế giới thay đổi cũng gây ảnh hưởng không hề nhỏ đến nền kinh tế của Việt Nam Một doanh nghiệp Việt Nam không thể hoạt động mà không có sự tương tác với thị trường bên ngoài, hay hoạt động của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng từ các biến động của nền kinh tế thế giới Kinh tế thế giới ngày càng phát triển và vì thế nhu cầu của con người cũng gia tăng Tính cạnh tranh ngày càng cao, môi trường quốc tế ngày càng phức tạp, để tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp cần phải nắm bắt được xu thế của nền kinh tế thế giới, thị trường thế giới có những biến động gì, từ đó mới đưa ra chiến lược phù hợp Trên thị trường thế giới, công nghệ ngày càng phát triển, hiện đại và tiện nghi hơn Dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động của thế giới đã phát triển từ lâu và mang lại nhiều lợi nhuận cho các nhà cung cấp các dịch vụ này Doanh nghiệp cần học hỏi kinh nghiệm, chọn lọc những dịch vụ giá trị gia tăng phù hợp với Việt Nam và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Sự thay đổi về nền kinh tế thế giới ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam và tác động lên cầu về sản phẩm của doanh nghiệp Vì vây, doanh nghiệp cần đưa ra được chiến lược phát triển phù hợp, có thể thay đổi trong mọi hoàn cảnh
- Môi trường trong nước
• Môi trường kinh tế
Thực trạng nền kinh tế và xu hướng trong tương lai có ảnh hưởng đến thành công
và chiến lược phát triển của một doanh nghiệp Các nhân tố thuộc về kinh tế mà một doanh nghiệp thường phân tích đó là tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái, và tỷ lệ lạm phát Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong từng thời kỳ thịnh vượng, suy thoái, phục hồi có ảnh hưởng đến chi tiêu của người tiêu dùng Khi nền kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động của mình Khi nền kinh tế bước vào suy thoái thì doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh để
có thể thu hút được khách hàng sử dụng sản phẩm của mình Lạm phát cũng có ảnh hưởng đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp Khi lạm phát tăng lên, thì dự án đầu
Trang 21tư trở nên mạo hiểm hơn, các chủ doanh nghiệp sẽ giảm sự đầu tư phát triển dịch vụ giá trị gia tăng nếu nó hoạt động không hiệu quả.
• Môi trường văn hóa
Theo thời gian chiến lược, môi trường văn hóa có thể là loại nhân tố thay đổi lớn nhất Cuộc sống luôn thay đổi không ngừng và con người cũng vậy Những lối sống tự thay đổi nhanh chóng theo hướng du nhập những lối sống mới luôn là cơ hội cho nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Khi đề ra chiến lược phát triển, doanh nghiệp cũng cần chú ý đến thái độ tiêu dùng, sự thay đổi tháp tuổi, tỷ lệ kết hôn và sinh đẻ Trình độ dân trí và tiêu dùng ngày càng cao, đa dạng của con người sẽ là một thách thức đối với các nhà doanh nghiệp Họ cần đưa ra những sản phẩm với chất lượng cao, kích thích sự tiêu dùng
• Môi trường khoa học- kỹ thuật
Để đạt được thành công thì cần thỏa mãn nhu cầu của thị trường nhưng nhu cầu thì luôn thay đổi, chính vì vậy các nhà doanh nghiệp phải thường xuyên áp dụng khoa học- kỹ thuật và công nghệ mới để thường xuyên đáp ứng nhu cầu khách hàng Khoa học công nghệ càng hiện đại thì cho phép các nhà doanh nghiệp đưa ra nhiều sản phẩm phù hợp với con người hiện đại Sự ra đời của công nghệ mới khiến công nghệ cũ lạc hậu, tạo áp lực cho doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ để tăng khả năng cạnh tranh, công nghệ mới tạo điều kiện cho sự xâm nhập mới, làm gia tăng đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Sự ra đời của công nghệ mới có thể tạo ra nhiều sản phẩm có nhiều tính năng hơn, và qua đó có thể tạo ra những thị trường mới hơn cho dịch vụ của công ty
Từ đó đòi hỏi các nhà chiến lược phải thường xuyên quan tâm tới sự thay đổi cùng những đầu tư cho tiến bộ công nghệ
Trang 22- Các đối thủ cạnh tranh
Doanh nghiệp luôn tồn tại và hoạt động và có mối liên hệ với các doanh nghiệp khác Để thu hút được khách hàng sử dụng dịch vụ của mình, doanh nghiệp cần tạo ra những cái mới, khác biệt để cạnh tranh với các đối thủ Số lượng, quy mô và sức mạnh của các đối thủ cạnh tranh đều có ảnh hưởng đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp Không chỉ tồn tại những đối thủ cạnh tranh hiện tại mà doanh nghiệp còn phải nhận biết được các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng, sẽ có mặt trong tương lai Trên thị trường, có nhiều đối thủ cạnh tranh với mỗi thế mạnh và chiến lược cạnh tranh riêng,
họ có những phản ứng khác nhau khi bị tấn công Vì vậy, khi phân tích đối thủ cạnh tranh, các nhà phân tích cần lựa chọn đối thủ để có được chiến lược phát triển phù hợp Trong đó, cần liệt kê các đối thủ cần phải tấn công để thu hút khách hàng, chiếm thị phần; các đối thủ cần né tránh và các đối thủ cần hợp tác thông qua hình thức liên doanh để tạo lợi thế chung trong cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường
- Khách hàng( cầu của thị trường)
Một sản phẩm, dịch vụ được đưa ra trong hoạt động của công ty nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu khách hàng Khách hàng là người quyết định sẽ có hoặc không tiêu dùng dịch vụ của doanh nghiệp Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng là mối quan hệ giữa người mua và người bán, là mối quan hệ tương quan thế lực Khách hàng
là đối tượng có ảnh hưởng rất mạnh trong các chiến lược phát triển dịch vụ, quyết định
sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp Khi nghiên cứu môi trường kinh doanh để hoạch định chiến lược phát triển, thông tin về khách hàng được các nhà quản trị thu thập, phân tích và đánh giá đầu tiên Qua đó, nhà quản trị xác định khách hàng mục tiêu, phát triển chính sách và chương trình hành động nhằm hướng tới việc đáp ứng nhu cầu của đối tượng được xác định trước Mọi hành vi thay đổi của khách hàng đều có ảnh hưởng đến việc lập chiến lược phát triển dịch vụ của doanh nghiệp Do đó, cần phải nắm rõ nhu cầu, xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng để đưa ra một bản chiến lược phát triển phù hợp
1.3.2 Tác động của các nhân tố bên trong doanh nghiệp
- Chiến lược tổng thể
Trang 23Chiến lược tổng thể của doanh nghiệp liên quan đến việc lựa chọn các hoạt động kinh doanh ở đó các đơn vị kinh doanh phải cạnh tranh, đồng thời có sự phát triển và phối hợp giữa các đơn vị với nhau Chiến lược tổng thể định hướng mục tiêu chung và nhiệm vụ của doanh nghiệp: bao gồm việc xác định các mục tiêu, các dạng hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ tiến hành và cách thức quản lý và phối kết hợp các hoạt động, quản lý các hoạt động kinh doanh độc lập và mối quan hệ giữa chúng nhằm phát triển và khai thác tính cộng hưởng giữa các hoạt động thông qua việc phân chia và phối hợp các nguồn lực giữa các đơn vị độc lập hoặc giữa các hoạt động riêng rẽ Chiến lược tổng thể sẽ ảnh hưởng đến chiến lược phát triển dịch vụ của doanh nghiệp Chiến lược phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào chiến lược tổng thể và nó đóng vai trò như yếu tố đầu vào cho chiến lược tổng thể của doanh nghiệp Chiến lược phát triển đưa ra các mục tiêu, cách thức hành động phải phù hợp và kết hợp chặt chẽ với các kế hoạch chiến lược khác Chiến lược phát triển khởi xướng các cách thức để thành công trong một lĩnh vực kinh doanh cụ thể, phát triên các năng lực và khả năng cạnh tranh quan trọng, đạt được sự chấp thuận của các nhà quản lý cấp cao của công ty.
- Nguồn lực
Nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm: nguồn nhân lực, tài sản vật chất, các nguồn lực vô hình Đây là nhóm yếu tố quyết định khả năng hoạt động của doanh nghiệp, trong đó nguồn lực con người là quan trọng nhất Yếu tố này trở nên quan trọng vì trong doanh nghiệp, mọi quyết định liên quan đến quá trình đưa ra và quản trị chiến lược đều do con người quyết định, khả năng cạnh tranh trên thị trường mạnh hay yếu, văn hóa tổ chức tốt hay chưa tốt đều xuất phát từ con người Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp có định hướng kinh doanh lâu dài cần xem xét, phân tích để quyết định nhiệm vụ, mục tiêu và những giải pháp thực hiện liên quan đến con người Cần đánh giá đúng nguồn nhân lực hiện tại của doanh nghiệp để đưa ra một bản chiến lược phát triển mà con người có khả năng thực hiện được Bên cạnh đó, nguồn lực vật chất cũng có vị trí quan trọng đến định hướng bản chiến lược phát triển của doanh nghiệp Nguồn lực vật chất bao gồm các yếu tố như vốn sản xuất, nhà xưởng máy móc, thông tin môi trường kinh doanh Việc phân tích và đánh giá đúng mức các nguồn lực vật chất là cơ sở quan trọng giúp nhà quản trị doanh nghiệp hiểu được các nguồn lực vật
Trang 24chất tiềm tàng, những hạn chế để có các quyết định thích nghi với thực tế như: khai thác tối đa các nguồn vốn bằng tiền và nguồn vốn vật chất hiện có, lựa chọn và huy động vốn bên ngoài khi có nhu cầu, chọn đối tượng cần hợp tác nhằm tăng quy mô nguồn lực vật chất hàng năm, nhà quản trị cần đánh giá nguồn lực để chuẩn bị cho chương trình hành động tiếp theo Ngoài ra, mỗi doanh nghiệp còn có các nguồn lực khác mà con người nhận diện được qua tri giác, đó là các nguồn lực vô hình như: sự tín nhiệm và trung thành của khách hàng, uy tín của người chào hàng, ý tưởng sáng tạo của nhân viên, văn hóa tổ chức bền vững, uy tín và thị phần nhãn hiệu sản phẩm trên thị trường Nguồn lực vô hình thể hiện qua nhiều yếu tố và nhà quản trị các cấp cần có đầy đủ những kiến thức cơ bản mới có thể nhận thức rõ được tầm quan trọng của nguồn lực này Để có được thành công lâu dài trên thị trường, nhà quản trị các doanh nghiệp cần thấy rõ tầm quan trọng của nguồn lực vô hình trong quá trình quản trị chiến lược, nhận diện và đánh giá đúng mức các nguồn lực vô hình sẵn có, biết được các nguồn lực vô hình chưa có để nỗ lực xây dựng và phát triển trong tương lai.
