1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước luận văn ths luật

127 890 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt của xã hội loài người, từ khi ra đời đến nay con người đã mất rất nhiều công sức tìm hiểu bản chất, quy lu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:TS Nguyễn Minh Tuấn

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, dữ liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Ngô Thiên Vân

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời mở đầu

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 - LÝ DO RA ĐỜI VÀ LƯỢC SỬ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG VỀ HẠN CHẾ SỰ LẠM DỤNG QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC 8

1.1 Lý do ra đời tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lựcnhà nước 8

1.1.1 Quyền lực nhà nước 8

1.1.2 Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là nhu cầu tất yếu khách quan 11

1.1.3 Vai trò của hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước 14

1.1.3.1 Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là cơ sở ra đời Hiến pháp 14

1.1.3.2 Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là điều kiện để ngăn ngừa, giảm thiểu sự vi phạm quyền con người 20

1.2 Lược sử phát triển tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhànước 24

1.2.1 Các tư tưởng thời kỳ cổ đại 24

1.2.2 Các tư tưởng thời kỳ cận đại 31

1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề tổ chức quyềnlực nhànước 38

Kết luận chương 1 42

Chương 2 - NHỮNG PHƯƠNG THỨC CƠ BẢN ĐỂ HẠN CHẾ

SỰ LẠM DỤNG QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC VÀ BÀI HỌC

Trang 5

KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 44

2.1 Những phương thức cơ bản để hạn chế sự lạm dụng quyền lựcnhà nước 44

2.1.1 Hiến pháp 45

2.1.2 Chủ nghĩa hợp hiến 54

2.1.3 Nhà nước pháp quyền 60

2.1.4 Bảo hiến 69

2.1.5 Học thuyết phân quyền 77

2.1.6 Tư pháp độc lập 82

2.1.7 Sự ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền công dân 88

2.1.8 Sự giám sát của nhân dân 93

2.1.9 Những phương thức khác hạn chế sự lạm dụng quyền lực từ bên ngoài nhà nước 97

2.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 103

Kết luận chương 2 112

KẾT LUẬN 113

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt của xã hội loài người, từ khi ra đời đến nay con người đã mất rất nhiều công sức tìm hiểu bản chất, quy luật vận động của nó trong tiến trình lịch sử nhân loại để nhằm mục đích tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước sao cho hiệu quả nhất nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của nó Vì, nhà nước tuy là một thiết chế xã hội đặc biệt để duy trì trật tự, ổn định giữa những con người cùng sống trong một khu vực địa lý nhất định, nhưng nhà nước cũng chính là nguyên nhân của sự đàn

áp, bóc lột của nhóm người này đối với nhóm người khác trong khu vực địa lý nhất định ấy Chính vì thế, từ thời cổ đại đến nay đã xuất hiện rất nhiều tư tưởng, học thuyết khác nhau về việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước,

mà nội dụng trọng tâm là để tìm ra phương thức hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước sao cho hiệu quả nhất Lịch sử xã hội loài người đã cho thấy nhận thức của con người phát triển cùng với quá trình tích lũy những kiến thức của thời đại, nêntheo thời gian con người đã tìm ra những biện pháp phù hợp để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trước xu hướng tha hóa của chính quyền nhà nước bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng quyền lực nhà nước Điều này đã giới hạn quyền lực nhà nước tránh sự chuyên quyền, lạm quyền của những chủ thể thực hiện quyền lực công để mưu cầu lợi ích riêng

Lịch sử và hiện tại đã ghi nhận rất nhiều cách thức, biện pháp để hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước, tùy vào bản chất của từng kiểu nhà nước khác nhau Có những cách thức chỉ đem lại hiệu quả trong một thời kỳ lịch sử nhất định, nhưng có những cách thức vẫn còn phù hợp đến hiện tại Vấn đề quan trọng của bất kỳ một nhà nước hiện đại nào là tìm ra được những phương thức hiệu quả, phù hợp để vận dụng cho mình

Trang 7

2

Đối với Việt Nam cũng thế, nhất là khi chúng ta đang trên con đường thực hiện mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, thì vấn đề này lại càng cấp bách hơn nữa Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, quyền lực nhà nước tập trung thống nhất không phân chia, mà chỉ phân công, phối hợp hoạt động giữa các

cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI

khẳng định: "Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp

và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp" [44, tr.85]; với mục đích nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt

động của nhà nước và đẩy lùi nạn quan liêu tham nhũng ở nước ta hiện nay Nhưng mục đích này chỉ thành côngkhi sự lạm dụng quyền lực nhà nước được hạn chế bằng những phương thức hiệu quả, thực tế; đồng thời khi đó quyền con người, sự công bằng, dân chủ mới được đảm bảo - đây là những nội dung quan trọng phải đạt được nếu muốn xây dựng thành công mô hình nhà nước pháp quyền

Đứng trước yêu cầu cấp bách đó, tôi đã chọn đề tài: “ Tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước” để nghiên cứu Qua đó, tôi mong rằng

những nội dung được đề cập đến trong luận văn sẽ trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm, tìm hiểu đến lĩnh vực hạn chế quyền lực nhà nước

2 Tình hình nghiên cứu

Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là một lĩnh vực phức tạp, có những thời kỳ vấn đề này còn mang tính nhạy cảm cao Ở Việt Nam trong hơn 10 năm gần đây, nội dung về hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước mới được các nhà nghiên cứu về chính trị học, luật học đề cập đến một cách phổ biến và rộng rãi Tiêu biểu là một số công trình nghiên cứu như:

Trang 8

3

- Sự hạn chế quyền lực nhà nước (2005) Nxb Đại học quốc gia, Hà

Nội, GS.TS Nguyễn Đăng Dung Tác giả đã nêu ra sự cần thiết của nhà nước đối với xã hội, nhà nước luôn có xu hướng tha hóa quyền lực, vì vậy, cần thiết phải giới hạn quyền lực nhà nước; và đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế quyền lực nhà nước thông qua cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước bên ngoài nhà nước

- Kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay – vấn đề và giải pháp (2007), Luận án Tiến sĩ Chính trị học, Hà Nội, Th.s Trịnh Thị Xuyến

Luận án đi sâu phân tích về vấn đề quyền lực nhà nước và tính tất yếu phải kiểm soát quyền lực nhà nước

- Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở một số nước trên thế giới (2008), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Tô Huy Rứa (chủ biên)

Tác phẩm trình bày lí luận chung về giám sát quyền lực trong bộ máy nhà nước trong mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở một số nước trên thế giới Các tác giả trong công trình đã lý giải tại sao phải hạn chế quyền lực nhà nước, vì bản thân mỗi con người luôn tồn tại bản tính hai mặt trong đời sống xã hội là tích cực và tiêu cực, thiện và ác nên cần phải có những biện pháp kiểm soát tương ứng

- Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước (2005), Nxb Tư pháp, Hà Nội, TS Nguyễn Thị Hồi Tác

giả làm rõ việc cần thiết phân chia quyền lực nhà nước, góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế việc lạm dụng quyền lực, chuyên quyền, độc đoán

- Một số vấn đề về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011), Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, GS.TS Trần Ngọc Đường Tác phẩm trình bày khá đầy đủ và hệ thống cơ sở lí luận, thực tiễn về quyền lực nhà nước, kiểm

Trang 9

4

soát quyền lực nhà nước trong các nhà nước (chủ nô, phong kiến, tư sản); làm

rõ điểm tiến bộ của Việt Nam trong việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực khi xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước ( 2011), Nxb Tư pháp, Hà

Nội, PGS.TS Thái Vĩnh Thắng Tác giả đã phân tích và lý giải cách thức tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước trong các kiểu và mô hình nhà nước khác nhau như nhà nước phong kiến Việt Nam, nhà nước tư sản; tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước của Nga, Trung Âu, Đông Âu trước năm 1991, nhà nước liên bang Nga và nhà nước Việt Nam hiện nay

Ngoài ra còn có một số tác phẩm như Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến, Một số tiểu luận của các học giả nước ngoài – Sách tham khảo, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Hiến pháp: Những vấn đề lý luận và thực tiễn

- Sách chuyên khảo, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, vv… Những công

trình nghiên cứu kể trên đã đóng góp đáng kể cho việc nghiên cứu lĩnh vực hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước Từ việc tham khảo những tác phẩm này đã giúp học viên có thêm những kinh nghiệm quý để triển khai những vấn

đề, nội dung chưa được đề cập, tiếp cận sâu

Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ của mình, tôi sẽ đi sâu nghiên cứu về việc ra đời tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước cũng như những phương pháp hạn chế và bài học kinh nghiệm quý giá đối với Việt Nam Đây

là những nội dung mà các công trình kể trên chưa hệ thống bao quát, toàn diện

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

- Mục đích: Làm rõ quá trình hình thành tư tưởng hạn chế sự lạm dụng

quyền lực nhà nước So sánh, đánh giá những phương thức để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 10

