Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường bộ dưới góc độ kinh tế và giao thông vận tải, ví dụ như: Một số luận văn thạc sĩ liên quan đến vậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN THỊ THANH THỦY
HÀ NỘI - 2015
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài 5
7 Kết cấu 5
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT KINH DOANH VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ 6
1.1 Những vấn đề pháp lý về kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định 6
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định 6
1.1.2 Vai trò của vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định 8
1.2 Pháp luật về kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định 10
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định 10
1.2.2 Quy định về quản lý hoạt động vận tải hành khách bằng ô tô 11
1.3 Quy định pháp luật một số nước về vận tải hành khách bằng đường bộ 17
1.3.1 Quản lý vận tải hành khách bằng đường bộ của Singapore 17
1.3.2 Quản lý vận tải hành khách bằng đường bộ ở Vương quốc Bỉ 18
Trang 41.3.3 Quản lý vận tải hành khách bằng đường bộ ở New Zealand 20 1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 20 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH VẬN TẢI HÀNH KHÁCH THEO TUYẾN CỐ ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH 24 2.1 Quy định pháp luật hiện hành về vận tải hành khách theo tuyến cố định 24 2.1.1 Các quy định của pháp luật về chủ thể kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định 24 2.1.2 Các quy định của pháp luật về chủ thể kinh doanh dịch vụ bến bãi 29 2.1.3 Các quy định đặc thù về quản lý nhà nước hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố định 37 2.1.4 Quan hệ pháp lý giữa doanh nghiệp kinh doanh vận tải và doanh nghiệp kinh doanh bến bãi 43 2.1.5 Các ràng buộc pháp lý giữa dịch vụ kinh doanh vận tải với các dịch vụ
bổ trợ khác 44 2.2 Thực tiễn thực thi pháp luật về kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định 47 2.2.1 Thực trạng kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định ở Việt Nam 47 2.2.2 Một số bất cập trong kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định 49 Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KINH DOANH VẬN TẢI HÀNH KHÁCH THEO TUYẾN CỐ ĐỊNH 55 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định 55 3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về kinh doanh vận tải hành khách để tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng thuận lợi cho các doanh nghiệp 55 3.1.2 Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động 57
Trang 53.2 Giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định 58 3.2.1 Hoàn thiện pháp luật kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định 58 3.2.2 Các giải pháp hỗ trợ 66 KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LGTĐB 2001 Luật Giao thông đường bộ năm 2001 LGTĐB 2008 Luật Giao thông đường bộ năm 2008
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng1.1 Khối lượng vận chuyển hàng hóa, hành khách
2 Bảng 2.1 Quy Chuẩn điều kiện phân loại Bến xe khách 34
3 Bảng 2.2 Chu kỳ đăng kiểm chất lượng xe khách 45
4 Bảng 2.3 Dự báo khối lượng hành khách luân chuyển phân
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Vận tải hành khách bằng ô tô là loại hình dịch vụ thương mại phổ biến trong mọi nền kinh tế Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu đi lại ngày càng nhiều hơn và đòi hỏi vận tải hành khách nói chung và vận tải hành khách bằng đường bộ nói riêng luôn phải có sự phát triển tương ứng để thỏa mãn tốt nhu cầu đó Đáp ứng nhu cầu đi lại của con người ngày càng một tăng cao, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp kinh doanh vận tải liên tục đổi mới và phát triển mạnh cả về số lượng, chất lượng và đặc biệt là đối với những doanh nghiệp có truyền thống lâu đời về quản lý, khai thác kinh doanh vận tải khách bằng đường bộ
Điều này đặt ra thách thức đối với cơ quan quản lý nhà nước phải thay đổi các chính sách cho hoạt động vận tải khách dựa trên nền tảng thực tế của quá trình vận hành Nhà nước với vai trò thiết lập khuôn khổ pháp luật về kinh tế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi thông qua các chính sách và hệ thống luật chuẩn mực, phù hợp sẽ có tác động quyết định đến sự phát triển hoạt động vận tải khách bằng đường bộ Hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ vận tải hành khách là một yêu cầu cấp bách tạo nền móng vững chắc giải quyết vấn đề bức xúc hiện nay để nâng cao hiệu quả trong công tác vận tải hành khách bằng đường bộ
Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động giao thông trong thực tiễn cuộc sống, tại kì họp thứ 9 Quốc hội khóa X ngày 29 tháng 6 năm 2001, Luật Giao thông đường bộ số 26/2001/QH10 (LGTĐB 2001) đã được thông qua và
có hiệu lực ngày 01 tháng 01năm 2002; cùng với sự ra đời của LGTĐB 2001, các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động vận tải khách bằng đường bộ lần lượt được ban hành như: Chỉ thị số 01/2004/CT-TTg ngày 02/01/2004 của
Trang 9Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh hoạt động vận tải khách liên tỉnh bằng ô tô; Quyết định số 08/2005/QĐ-BGTVT ngày 10/01/2005 của Bộ Giao thông vận tải quy định về bến xe ô tô khách; Quyết định số 09/2005/QĐ-BGTVT ngày 10/01/2005 của Bộ Giao thông vận tải quy định về vận tải khách bằng ô tô theo tuyến cố định và vận tải khách bằng ô tô theo hợp đồng; Nghị định số 110/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28/09/2006 về điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô;… Sau quá trình áp dụng luật vào đời sống thực tiễn, với những thay đổi mạnh mẽ của nền kinh tế nói chung cũng như hoạt động vận tải khách nói riêng, ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII ngày 13/11/2008 Quốc hội đã thông qua Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 (LGTĐB 2008) thay thế LGTĐB 2001có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2009 Bên cạnh đó, Chính phủ cũng ban hành Nghị định
số 91/2009/NĐ-CP (Nghị định 91) ngày 21/10/2009 về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô; Nghị định số 93/2012/NĐ-CP (Nghị định 93) ngày 08/11/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2009/NĐ-CP ngày 21/10/2009 về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô…
Việc ra đời LGTĐB 2008 và các Nghị định, thông tư hướng dẫn đi kèm đã tạo nên sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật giao thông đường bộ nước ta Đó là
cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý các hoạt động vận tải khách, nhưng đến nay, do biến động của tình hình thực tế có nhiều vấn đề mà pháp luật hiện hành vẫn chưa tiên liệu được như: quá trình xã hội hóa các bến xe, sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện vận tải… Điều này dẫn đến thực tiễn thi hành pháp luật hiện nay ở trên địa bàn cả nước còn những hạn chế, bất cập cần được khắc phục để phát huy tối đa vai trò của pháp luật trong hoạt động thực tiễn
Với các lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Pháp luật về kinh doanh vận
chuyển hành khách bằng đường bộ ở Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về vấn đề kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định dưới những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường bộ dưới góc độ kinh tế và giao thông vận tải,