Trang 25CHƯƠNG 2- THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN MẠNG DI ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG
- Kinh doanh dịch vụ kỹ thuật viễn thông: bao gồm các thiết bị viễn thông và dịch
vụ giá trị gia tăng trên mạng di động
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện (PTIC) là một trong những đơn vị thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), được thành lập vào năm 31/10/1976 theo quyết định số 1348/TCCBLĐ của Tổng cục Bưu điện và chuyển sang mô hình Công ty cổ phần từ ngày 15/12/2004
Trang 26Công ty trong quá trình hình thành và phát triển gắn với các mốc lịch sử sau đây:Năm 1996, trên cơ sở Công ty xây dựng nhà Bưu điện, Tổng cục Bưu điện ra quyết định 45/TCCBLĐ thành lập doanh nghiệp nhà nước Công ty Xây dựng Bưu điện, một đơn vị thành viên của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
Ngày 27/12/1996: trải qua 20 năm thành lập và phát triển, công ty đã gặt hái được nhiều thành công đáng kể, PTIC luôn có những hoạch định chiến lược cho sự phát triển
ổn định và bền vững PTIC trong những giai đoạn đó đã chủ động trong việc tái cơ cấu tất cả các nguồn lực và xác định những thị trường trọng tâm để xâm nhập cũng như đã khẳng định được vị thế của mình Công ty đã được chính thức xếp hạng Doanh nghiệp hạng I ngành xây dựng
Ngày 19/01/1999 cùng với tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp trong ngành Bưu chính viễn thông Công ty Xây dựng Bưu điện có quyết định của Hội đồng quản trị Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam về việc cổ phần hóa Công ty Xây dựng Bưu điện
Ngày 15/12/ 2004, Công ty Xây dựng Bưu điện chính thức nhận giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh công ty cổ phần và đổi tên thành Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện
Ngày 15/12/2008, công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
Từ đó đến nay công ty PTIC luôn thực hiện tốt mọi chức năng của mình trong việc cung cấp các công trình có chất lượng và đặc biệt là triển khai mảng phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty
Sơ đồ tổ chức của công ty được thể hiện qua hình sau:
Trang 27
(Nguồn: Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện)
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
BAN KIỂM SOÁTHỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
CÁC CÔNG
TY ĐẦU
TƯ VỐN
BAN THƯƠNG MẠI
BAN QUẢN
LÝ DỰ
ÁN VINH
PHÒNG
TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH
PHÒNG TÀI CHÍNH-
KẾ TOÁN
Chi nhánh TP HCM
Xí nghiệp 7
Xí nghiệp 5
Xí nghiệp
3
Trang 28Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện
Công ty có đại hội đồng cổ đông Ban kiểm soát gồm: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc
Công ty gồm có 6 phòng ban thực hiện các chức năng của mình
• Phòng kinh tế kĩ thuật:
Chức năng của phòng kinh tế kỹ thuật là: tham mưu cho Tổng giám đốc trong các lĩnh vực: công tác quản lý, giám sát khối lượng công việc, tiến độ và chất lượng công trình đang thi công; công tác cung cấp sản lượng thi công thực tế, sản lượng thi công còn phát sinh đối với các công trình đang thi công; công tác quản lý thi công tại công trường như cấp phát và sử dụng vốn, an toàn lao động, quản lý cấp phát vật tư ; thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc giao
• Phòng tài chính- kế toán:
Phòng tài chính- kế toán có chức năng và nhiệm vụ: tham mưu cho Tổng giám đốc trong các lĩnh vực: công tác tài chính, cung cấp các số liệu kế toán chi tiết của các công trình, mảng kinh doanh của công ty; công tác thanh toán các hợp đồng kinh tế; kiểm soát các chi phí hoạt động của công ty; công tác kế toán tài vụ; công tác xử lý các
số liệu, giải trình số liệu theo yêu cầu của giám đốc; công tác kiểm toán nội bộ; thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc giao
• Phòng tổ chức hành chính:
Phòng tổ chức hành chính có trách nhiệm tham mưu cho Tổng giám đốc trong các lĩnh vực: tổ chức thực hiện lĩnh vực tổ chức lao động, lao động tiền lương, công tác thi đua khen thưởng, quản lý hành chính, quản lý và bố trí nguồn nhân lực, bảo hộ lao động, chế độ chính sách đối với người lao động, chế độ chăm sóc sức khỏe cho người lao động, thực hiện theo luật và quy chế của công ty, thực hiện công tác An toàn lao động và vệ sinh công nghiệp, thực hiện các công việc đột xuất do giám đốc giao