+ Phân tích những phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước cả từ bên trong lẫn bên ngoài nhà nước, từ đó đề xuất những phương thức phù hợp với Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: là tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực

nhà nước và những phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước

- Phạm vi nghiên cứu: là quá trình hình thành, phát triển các tư tưởng

về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước trong lịch sử và hiện tại, cũng như sự vận dụng tư tưởng này trên thực tế, thể hiện thông qua các phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước từ bên ngoài và từ bên trong nhà nước ( tự hạn chế) ở trên thế giới và ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

Qua việc phân tích các tài liệu, lý luận về tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước thành các giai đoạn và cách thức khác nhau, để tìm hiểu sâu sắc hơn tư tưởng này Từ đó tổng hợp các giai đoạn, cách thức đã phân tích để hệ thống đầy đủ và khoa học về lý do ra đời và lược sử phát triển của

tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước

* Phương pháp lịch sử

Qua việc nghiên cứu lý do ra đời và lược sử phát triển của tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, từ đó hiểu rõ hơn bản chất và xu hướng

Trang 11

6

phát triển của tư tưởng này trong xã hội hiện đại Thông qua đó, rút ra được bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

* Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết

Thông qua việc sắp xếp những cách thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước theo bản chất của hiện tượng này, để hệ thống các phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước thành các phương thức bên trong và phương thức bên ngoài

6 Tính mới của đề tài

- Luận văn đã hệ thống tương đối đầy đủ, toàn diện quá trình hình thành, phát triển cũng như nguyên nhân ra đời của tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước

- Luận văn đã bước đầu so sánh, đánh giá được các phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước và qua đó đề xuất phương thức phù hợp cho Việt Nam

7 Ý nghĩa của luận văn

Trên cơ sở những phân tích về sự hình thành, tồn tại và phát triển của nhu cầu hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước cũng như các phương thức hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước trong lịch sử và hiện tại, luận văn sẽ nêu được nhu cầu tất yếu, khách quan của việc hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, cũng như những phương thức cơ bản để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Đồng thời, cũng từ kết quả nghiên cứu đề tài này, luận văn sẽ trở thành một tài liệu tham khảo có giá trị, mang tính hệ thống về lý thuyết hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước và các phương thức của nó Qua đó, giúp cho việc tìm hiểu về lý thuyết hạn chế quyền lực nhà nước được dễ dàng hơn

8 Kết cấu của luận văn

Trang 13

1.1.1 Quyền lực nhà nước

Quyền lực là vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu và bởi nhiều nhà tư tưởng của nhiều thời đại, song cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa về quyền lực được đông đảo mọi người, từ các học giả đến các nhà hoạt động thực tiễn thừa nhận Do đó, có nhiều quan niệm khác nhau về quyền lực, song với nghĩa chung nhất có thể hiểu quyền lực là sức mạnh mà nhờ đó một chủ thể có thể bắt các chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình Quyền lực công cộng mang tính tất yếu, khách quan trong đời sống xã hội, nó là tiền đề đầu tiên để hình thành xã hội và nhờ nó mà các thành viên trong cộng đồng xã hội gắn kết với nhau Theo nghĩa này, quyền lực ra đời và tồn tại cùng với sự tồn tại của con người, bởi vì, hoạt động phối hợp, hoạt động mang tính cộng đồng là cái vốn có trong hoạt động của con người Bất kỳ hoạt động chung nào cũng đòi hỏi cần có người tổ chức, người chỉ huy và những kẻ phục tùng- cái vốn tạo thành nội dung sơ khai cũng như nội dung hiện tại của phạm trù quyền lực Trong xã hội có giai cấp thì chủ thể có đủ khả năng chỉ huy và phối hợp hoạt động của tất cả các chủ thể khác chính là nhà nước nên quyền lực nhà nước là thứ quyền lực quan trọng nhất Quyền lực nhà nước là việc tối

đa hóa quyền lực công để hiện thực hóa lợi ích chính trị của giai cấp cầm quyền, trên cơ sở vẫn đảm bảo ở mức độ nhất định lợi ích chung của cộng đồng

Từ quan niệm chung thống nhất về quyền lực, có thể hiểu quyền lực nhà nước là sức mạnh của nhà nước có thể bắt các chủ thể khác trong quốc

Trang 14

9

gia phải phục tùng ý chí của nó Nhờ có quyền lực này mà nhà nước có đủ khả năng làm dịu xung đột giai cấp hoặc giữ cho xung đột ấy ở trong vòng một trật tự nhất định để xã hội có thể tồn tại và phát triển được Cũng nhờ có quyền lực đó mà nhà nước có thể thực hiện và bảo vệ được quyền lợi và địa vị thống trị của giai cấp thống trị, có thể tổ chức và quản lý xã hội, thiết lập, củng cố, bảo vệ trật tự và sự ổn định của xã hội, làm cho xã hội phát triển theo chiều hướng mà nó mong muốn Hầu hết hiến pháp các quốc gia đều tuyên

bố, quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân, do nhân dân ủy quyền cho nhà nước nên được thực hiện nhân danh nhân dân và đại diện cho lợi ích của toàn

xã hội Song thực tế, xét về bản chất thì quyền lực nhà nước chủ yếu là quyền lực của giai cấp thống trị và một phần quyền lực xã hội Sự vân động của quyền lực nhà nước luôn chịu sự quy định của mối quan hệ giữa tính giai cấp

và tính xã hội của quyền lực Ở một mức độ nhất định quyền lực nhà nước cũng chịu ảnh hưởng từ phía các lực lượng xã hội , tổ chức xã hội Do vậy, khi hoạt động trước hết vì lợi ích của một giai cấp hay một liên minh giai cấp nhất định, nhà nước phải tính tới lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác và khi

có tính độc lập nhất định, nó có thể thực hiện một số chức năng trọng tài trong cuộc cạnh tranh giữa các lực lượng không thống nhất; nhà nước còn phải nhân dân toàn quốc gia dân tộc để thực hiện những hoạt động nhằm bảo vệ công lý, bảo đảm trật tự an toàn và ổn định xã hội bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng

Quyền lực nhà nước bao giờ cũng được thực hiện bởi các cơ quan trong bộ máy, với những con người cụ thể trong bộ máy ấy Vì vậy, việc thực thi quyền lực cụ thể phụ thuộc vào phương thức tổ chức bộ máy nhà nước và con người trong bộ máy ấy Nếu như người cầm quyền được trao quyền, không biết thực thi quyền lực cho đúng, hoặc sử dụng quyền lực vì mục đích

vụ lợi thì sức mạnh của quyền lực nhà nước sẽ gây nguy hiểm cho xã hội Vì

Trang 15

10

thế muốn có một xã hội tốt đẹp, quyền tự do con người được đề cao, xã hội không phải gánh chịu những lộng hành sai phạm vô ý thức hoặc có ý thức của nhà nước thì phải có cơ chế hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, kiểm soát hoạt động của công chức, viên chức nhà nước Đây là một yêu cầu tất yếu trong tổ chức và hoạt động của một nhà nước dân chủ, kể cả trong nền dân chủ XHCN của chúng ta Sự lạm quyền không chỉ diễn ra giữa giai cấp thống trị với giai cấp bị trị, với nhân dân và với cộng đồng xã hội, mà còn diễn ra chính trong nội bộ giai cấp thống trị Trong giai cấp thống trị chỉ có một bộ phận cầm quyền, bộ phận này vì lợi ích riêng có thể lạm quyền vi phạm đến lợi ích của giai cấp mình Điều đó cũng có thể diễn ra trong nội bộ đảng cầm quyền, khi trở thành bộ phận lãnh đạo cầm quyền có thể vì lợi ích riêng mà vi phạm đến lợi ích chung của đảng Có thể nói xu hướng lạm quyền thường xuyên diễn ra trong các nhà nước ở bất kỳ loại chế độ chính trị nào

Cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trong thực tế rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên có thể tựu chung lại thành hai cơ chế cơ bản là tập quyền và phân quyền Tập quyền có nghĩa là lực cao nhất của nhà nước thuộc về một cá nhân hoặc một cơ quan, cá nhân và cơ quan ấy có thể chi phối sự hình thành và hoạt động của các chức vụ nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước khác Còn phân quyền nghĩa là quyền lực nhà nước được phân tách thành các loại lập pháp, hành pháp, tư pháp và được giao cho các cơ quan nhà nước khác nhau.Các cơ quan này độc lập với nhau và ngang bằng nhau hoặc phụ thuộc với nhau ở một mức độ nhất định, có thể chịu trách nhiệm trước nhau, trong hoạt động có sự phân công, phối hợp, kiểm soát thậm chí đối trọng nhau để tạo nên sự thống nhất của quyền lực nhà nước

Khi quyền lực càng tập trung, thì khả năng hạn chế nó càng khó Mục đích của việc hạn chế quyền lực nhà nước là đảm bảo cho quyền lực nhà nước không bị lạm dụng, ngăn chặn các hiện tượng, xu hướng, quan liêu, độc tài,