ví dụ như:
Một số luận văn thạc sĩ liên quan đến vận tải hành khách đường bộ như:
Phát triển dịch vụ vận tải hành khách đường bộ tại địa bàn tỉnh Quảng Nam của tác giả Phạm Việt Cảm – Đại học Đà Nẵng năm 2013; Hoạch định chiến lược kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ tại công ty vận tải đa phương thức Viettranstimex của tác giả Nguyễn Thị Ái Vân – Đại học Đà Nẵng năm 2010…
Các công trình trên chủ yếu nghiên cứu về lĩnh vực kinh doanh vận tải đường bộ nhưng chưa tập trung vào mặt pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh này cũng như chưa đưa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của quản lý hoạt động kinh doanh vận tải hành khách Hơn nữa nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang tiếp tục được đặt ra và có nhu cầu giải quyết hoặc chưa được cập nhật trong pháp luật hiện hành như: quản lý nhà nước đối với hoạt động vận tải khách, quy định của pháp luật về vận tải khách… Đây là vấn đề cấp thiết đặt ra trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật kinh tế và giao thông vận tải nói riêng ở nước ta
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
Trên cơ sở phân tích một số quy định pháp luật hiện hành về vận tải hành khách bằng đường bộ, luận văn đi sâu phân tích, đánh giá quá trình và kết quả hoạt động thực thi pháp luật về vận tải hành khách trên địa bàn cả nước, đồng thời đưa ra các ý kiến góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vận tải hành khách bằng đường bộ trong điều kiện hiện nay
Trang 11Hai là, phân tích, đánh giá về pháp luật vận tải hành khách bằng đường
bộ, hoạt động của các bến xe, doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ từ kết quả đạt được nhằm rút ra các vướng mắc, hạn chế của pháp luật hiện hành và nguyên nhân của những bất cập trong thực thi pháp luật về vận tải hành khách bằng đường bộ
Ba là, đề xuất các ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả hoạt động vận tải khách bằng đường bộ hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là các quy phạm pháp luật hiện
hành liên quan trực tiếp đến vấn đề kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ và những văn bản pháp luật có liên quan
Kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ gồm những hình thức sau: kinh doanh vận tải khách bằng xe ô tô chạy tuyến cố định; kinh doanh vận tải khách bằng xe buýt; kinh doanh vận tải khách bằng xe taxi; kinh doanh vận tải khách bằng theo hợp đồng không theo tuyến cố định; và kinh doanh vận tải khách du lịch theo tuyến, chương trình và địa điểm du lịch Tuy nhiên, do thời gian có hạn nên đề tài chỉ nghiên cứu tập trung vào loại
hình “vận tải hành khách tuyến cố định” – hình thức phổ biến, chủ yếu và
thường xuyên nhất của vận tải hành khách bằng đường bộ ở Việt Nam.Với khuôn khổ của Luận văn, luận văn sẽ tập trung đi sâu phân tích một số quy định của pháp luật hiện hành vận tải khách bằng đường bộ về hoạt động của các doanh nghiệp vận tải tại các bến xe và của các nhà xe với hành khách
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam Luận văn cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử,
tư duy logic, phương pháp quy nạp, diễn giải … nhằm làm sáng tỏ nội dung
và phạm vi nghiên cứu của đề tài
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện về cả lý luận và thực tiễn vấn đề, xác định những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định, đồng thời phân tích kinh nghiệm pháp luật một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này Tác giả của luận văn với mong muốn đây là công trình nghiên cứu có ít nhiều giá trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn để làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động giảng dạy pháp lý cũng như tạo những gợi ý có giá trị cho các nhà lập pháp hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về vấn đề này
7 Kết cấu
Ngoại trừ phần mở đầu, danh mục bảng biểu và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Khái quát về pháp luật kinh doanh vận tải đường bộ
Chương 2 Pháp luật về kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT KINH DOANH VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ
1.1 Những vấn đề pháp lý về kinh doanh vận tải hành khách bằng đường
bộ theo tuyến cố định
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định
Theo Từ điển Tiếng Việt, vận tải được giải nghĩa là “hoạt động chuyên
chở người hoặc đồ vật trên quãng đường tương đối dài” [7] Còn Business
Dictionary ghi nhận “vận tải là việc dịch chuyển hàng hóa hoặc người từ địa
điểm này tới một địa điểm khác” [3] Kinh doanh vận tải hành khách bằng
đường bộ trước hết được hiểu là một loại hình dịch vụ - một hoạt động có ích của con người tạo ra những sản phẩm dịch vụ, không tồn tại dưới hình thái sản phẩm, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn đầy đủ, kịp thời, thuận tiện và văn minh các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con người
Theo giải nghĩa tại Quyết định số 337/QĐ-BKH ngày 10/04/2007 của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành Quy định nội dung Hệ thống ngành
kinh tế của Việt Nam, vận tải hành khách đường bộ được hiểu là “vận tải hành khách bằng đường bộ trong nội, ngoại thành, được thực hiện bằng nhiều phương thức (trừ xe buýt) như: tàu điện ngầm, tàu điện chạy bằng tuyến đường ray trên mặt đất hoặc tuyến ray trên cao, ôtô điện Đặc thù của các phương thức vận tải này là chạy trên các tuyến đường theo lịch trình, giờ giấc cố định, các bến đỗ cố định để đón, trả khách Nhóm này cũng gồm: (i) Các tuyến đường chạy từ thành phố tới sân bay hoặc từ thành phố tới nhà ga tàu hỏa; và (ii) Hoạt động của đường sắt leo núi, đường cáp trên không nếu một phần của hệ thống này đi qua nội, ngoại thành”
Trang 14Dưới góc độ pháp lý, căn cứ Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định về hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam, vận tải hành khách đường bộ là ngành nghề kinh doanh được pháp luật thừa nhận và là một ngành kinh tế trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân Theo LGTĐB2008, vận tải đường bộ là hoạt động sử dụng phương tiện giao thông đường bộ để vận chuyển người, hàng hóa trên đường bộ (Khoản 30 Điều 3) Nghị định số 91 đã nêu rõ, kinh doanh vận tải bằng xe ô tô là việc sử dụng xe ô tô vận tải hành khách, hàng hóa có thu tiền(Khoản 2 Điều 3)
Căn cứ Điều 66 LGTĐB2008 và Điều 4 Nghị định 91, kinh doanh vận
tải hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cố định là loại hình vận tải hành khách theo tuyến cố định có xác định bến đi, bến đến và ngược lại với lịch trình, hành trình phù hợp do doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký và được cơ quan quản lý tuyến chấp thuận Tuyến vận tải hành khách cố định bằng xe ô
tô bao gồm: tuyến liên tỉnh có cự ly từ 300km trở lên phải xuất phát và kết thúc tại bến xe loại 4 trở lên và tuyến nội tỉnh
Dựa trên tính chất, kinh doanh vận tải hành khách là một loại hình dịch vụ có đối tượng phục vụ là con người, mang những đặc điểm cơ bản của dịch vụ:Trước hết sản phẩm dịch vụ là sản phẩm vô hình, không hiện hữu, sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể Sản phẩm
mà dịch vụ tạo ra không thể xác định một cách cụ thể bằng các tiêu chuẩn