• Ban thương mại và phát triển dịch vụ:
Trang 29Công ty có sáu phòng ban chính phụ trách những mảng chuyên môn khác nhau và phòng đảm nhận nhiệm vụ về mảng dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động là Ban thương mại và phát triển dịch vụ Ban thương mại và phát triển dịch vụ ra đời vào năm
2009 với sáu nhân viên phụ trách về các mảng liên quan đến từng công việc cụ thể về cung ứng hàng hóa và dịch vụ Một bộ phận nhân viên đảm nhận về mảng lập kế hoạch marketing, soạn thảo hợp đồng, tìm kiếm khách hàng, đối tác Một nhân viên phụ trách mảng kỹ thuật máy tính và hai nhân viên còn lại phụ trách các hoạt động liên quan đến chăm sóc khách hàng như bảo hành sản phẩm, trả lời những thắc mắc của khách hàng
Ban đầu, ban được thành lập với nhiệm vụ cung cấp các hàng hóa, thiết bị số như các loại máy Đến năm 2011, nhận thấy được tiềm năng của mảng dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động, lãnh đạo công ty đã liên kết với các nhà mạng nhằm cung cấp gói dịch vụ này đến cho khách hàng, Ban thương mại và phát triển dịch vụ đã đảm nhận chức năng thực hiện các hoạt động liên quan đến mảng dịch vụ này, và hai nhà mạng liên kết hiện nay là Vietnamobile và Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel Từ năm 2011 đến nay, Ban luôn thực hiện chức năng tốt của mình và góp phần mang lại một khoản doanh thu khá lớn về cho công ty
Ban thương mại và phát triển dịch vụ có những nhiệm vụ, chức năng chính sau: tham mưu cho Tổng giám đốc trong các lĩnh vực sau: công tác xây dựng và phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động; quy trình kinh doanh và quản lý kinh doanh mảng thương mại; công tác quản lý, cung cấp số liệu một số đơn hàng từng thời điểm của công ty; công tác về thị trường: cung cấp thông tin về thị trường kinh doanh, khả năng mở rộng thị trường và đánh giá thực trạng cung cầu hàng hóa; đánh giá hiệu quả
và các công việc đã triển khai đối với mảng dịch vụ; công tác lập kế hoạch kinh doanh hàng hóa thương mại mới; thực hiện các công việc liên quan đến cung ứng các thiết bị
số và các hoạt động chăm sóc khách hàng
• Ban quản lý dự án:
Ban quản lý dự án có chức năng tham mưu cho Tổng giám đốc trong các lĩnh vực sau: công tác quản lý thông tin đánh giá, cơ sở đánh giá, và các quá trình thực hiện
Trang 30đánh giá nhu cầu bất động sản, phân khúc bất động sản; công tác lập kế hoạch giải pháp cho dự án bát động sản trong thời gian tới.
• Các công ty đầu tư vốn:
Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện (PTIC) góp vốn vào 3 công ty: Công ty sản xuất cáp sợi quang VINA- LSC( PTIC góp vốn 25%); Công ty sản xuất cáp sợi quang và thiết bị bưu điện TFP( PTIC góp vốn 18%); Công ty cổ phần xây lắp Bưu điện miền Trung CTC( PTIC góp vốn 46,3%)
Công ty có các đơn vị thực hiện xây lắp, lắp đặt các công trình xây dựng, các thiết
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty
PTIC được biết đến là một công ty thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, với sự năng động, sáng tạo, nỗ lực cố gắng của các cổ đông, công nhân viên chức toàn công ty, cùng với sự hợp tác của khách hàng, PTIC ngày càng lớn mạnh, phát triển không ngừng, ngày càng trở thành một doanh nghiệp được khách hàng và xã hội tín nhiệm
Với slogan thể hiện triết lý kinh doanh: “PTIC - niềm tin của bạn”, PTIC đang hàng ngày, hàng giờ khẳng định với đối tác, bạn hàng rằng: niềm tin phải được xây dựng qua nhiều giai đoạn và với quá trình nhiều năm phát triển và trưởng thành trong các lĩnh vực xây lắp, dịch vụ viễn thông, bất động sản Một số công trình tiêu biểu của công ty trong giai đoạn 2010- 2014:
Trang 31• Tháng 1 năm 2010, PTIC đã khởi công dự án xây dựng khu điều hành viễn thông Sóc Trăng với tổng diện tích là hơn 1000 m2 Đến nay trụ sở của VNPT Sóc Trăng đã được hoàn thiện với 10 tầng làm việc chính và 1 tầng hầm.
• Tháng 10/2010, Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện PTIC đã long trọng tổ chức Lễ khởi công xây dựng Trụ sở Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Long An Công trình này nằm tại vị trí đắc địa nhất của thị trấn Bến Lức, nằm trên trục lộ 1A hướng lên cầu Bến Lức, trụ sở Vietcombank Long An có quy mô 10 tầng lầu, tổng diện tích sàn xây dựng là hơn 6.700 m2
• Tháng 3/2011, Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện PTIC đã tổ chức lễ khởi công xây dựng dự án Tổ hợp khu Đô thị Viễn thông và Công nghệ Thông tin tại phường Bến Thuỷ, TP.Vinh, tỉnh Nghệ An Dự án toạ lạc ngay ven bờ Sông Lam, với quy mô diện tích là hơn 99.000 m2, với quy mô dân số từ 1.800 - 2.000 người, tổng mức đầu tư ước tính lên đến 1.200 tỷ đồng
• Cũng trong tháng 3/2012, tại tỉnh Kon Tum, PTIC đã khởi công công trình trụ sở làm việc Viễn thông KonTum Công trình xây lắp nhà làm việc và các hạng mục phụ trợ do PTIC làm chủ đầu tư có quy mô gần 4000 m2 Toà nhà bao gồm một nhà chính 6 tầng và 1 tầng hầm cùng một số công trình cấp 3 Ngoài ra PTIC cũng tham gia đầu tư xây dựng các hạng mục phụ trợ khác như nhà kho, sân đường nội bộ, sân vườn cây xanh, nội thất, mạng cáp thông tin nội bộ
Trong hoạt động xây lắp mạng cáp quang, công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng bưu điện cũng đã đạt được nhiều thành tích đáng kể với sự tham gia của các xí nghiệp
và đội thi công Nhiều dự án hiện nay đang trong quá trình triển khai và thực hiện như
dự án đầu tư cơ sở hạ tầng Viễn thông và truyền thông khu đô thị mới Nghĩa Đê- Cầu Giấy với diện tích 8,2 ha; dự án phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động của công ty trên hai mạng phổ biến Viettel và Vietnamobile và tiến tới hợp tác với nhà mạng Vinaphone
Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trong các năm qua và 6 tháng đầu năm 2015 được thể hiện trong bảng sau:
Trang 32Bảng 2.1 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2011- 2015
Đơn vị: Nghìn đồng
năm 2015Doanh thu 247.287.171 148.235.077 121.871.980 134.469.043 33.427.614Thu nhập
khác 18.215.500 2.384.780 16.599.559 23.991.713 3.199.230Chi phí 262.215.429 149.034.932 136.546.195 156.338.427 35.525.465Nộp ngân
Sang năm 2012, công ty gặp một số vấn đề khó khăn về việc huy động và sử dụng vốn, trong khi đó, kinh tế của nước ta cũng đang trong giai đoạn khó khăn nên số lượng các công trình xây lắp cũng giảm xuống, năm 2012, thị trường bất động sản trầm
Trang 33lắng, hàng loạt doanh nghiệp trở nên điêu đứng, báo lỗ, ngừng hoạt động, thậm chí giải thể kinh doanh bất động sản đặc biệt khó khăn, và công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện cũng gặp khó khăn trong lĩnh vực bất động sản, khiến các hoạt động liên quan đến bất động sản của công ty có phần ngừng trệ và về sau là ngừng hoạt động Không những thế, do tình trạng khó khăn nên một số xí nghiệp của công ty ngừng hoạt động để giảm thiểu chi phí, và nó cũng ảnh hưởng đến doanh thu của công ty Bên cạnh
đó là do PTIC là công ty cổ phần hóa của nhà nước, trước đây nhà nước chiếm tỷ lệ lớn cổ phần tại công ty, mặt khác công ty chưa lên sàn chứng khoán nên việc minh bạch hóa tài chính chưa rõ ràng Khi nhà nước giảm dần tỷ lệ giữ vốn tại doanh nghiệp, cùng lúc các nhà đầu tư ngoài tham gia đầu tư tại công ty, vì vậy vấn đề minh bạch hóa cần phải rõ ràng, cổ đông lớn yêu cầu cần phải minh bạch hóa toàn bộ các vấn đề liên quan tới tài chính, kinh doanh Khi đó các vấn đề liên quan tới minh bạch hóa tài sản, khấu hao tài sản, chi phí, quản lý sẽ phải được chi tiết hóa Chính vì những lý do như vây, mà doanh thu của doanh nghiệp trong giai đoạn này cũng giảm xuống đáng kể, tổng doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, từ hoạt động tài chính giảm xuống còn 148.235.077 nghìn đồng, giảm 69.052.094 nghìn đồng ứng với giảm 40,05% so với tổng doanh thu của công ty năm 2011 Ngoài ra, do hoạt động của nhiều doanh nghiệp khó khăn nên ảnh hưởng đến các khoản thu nhập khác của công ty, năm
2012, ngoài doanh thu thì khoản thu nhập khác của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện giảm mạnh một cách đáng kể, từ 18.215.500 nghìn đồng xuống chỉ còn 2.384.780 nghìn đồng, giảm gần 86,9%; điều này khiến cho lượng tiền mà doanh nghiệp thu được trong năm giảm nhiều Lợi nhuận sau thuế chỉ còn 1.236.242 nghìn đồng, giảm 51,78% chính vì sự giảm của doanh thu và các khoản thu nhập khác mà khoản nộp ngân sách nhà nước cũng giảm xuống, chỉ còn 348.683 nghìn đồng Nhận thấy được tình hình công ty đi xuống trong năm 2012, ban lãnh đạo công ty đã có những hướng giải quyết để phục hồi lại và khẳng định chỗ đứng của mình, tạo lòng tin cho khách hàng sau quá trình cổ phần hóa
Chính vì vậy, sang năm 2013, tình hình của công ty đã có nhiều cải thiện hơn, công ty dần khắc phục tình trạng khó khăn của bất động sản và ngừng hoạt động trong lĩnh vực này, đưa ra các chiến lược phù hợp với các mục tiêu cụ thể rõ ràng, tận dụng
Trang 34các cơ hội để ưu tiên phát triển lĩnh vực chính là xây lắp công trình và cung cấp các gói dịch vụ giá trị gia tăng Mặc dù vậy, nhưng doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty vẫn giảm so với năm 2012,
do sự thu hẹp về các lĩnh vực kinh doanh, không tràn lan như trước, và giai đoạn
2001-2015 là giai đoạn tái cơ cấu nền kinh tế quốc gia, song song với việc này là việc tái cơ cấu tại các doanh nghiệp Đây là các lý do chính dẫn tới doanh thu của hầu hết các doanh nghiệp đều giảm Năm 2013, doanh thu đạt 121.871.980 nghìn đồng, có sự giảm nhẹ, và giảm 17,78% so với cùng kỳ năm trước Do giảm bớt chi phí liên quan đến các hoạt động đã giải thể như bất động sản, kinh doanh bên lĩnh vực tư vấn máy vi tính, quảng bá về các tour du lịch dẫn đến chi phí giảm xuống, còn 136.546.195 nghìn đồng, giảm 8,38% so với năm 2012 Chính vì vậy mà lợi nhuận sau thuế của công ty
Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện có sự tăng lên so với năm 2012, đạt 1.501.769 nghìn đồng, tăng 21,48% Nguồn thuế thu nhập doanh nghiệp nộp cho ngân sách nhà nước cũng tăng lên, đạt 423.575 nghìn đồng
Năm 2014, Công ty đã đi vào hoạt động bình thường và vượt qua khủng hoảng được một thời gian Chiến lược với những mục tiêu rõ ràng mà công ty dần dần lấy lại được lòng tin từ khách hàng và tình hình hoạt động kinh doanh được cải thiện và tăng lên, điều đó được chứng minh qua những con số ở bảng trên Doanh thu của công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện đạt 134.469.043 nghìn đồng, tăng 12.597.063 nghìn đồng, hay tăng 10,34% so với cùng kỳ năm 2013 Không chỉ có doanh thu từ hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ hay tài chính tăng lên mà các khoản thu nhập từ các hoạt động khác cũng tăng lên như các hoạt động cho thuê máy móc, thiết bị và đồ dùng hữu hình khác, tư vấn thiết kế quy hoạch mạng viễn thông, mạng máy tính, điện tử dân dụng, công nghiệp, tư vấn trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, khảo sát và lập dự toán các công trình xây dựng chuyên ngành bưu chính viễn thông và đạt ở mức 23.991.713 nghìn đồng, tăng lên 7.392.154 nghìn đồng, hơn 44,53% so với năm ngoái Tổng doanh thu tăng lên nhanh, với chi phí tăng với tốc độ chậm hơn, lợi nhuận sau thuế của công
ty tăng lên so với năm 2013, đạt 1.655.417 nghìn đồng, tăng nhẹ 10,23%, khoản thuế nộp ngân sách nhà nước cũng tăng lên và đạt 466.912 nghìn đồng
Trang 35Và bước sang năm 2015, công ty đã đặt ra cho mình nhiều mục tiêu, chính sách
để đạt được sứ mệnh mà công ty đề ra với câu khẩu hiệu “ PTIC- niềm tin của bạn” Tình hình sáu tháng đầu năm 2015 của công ty đạt doanh thu 33.427.614 nghìn đồng, tăng 11,23% so với cùng kỳ năm 2014 Các khoản thu nhập khác đạt 3.199.230 nghìn đồng, có sự giảm nhẹ Lợi nhuận sau thuế của công ty đạt 980.228 nghìn đồng Và công ty đang triển khai các hoạt động mới nhằm đạt được doanh thu cao nhất có thể vào cuối năm 2015
Qua đó, có thể thấy được tình hình hoạt động của công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu điện từ năm 2011 đến nay Tình hình hoạt động kinh doanh có sự biến động mạnh vào năm 2012 do các yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài và vấn đề tái cơ cấu lại công ty nhưng sau đó với những chiến lược được vạch ra rõ ràng, khắc phục hạn chế của mình, công ty dần chiếm lại được vị trí và kết quả là con số về doanh thu và lợi nhuận sau thuế có sự tăng lên trong các năm tiếp theo
2.2 Khái quát về thị trường dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động hiện nay
2.2.1 Sự cần thiết phải có dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động
Ngày nay, các dịch vụ điện thoại đã trở nên bão hòa, thay vào đó là sự phát triển của dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng Internet và cả trên mạng di động không chỉ ở trên thế giới mà điều này còn xảy ra ở Việt Nam Với sự chuyển biến của tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội thì phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động là điều tất yếu
2.2.1.1. Sự phát triển của kinh tế
Sự phát triển kinh tế là một điều kiện cho các dịch vụ giá trị gia tăng ra đời Việt Nam là một đất nước bắt đầu là một đất nước thuần nông Công cuộc Đổi mới kinh tế
và chính trị bắt đầu từ năm 1986 đã đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nằm trong số các nước nghèo của thế giới với thu nhập bình quân đầu người khoảng 100 đô
la Mỹ, trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp chỉ trong vòng 25 năm với thu nhập đầu người trên 2.000 USD năm 2014 Từ năm 2000 đến nay, kinh tế Việt Nam có những thành công nhất định Trong những năm 2000, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 6,4%/năm nhưng tốc độ tăng trưởng gần đây đã bắt đầu suy giảm Nhưng, nhờ cầu trong nước mạnh nên GDP đã tăng trưởng nhanh, đạt mức 6,3% trong nửa đầu
Trang 36năm 2015 Đây là tốc độ tăng trưởng nửa đầu năm cao nhất trong vòng 5 năm qua Việt Nam đã thành công trong việc cải thiện ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì được tỉ lệ lạm phát chỉ có 0,6% so với cùng kỳ năm trước, trong khi con số này năm ngoái là 4,3% Kinh tế phát triển hơn dẫn đến cuộc sống của người dân cũng được nâng cao hơn Cùng với sự phát triển kinh tế kéo theo sự toàn cầu hóa, hợp tác với các nước về nhiều mặt thì dịch vụ giá trị gia tăng cũng bắt đầu theo đó mà xuất hiện ở Việt Nam đặc biệt với một số nước có dịch vụ này rất phát triển như Hàn Quốc, Anh, Mỹ Ở Việt Nam, khi cuộc sống được cải thiện, tình hình kinh tế dần ổn định thì công nghệ cũng phát triển đặc biệt ở lĩnh vực viễn thông Con người bắt đầu sử dụng những chiếc điện thoại
cố định thay cho việc viết thư trao đổi, rồi sau đó cùng với sự phát triển kinh tế là việc xuất hiện điện thoại di động và nó ngày càng được sử dụng nhiều hơn Không chỉ muốn ở việc nghe gọi nên các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động xuất hiện Và ngày nay dịch vụ giá trị gia tăng ngày càng khẳng định được ưu thế của mình
2.2.1.2. Sự phát triển của khoa học- công nghệ
Sự phát triển của công nghệ góp phần cho sự ra đời của dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động Nếu như hàng trăm năm trước, không ai có thể nghĩ rằng con người
có thể nói chuyện với nhau dù có cách xa cả nửa vòng trái đất nhưng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ thì điều này đã thành hiện thực Công nghệ phát triển giúp con người có thể liên lạc với nhau bất kể họ đang ở đâu, đang làm gì Năm 1870 thế kỉ XIX, chiếc điện thoại đầu tiền ra đời, được phát minh bởi Elisa Gray và Alexander Graham Bell biến ý tưởng kết nối con người lại với nhau thành hiện thực Năm 1973, chiếc điện thoại di động cầm tay lần đầu xuất hiện và đến năm 2007, Apple giới thiệu sản phẩm điện thoại màn hình cảm ứng đầu tiên Kể từ đó, nhiều hãng như Sam Sung, Nokia, cũng sản xuất những chiếc điện thoại di động bấm số hay điện thoại thông minh với nhiều ứng dụng khác nhau Khi dịch vụ điện thoại đã trở nên bão hòa, với sự tiến bộ của công nghệ số, điện thoại không chỉ có thể nghe gọi mà còn nhiều tính năng khác nhau như nghe nhạc, lướt web, xem video, Trong lúc cuộc đàm thoại đang diễn
ra, thì người gọi cũng có thể gửi những thông điệp, bài hát đến người nghe để bày tỏ tình cảm của mình, Chính vì công nghệ cho phép con người có thể làm được tất cả những điều ấy, do đó mà nhu cầu của chính chúng ta không chỉ sử dụng điện thoại ở
Trang 37những tính năng cơ bản mà còn để phục vụ những nhu cầu cá nhân, mang lại lợi ích cao hơn Chính vì vậy mà sự ra đời của dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động là điều rất cần thiết.