Trang 16

11

chuyên quyền, độc đoán trong bộ máy nhà nước, không bị sử dụng trái với ý chí của nhân dân Nếu không đặt ra những giới hạn rõ ràng của việc sử dụng quyền lực nhà nước thì nó sẽ trở thành bức rào cản của tự do và dân chủ, kìm hãm sự tiến bộ xã hội Xã hội càng phát triển, quyền lực của nhà nước càng lớn thì yêu cầu của việc hạn chế quyền lực nhà nước tránh khỏi sự lạm quyền càng tăng lên

1.1.2 Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là nhu cầu tất yếu khách quan

Vấn đề hạn chế quyền lực nhà nước là một lĩnh vực phức tạp của đời sống chính trị xã hội ở bất kỳ nhà nước nào Theo giải thích của từ điển Tiếng

Việt thì: "hạn chế là ngăn lại, giữ lại trong một giới hạn nhất định, không để hoặc không thể cho vượt qua" Từ giải thích này, có thể thấy khi nói đến hạn

chế là đồng nghĩa với việc phải xác định một giới hạn cụ thể cho hành động

Cũng theo từ điển Tiếng Việt thì: "lạm dụng là sử dụng quá mức, quá quyền hạn" Như vậy có thể hiểu: Lạm dụng quyền lực nhà nước chính là sự tha hoá

của quyền lực thể hiện dưới dạng chủ thể nắm quyền lực tự cho mình thêm những quyền mà họ không có được khi được trao quyền Khuynh hướng này diễn ra trong hầu hết các quá trình nắm quyền lực của chủ thể nhưng diễn biến tăng lên về sau với những hậu quả khó lường trước được Lạm quyền có thể là sự tạo ra thêm quyền lực, có thể là mang lại lợi ích không chính đáng cho mình Đây thực chất là việc trái phép dưới dạng vượt quá giới hạn, làm biến dạng quyền lực Nó thường phụ thuộc nhiều vào mục đích của người nắm quyền lực Nói cách khác thì sự lạm quyền chính là sự lợi dụng địa vị có sẵn của chính chủ thể nắm quyền lực.Suy ra, khi muốn hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước nghĩa là phải đặt ra những giới hạn trong việc thực hiện quyền lực nhà nước để tránh sự lạm quyền, chuyên quyền Theo phân tích ở trên thì quyền lực có tính tất yếu vì trong xã hội có tổ chức thì quyền lực là

Trang 17

12

vấn đề không thể thiếu để duy trì xã hội trong vòng trật tự và ổn định, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, nó vừa là sợi dây vô hình để liên kết mọi người theo một trật tự xã hội nhất định, đồng thời nó lại vừa là công cụ để đảm bảo cho các liên kết này không bị phá vỡ theo hướng triệt tiêu luôn cả xã hội Ngay từ khi bắt đầu xuất hiện, quyền lực nhà nước có mục đích trước hết

là để điều hòa những mâu thuẫn giai cấp, duy trì sự cân bằng trong xã hội, nhưng chủ thể nắm giữ, sử dụng quyền lực nhà nước đó là con người, với bản chất ham muốn không có giới hạn làm cho khả năng lạm quyền, lộng quyền, chuyên quyền của những người nắm giữ quyền lực nhà nước rất dễ xảy ra, làm cho quyền lực mất đi ý nghĩa tích cực ban đầu của nó Đó cũng là lý do

mà các vị vua, chúa giàu có thời xưa với quyền lực vô hạn, hay các nước đế quốc thực dân hùng mạnh thế kỳ 19, thế kỷ 20 tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược những quốc gia khác Khi con người chưa có quyền lực thì họ

cố giành lấy quyền lực, khi có quyền lực rồi họ lại cố tăng cường, mở rộng quyền lực, vì quyền lực chính là phương tiện đơn giản, nhanh chóng nhất để đạt được những mục đích của con người.Với bản tính vị kỷ của mình, con người bị điều khiển bởi khát vọng về quyền lực vừa là mục tiêu, vừa là công

cụ để đạt các khát vọng khác Hobbes nhấn mạnh rằng, tinh thần vị kỷ trong loài người là một khát vọng không ngừng đối với quyền lực và điều này chỉ mất đi khi con người chết Do đó, ngay từ khi nhà nước được hình thành, cùng với việc tìm kiếm những phương thức nhằm nâng cao tính hiệu quả của việc sử dụng quyền lực, người ta cũng đi tìm những cách thức hạn chế quyền lực nhà nước khỏi sự lạm quyền, chuyên quyền- đây là một tất yếu khách

quan James Madison- cha đẻ của Hiến pháp Hoa Kỳ đã khằng định: "Nhưng

để hình thành một chính phủ được điều hành giữa người với người, khó khăn lớn nhất là chính quyền phải kiểm soát được những gì cơ quan này điều hành

và bước tiếp theo phải tự kiểm soát chính mình Một sự phụ thuộc vào dân

Trang 18

từ trước đến nay đề cập đến như một nội dung quan trọng trong quá trình phân tích về hành vi chính trị Bên cạnh đó, bộ máy nhà nước và những người nắm giữ quyền lực nhà nước thường có xu hướng lạm quyền, chuyên quyền, bất kể là trong chế độ quân chủ hay dân chủ, nếu quyền lực không được hạn chế hiệu quả Một trong những đặc trưng quan trọng của nhà nước đó là nó có

sự độc quyền về việc ban hành pháp luật và độc quyền sử dụng bộ máy cưỡng chế Đây là các công cụ hết sức quan trọng mà bất cứ giai cấp nào, tổ chức, cá nhân nào có nó cũng muốn sử dụng sao cho có lợi nhất cho mình Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của quá trình đấu tranh cho tự do,, dân chủ và quyền con người Trong đó vấn đề hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là một trong những phương tiên, công cụ chính trị- pháp lý quan trọng để đảm bảo thực thi điều đó Mục tiêu cao nhất của việc giới hạn quyền lực nhà nước là đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân, đồng thời với

nó là giới hạn phạm vi hoạt động của quyền lực nhà nước ở một mức độ nhất định sao cho nó có đủ thẩm quyền để duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội Ngoài ra, khi hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước còn nhằm đảm bảo tính cẩn trọng trong các quyết định do nhà nước ban hành Hơn thế nữa, việc hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước còn là yêu cầu khách quan của thời đại mới Thời đại ngày nay, các quốc gia, dân tộc muốn phát triển không thể đứng ngoài guồng máy quá trình hội nhập quốc tế Quá trình này đặt ra nhiều vấn đề, vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho mỗi quốc gia Trong đó,

Trang 19

14

dân chủ hóa là xu thế tất yếu Quyền lực nhà nước là do nhân dân ủy quyền, dân chủ là phương thức để hình thành nên quyền lực nhà nước và cũng chính

là phương thức hiệu quả nhất để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước

Xu thế hội nhập đòi hỏi các nhà nước cần phát triển và hoàn thiện hệ thống các thể chế dân chủ, tạo cơ sở pháp lý để các cấp chính quyền hoạt động có hiệu quả, đáp ứng nguyện vọng của đa số nhân dân và là cơ sở pháp lý để nhân dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Trong xã hội dân chủ, pháp luật quy định rõ quyền của người dân: quyền sở hữu, quyền tự do ngôn luận, chủ động tham gia các hoạt động xã hội, có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước để hạn chế sự lạm quyền, chuyên quyền

1.1.3 Vai trò của hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước

1.1.3.1 Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là cơ sở ra đời Hiến pháp

Hiến pháp theo cách hiểu ngày nay là đạo luật cơ bản của một quốc gia, quy định về thể chế chính trị, cách thức tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, cũng như các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và cơ chế bảo vệ các quyền con người, quyền công dân Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp

lý cao nhất trong hệ thống pháp luật của một quốc gia Tất cả các văn bản pháp luật khác phải phù hợp, không được trái với hiến pháp

Sự ra đời của Hiến pháptrong xã hội tư sản đánh dấu một tiến bộ lớn lao trong lịch sử lập pháp, tiêu biểu là Hiến pháp Hoa Kỳ - bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới, nó có ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ trong phạm vi nước Mỹ mà còn lan rộng trên toàn thế giới Sự thành công của Hiến pháp Hoa Kỳ thể hiện ở việc: cho đến tận bây giờ, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia giàu có nhất, tự do nhất, hùng mạnh nhất trên thế giới với một bản hiến pháp tồn tại lâu nhất ( ra đời ngày 17 tháng 9 năm 1787) Để lý giải được sự thành