kỹ thuật Sản phẩm dịch vụ không có tính tách rời Hay nói cách khác việc cung ứng sản phẩm và việc tiêu dùng sản phẩm diễn ra đồng thời Bên cạnh
đó nó không có tính dự trữ Đây chính là hệ quả của đặc điểm không tách rời Do sản xuất và tiêu dùng diễn ra cùng một lúc nên sản phẩm dịch vụ không có tính dự trữ Chất lượng dịch vụ rất khó đánh giá, vì nó chịu nhiều yếu tố tác động như người cung cấp dịch vụ, người sử dụng dịch vụ và thời điểm cung cấp dịch vụ
Trang 15Những đặc điểm này tạo nên những nét đặc thù cho các hoạt động dịch
vụ Bên cạnh những đặc điểm cơ bản trên, dịch vụ vận tải hành khách có những đặc điểm đặc trưng: Sản phẩm của vận tải hành khách là sự di chuyển của hành khách trong không gian nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người Vì thế, đối tượng vận chuyển của vận tải hành khách là con người, đây là một đặc điểm hết sức quan trọng, là cơ sở cho việc xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực kinh doanh này Bởi vậy, phương tiện vận tải đòi hỏi yêu cầu rất cao, ngoài việc đảm bảo về đặc tính kỹ thuật còn phải đáp ứng các điều kiện về kinh doanh vận tải hành khách như: số ghế, phù hiệu, đăng kiểm,…Vận tải hành khách còn mang tính phân luồng, phân tuyến đường bộ khá rõ rệt, đặc điểm này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nhằm đảm bảo an toàn cho hành khách Do những đặc thù trên, kinh doanh vận tải hành khách chịu
sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan lý nhà nước
Tóm lại, hoạt động vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định là hoạt động thương mại dịch vụ đặc biệt trong lĩnh vực giao thông vận tải, một trong các phương thức vận tải người và hàng hóa đi kèm sử dụng phương tiện chủ yếu là ô tô và hệ thống đường bộ Hoạt động vận tải này có liên quan mật thiết tới không chỉ các chủ xe ô tô sử dụng phương tiện đón, trả khách, các đơn vị kinh doanh vận tải hành khách, doanh nghiệp kinh doanh bến xe vận tải mà còn liên quan tới hệ thống cơ quan quản lý đường bộ
1.1.2 Vai trò của vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định
Quy hoạch phát triển ngành giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 162/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 xác định Giao thông vận tải đường bộ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội cần phải được đầu tư, phát triển đi trước một bước; phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải
Trang 16Thật vậy, vận tải nói chung và vận tải ô tô nói riêng có vai trò thiết yếu đối với sản xuất và đời sống xã hội Nếu vận tải đường bộ bị hạn chế thì các quy trình sản xuất, kinh doanh không thể thực hiện được, việc giao lưu hàng hóa giữa các khu vực, các vùng và sự đi lại của nhân dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn Vận tải ô tô cần thiết đối với tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất, đối với việc lưu thông hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng và đi lại của nhân dân Vì vậy, phát triển ngành vận tải ô tô từ trước đến nay ở mỗi quốc gia đều
là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế của đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng và đòi hỏi phải phát triển trước một bước
Với một số ưu điểm cơ bản là tính cơ động cao, tốc độ vận chuyển nhanh, giá thành vận chuyển trên khoảng cách ngắn hạ hơn so với vận chuyển đường sắt và vận tải đường thủy, hoạt động bất kỳ lúc nào trên các loại đường, thậm chí ở cả những nơi chưa có đường sá, tốc độ vận chuyển hàng của ô tô nhanh hơn đường sắt cả về khoảng cách ngắn và khoảng cách dài nên việc vận chuyển hàng giữa các thành phố bằng ô tô đang phát triển mạnh cả
về vận tải nội tỉnh cũng như vận tải liên tỉnh
Bảng1.1 Khối lượng vận chuyển hàng hóa, hành khách đường bộ
Triệu tấn.km
Trang 17Có thể khẳng định, vận tải ô tô có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Kể từ khi Nhà nước chủ trương xã hội hoá lực lượng vận tải đường bộ, các thành phần kinh tế đã phát triển mạnh
mẽ, các phương tiện kinh doanh vận tải gia tăng nhanh chóng cả về số lượng
và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đi lại của người dân
1.2 Pháp luật về kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định
1.2.1.1 Khái niệm
Từ những phân tích về hoạt động kinh doanh vận tải hành khách theo
tuyến cố định, có thể rút khái niệm như sau: Pháp luật kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định là hệ thống các quy định do nhà nước ban hành để điều chỉnh những quan hệ xã hội có liên quan đến hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ như:điều kiện kinh
doanh vận tải đường bộ, nguyên tắc, hợp đồng và quản lý nhà nước
1.2.1.2 Đặc điểm
Nhìn chung, pháp luật về kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường bộ là pháp luật điều chỉnh về một loại hoạt động thương mại dịch vụ đặc biệt đó là vận tải con người, nên không chỉ bị điều chỉnh bởi các quy định chung về hoạt động thương mại dịch vụ mà còn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của các quy định pháp luật chuyên ngành như bảo hiểm và thể hiện rõ rệt vai trò quản lý nhà nước Do vậy các đặc điểm cơ bản của pháp luật về kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường bộ bao gồm:
Thứ nhất, các quy định của pháp luật về vận tải hành khách theo tuyến
cố định thể hiện rất rõ vai trò của quản lý nhà nước Kinh doanh vận tải hành
Trang 18khách bằng đường bộ với đối tượng là con người Do đó, việc hạn chế sai sót, đảm bảo an toàn trong quá trình cung cấp dịch vụ là điều tiên quyết để thành công trong lĩnh vực này Bởi thế, trong pháp luật kinh doanh vận tải, các quy định về quản lý nhà nước thể hiện rất rõ rệt và giữ vai trò chi phối Ví dụ như việc quy định về điều kiện bến bãi, điều kiện các doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách, khống chế giá vé, các quy định về kiểm tra xe
ra vào bến đón trả khách…
Thứ hai, các quy định của pháp luật điều chỉnh về vận tải hành khách
bằng đường bộ gắn liền với các quy định của các hoạt động thương mại mang tính chuyên ngành như quy định về bảo hiểm tính mạng, rủi ro hàng hóa đi kèm khi vận chuyển
Thứ ba, hình thức thể hiện của pháp luật kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định nằm rải rác trong nhiều thể thức văn bản, do nhiều cấp ban hành và chủ yếu nằm ở văn bản dưới luật do nhiều cơ quan chức năng như Bộ giao thông vận tải, Bộ công an, Bộ tài chính…ban hành Với hình thức thể hiện không tập trung dẫn đến tình trạng “bội thực văn bản” trong lĩnh vực vận tải Đây là đặc điểm nổi bật của pháp luật kinh doanh vận tải nhưng cũng là bất cập đối với pháp luật lĩnh vực này
1.2.2 Quy định về quản lý hoạt động vận tải hành khách bằng ô tô
Quản lý hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố định được chia làm nhiều cấp theo phân cấp quản lý nhà nước, trong đó bao gồm: Bộ Giao Thông vận tải, Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Sở Giao thông vận tải các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị kinh doanh bến xe khách
1 Bộ Giao thông vận tải: Bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về giao thụng vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công theo quy định của pháp luật BGTVT thực hiện nhiệm vụ, quyền
Trang 19hạn theo quy định tại Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm
2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn sau liên quan đến hoạt động vận tải khách bằng ô tô Ngoài ra, chức năng, nhiệm vụ cụ thể của BGTVT được quy định tại Nghị định 107/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 12 năm 2012 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BGTVT, trong đó có các nội dung liên quan đến hoạt động kinh doanh vận tải khách:
Bộ GTVT là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc đề ra các chủ trương, chính sách pháp luật; Trình thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khách theo phân công; Ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực do
Bộ quản lý; Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ; Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; tổ chức quản lý, hướng dẫn, kiểm tra đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện thuộc ngành giao thông vận tải theo danh mục do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định
Bộ GTVT trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; thông tin tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực quản
lý nhà nước của Bộ; Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện điều kiện kinh doanh vận tải, cơ chế, chính sách phát triển vận tải, các dịch vụ hỗ trợ vận tải theo quy định của Chính phủ; Quy định và hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, việc kiểm tra chất lượng an toản kỹ thuật của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; Quy định việc đào tạo, huấn luyện, sát hạch,
Trang 20cấp, công nhận, thu hồi giấy phép, bằng, chứng chỉ chuyên môn cho người điều khiển phương tiện giao thông, người vận hành phương tiện, thiết bị chuyên dùng trong giao thông vận tải (trừ người điều khiển phương tiện, thiết
bị chuyên dùng phục vụ vào mục đích quốc phòng, an ninh và tàu cá) và cho đối tượng đặc thù trong lĩnh vực giao thông vận tải; Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện điều kiện kinh doanh vận tải, cơ chế, chính sách phát triển vận tải, các dịch vụ hỗ trợ vận tải theo quy định của Chính phủ; Thực hiện các nhiệm
vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và theo quy định của pháp luật
2 Tổng cục Đường bộ Việt Nam: Tổng cục Đường bộ là cơ quan thuộc
Bộ Giao thông vận tải, có chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Thông tư số 18/2013/TT-BGTVT ngày 06/08/2013 về tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ: Tổng cục Đường bộ Việt Nam quản lý theo thẩm quyền hoạt động vận tải bằng xe ô tô
và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ trong phạm vi cả nước; Lập và trình Bộ GTVT phê duyệt quy hoạch mạng lưới tuyến vận tải hành khách cố định liên tỉnh; Chủ trì, phối hợp với Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam biên soạn, phát hành chương trình khung tập huấn nghiệp vụ vận tải hành khách, an toàn giao thông, nâng cao trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp cho lái xe, nhân viên phục
vụ trên xe; Thống nhất in, phát hành Giấy phép kinh doanh vận tải, phù hiệu, biển hiệu Tiếp nhận, tổng hợp, phân tích và khai thác các thông tin bắt buộc
từ thiết bị giám sát hành trình của xe do đơn vị kinh doanh vận tải (hoặc tổ chức được ủy quyền) cung cấp, từ cơ sở dữ liệu của Sở GTVT các địa phương
để phục vụ công tác quản lý nhà nước về giao thông vận tải; Xây dựng cơ sở
dữ liệu, lập trang thông tin điện tử về quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô; Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải dường bộ, tổ chức triển khai áp dụng thống nhất trong toàn quốc
Trang 21Xây dựng lộ trình và tổ chức thực hiện dịch vụ công trực tuyến để giải quyết các thủ tục hành chính về hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ; Thanh tra, kiểm tra và xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm quy định về kinh doanh vận tải đường bộ bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ theo quy định của pháp luật
3 Sở Giao thông vận tải: các Sở là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giao thông vận tải, bao gồm: đường
bộ, đường thủy nội địa, vận tải và an toàn giao thông trên địa bàn
Sở GTVT có tư cách pháp nhân, có con dấu và có tài khoản riêng; Chịu sự chỉ đạo quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ GTVT Trách nhiệm của Sở GTVT trong quản lý hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô được quy định như sau: Quản lý hoạt độngvận tải bằng xe ô to và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ theo thẩm quyền; Báo cáo Tổng cục Đường bộ Việt Nam việc công bố tuyến vận tải hành khách
cố định nội tỉnh; Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt: Quy hoạch mạng lưới vận tải hành khách bằng xe buýt, quy hoạch mạng lưới tuyến vận tải hành khách cố định nội tỉnh; vị trí các điểm dừng đón trả khách cho vận tải hành khách trên tuyến cố định trên mạng lưới đường bộ thuộc địa bàn địa phương; quy hoạch phát triển vận tải hành khách bằng xe taxi trên địa bàn địa phương; Quyết định công bố đưa bến xe hàng vào khai thác; Trực tiếp quản lý các tuyến vận tải hành khách cố định liên tỉnh, nội tỉnh và các tuyến buýt; Tiếp nhận, tổng hợp, phân tích và khai thác các thông tin bắt buộc từ thiết bị giám sát hành trình của xe do đơn vị kinh doanh vận tải (hoặc tổ chức được
ủy quyền) cung cấp, từ cơ sở dữ liệu của Tổng cục Đường bộ Việt Nam để
Trang 22phục vụ công tác quản lý nhà nước về giao thông vận tải Sở GTVT xây dựng
cơ sở dữ liệu, lập trang thông tin điện tử về quản lý hoạt động vận tải bằng xe
ô tô của địa phương Tổ chức thực hiện dịch vụ công trực tuyến để giải quyết các thủ tục hành chính về hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ Cấp Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô cho đơn vị kinh doanh vận tải hành khách và kinh doanh vận tải hàng hóa bằng công - ten - nơ trên địa bàn Quản lý, cấp, đổi các loại phů hiệu, biển hiệu theo quy định Chỉ đạo, giám sát công tác tập huấn nghiệp vụ vận tải, an toàn giao thông cho lái
xe taxi, lái xe buýt, nhân viên phục vụ trên xe và công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ lái xe do các đơn
vị kinh doanh vận tải trên địa bàn địa phương tổ chức Công bố đưa vào khai thác điểm dừng đón, trả khách cho vận tải hành khách trên tuyến cố định trên địa bàn sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt Thanh tra, kiểm tra và
xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm về kinh doanh vận tải bằng xe ô tô
và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ theo quy định của pháp luật
4 Các bến xe ô tô khách (bến xe): Khoản 3 Điều 3 LGTĐB 2008 quy định bến xe“là công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ thực hiện chức năng phục vụ ô tô đón, trả hành khách và các dịch vụ hỗ trợ vận tải hành khách” Ngoài nhiệm vụ chính là kinh doanh bến bãi, bến xe còn
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vận tải hành khách bằng đường bộ, điều này đã được quy định rõ tại Thông tư 24/2010/TT-BGTVT ngày 31/8/2010 về bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ (Thông tư 24)
Các bến xe thực hiện thời gian biểu chạy xe do cơ quan quản lý tuyến ban hành và các quy định khác về quản lý hoạt động vận tải hành khách bằng
xe ô tô theo tuyến cố định; Đảm bảo trật tự, an toàn, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường trong bến xe, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt
Trang 23động kinh doanh trong phạm vi bến xe; Duy trì cơ sở vật chất của bến xe theo đúng quy chuẩn; từng bước nâng cao chất lượng phục vụ hành khách và phương tiện; Kiểm tra và xác nhận vào Sổ nhật trình chạy xe các thông tin do bến xe chịu trách nhiệm; Báo cáo các quy định của đơn vị về quyền hạn, trách nhiệm, danh sách, chức vụ, chữ ký của những người được giao nhiệm vụ kiểm tra, xác nhận vào Sổ nhật trình chạy xe với Sở Giao thông vận tải địa phương để theo dõi và quản lý; Báo cáo định kỳ hàng tháng; Báo cáo đột xuất phục vụ công tác quản lý Nhà nước theo yêu cầu của Tổng cục đường bộ Việt Nam, Sở Giao thông vận tải; Báo cáo hệ số có khách bình quân trên tuyến của doanh nghiệp, hợp tác xã trong một khoảng thời gian theo yêu cầu của cơ quan quản lý tuyến xác định hệ số có khách bình quân trên tuyến phục vụ việc tăng doanh nghiệp hoạt động trên tuyến; tăng số lượng phương tiện của doanh nghiệp đang hoạt động
Không cho xe xuất bến nếu biển kiểm soát xe và lái xe không đúng với nội dung trong Sổ nhật trình chạy xe, báo cáo Sở Giao thông vận tải địa phương để trực tiếp hoặc phối hợp với Tổng cục Đường bộ Việt Nam (đối với các tuyến có cự ly trên 1000 (một nghìn) ki lô mét) xử lý theo quy định Báo cáo các cơ quan quản lý tuyến các doanh nghiệp, hợp tác xã có hành vi vi phạm các quy định về quản lý hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố định bằng ô tô
Tóm lại, hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ là hoạt động kinh doanh vận tải đặc biệt, về bản chất nó không thể tách rời với nội dung quản lý nhà nước Nhà nước thông qua các cơ quan quản lý có thẩm quyền chung và chuyên môn vừa để kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp vận tải, vừa mang tính chất tuyên truyền, phố biến ý thức pháp luật, đảm bảo an toàn cho người sử dụng dịch vụ
Trang 241.3 Quy định pháp luật một số nước về vận tải hành khách bằng đường bộ
1.3.1 Quản lý vận tải hành khách bằng đường bộ của Singapore
Singapore có mạng lưới giao thông đường bộ dài 3.400 km, với 161 km đường cao tốc Xe cơ giới có 956.704 chiếc, xe ô tô có 606.280 chiếc Hệ thống giao thông công cộng gồm các phương tiện tàu điện ngầm, tàu điện nhẹ, xe buýt, xe taxi Tàu điện ngầm MRT cung cấp dịch vụ vận tải khối lượng lớn có 147km đường, 97 nhà ga, tàu điện nhẹ với 29 km, 43 nhà ga, giá
vé và tiêu chuẩn dịch vụ được Nhà nước quy định Xe buýt với 342 tuyến, 4.000 xe, giá vé và tiêu chuẩn dịch vụ được Nhà nước quy định, và do hai Công ty SBST và SMRT đảm nhận theo khu vực phục vụ đã được phân chia
Xe taxi là dịch vụ giao thông công cộng cá nhân cao cấp với 27.000 xe, giá dịch vụ taxi do doanh nghiệptự điều chỉnh Khối lượng vận chuyển hàng ngày của tàu điện là 2,3 triệu lượt; xe buýt 3,4 triệu lượt và taxi 0,9 triệu lượt [5]
Giống như những đô thị phát triển khác, Singapore phải đối mặt với những thách thức do nhu cầu du lịch ngày càng tăng để hỗ trợ phát triển nền kinh tế và nhu cầu của công dân, song song với nó những hạn chế về mặt không gian Hiện nay, hoạt động vận tải hành khách đường bộ tại Singapore được quy định trong Đạo luật về Thẩm quyền Vận tải đường bộ Singapore (Land Transport Authority of Singapore Act) [8] Bộ Giao thông vận tải Singapore là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giao thông đường bộ Bộ Giao thông vận tải có các cơ quan như Cục Giao thông đường
bộ, Hội đồng Giao thông công cộng, Cục Hàng không dân dụng Singapore và Cục Cảng biển hàng hải Trong đó, liên quan đến quản lý giao thông đường
bộ là Cục Giao thông đường bộ và Hội đồng Giao thông công cộng
Cục Giao thông đường bộ quản lý giao thông đường bộ, có các chức năng:
- Xây dựng chính sách giao thông đường bộ;
- Quy hoạch giao thông tích hợp với sử dụng đất;
Trang 25- Lập dự án, thiết kế và phát triển hệ thống vận tải khối lượng lớn, cơ sở hạ tầng đường giao thông; Quản lý duy tu, bảo trì hạ tầng đường giao thông;
- Xúc tiến giao thông công cộng;
- Điều chỉnh dịch vụ giao thông công cộng;
- Điều chỉnh quyển sở hữu và sử dụng phương tiện giao thông cá nhân;
- Quy hoạch mạng lưới xe buýt tập trung;
- Thanh toán lại phí giao thông công cộng, phí giao thông và hệ thống bãi đỗ xe điện tử
Hội đồng giao thông công cộng là tổ chức độc lập, được thành lập năm
1987, gồm các thành viên từ nhiều tầng lớp rộng rãi trong xã hội Nhiệm vụ của Hội đồng tham gia điều chỉnh các lĩnh vực sau:
- Dịch vụ xe buýt;
- Nhà cung cấp dịch vụ xe buýt;
- Dịch vụ thanh toán vé;
- Giá vé xe buýt và tàu điện…
1.3.2 Quản lý vận tải hành khách bằng đường bộ ở Vương quốc Bỉ
Tổ chức chính quyền ở Bỉ tương đối phức tạp bao gồm vùng Flander phía Bắc (nói tiếng Hà Lan), vùng Wallonia phía Nam (nói tiếng Pháp) và vùng thủ đô Brussels (đa ngôn ngữ) Chính quyền các vùng độc lập, và cả các quận tự trị cũng độc lập về quyết định và trách nhiệm của mình Dựa trên cơ
sở các dữ liệu thực tế, phân tích và đánh giá hiện trạng cũng như các số liệu
dự tính, chính quyền đô thị đã hoạch định các mục tiêu lớn trong phát triển, quản lý hệ thống giao thông công cộng bao gồm cả hệ thống đường sắt đô thị Các mục tiêu cơ bản bao gồm:
- Nâng cao vai trò của chuyên gia trong việc định hướng chính sách phát triển giao thông, hướng đến các vấn đề về chất lượng, khả năng tiếp cận, các tranh luận chuyên môn trở thành cơ sở để xây dựng chính sách
Trang 26- Khuyến khích người dân ở trong thành phố Người dân có xu hướng ở các điểm đông dân cư trong thành phố hoặc vùng ngoại biên nơi các điểm nút giao thông (node) - gần nhà ga hoặc ở vùng ngoại ô với việc hạn chế sử dụng
ô tô riêng hàng ngày
- Có định hướng giảm triệt để ô tô cá nhân đồng thời tăng thêm khả năng đáp ứng các loại hình giao thông thay thế
- Cung cấp dịch vụ giao thông chất lượng cho tất cả mọi người Có giá
vé, chi phí sử dụng phương tiện phù hợp, thời gian di chuyển nhanh, khả năng tiếp cận tốt với đại bộ phận dân cư thuộc mọi tầng lớp trong đô thị
- Đảm bảo các khu vực vận chuyển hàng hóa hiệu quả và thân thiện với môi trường Cần phải giảm áp lực lên vận tải đường bộ và chuyển tải trọng sang vận tải đường thủy, đường sắt Vận chuyển hàng hóa nên được dùng các phương tiện ít hại cho môi trường
- Thực thi chính sách giao thông với sự gắn kết, phối hợp trách nhiệm của các bên liên quan, tạo ra sự đồng thuận cao của chính quyền, người dân, chuyên gia tư vấn, đơn vị quản lý vận hành, đơn vị thi công xây dựng
Chính quyền đô thị, các nhà quy hoạch đã cùng xây dựng một số các nhóm giải pháp cơ bản đề cập trong bản kế hoạch chính sách phát triển giao thông, trong đó tập trung vào các chính sách “mềm” để thúc đẩy sự phát triển
và lành mạnh hóa giao thông đô thị trong đó có cả các lĩnh vực đường sắt đô thị Cụ thể, các nhóm giải pháp chính bao gồm:
- Thành lập cơ quan giám sát giao thông: Một cơ quan giám sát giao thông bao gồm các chuyên gia của các trường đại học và các hội đồng khoa học liên ngành với nhiệm vụ hướng dẫn và đánh giá các nghiên cứu và hỗ trợ thực sự cho quy hoạch chiến lược với các mục tiêu rõ ràng hướng tới giao thông bền vững
- Khuyến khích các khu vực ít giao thông cá nhân: Đưa ra các tính toán
đo lường khuyến khích giảm giao thông cá nhân, cụ thể là đưa ra các đo
Trang 27lường tài chính về việc hưởng lợi cho các khu vực dân cư đông đúc nếu họ dùng phương tiện giao thông công cộng, nơi gần ga tàu, bến xe bus