2.2.1.3. Sự thay đổi thị hiếu của khách hàng
Thị hiếu của khách hàng là một nhân tố khiến cho dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động cần phải có Thị hiếu chính là ý thích của con người, cho biết khách hàng muốn sử dụng những loại sản phẩm, dịch vụ nào Thị hiếu của con người thay đổi theo thời gian và hiệu ứng của quảng cáo Khi xã hội càng phát triển, kinh tế hay công nghệ càng hiện đại hơn thì thị hiếu của con người cũng thay đổi theo hướng đi lên và trong lĩnh vực liên quan đến mạng di động cũng vậy Trước đây, con người chỉ cần một chiếc điện thoại để có thể kết nối với người khác, chiếc điện thoại ra đời và người tiêu dùng
sử dụng chúng thay cho những lá thư Rồi những chiếc điện thoại di động ra đời, con người thấy được sự tiện dụng của nó nên dần chuyển từ điện thoại bàn sang sử dụng điện thoại di động Và bây giờ, nhiều người lại thích dùng cảm ứng hơn là dùng điện thoại bấm tay Thị hiếu thay đổi, con người có xu hướng hướng tới các dịch vụ mang lại sự thoải mái, thỏa mãn bản thân hơn, tiện lợi hơn Vì thế, không chỉ là chiếc điện thoại thông thường mà các gói dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động cần được triển khai và mở rộng hơn
2.2.1.4. Vai trò của dịch vụ giá trị gia tăng đối với nhà cung cấp
Làm gia tăng doanh thu của các nhà mạng, cũng như các nhà cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng chính là vai trò của chủ yếu của các dịch vụ giá trị gia tăng hiện nay đối với phía cung ứng dịch vụ Thống kê về hệ số sinh lời trên vốn chủ sở hữu - ROE trong
2 năm 2012, 2013 của các doanh nghiệp FAST500 cũng chỉ ra rằng, viễn thông - tin học - công nghệ thông tin luôn là 1 trong 5 ngành có khả năng sinh lời tốt nhất, với hệ
số ROE lần lượt là 0,35 và 0,28 Các nhà mạng như Viettel, Vinaphone chuyên cung cấp các dịch vụ liên quan đến điện thoại di động Các nhà mạng sẽ liên kết với các công ty khác để cung cấp dịch vụ đến cho khách hàng Dịch vụ giá trị gia tăng thường mang lại lợi nhuận cao cho các nhà cung cấp dịch vụ mạng Một ví dụ có thể thấy, khi tung ra các gói dịch vụ giá trị gia tăng thì doanh thu mà nó mang lại cho các nhà mạng khá cao Ông Phạm Ngọc Tú, Trưởng phòng kinh doanh Công ty Dịch vụ Viễn thông
Trang 38Vinaphone, cho biết, 15% tổng doanh thu của Vinaphone trong năm 2009 là từ dịch vụ giá trị gia tăng cho điện thoại di động, chiếm 20% trong năm 2010 Theo các chuyên gia viễn thông, dịch vụ giá trị gia tăng, phi thoại đang đóng góp từ 35-40% doanh thu của các nhà mạng chứng tỏ vai trò quan trọng, sự cần thiết của loại hình sản phẩm này Chính vì những lý do trên, mà việc tồn tại loại hình dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động trong giai đoạn thị trường thương mại điện tử phát triển là điều rất cần thiết, tiềm năng của dịch vụ này rất lớn, các cuộc đua về giá cước, cạnh tranh trong các sản phẩm dịch vụ gia tăng của các nhà mạng lớn đang diễn ra ngày càng gay gắt giữa các nhà cung cấp trong nước và với các nhà cung cấp nước ngoài Mức độ cạnh tranh trên thị trường viễn thông Việt Nam được dự báo còn khốc liệt hơn khi thị trường đã bước vào giai đoạn bão hòa và trên thị trường xuất hiện thêm nhiều nhà cung cấp dịch
vụ mới theo lộ trình cam kết gia nhập WTO Theo như thực tế và các nhà dự báo cho biết trong lĩnh vực thông tin di động, dịch vụ đa phương tiện và giá trị gia tăng là nhóm đang có xu hướng tăng trưởng và sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 2015-
2020, góp phần bù đắp cho phần sụt giảm doanh thu của dịch vụ thoại và SMS truyền thống của các nhà mạng
2.2.2 Quy mô thị trường dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động
2.2.2.1. Khái quát về dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động hiện nay
Hiện nay, trên thị trường Việt Nam xuất hiện rất nhiều gói dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động được cung cấp bởi nhiều nhà mạng và công ty khác nhau, tạo nên sự
đa dạng sản phẩm dịch vụ, người tiêu dùng có nhiều khả năng lựa chọn Các nhà mạng đang thi nhau tung ra dịch vụ giá trị gia tăng nhằm thu hút khách hàng, đồng thời kỳ vọng lợi nhuận sẽ tăng cao từ dịch vụ này Việt Nam hiện có khoảng 91 triệu thuê bao
di động phát sinh cước và dân số cũng vừa chạm ngưỡng 90 triệu người
Ở Việt Nam hiện nay có hơn 366 dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động Đó là các dịch vụ ngoài gọi (thoại) bao gồm các dịch vụ như SMS, nhạc chờ, các dịch vụ trên nền Data như GPRS hay 3G Số lượng dịch vụ giá trị gia tăng khá lớn và nhiều nhà mạng muốn mở rộng số lượng cũng như cải thiện chất lượng của các dịch vụ này Một số dịch vụ giá trị giá tăng trên mạng di động được triển khai ở Việt Nam Dịch vụ