Trang 20

rõ nhất bởi James Madison trong Luận cương Liên bang số 51 Madison nói rằng phải dùng tham vọng để trị tham vọng Tư lợi của con người cần phải được gắn liền vào quyền do hiến pháp quy định Chỉ cần hiểu biết một chút ít về bản chất của con người cũng cho ta thấy rằng " cần phải có những cơ chế như vậy mới ngăn chặn được sự lạm dụng quyền lực của chính quyền" Nếu con người đều là thần thánh cả thì sẽ không cần có các cơ chế bên trong và bên ngoài để kiểm soát chính quyền Nhưng Madison là con người thực tế Cũng theo lời của Madison, chủ nghĩa hợp hiến đòi hỏi phải có một chính sách " dùng các sự mâu thuẫn và đối nghịch trong tư lợi để khai thác những điểm yếu của ( luôn luôn có ngay cả trong) các động cơ cao thượng" Một thể chế hợp hiến, xây dựng trong tinh thần khôn ngoan tôn trọng con người, cần phải cho chính quyền có thể kiểm soát được những người dưới quyền cai trị của chế độ Tuy nhiên, đi đôi với điều đó, nhưng không kém phần quan trọng là phải có một cơ cấu đề phòng để kiểm soát và giữ quân bằng ngay trong chính quyền ( chính quyền tự kiểm soát lấy mình)"[28, tr.61-62]

Trang 21

16

Điều này cho thấy các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã đề cao nhiệm vụ hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước khi soạn thảo Hiến pháp và họ đã thành công trong việc xây dựng một bản Hiến pháp giới hạn và kiểm soát được sự lạm dụng quyền lực của chính quyền, bằng cách tổ chức bộ máy nhà nước dựa trên tư tưởng phân quyền của Montesquieu Chính điều này đã đem lại thành công cho nước Mỹ như hiện tại

Từ dẫn chứng về Hiến pháp Hoa Kỳ đã cho chúng ta thấy vai trò quan trọng của Hiến pháp trong việc giới hạn quyền lực nhà nước để tránh sự lạm quyền xảy ra Hay nói cách khác nghĩa là, để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước thì phải có một đạo luật mà người phải chấp hành nó không phân

biệt là người dân hay nhà nước hay "không ai có thể đứng trên đạo luật này"

Chính vì nhu cầu này mà Hiến pháp ra đời Đặc trưng về sự vận động của mọi loại quyền lực nói chung, trong đó có quyền lực nhà nước, là hai xu hướng: Thứ nhất, đó là xu hướng sử dụng trái phép quyền lực được giao để phục vụ cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng họ (lợi dụng quyền hạn) Xu hướng thứ hai

là lạm dụng quyền lực (lộng quyền, lạm quyền) Cả hai xu hướng này đều là biểu hiện của sự tha hóa quyền lực, vốn là xu hướng khách quan trong quá trình vận động, phát triển của quyền lực Cả hai xu hướng trên đều dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại cho xã hội, và người phải gánh chịu chính là nhân dân Do tính chất đặc biệt của quyền lực nhà nước như vậy, nên ngay từ khi nhà nước ra đời cho tới nay, tất cả các chế độ xã hội đều nhận thức và đặc biệt coi trọng việc hạn chế quyền lực nhà nước, với những phương thức khác nhau Trong chế độ nô lệ và phong kiến, quyền lực nhà nước - mà thể hiện tập trung ở quyền lực của nhà vua, được coi như một thứ quyền lực thần thánh, không giới hạn Nhà Vua- người thống trị thay mặt cho nhà nước đều cho mình là nguồn gốc của mọi công lý trong xã hội Ông ta một mình có cả quyền lập pháp, hành pháp, sửa đổi, đình chỉ và cả việc xét xử sự vi phạm

Trang 22

17

pháp luật do chính ông ta ban hành Là người cai trị, ông ta có quyền tuyệt đối

và không phải tuân thủ pháp luật Vị trí của ông ta không phải ở dưới mà ở trên pháp luật Đó là một nhà nước độc tài, chuyên chế gắn liền với các chế

độ chính trị phi dân chủ, quyền lực nhà nước có một đặc điểm quan trọng là

vô hạn định, luôn luôn tiềm ẩn một mối nguy hại cho loài người Chế độ độc tài là chế độ loại trừ đa số nhân dân tham gia vào các công việc nhà nước Chế độ chuyên chế rất gần với chế độ độc tài, không những loại trừ đa số nhân dân tham gia vào công việc của nhà nước mà còn can thiệp quá sâu vào lĩnh vực của đời sống nhân dân Các nước luôn phải cố gắng thiết lập và nuôi dưỡng những cơ chế mang lại cho các cơ quan nhà nước sự mềm dẻo và sự khuyến khích để hoạt động vì lợi ích chung, đồng thời kiềm chế những hành

vi độc đoán tham nhũng trong cách cư xử với các doanh nghiệp và công dân Những cơ chế này chính là những quy định hạn chế quyền lực trong pháp luật của mỗi quốc gia, mà trước hết là phải nói đến Hiến pháp Nhà nước luôn luôn có xu hướng lạm quyền mà vi phạm đến quyền lợi của cá nhân Vì thế hạn chế, kiểm soát để bảo vệ nhân quyền, quyền cá nhân là mục tiêu hay có thể còn được gọi là bản chất của Hiến pháp

Trong chế độ phong kiến, nhà Vua bao giờ cũng chỉ có quyền, mà không bao giờ phải gánh chịu trách nhiệm về những hành vi thực hiện các quyền của mình nên xu hướng lạm quyền ngày càng gia tăng Bởi vậy, vấn đề kiểm soát quyền lực và trách nhiệm của Nhà nước chỉ được giải quyết một cách triệt để hơn và bài bản hơn, vì mục đích của sự bảo đảm nhân quyền trong cách mạng tư sản Do đó, chủ nghĩa Hiến pháp đến thời kỳ này mới hình thành và phát triển Càng ngày kiểm soát và trách nhiệm của quyền lực nhà nước càng trở nên gắn bó mật thiết với dân chủ và sự kiểm soát này được quy định thành luật, nhất là quy định của đạo luật có hiệu lực pháp lý tối cao

để cho mọi chủ thể nắm quyền lực nhà nước phải chấp hành Đó là Hiến pháp

Trang 23

18

Sự hiện diện của Hiến pháp là một căn cứ căn bản cho việc hạn chế sự lạm dụng quyền lực của nhà nước, bởi vậy vấn đề hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước phải được xem là một quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, khi mà xã hội cần đến Nhà nước thì đồng thời cũng cần phải kiểm soát Nhà nước

Pháp luật ngày càng trở nên là một công cụ hữu hiệu cho việc điều chỉnh các hoạt động của xã hội Mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo các quy định – chuẩn mực của pháp luật Tất cả các quy phạm điều chỉnh mọi hoạt động của xã hội hợp thành hệ thống thống nhất các văn bản pháp luật của quốc gia Đứng đầu các văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật là Hiến pháp và các văn bản của Nghị viện/Quốc hội ban hành Tuy rằng, Hiến pháp có một đời sống ngắn hơn so với các đạo luật khác trong hệ thống pháp luật, nhưng nó lại có hiệu lực pháp lý cao nhất trong tất cả Sở dĩ Hiến pháp

có hiệu lực pháp lý tối cao nằm ở nội dung của Hiến pháp, hay nói cách khác chính là đối tượng điều chỉnh đặc biệt của Hiến pháp Đó là mối quan hệ xã hội trong việc chính con người phải quản lý con người Chính đối tượng này

đã làm cho Hiến pháp phải là văn bản có hiệu lực pháp lý tối cao Việc quy định sự hạn chế quyền lực nhà nước có thể gọi đó là tính nhân bản của Hiến pháp Hay có thể nói ngược lại Hiến pháp muốn thể hiện tính nhân bản của mình thì phải có các quy định nhằm giới hạn quyền lực nhà nước Vị trí tối thượng của Hiến pháp và luật được thể hiện rõ nét nhất trong hình thức nhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền là một phương thức tổ chức nhà nước và vận hành xã hội trên cơ sở của các quyền Các quyền này được phân định và tổ chức sao cho sự lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của người dân được bảo vệ Hiến pháp là công cụ quan trọng nhất để xác lập và phân định các quyền Vì vậy, Hiến pháp được coi là linh hồn của pháp quyền và là bản khế ước xã hội quan trọng nhất

Trang 24

19

Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật là cơ sở của mọi hình thức tổ chức quyền lực công khai Mọi đường lối, chính sách và quyết định của nhà nước đều phải dựa vào luật, phục tùng luật và tất cả các mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và cá nhân cũng phải dựa trên pháp luật Khác với nhà nước pháp trị, pháp luật của nhà nước pháp quyền phải vươn tới sự đầy đủ toàn

diện trên tất cả các lĩnh vực, với phương châm: Đối với "cá nhân thì cho phép làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm", còn đối với "cơ quan nhà nước chỉ được phép làm những gì mà pháp luật quy định" Pháp luật của nhà nước

pháp quyền còn có mục tiêu vì con người, vì quyền con người Đó là một trong những biện pháp hạn chế quyền lực hữu hiệu nhất Khi một quốc gia không tôn trọng nguyên tắc pháp trị, thì người bị trị không thể nào được che chở hữu hiệu trước những hành động bột phát của những người cầm quyền Bạo tàn và độc đoán hay độc tài sẽ phát sinh một khi một chính quyền làm luật và xóa bỏ luật mà không để cho dân chúng phê bình, chỉ trích đạo luật, khi chính quyền bỏ tù một cá nhân mà không tiến hành xử án một cách công khai, hay không có cơ hội cho người bị xử án biện hộ, khi các thẩm phán xử

án dưới sự đe dọa của các cơ quan công quyền… Nhưng sẽ không có một hệ thống pháp luật nào có thể hoạt động cách tự động, vô nhân tính và chính xác như một cái máy Luật pháp không tự nó mà có, không tự nó thi hành, đều phải thông qua con người Chính con người làm ra pháp luật, và cũng chính con người thi hành pháp luật và cũng chính con người giải thích pháp luật Chính vì vậy, con người phải biết tự giới hạn hành vi của mình thông qua Hiến pháp.Như vậy, nhà nước pháp quyền là nhà nước bị giới hạn quyền lực,

mà phương tiện giới hạn quyền lực của nhà nước là các văn bản quy phạm pháp luật, đứng đầu là bản Hiến pháp Cho đến nay, nhà nước pháp quyền trở thành một giá trị văn minh của nhân loại mà mọi nhà nước muốn trở thành dân chủ, văn minh đều phải hướng tới không phân biệt chế độ chính trị Việt

Trang 25

20

Nam cũng không ngoại lệ, trong hơn 10 năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và mong muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển chung của nhân loại.Nhưng vấn

đề cơ bản và cấp bách trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân vì dân ở nước ta hiện nay chính là vấn đề hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước Nội dung này chỉ có thể được giải quyết thông qua việc xây dựng Hiến pháp như một công cụ để giới hạn, kiểm soát quyền lực nhà nước

1.1.3.2 Hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước là điều kiện để ngăn ngừa, giảm thiểu sự vi phạm quyền con người

Những ý tưởng về quyền con người ( nhân quyền) đã ra đời từ rất sớm cùng với sự phân chia giai cấp trong xã hội và hình thành Nhà nước.Ở bất cứ thời kỳ nào, nhân loại cũng luôn dành sự quan tâm tới vấn đề mang cả ý nghĩa

về mặt lý luận cũng như thực tiễn vấn đề quyền con người Theo một số học giả, những tư tưởng về quyền con người, quyền công dân xuất hiện và được ghi dấu ấn đầu tiên cùng với sự xuất hiện của văn minh cổ đại Văn kiện được chú ý nhất và được đánh giá là chứa đựng các tư tưởng thành văn rõ nét về quyền con người, quyền công dân là Bộ luật Hammurabi do nhà vua Hammurabi xứ Babylon ban hành (thời điểm vào khoảng năm 1780 TCN) Nhà vua xứ này đã thể hiện tấm lòng thương dân của một vị vua anh minh khi thiết lập ra đạo luật để xác định ranh giới quyền của thần dân vương quốc

mình sử dụng nó như một công cụ để"ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức kẻ yếu" [67,tr.226] Có thể nói đây là văn kiện đầu tiên thể hiện những tư tưởng

về quyền con người, quyền công dân phản ánh cái nhìn của giai cấp thống trị đối với giai cấp bị trị, tuy rằng mới chỉ mang tính sơ khai Sau bộ luật Hammurabi, nhân loại có thêm những văn bản pháp luật khác đề cập tới những giá trị cơ bản của quyền con người Tuy nhiên, chỉ có một số ít những

Trang 26

21

văn kiện pháp lý thời kỳ phong kiến tồn tại được và để lại giá trị nghiên cứu tới thời điểm ngày nay, trong số đó không thể không nhắc tới Hiến chương Magra Carta do vua John của nước Anh ban hành năm 1215 Bản Hiến Chương được các nhà nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân đánh giá cao về giá trị nhân văn sâu sắc Hay như ở xã hội phong kiến Việt Nam, tính dân tộc, nhân đạo, tiến bộ cũng được thể hiện rõ nét và xuyên suốt qua nhiều triều đại, nổi bật là Quốc triều Hình Luật của nhà Lê được ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông vào thế kỷ XV Khi có những quy định bảo vệ quyền của tầng lớp yếu trong xã hội một cách rõ nét Dưới sự bóc lột, chèn ép của tầng lớp chuyên chế, giai cấp bị trị một lần nữa đứng dậy đấu tranh giành lại những đặc quyền mà đáng lý ra con người nào cũng được hưởng chứ

không phải chỉ dành riêng cho tầng lớp "bề trên" như hiện tại Đến giai đoạn

tiếp theo, giai cấp tư sản với sự khôn khéo của mình đứng lên với khẩu hiệu

sẽ đem lại tự do bình đẳng cho mọi người trong xã hội để kêu gọi được người dân trong xã hội phong kiến lật đổ chế độ chuyên chế hiện tại Với vũ khí là cam kết đem lại là một xã hội dân chủ, tự do, bình đẳng; mọi người được sống, được hưởng những quyền và lợi ích chính đáng, giai cấp tư sản đã giành được niềm tin của người dân Thời kỳ này, nhiều tư tưởng về quyền con người, quyền công dân được đề cập và nhắc đến như những học thuyết thực

sự Trong các thế kỷ XVII – XVIII, nhiều nhà triết học mà tiêu biểu là Thomas Hobbes (1558 – 1679), John Locke (1632 – 1704), Thomas Paine (1731 – 1809), Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831), Henry David Thoreau (1817 – 1862)…đã đưa ra những luận giải về rất nhiều vấn đề lý luận

cơ bản của quyền con người, đặc biệt là về các quyền tự nhiên và quyền pháp

lý, mà vẫn còn có ý nghĩa quan trọng với việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trong thời đại ngày nay, đồng thời đã mở ra một trang mới cho sự

Trang 27

22

phát triển tư tưởng bảo vệ quyền cá nhân chống lại sự vi phạm từ phía quyền lực

Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ năm 1776 khẳng

định: " mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền

tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc " [6,tr.41] Những tuyên bố này đã được

tái khẳng định trong Bản Tuyên ngôn Quyền công dân và Quyền con người

1789 của nước Pháp và Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh Tư tưởng về quyền con người thực sự trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu và dần được thể chế hóa toàn diện, có tính hệ thống vào pháp luật và đời sống chính trị quốc tế bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi các tổ chức quốc tế lớn ra đời như: Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (năm 1863), Hội Quốc Liên (1919), Tổ chức lao động Quốc tế (1919) Đặc biệt, sau khi Liên Hợp Quốc ra đời năm 1945 và ban hành Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm1948 thì vấn đề quyền con người đã trở thành mục tiêu chung và căn bản của toàn nhân loại, là động lực đấu tranh của tất cả nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới Lời nói đầu của Tuyên

ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 có nhấn mạnh: "Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới" [9] Đưa ra khái niệm về quyền con người, Văn phòng Cao ủy Liên hiệp Quốc về quyền con người đã định nghĩa như sau: "quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc

sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người"

[6,tr.37] Cách hiểu về quyền con người của các chuyên gia, cơ quan nghiên

Trang 28

23

cứu ở Việt Nam cũng không hoàn toàn đồng nhất, nhưng nhìn chung, đa số đều hiểu rằng quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia

và các thỏa thuận pháp lý quốc tế

Vấn đề nhân quyền luôn luôn đi kèm và không thế thiếu được vấn đề bảo vệ nhân quyền Một mặt phải ghi nhận cho rõ và đầy đủ tất cả các quyền con người có thể có, để con người cần phải biết mà có thể thụ hưởng và ngăn chặn ngay sự vi phạm chính những quy định quyền con người đã được ghi nhận ra từ bất kỳ chủ thể nào Mặt khác phải ngăn ngừa ngay từ trước sự có thể vi phạm đến quyền con người của một chủ thể quan trọng nhất đó là Nhà nước; một khi các quyền con người bị vi phạm thì cần phải có những biện pháp trừng trị những chủ thể vi phạm và cũng cần có những biện pháp khôi phục lại những quyền đó, đồng thời cũng nhấn mạnh nghĩa vụ, trách nhiệm phải bảo vệ quyền con người từ phía Nhà nước Hai mặt này gắn liền với nhau và cùng cần phải được ghi nhận bằng một bản văn có một hiệu lực pháp

lý tối cao trong hệ thống pháp luật của quốc gia Đó là Hiến pháp Vấn đề nhân quyền được quy định dưới nhiều hình thức khác nhau Nhân quyền có thể được quy định trong một văn bản riêng gọi là bản Tuyên ngôn nhân quyền hoặc nhân quyền được quy định thành chương điều trong nội dung của Hiến pháp Đôi khi nhân quyền nằm trong nội dung của bản phụ trương của hiến pháp, như 10 tu chính án của nước Mỹ Tất cả tựu chung lại đều nhằm làm nổi bật nội dung cơ bản về nhân quyền đó là quy định những quyền thiết yếu nhất của con người: đó là quyền được sống, quyền được tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc…Khi quyền con người và các cơ chế để bảo đảm quyền con người được quy định cụ thể trong Hiến pháp, nhà nước cũng đồng thời phải tự chế ngự những ước muốn riêng, lợi ích riêng của mình để không vi phạm, làm ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân, lợi ích cộng đồng đã được quy định

Trang 29

24

trong Hiến pháp.Nói cách khác, bảo đảm nhân quyền vừa là mục đích vừa là cách thức để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước

1.2 Lược sử phát triển tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước

1.2.1 Các tư tưởng thời kỳ cổ đại

Mặc dù tư tưởng về hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước hình thành một cách có hệ thống và được thừa nhận rộng rãi từ sau cách mạng tư sản, nhưng ngay từ thời cổ đại đã manh nha xuất hiện những quan điểm về việc cần hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước ở cả nhà nước phương Tây

và nhà nước phương Đông

* Phương Tây

Trong cách thức tổ chức bộ máy nhà nước phương Tây cổ đại, mà điển hình là nhà nước Athens- hình thức nhà nước cộng hòa dân chủ đầu tiên trên thế giới, đã cho thấy phần nào sự hạn chế quyền lực nhà nước của giai cấp quý tộc chủ nô thời bấy giờ Trước khi có cải cách của Solon và Clisthenes,

bộ máy nhà nước Athens bao gồm Hội đồng trưởng lão, quan chấp chính và Hội nghị công dân, quyền lực nhà nước tập trung hầu hết trong tay Hội đồng trưởng lão- thành phần chỉ bao gồm các quý tộc giàu có trong nhà nước Athens Sau cải cách củaSolon và Clisthenes thì bộ máy nhà nước hình thành thêm những cơ quan mới như Hội đồng nhân dân, Tòa án nhân dân, Hội đồng mười tướng lĩnh, những cơ quan này có chức năng, nhiệm vụ trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, tuy nhiên quyền lực nhà nước vẫn chủ yếu thuộc về Hội đồng trưởng lão Phải đến cải cách của Ephialtes và Pericles, thì quyền lực của Hội đồng trưởng lão đã bị đánh đổ, quyền lực nhà nước được phân chia cho Đại hội nhân dân, Tòa án nhân dân, Hội đồng mười tướng lĩnh, Hội đồng nhân dân với những nhiệm vụ khác nhau Trong đó, Đại hội nhân dân là cơ quan quyền lực tối cao của Athens bao gồm các công dân từ 18 tuổi

Trang 30

25

trở lên, có quyền thảo luận và giải quyết những vấn đề hệ trọng của đất nước Hội đồng mười tướng lĩnh là cơ quan chỉ huy quân đội Athens Tòa án nhân dân gồm 6000 người do tất cả các bộ lạc bầu ra hàng năm, vừa làm Thẩm phán vừa làm bồi thẩm Hội đồng nhân dân- cơ quan giải quyết những công việc thông thường, gồm 500 người ( nên còn được gọi là Hội đồng 500 người)

là công dân Athens từ 18 tuổi trở lên không phân biệt dòng họ, giàu nghèo, sang hèn Như vậy, bất cứ công dân Athens nào cũng có thể giữ một vị trí nào

đó trong bộ máy nhà nước Việc trao cho những cơ quan trên các chức năng, nhiệm vụ khác nhau trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp là nhằm tránh sự tập trung quyền lực nhà nước vào trong tay một chủ thể là Hội đồng trưởng lão Ngoài ra, để nhằm hạn chế sự lạm quyền và sự lựa chọn người không xứng đáng vào các cơ quan nhà nước, pháp luật Athens quy định, trước khi giữ chức vụ, những người được chọn thông qua rút thăm phải thực hiện một cuộc kiểm tra về tài năng và lòng trung thành Sau đó, trong quá trình làm việc, tại các phiên họp của Đại hội nhân dân, họ sẽ được dân chúng biểu quyết chấp thuận hay khiển trách, nếu bị khiển trách thì sẽ bị xét xử tại Tòa

án Đến cuối năm, họ phải tường trình về việc sử dụng tiền công quỹ trước một ủy ban đặc biệt Điều này đã cho thấy sự kiểm soát của nhân dân cũng như cơ quan nhà nước đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước nhằm tránh

xu hướng lạm quyền xảy ra

Bên cạnh đó, khi nói đến những tư tưởng nổi bật của thời kỳ cổ đại không thể không nhắc đến tư tưởng của Aristotle - nhà triết gia vĩ đại của Hy Lạp và thế giới phương Tây, một trong ba cột trụ của Hy Lạp cổ đại Aristotle

là nhà tư tưởng vĩ đại có kiến thức uyên thâm trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là

chính trị Tác phẩm "Chính trị luận" của ông được xem là căn bản của chính

trị học phương Tây, đặt nền móng cho khoa học chính trị hiện đại Trong tác phẩm này ông so sánh các hình thức chính quyền với nhau để tìm ra đâu là

Trang 31

26

mô hình nhà nước tốt nhất cho con người ( điều này khác với quan điểm " tìm

ra mô hình nhà nước lý tưởng cho con người" của Plato- thầy dạy của ông), bằng cách so sánh giữa mô hình nhà nước lý tưởng với mô hình nhà nước

trong thực tế để "xem xét, không phải chỉ những cơ cấu nào là tốt nhất, mà còn phải xem loại nào là loại có thể thực hiện được và nước nào cũng xây dựng được một cách dễ dàng" [94].Khi phân tích về chính quyền ( nhà nước) ông cho rằng:" Khi một nhà nước được thiết lập trên nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng, thì họ coi việc luân phiên giữ chức vụ trong chính quyền là việc làm tự nhiên và đúng đắn Trước đây, ai cũng xem đó là một bổn phận tự nhiên khi thay nhau tham gia chính sự, vì khi mình nắm quyền và lo cho phúc lợi của người khác, thì khi họ nắm quyền cũng lo lại cho mình như vậy Nhưng ngày nay không còn như thế nữa vì những lợi lộc do chức vụ mang lại, người ta cứ muốn ngồi mãi trên chiếc ghế quyền lực Ta có thể ví những kẻ cai trị đó như những kẻ bệnh hoạn mà chiếc ghế quyền lực là phương thức giữ cho họ được khỏe mạnh" [95] Ở đây ôngchỉ ra nguyên nhân tha hóa của

chính quyền đó chính là lợi lộc do quyền lực nhà nước đem lại khi một người được ngồi vào một vị trí nào đó của bộ máy nhà nước(chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng, nguyên nhân này không chỉ đúng trong nhà nước cổ đại mà trong nhà nước hiện đại ngày nay, một trong những nguyên nhân làm suy yếu bộ máy nhà nước chính là nạn tham ô, tham nhũng, hối lộ của những người có

chức, quyền, sử dụng quyền lực nhà nước để tư lợi ) Từ đó ông kết luận: " những chính quyền nào mà quan tâm đến phúc lợi chung của mọi người là những chính quyền được thiết lập theo công lý, hiểu theo nghĩa nghiêm ngặt nhất, và đó là những chính quyền đúng đắn; còn những loại chính quyền nào

mà chỉ lo cho quyền lợi của kẻ cai trị là những loại chính quyền đầy rẫy khuyết điểm và bại hoại, chính quyền của bạo quân và thần dân, [tương phản với] nhà nước là một cộng đồng của những người tự do" [95] Vậy làm cách

Trang 32

27

nào để xây dựng và duy trì một chính quyền tốt, tránh sự suy đồi xảy ra? Aristotle đã đề nghị dùng luật pháp đúng đắn để tổ chức chính quyền và tất nhiên luật pháp này đương nhiên phù hợp với hiến pháp Quan điểm Pháp trị của Aristotle cũng giống với quan điểm Pháp trị của Hàn Phi- một triết gia cuối thời Chiến Quốc ở Trung Hoa cổ đại, đồng thời nó cũng gần với quan điểm xây dựng một nhà nước pháp quyền trong nhà nước hiện đại ngày nay Việc xây dựng nhà nước pháp quyền là mục tiêu trọng tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới hiện nay, vì nó là một trong những phương thức chủ yếu

và hiệu quả nhất để bảo vệ quyền con người, nói cách khác đây là một trong những phương thức hữu hiệu nhất để hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước

* Phương Đông

Nếu tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước thể hiện rõ nhất trong cách thức tổ chức bộ máy chính quyền của nhà nước phương Tây cổ đại, thì ở phương Đông chúng ta sẽ bắt gặp tư tưởng này trong học thuyết Pháp trị của nhà nước Trung Hoa cổ đại Học thuyết Pháp trị có rất nhiều đại biểu như Phạm Lãi, Quản Trọng, Tử Sản thời Xuân Thu, thời Chiến Quốc có Thân Bất Bại, Thận Đáo, Thương Ưởng Hàn Phi Trong số này nổi bật nhất là Hàn Phi, ông là công tử nước Hàn sống cuối thời Chiến Quốc, lúc Tần Thủy Hoàng đang thống nhất Trung Hoa Trong lời tự bản dịch tác phẩm Hàn Phi

Tử của giáo sư Phan Ngọc, ông nhận xét về Hàn Phi là con người có kiến thức uyên bác tiếp thu từ Nho gia, lập luận rất chặt chẽ và sắc sảo, sử dụng rất nhiều dẫn chứng trong đó các dẫn chứng là chuyện đương thời chứ không phải chuyện xa xôi, nên sức thuyết phục rất mạnh Hàn Phi cũng vận dụng linh hoạt tư tưởng của Đạo Đức kinh của Lão Tử để minh họa cho tư tưởng Pháp gia, giúp một tư tưởng khô khan trở nên sinh động, có sức sống Lý luận của Hàn Phi tàn nhẫn, vì ông chứng kiến đầy đủ sự thối nát, lừa dối, gian xảo

Trang 33

28

trong triều đình đương thời và ông thẳng tay vạch trần toàn bộ những thối nát

đó, không bị mê hoặc bởi sự hào nhoáng bên ngoài Vì vậy, các tác phẩm của Hàn Phi là bản cáo trạng đối với chế độ quân chủ chuyên chế Trung Hoa cổ đại Tác phẩm Hàn Phi Tử của ông được học giả Nguyễn Hiến Lê đánh giá

cao hơn cả " Quân Vương" của Machiavelli thời kỳ Phục hưng ở Ý, cả về tư

tưởng lẫn bút pháp Tuy là công tử nước Hàn (là con vua Hàn nhưng không phải là người thừa kế ngai vàng) nhưng ông rất thương xót tầng lớp dân nghèo, với trí tuệ uyên bác và lòng dũng cảm ông đã viết nên bộ sách Hàn Phi

Tử, tác phẩm hướng đến việc xây dựng một đất nước mà ở đó dân đen cũng

có thể có cuộc sống no đủ và yên ổn Ông đã tổng hợp, thống nhất các tư

tưởng về "Pháp" của Thương Ưởng, "Thế" của Thận Đáo, "Thuật" của Thân

Bất Bại trong tác phẩm Hàn Phi Tử, đồng thời đưa các tư tưởng về Pháp trị của các nhà tư tưởng trước đó trở thành học thuyết Pháp trị hoàn chỉnh, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử Trung Hoa thời Xuân Thu - Chiến Quốc- một giai đoạn lịch sử hỗn loạn của các trận chiến liên miên giữa bảy nước lớn thời bấy giờ là: Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy, Tần (Thất hùng) Học thuyết Pháp trị

có vai trò rất lớn trong việc giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, tuy chỉ nổi lên trong một thời gian ngắn, nhưng giá trị của nó vẫn còn tồn tại đến ngày nay

Nội dung cơ bản của Học thuyết Pháp trị đề cao vai trò của pháp luật và chủ trương dùng pháp luật hà khắc để trị nước Nội dung này thể hiện ở ba

quan điểm về Pháp, Thế, Thuật Trong đó:

- Pháp: là pháp luật của vua, thể hiện ý chí của vua, được ban bố rộng rãi cho dân biết, làm theo pháp lệnh và giám sát lẫn nhau Pháp luật khiến

người hư trở nên tốt "Nay có đứa con hư hỏng Lấy tình yêu của cha mẹ, lấy đức hạnh của những người trong làng, lấy cái khôn ngoan của ông thầy học,

cả ba cái tốt đều thi hành, nhưng rốt cuộc nó vẫn không lay chuyển Quan lại

Trang 34

29

trong châu sai binh lính thi hành phép công tìm bắt kẻ gian Lúc đó nó mới hoảng sợ, thay đổi tính nết, tính hạnh của mình Dân chúng nếu được yêu thương thì sinh kiêu căng, nhưng nghe theo uy quyền" [64, tr.546-547] Mọi

người đều bình đẳng trước pháp luật, Pháp luật là cao nhất trong nhà nước và

Pháp luật phải minh bạch "Pháp luật không hùa theo người sang Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ không cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu" [64, tr.13] Pháp luật phải thay đổi theo tình hình thực tế " thời biến, pháp biến""Thời thế thay đổi mà cách cai trị không thay đổi thì sinh loạn Biết cai trị dân chúng nhưng lệnh cấm không thay đổi thì nước bị cắt theo Cho nên bậc thánh nhân trị dân thì pháp luật theo thời mà thay đổi

và sự ngăn cấm theo khả năng mà thay đổi" [64, tr.588] Nhưng pháp luật phải ổn định, nếu thường xuyên thay đổi thì sẽ gây hại cho dân " Nấu cá nhỏ

mà quấy trộn nhiều sẽ làm hư nát cá Trị nước lớn mà thay đổi pháp lệnh nhiều thì dân bị tổn hai Do vậy, Vua nắm quyền thống trị tôn sùng sự ổn định, không tán thành việc thường xuyên thay đổi pháp lệnh" [64, tr.182]

- Thế: là quyền lực của Vua để chế ngự bề tôi Nếu Vua không có cái thế mạnh thì không thể hành Pháp, còn Thuật là để bảo vệ cái Thế của Vua

không mất vào tay của bề tôi " Vua nắm quyền bính đồng thời có uy thế, nhờ vậy mà mệnh lệnh ban ra mới quán triết chấp hành, lệnh cấm ban ra ngăn chặn được hành vi tà ác" [64, tr.524] Nếu Vua mất quyền thế sẽ bị người ta chế ngự, đối mặt với nguy cơ mất nước mạng vong " nói chung bậc vua sáng cai trị nước là nhờ vào cái thế Cái thế không thể bị hại thì dù có sức cả thiên

hạ cũng không thể làm gì được Cái thế có thể bị hại thì những kẻ kém cỏi như Như Nhĩ, Ngụy Tề và các nước Hàn Ngụy cũng có thể làm hại" [64

tr.455]

Trang 35

30

- Thuật: là thuật dùng người, là phương pháp, thủ đoạn của vua để quản

lý bề tôi "Thuật là nhân trách nhiệm mà giao chức quan, theo tên gọi mà yêu cầu sự thực Nắm lấy cái quyền cho sống và giết chết, hiểu rõ năng lực của bầy tôi, đó là điều nhà vua nắm lấy" [64, tr.478] Thuật dùng người của Vua

có ảnh hưởng lớn tới sự hưng vong của quốc gia vì "Đem chính sự quốc gia trao cho người như thế nào sẽ quyết định sự tồn vong, trị loạn của quốc gia Nếu vua không có thuật dùng người thì vô luận dùng người thế nào đều làm hỏng việc" [64, tr.528] Thuật phải luôn gắn liền với Pháp " Nhà vua không có thuật trị nước thì ở trên bị che đậy, bầy tôi mà không có pháp luật thì cái loạn sinh ra ở dưới Hai cái không thể thiếu cái nào Đó đều là những công cụ của bậc đế vương"[64, tr.479]

Tóm lại, Hàn Phi cho rằng pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất để đem lại hòa bình, ổn định và công bằng cho tất cả mọi người, thậm chí ông cho rằng, nhà vua cũng chỉ là người bình thường như bao người khác, nên cái làm cho đất nước bình hay loạn không phải do ông vua của nước đó như thế nào

mà là nền pháp trị của nước đó ra sao Nói như thế không có nghĩa là Hàn Phi không tôn quân mà ông tôn quân khác với Nho gia, học giả Nguyễn Hiến Lê

đã nhận xét về điều này như sau: " Nho gia tuy tôn quân nhưng coi vua là người chỉ nhận sứ mạng của trời, mà ý dân là ý trời, nên đòi vua phải có đạo đức, ông vua nào không có tư cách đều bị Khổng Tử, Mạnh Tử chê hoặc mạt sát; mà Nho gia lại chính là những chính trị gia chỉ có ý niệm về đạo đức ( nhân) về bổn phận ( nghĩa) chứ chưa có ý niệm về pháp luật Trái lại Pháp gia tôn quân hơn Nho gia nhiều thì lại có ý niệm rất rõ về pháp luật và đòi các vua chúa phải luôn áp dụng đúng pháp luật Cơ hồ họ cảm thấy rằng phải có pháp luật để giảm bớt uy quyền của ông vua Họ không nói đến mệnh trời, ý dân nữa, không đề cao nhân nghĩa nữa mà chỉ nói đến pháp luật, đề cao pháp luật"[32, tr.274] Điều này cho thấy, mặc dù trong nhà nước Trung

Trang 36

31

Hoa cổ đại với tính chất quân chủ chuyên chế tuyệt đối, luôn tồn tại những

suy nghĩ đương nhiên như "vua là tối cao", "mệnh vua là mệnh trời" bám sâu

trong tư tưởng con người thì vẫn xuất hiện những tư tưởng tiến bộ như tư tưởng Pháp trị , coi việc áp dụng pháp luật là bình đẳng không phân biệt là dân đen hay quan lại, thậm chí vua cũng phải chấp hành đúng luật mà mình

đã ban hành

Như vậy, học thuyết Pháp trị Trung Hoa cổ đại đã thể hiện một phần nào của tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, tuy rằng tư tưởng này vẫn còn bị giới hạn bởi bản chất giai cấp trong nhà nước thời kỳ cổ đại Nhưng không thể phủ nhận những điểm tiến bộ của học thuyết Pháp trị mang lại, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi nhà nước Việt Nam đang xây dựng

mô hình nhà nước pháp quyền thì việc tham khảo có chọn lọc những điểm tiến bộ của học thuyết này là cần thiết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý

xã hội của bộ máy chính quyền

Đến thời kỳ trung đại ở cả phương Đông và phương Tây đều là thời kỳ tồn tại của nhà nước phong kiến, với đặc trưng tất cả quyền lực đều thuộc về nhà vua, chính vì thế tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước ở thời

kỳ này không được kế thừa và phát triển Mà phải đến thời kỳ cận đại, tư tưởng này mới được tiếp tục nghiên cứu, phát triển

1.2.2 Các tư tưởng thời kỳ cận đại

Thời kỳ cận đại là thời kỳ phát triển vượt bậc cả về lượng và chất trong khoa học kỹ thuật, văn hóa tư tưởng so với những giai đoạn trước cộng lại Những tư tưởng, học thuyết tiến bộ về nhà nước, pháp luật cũng được kế thừa

và hoàn thiện ởthời kỳ này, tiêu biểu là những nhà tư tưởng lớn như John Locke ( 1632-1704), Charles Louis Montesquieu ( 1689-1775), Jean Jacques Rousseau ( 1712-1778)

Trang 37

"nền quân chủ chuyên chế [ ] thật sự mâu thuẫn với xã hội dân

sự, và vì thế không hề là hình thức của chính quyền dân sự Vì mục đích của xã hội dân sự là để tránh những phiền phức của trạng thái tự nhiên, và nó cũng chính là phương cách giải quyết cho những phiền phức tất yếu theo cùng với trạng thái này, ở việc mỗi người đều là quan tòa cho trường hợp của riêng mình, bằng cách thiết lập một thẩm quyền được nhận biết mà mỗi người của xã hội dân sự đều có thể cáo kiện đến do có bất kỳ tranh cãi có thể này sinh, và đó là thẩm quyền mà mọi người trong xã hội phải tuân thủ Nơi đâu mà những con người bất kỳ không có một nơi có thẩm quyền như vậy để cáo kiện đến hầu

có được quyết định cho sự khác biệt bất kỳ nào đó giữa họ, nơi

đó người ta vẫn sống trong trạng thái tự nhiên, và vì thế mỗi người họ là một quân vương chuyên chế đối với những người sống dưới quyền thế của họ"[40, tr.128-129]

Nhà nước được xác lập nhằm đảm bảo các quyền của con người Nhà nước hợp lý tính, đưa hình ảnh con người cá nhân lên sự quan tâm hàng đầu, hoàn toàn đối lập với nền quân chủ chuyên chế, khi cá nhân bị hòa tan vào cái phổ quát, hư vị Ngoài ra, ông cũng vạch ra mâu thuẫn tất yếu giữa cá nhân và

xã hội, giữa xã hội và hệ thống quyền lực chính trị, quá trình vận động không ngừng của xã hội, trải qua các nấc thang từ thấp đến cao Mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội được giải quyết bằng tinh thần hòa giải và khoan dung, thống

Trang 38

33

nhất lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội; mâu thuẫn giữa xã hội và hệ thống quyền lực được giải quyết theo hướng có lợi cho xã hội Xã hội tồn tại vĩnh viễn, còn nhà nước thì được hình thành từ đó

Bên cạnh đó, ông cũng đề xuất nên học thuyết phân quyền, có ảnh hưởng lớn đến lý luận nhà nước pháp quyền hiện đại Đây cũng chính là quan điểm mang tính cách mạng của ông, ông cho rằng cần phải giới hạn quyền lực của chính quyền nhà nước nhằm tránh sự lạm quyền bằng cách phân chia quyền lực Và khi chính quyền đó chuyên chính, bạo ngược, không có khả năng bảo vệ an toàn, tự do và quyền sở hữu của người dân thì nhân dân có thể lật đổ chính quyền bởi vì nhân dân là người nắm giữ quyền lực thực sự chứ không phải là quyền lập pháp - một trong hai nhánh quyền lực theo quan điểm của John Locke Theo Locke, quyền lập pháp là quyền tối cao, là quyền làm

ra luật để quản lý con người trong một quốc gia, dựa vào đó mỗi công dân tự biết phải điều chỉnh hành vi như thế nào để sống hạnh phúc, tự bảo tồn và liên kết với những công dân khác trong xã hội một cách trật tự, kỷ cương Còn quyền hành pháp ngoài chức năng bảo đảm thi hành các luật bên trong quốc gia thì còn góp phần làm ra luật cụ thể, điều chỉnh luật cho phù hợp với biến đổi của thực tế Cả hai quyền này đều có chung nhiệm vụ thực hiện chức năng của mình không được đi ngược lại lợi ích của nhân dân

Charles Louis Montesquieu là nhà tư tưởng chính trị xuất sắc của

Pháp;tên tuổi của Montesquieu luôn gắn với tư tưởng phân chia quyền lực nhà

nước Học thuyết của ông còn được gọi là thuyết "tam quyền phân lập" được phản ánh trong tác phẩm "Tinh thần pháp luật" và "Những bức thư thành Ba Tư" Cũng như Locke, Montesquieu thấy rằng dưới chế độ phong kiến, người

dân không có tự do, bị cai trị một cách chuyên quyền độc đoán vì toàn bộ quyền lực nhà nước nằm trong tay Nhà vua Do vâ ̣y, ông muốn tìm ra chế độ cai trị có thể giúp người dân tránh được tai ương, rủi ro, bất hạnh do chính sự

Trang 39

34

chuyên chế độc tài đem lại Nguyên nhân của sự phân quyền của Montesquieu

so với nguyên nhân do Locke đưa ra về cơ bản là giống nhau, bởi đều xuất phát từ luâ ̣n đ ề: người nắm quyền luôn có xu hướng lạm quyền, nên muốn chống sự lạm quyền đó để bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân thì phải

tổ chức và phân chia quyền lực sao cho đảm bảo "Quyền lực ngăn cản quyền lực" Theo Montesquieu, một nhà nước tự do hoàn hảo là một nhà nước mà ba

thứ quyền lực này được phân chia và được đặt vào tay những cá nhân, tổ chức

khác nhau: "Tự do chính trị [ ] chỉ có được khi không có sự lạm dụng quyền lực Nhưng kinh nghiệm muôn đời chỉ ra cho chúng ta rằng bất kỳ ai khi được trao quyền lực là sẽ có khuynh hư ớng lạm dụng quyền lực ấy, và sẽ tăng quyền lực của anh ta lên đến hết mức Để ngăn chặm sự lạm dụng này, điều cần thiết rất tự nhiên là quyền lực phải được ngăn cản (kiềm chế) bởi quyền lực" [56, tr.75] Theo học thuyết của ông, trong mỗi quốc gia đều có ba thứ

quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp Ba thứ quyền này phải độc lập, trở thành lực lượng kiềm chế nhau Quyền lập pháp được chia giữa tư sản và phong kiến Nghị viện có hai viện, Thượng viện đại diện cho quý tộc; Hạ viện đại diện cho dân Quyền hành pháp thuộc quý tộc, và thành lập chính phủ của nhà vua nhưng chịu trách nhiệm trước nhân dân, tức là trước giai cấp tư sản

Theo Montesquieu:"Khi mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một người hay một viện nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa,

vì người ta sợ rằng chính ông ta hay Viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài" [56, tr.100] Cũng tương tự như vậy, "nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân" [56, tr.100] và "nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp" [56, tr.101] và "nếu một người hay một tổ chức của quan chức hoặc của quý tộc hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền nói trên thì tất cả sẽ mất hết"

Trang 40

Xem xét tư tưởng Montesquieu, ta có thể nhâ ̣n thấy một bước phát triển mới của tư tưởng phân chia quyền lực so với tư tưởng của Locke ở việc,ông đưa ra quan điểm phân tách các quyền lâ ̣p pháp , hành pháp và tư pháp một cách triệt để, có sự giám sát, kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực,

và ngay giữa các cơ quan trong cùng một nhánh quyền lực với nhau, nhằm ngăn chặn sự lạm quyền, những vẫn tạo nên một bộ máy nhà nước thống nhất

Tư tưởng của Montesquieu là cơ sở nền tảng của học thuyết phân chia quyền lực hiện đại mà các nước tư bản phát triển đang áp dụng, đồng thời cũng là tư tưởng tiến bộ góp phần vào tiến trình phát triển của tư tưởng hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước

Jean Jacques Rousseausinh ra tại Thụy Sĩ, trong thời kỳ Khai Sáng thế

kỷ XVIII của Châu âu, tư tưởng của ông có ảnh hướng lớn tới sự phát triển

Ngày đăng: 24/02/2016, 18:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w