- Triệt tiêu giao thông cơ giới bằng tối đa số lượng các chuyến: Đây là
ưu tiên hàng đầu với việc tăng các phương tiện giao thông “mềm”, tăng lượng ghế ngồi trong các chuyến thường xuyên có nhu cầu tăng lên, thúc đẩy đi bộ,
xe đạp kết hợp với mô hình chia sẻ xe đạp kết hợp với giao thông công cộng Một ý tưởng nữa là mô hình “chia sẻ xe hơi” cũng làm giảm số lượng ô tô cá
nhân và phương tiện cơ giới cho giao thông
1.3.3 Quản lý vận tải hành khách bằng đường bộ ở New Zealand
Hoạt động giao thông vận tải hành khách bằng đường bộ của New Zealand được điều chỉnh bởi nhiều đạo luật khác nhau [9] Các đạo luật cơ bản kể tới như:
- Đạo luật Quản lý Phương tiện đường bộ năm 1989;
- Đạo luật Vận tải đường bộ năm 1998;
- Đạo luật Quản lý Vận tải đường bộ năm 2003;
- Đạo luật Quản lý Vận tải công cộng năm 2008;
- Đạo luật về Phí sử dụng đường bộ năm 2012
Những đạo luật trên chủ yếu tập trung về quản lý vận tải hành khách bằng đường bộ trong đó tập trung vào: phương tiện vận tải, quản lý nhà nước
về vận tải khách và phí sử dụng đường bộ Khác với Việt Nam, pháp luật về kinh doanh vận tải khách ở Newzealand điều chỉnh sâu và chặt chẽ các quy định về vận tải đường bộ nói chung và vận tải hành khách bằng tuyến cố định nói riêng
1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua tìm hiểu chính sách, pháp luật về vận tải hành khách bằng ô tô của Singapore, Vương quốc Bỉ và New Zealand, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm về quản lý vận tải hành khách cho Việt Nam:
Trang 28Thứ nhất, xây dựng và hoạch định chiến lược phát triển vận tải hành khách bằng phương tiện công cộng nhằm quản lý có hiệu quả và bảo vệ môi trường
Phát triển vận tải hành khách công cộng là nhu cầu thiết thực đối với xã hội hiện nay Tuy nhiên, vì nhiều lý do đến nay ở Việt Nam loại hình này vẫn chưa có sự phát triển mạnh mẽ, khả năng đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân bằng phương tiện vận tải hành khách công cộng chưa cao Trong khi đó, tốc độ đô thị hóa nhanh, kèm theo sự gia tăng nhanh chóng số lượng phương tiện cá nhân, kết cấu hạ tầng giao thông phát triển không đáp ứng được nhu cầu đi lại ngày càng tăng, gây nhiều phiền toán trong quản lý vận tải Trong khi đó, ở nước ta cho đến nay chưa có hệ thống đường sắt đô thị, tàu điện ngầm, vận tải công cộng đường thủy nội địa hầu như không còn, ngoại trừ dịch vụ chở khách du lịch và một số phà ngang sông tại một số địa phương Loại hình vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt chủ yếu tập trung ở các thành phố lơn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, và chỉ áp dụng trong
đô thị Vận tải hành khách tuyến liên tỉnh chủ yếu là xe cá nhân và xe chạy tuyến cố định Có thể thấy phát triển vận tải hành khách tại Việt Nam đang đi ngược lại với xu hướng của các nước trên thế giới
Thứ hai, xây dựng chính sách đầu tư hợp lý cho giao thông vận tải kết hợp với quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông
Các nước có cơ sở hạ tầng giao thông phát triển đều có tỷ lệ đầu tư cho giao thông vận tải cao, đó là mối quan hệ nhân quả tất yếu Mặc dù những năm gần đây ngành giao thông vận tải Việt Nam được quan tâm đầu tư song
tỷ lệ đầu tư cho giao thông vận tải còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới Tỷ lệ đầu tư này làm ảnh hưởng không ít đến tiến trình phát triển kinh tế của đất nước Việc thiếu vốn dẫn đến đường xá, cầu cống xây dựng chưa đạt tiêu chuẩn cũng đưa vào khai thác sử dụng làm cho công trình hư hỏng nhanh Như vậy, thực chất chúng ta bỏ đi một khoản vốn đầu tư không
Trang 29nhỏ đã bỏ ra trước đây Vì vậy, trong thời gian tới, Nhà nước nên đề ra chính sách khuyến khích đầu tư trong nước và ngoài nước trong lĩnh vực giao thông vận tải bên cạnh việc tăng cường ngân sách nhà nước cho phát triển kết cấu
hạ tầng giao thông Khi đã có chính sách hợp lý, thì vấn đề quản lý nhằm đạt được mục tiêu chất lượng tốt, tiết kiệm vốn đầu tư, đưa công trình vào khai thác đúng tiến độ thi công lại trở nên quan trọng Kinh nghiệm cho thấy việc xác lập mối quan hệ trách nhiệm giữa chủ đầu tư và chủ thầu khoán trong quá trình đầu tư xây dựng là cần thiết Nhà thầu khoán, các tổ chức tư vấn phải đóng bảo hiểm trách nhiệm tùy theo quy mô của công trình; phải hình thành hiệp hội các nhà thầu khoán, quyền chính đáng của nhà thầu phải được ghi nhận vào pháp luật Kinh nghiệm này thể hiện nhiều ưu điểm, vì nó nâng cao được trách nhiệm của mỗi chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường, đảm bảo tính bình đẳng, minh bạch cho các chủ thể đó
Thứ ba, xây dựng các quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định chặt chẽ
Cũng như Việt Nam, các nước trên thế giới cũng xác định kinh doanh vận tải bằng ô tô là loại hình kinh doanh có điều kiện, vấn đề là học quy định các điều kiện rất chặt chẽ như: quy mô doanh nghiệp vận tải như thế nào, trình độ quản lý ra sao, bộ máy quản lý, vốn pháp định cần bao nhiêu… Từ đó làm cơ sở để tổ chức các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và dễ quản lý Để làm được như vậy, các nước xây dựng chính sách phát triển phương tiện vận tải hợp lý trên cơ sở cân đối cũng cầu quy hoạch mạng lưới vận tải Có chính sách hỗ trợ cho loại hình kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định vì hình thức này phục vụ số đông người dân Nhiều quốc gia hỗ trợ trực tiếp bằng cách miễn giảm thuế nhập khẩu, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư hoặc hỗ trợ gián tiếp bằng những chính sách bảo hộ, thông qua việc điều tiết hoạt động vận tải trên các luồng tuyến giúp cho doanh nghiệp được hoạt động ổn định
Trang 30trong một thời gian nhằm đảm bảo thu hồi vốn đầu tư, hỗ trợ thông qua bến
xe, bãi đỗ xe bằng việc miễn giảm tiền thuê, tiền thuế đất cho hoạt động của các bến bãi Mặt khác, các quy định về cấp phép kinh doanh vận tải hành khách không ồ ạt và manh mún như Việt Nam Xu hướng phát triển phương tiện dựa trên việc cân đối cung cầu trong từng thời kỳ cụ thể
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH VẬN TẢI HÀNH KHÁCH THEO TUYẾN CỐ ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
2.1 Quy định pháp luật hiện hành về vận tải hành khách theo tuyến cố định
Hiện nay, hoạt động vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định được quy định trong các văn bản pháp luật trong lĩnh vực giao thông từ LGTĐB 2008 tới các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn như Nghị định
số 91/2009/NĐ-CP, Nghị định số 93/2012/NĐ-CP các Thông tư của Bộ Giao thông Vận tải bao gồm: Thông tư số 18/2013/TT-BGTVT ngày 06/08/2013 quy định về tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh vận tải bằng
xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ; Thông tư số 49/2012/TT-BGTVT ngày 12/12/2012 ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bến xe khách; Thông tư liên tịch số 129/2010/TTLT-BTC-BGTVT ngày 27/08/2010 hướng dẫn thực hiện giá cước vận tải đường bộ và giá dịch vụ hỗ trợ vận tải đường
bộ cùng nhiều văn bản chỉ đạo điều hành khác
2.1.1 Các quy định của pháp luật về chủ thể kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định
2.1.1.1 Về hình thức pháp lý của chủ thể kinh doanh
Căn cứ Khoản 1 Điều 67 của LGTĐB 2008, hoạt động kinh doanh vận
tải bằng xe ô tô có thể do “doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh” nếu đáp
ứng đầy đủ Khoản 1 Điều 67
Đối với hoạt động kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định,
tại Khoản 2 Điều 67 của LGTĐB 2008 có quy định “Chỉ các doanh nghiệp, hợp tác xã mới được kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định” Như
vậy, so với hoạt động vận tải bằng xe ô tô, vận tải hành khách theo tuyến cố định không quy định loại hình “hộ kinh doanh” được kinh doanh ngành nghề
Trang 32này do loại hình này đòi hỏi một số điều kiện đặc thù về cơ sở vật chất, điều kiện năng lực và điều kiện cơ sở vật chất
Do đều là các loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 nên chủ thể của hoạt động vận tải hành khách chuyến cố định đều chịu quản lý của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về hoạt động doanh nghiệp và các Sở chuyên ngành liên quan tới hoạt động tài chính, giao thông vận tải, xây dựng, an ninh trật tự…Đồng thời,
về mặt pháp lý, đơn vị kinh doanh phải có đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe
ô tô và đăng ký kinh doanh được coi là việc bắt buộc để xác nhận địa vị pháp
lý của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, một đặc thù của doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định phải tuân thủ đó là phải được cơ quan quản lý cấp Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô Căn cứ Khoản 1 Điều 4 và Điều
20 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, doanh nghiệp, hợp tác xã được đăng ký khai thác trên tuyến trong quy hoạch và được cơ quan quản lý tuyến chấp thuận sau khi được cấp Giấy phép kinh doanh vận tải hành khách bằng
xe ô tô Giấy phép kinh doanh này có giá trị 07 năm do cơ quan có thẩm quyền cấp là Sở Giao thông vận tải các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Đơn vị được cấp Giấy phép kinh doanh phải được đánh giá định kỳ về việc duy trì điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của Bộ Giao thông vận tải
2.1.1.2 Về điều kiện đặc thù của chủ thể
Đơn vị kinh doanh vận tải tuyến cố định phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại Nghị định 91/2009/NĐ-CP và Nghị định 93/2012/NĐ-CP đối với kinh doanh vận tải bằng xe ô tô như sau:
Trang 33Về phương án tổ chức kinh doanh, đơn vị kinh doanh phải có phương
án kinh doanh bảo đảm thực hiện hành trình chạy xe, thời gian bảo dưỡng, sửa chữa duy trì tình trạng kỹ thuật của xe và phải có đủ số lượng phương tiện
để thực hiện phương án kinh doanh đề xuất Phương tiện vận chuyển có thể thuộc quyền sở hữu của đơn vị kinh doanh hoặc quyền sử dụng hợp pháp của đơn vị kinh doanh đối với xe thuê tài chính
Về phương tiện, phương tiện phải đảm bảo còn niên hạn sử dụng, được
kiểm định an toàn kỹ thuật, bảo vệ môi trường và phải gắn thiết bị giám sát hành trình Ngoài ra, doanh nghiệp kinh doanh còn phải đăng ký chất lượng
về dịch vụ vận tải theo quy định tại Điều 7 Thông tư số 18/2013/TT-BGTVT quy định về tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ (Thông tư 18)
Về đội ngũ nhân viên, lái xe và nhân viên phục vụ trên xe phải có hợp
đồng lao động bằng văn bản với đơn vị kinh doanh Số lượng lái xe và nhân viên phục vụ trên xe phù hợp phương án kinh doanh Điều 22 Thông tư 18/2013/TT-BGTVT quy định khá cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm của lái
xe, nhân viên phục vụ trên xe Khi phục vụ trên xe, nhân viên phải đeo thẻ tên, mặc đồng phục theo đúng mẫu doanh nghiệp, hợp tác xã đã trang bị; mang theo Lệnh vận chuyển đối với chuyến xe đang khai thác Đồng thời, nhân viên có nghĩa vụ thực hiện đúng Lệnh vận chuyển do doanh nghiệp, hợp tác xã cấp; đảm bảo an ninh, trật tự trên xe; đón, trả khách tại bến xe nơi đi, bến xe nơi đến và các điểm dừng đón, trả khách theo quy định Một trong những nghĩa vụ khác mà nhân viên phải tuân thủ là không được chở quá số người được phép chở; xuất vé đúng loại, đầy đủ cho mọi hành khách đi xe; hướng dẫn hành khách ngồi đúng chỗ theo số vé, phổ biến các quy định khi đi
xe, giúp đỡ hành khách (đặc biệt là người khuyết tật, người cao tuổi, phụ nữ
có thai và có con nhỏ).Trước khi xe xuất bến phải yêu cầu bến xe khách xác
Trang 34nhận thông tin quy định trong Lệnh vận chuyển Nhân viên xe có quyền từ chối vận chuyển đối với hành khách có hành vi gây rối trật tự công cộng, gây cản trở công việc của người lái xe, nhân viên phục vụ trên xe, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, tài sản của người khác, gian lận vé hoặc hành khách đang bị dịch bệnh nguy hiểm
Về lãnh đạo đơn vị, người trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh
vận tải của doanh nghiệp, hợp tác xã (đảm nhận một trong các chức danh: Giám đốc, Phó giám đốc; Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm hợp tác xã; trưởng bộ phận nghiệp vụ điều hành vận tải) phải có trình độ chuyên ngành vận tải từ trung cấp trở lên hoặc trình độ cao đẳng, đại học chuyên ngành khác và tham gia công tác quản lý vận tải tại các doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải bằng xe ô tô 03 (ba) năm trở lên
Về nơi đỗ xe, đơn vị kinh doanh vận tải bố trí đủ diện tích đỗ xe theo
phương án kinh doanh và diện tích đỗ xe của đơn vị bảo đảm các yêu cầu về trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy, nổ và vệ sinh môi trường
Ngoài ra, doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định phải có bộ phận quản lý các điều kiện về an toàn giao thông và phải đăng ký chất lượng dịch vụ vận tải hành khách với cơ quan quản lý tuyến gồm: chất lượng phương tiện; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên phục vụ; phương án tổ chức vận tải; các quyền lợi của hành khách; các dịch
vụ cho hành khách trên hành trình; cam kết thực hiện chất lượng dịch vụ Bên cạnh đó, hướng dẫn nội dung Nghị định số 93 và Nghị định số 91 của Chính phủ, Thông tư 18 còn bổ sung điều kiện tại Khoản 3 Điều 4, đơn vị kinh doanh vận tải phải bảo đảm có số ngày xe tốt tối thiểu bằng 110% số ngày xe vận doanh theo phương án kinh doanh
Đối với điều kiện đặc thù, đơn vị kinh doanh vận tải tuyến cố định phải
đáp ứng các điều kiện sau đây:
Trang 35Về niên hạn sử dụng phương tiện, xe ô tô phải có sức chứa từ 10
(mười) chỗ ngồi trở lên (kể cả người lái) Xe phải có niên hạn sử dụng không quá quy định sau: (i) Cự ly trên 300 ki lô mét niên hạn không quá 15 (mười lăm) năm đối với ô tô sản xuất để chở khách; không quá 12 (mười hai) năm đối với ô tô chuyển đổi công năng trước ngày 01 tháng 01 năm 2002 từ các loại xe khác thành ô tô chở khách; và (ii) Cự ly từ 300 ki lô mét trở xuống niên hạn không quá 20 (hai mươi) năm đối với xe ô tô sản xuất để chở khách; không quá 17 (mười bảy) năm đối với ô tô chuyển đổi công năng trước ngày
01 tháng 01 năm 2002 từ các loại xe khác thành ô tô chở khách
Niêm yết công khai và rõ ràng trên xe các thông tin về tuyến theo quy định tại Khoản 4 Điều 10 Thông tư 18
Ghế ngồi, giường nằm trong xe phải được đánh số thứ tự
Trên xe phải trang bị bình chữa cháy, dụng cụ thoát hiểm
Có phù hiệu “XE CHẠY TUYẾN CỐ ĐỊNH”
Cũng theo quy định tại Thông tư 18, trong cùng một thời điểm mỗi xe chỉ được đăng ký và khai thác tối đa 02 (hai) tuyến vận tải hành khách cố định
Về quyền và nghĩa vụ cơ bản đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách tuyến cố định, theo quy định tại Thông tư số 18, doanh nghiệp,
hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định có nghĩa vụ và quyền hạn cụ thể như sau:
Về quyền: đơn vị kinh doanh có quyền áp dụng các biện pháp để tổ
chức, thực hiện đúng phương án khai thác tuyến vận tải hành khách bằng xe ô
tô đã được chấp thuận
Về nghĩa vụ: để đảm bảo tuân thủ các điều kiện cụ thể, đơn vị kinh
doanh phải tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ vận tải, an toàn giao thông
và đạo đức nghề nghiệp cho lái xe, nhân viên phục vụ trên xe theo chương trình khung do Tổng cục Đường bộ Việt Nam ban hành Để đảm bảo quản lý
Trang 36tốt về chất lượng hoạt động vận tải, đơn vị phải lập sổ để theo dõi, quản lý việc
sử dụng phù hiệu, lệnh vận chuyển của đơn vị; ghi thông tin trên lệnh vận chuyển và cấp cho lái xe; lưu trữ Lệnh vận chuyển đã thực hiện theo quy định
Ngoài ra, đơn vị có các nghĩa vụ pháp lý như: Phải lập kế hoạch đảm bảo an toàn giao thông trong hoạt động vận tải của đơn vị, thực hiện việc kiểm tra, giám sát, thống kê, phân tích và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch; Phải thanh toán lại tối thiểu 90% tiền vé cho hành khách đã mua vé nhưng từ chối chuyến đi trước khi xe khởi hành ít nhất 02 (hai) giờ; thanh toán lại tối thiểu 70% tiền vé cho hành khách đã mua vé nhưng từ chối chuyến đi trước khi xe khởi hành ít nhất 30 (ba mươi) phút;
Doanh nghiệp vận tải còn phải chịu trách nhiệm khi phương tiện, lái xe, nhân viên phục vụ trên xe của đơn vị vi phạm chở quá trọng tải hoặc quá số người theo quy định; vi phạm các quy định khác trong hoạt động vận tải; Trang
bị đồng phục và thẻ tên cho lái xe, nhân viên phục vụ trên xe; thẻ tên phải được dán ảnh có đóng dấu giáp lai của đơn vị, ghi rõ họ tên, đơn vị quản lý
2.1.2 Các quy định của pháp luật về chủ thể kinh doanh dịch vụ bến bãi
Hiện nay, điều chỉnh đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ bến bãi, Bộ GTVT đã ban hành Thông tư số 18/2013/TT-BGTVT và Quy chuẩn bến xe khách theo Thông tư số 49/2012/TT-BGTVT
Về hình thức pháp lý:
Theo Khoản 11 Điều 3 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10/09/2014
của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải đường bộ, Bến
xe ô tô khách (bến xe khách) là công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ thực hiện chức năng phục vụ xe ô tô đón, trả hành khách và các dịch vụ hỗ trợ vận tải hành khách Đơn vị kinh doanh bến bãi là doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ bến bãi cho các doanh nghiệp kinh vận chuyển hành khách Trước đây, các đơn vị kinh doanh bến bãi đa phần đều là doanh nghiệp nhà
Trang 37nước trực thuộc Sở Giao thông Vận tải từng địa phương quản lý Tuy nhiên, theo định hướng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước từ những năm 1990 tới nay, sự tham gia của tư nhân vào hoạt động quản lý tại các doanh nghiệp bến bãi ngày càng rõ ràng hơn Thậm chí, một số doanh nghiệp bến bãi đã và đang được niêm yết trên thị trường chứng khoán để thu hút vốn đầu tư cho cơ sở vật chất nhằm tăng chất lượng dịch vụ tại chỗ
Về điều kiện hoạt động:
Căn cứ quy chuẩn kỹ thuật đối với bến xe khách được ban hành theo Thông tư số 49/2012/TT-BGTVT, Bến xe khách phải được xây dựng theo Quy hoạch bến xe khách đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt và chỉ được đưa vào khai thác sau khi đã được
cơ quan có thẩm quyền công bố
Bến xe khách phải được xây dựng phù hợp với các quy định tương ứng với từng loại bến xe khách Bến xe khách bắt buộc phải có tối thiểu 07 công trình bắt buộc (Khu vực đón, trả khách; Bãi đỗ xe ô tô chờ vào vị trí đón khách; Bãi đỗ xe dành cho phương tiện khác; Phòng chờ cho hành khách; Khu vực làm việc của bộ máy quản lý; Khu vực bán vé;Khu vệ sinh) và có thể xây dựng bổ sung 09 công trình dịch vụ thương mại (Trung tâm thương mại; Khách sạn, nhà nghỉ;Nhà hàng phục vụ ăn uống, giải khát; Khu vực cung cấp các dịch vụ vui chơi, giải trí, chăm sóc sức khỏe; Trạm cấp nhiên liệu;Xưởng bảo dưỡng, sửa chữa phương tiện; Nơi rửa xe; Nhà để xe nhiều tầng (cao tầng hoặc âm tầng hoặc cả 2); Trung tâm dịch vụ đăng kiểm xe cơ giới) Số lượng công trình và tiêu chuẩn kỹ thuật được quy định phù hợp với phân cấp bến xe khách
Theo quy chuẩn bến xe khách ban hành theo Thông tư số BGTVT, bến xe khách được phân thành 6 loại theo các quy chuẩn điều kiện phân loại như sau:
Trang 3849/2012/TT-Bảng 2.1 Quy Chuẩn điều kiện phân loại Bến xe khách [22]
TT Tiêu chí phân loại
Đơn
vị tính
Loại bến xe khách Loại 1 Loại 2 Loại 3 Loại 4 Loại 5 Loại 6
Quạt điện
Quạt điện
Quạt điện
Quạt điện
Trang 39
9 Diện tích khu vực làm
việc
10 Diện tích văn phòng
dành cho Công an, Y tế,
Thanh tra giao thông
- Tối thiểu 20 m2 Tối thiểu 10 m2
11 Diện tích khu vệ sinh - > 1 % Tổng diện tích xây dựng bến (Có nơi vệ
sinh phục vụ người khuyết tật - TCXDVN
chung (rộng tối thiểu 7,5m)
chung (rộng tối thiểu 7,5m)
chung (rộng tối thiểu 7,5m)
14 Đường dẫn từ phòng
chờ cho hành khách đến
các vị trí đón, trả khách
Có mái che Khuyến khích có mái che
15 Mặt sân bến - Thảm nhựa hoặc bê tông có chiều dày tối thiểu
07 cm
16 Hệ thống cung cấp
thông tin
Có hệ thống phát thanh, thông tin chỉ dẫn hành khách,
lái xe, nhân viên phục vụ
Về quyền và nghĩa vụ:
Đối với hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ (cụ thể là kinh doanh dịch vụ bãi đỗ xe), Thông tư số 18/2013/TT-BGTVT cũng quy định khá cụ thể yêu cầu đặt ra đối với đơn vị quản lý, kinh doanh bãi đỗ xe, cụ thể
Trang 40theo quy định tại Khoản 3 Điều 53, đơn vị kinh doanh dịch vụ bến bãi phải: đảm bảo an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường và phòng, chống cháy, nổ tại bãi
đỗ xe; Niêm yết công khai nội quy, giá các dịch vụ tại bãi đỗ xe, tên và số điện thoại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để chủ xe phản ánh, khiếu nại khi cần thiết; Phải bồi thường thiệt hại cho người gửi xe nếu để xảy
ra mất mát, hư hỏng phương tiện nhận gửi; Chịu sự kiểm tra, giám sát của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Thu tiền trông giữ xe, cung cấp dịch vụ cho khách hàng theo quy định; Có quyền từ chối phục vụ đối với chủ phương tiện không chấp hành nội quy bãi đỗ xe
Ngoài ra, đơn vị kinh doanh bến xe khách còn có các quyền và nghĩa
vụ được quy định tại Điều 21 của Thông tư số 18/2013/TT-BGTVT Để đảm bảo hoạt động của các xe trong bến, đơn vị kinh doanh phải báo cáo Sở Giao thông vận tải địa phương về nội dung các quy định của đơn vị về quyền hạn, trách nhiệm, danh sách, chức vụ và chữ ký của những người được giao nhiệm
vụ kiểm tra, xác nhận vào Lệnh vận chuyển Đơn vị cũng có quyền không cho
xe xuất bến nếu biển kiểm soát xe và lái xe không đúng với nội dung trong Lệnh vận chuyển; báo cáo Sở Giao thông vận tải để xử lý theo quy định Các quy định khác về bến xe khách thực hiện theo quy định của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bến xe khách do Bộ Giao thông vận tải ban hành theo Thông tư số 49/2012/TT-BGTVT ngày 12/12/2012
Ngoài công việc kinh doanh, doanh nghiệp kinh doanh bến bãi còn thực hiện một số hoạt động quản lý nhà nước đối với các xe hoạt động trong bến
do mình quản lý
Đối với xe hoạt động lần đầu:
Xe đến bến vào khu vực chờ đợi, lái xe phải đưa các loại giấy tờ của xe vào bến kiểm tra Trưởng bến chịu trách nhiệm kiểm tra tất cả các loại giấy tờ của xe, người lái và nhân viên phục vụ trên xe Các loại giấy tờ bao gồm: