NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SỐT RÉT TẠI MỘT SỐ XÃ BIÊN GIỚI TẠI HUYỆN HƯỚNG HOÁ - QUẢNG TRỊ VÀ SAVANAKHET – LÀO NĂM 2010 ThS Hoàng Hà, ThS Lê Việt, ThS Mai Năm, ThS Lê Thạnh Huyện Hướng Hoá,
Trang 1NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SỐT RÉT TẠI MỘT SỐ XÃ BIÊN GIỚI
TẠI HUYỆN HƯỚNG HOÁ - QUẢNG TRỊ VÀ SAVANAKHET – LÀO NĂM 2010
ThS Hoàng Hà, ThS Lê Việt, ThS Mai Năm, ThS Lê Thạnh
Huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị là một
huyện sốt rét nặng gồm 22 xã, dân số 75.000 người;
trong 11 xã biên giới 2 nước Việt - Lào có 3 xã có
nhiều dân giao lưu qua biên giới nhiều nên tình hình
sốt rét luôn luôn biến động phức tạp Để tìm hiểu
thực trạng sốt rét vùng biên giới Việt-Lào chúng tôi
tiến hành nghiên cứu tại 3 xã trọng điểm sốt rét
nặng giáp biên giới Việt-Lào: Thanh, Xy, Thuận của
huyện Hướng Hoá và 14 thôn của tỉnh Savanakhet
giáp với các xã trên; Nghiên cứu tại Quảng Trị
được tiến hành trên 1.825 người: Tỷ lệ hiện mắc sốt
rét là 1,81%, có sự khác biệt về tỷ lệ mắc giữa các
xã; Nghiên cứu ở Làođược tiến hành trên 1.285
người: Tỷ lệ hiện mắc sốt rét là 5,20%, có sự khác
biệt về tỷ lệ mắc giữa các thôn, có thôn tỷ lệ KSTSR
lên đến 24%, Mật độ An.Minimus và An Dius vào
nhà đốt người ở phía Lào rất cao Tỷ lệ hiểu biết về
bệnh sốt rét của người dân cả 2 bên khá cao; Cộng
đồng có tham gia vào phòng chống bệnh sốt rét tốt.
Cần phối hợp phòng chống SR cho cả 2 bên biên
giới.
Từ khóa: Sốt rét; vùng biên giới; dịch lưu
hành; qua lại biên giới.
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt rét (SR) là một bệnh truyền nhiễm có tính
chất lưu hành địa phương, là một bệnh xã hội vào
loại những bệnh hàng đầu trên thế giới và Việt Nam
Bệnh do ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) gây nên, lây
qua đường máu, chủ yếu do muỗi Anophelles truyền
bệnh [3]
Các vùng biên giới thường là các vùng chậm
phát triển và khó khăn trong việc tiếp cận do đặc
điểm của vùng đồi núi, cấu trúc hạ tầng kém phát
triển và xa các trung tâm hành chính Tình hình sốt
rét tại các nước Đông Nam Á thường liên quan đến
các vùng sâu, vùng núi và do vậy tỷ lệ mắc sốt rét
thường cao hơn, khó kiểm soát hơn, đặc biệt là các
vùng biên giới nơi mà các dân tộc thiểu số sinhsống
Savannakhet và Quảng Trị là hai tỉnh có tỷ lệmắc sốt rét cao thuộc vùng biên giới Ngoài các yếu
tố tự nhiên, tính phức tạp về phòng chống SR có thể
do chiến lược phòng chống SR và mạng lưới y tếtương đối khác nhau trên những khoảng cách nhỏ tạivùng biên giới Mạng lưới y tế thôn bản, trạm y tế xã
ở Việt Nam và các trung tâm (cụm) y tế tại Lào khácnhau về lưu lượng thu dung bệnh nhân, chẩn đoánxác định và phương
pháp điều trị Y tế thôn bản được sử dụng ở cả haitỉnh nhưng điều kiện làm việc thì khác nhau Tuynhiên, quần thể dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộcthiểu số thường qua lại biên giới
Ở Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Trị nóiriêng đã có chương trình phòng chống bệnh sốt rét
từ năm 1992 Tỉnh Quảng Trị có huyện Hướng Hoá,
1 huyện trọng điểm sốt rét, đặc biệt là 7 xã biên giớivùng Lìa giáp với tỉnh Savannakhett của nước bạnLào chưa được phòng chống sốt rét như chúng ta,giao lưu và sốt rét do giao lưu qua lại biên giớiQuảng Trị-Savannakhet là một vấn đề thường xuyênxảy ra Chính vì vậy chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu
đề tài: " Phối hợp nghiên cứu tình hình sốt rét tại một số xã biên giới tại huyện Hướng Hoá -Quảng Trị và Savanakhet-Lào năm 2010" Đề tài nghiên
cứu nhằm mục tiêu sau:
1 Điều tra và xác định tình hình SR và các yếu
tố liên quan trong PCSR tại các xã biên giới hai tỉnh Quảng Trị và Savannakhet.
2 Khuyến cáo các biện pháp can thiệp, đặc biệt
là phối hợp can thiệp trong PCSR tại các xã biên giới hai tỉnh Quảng Trị và Savannakhet.
II ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1
Trang 22.1 Thiết kế nghiên cứu: Điều tra cắt ngang theo
thường quy của Tổ chức Y tế thế giới
“Điều tra định tính, định lượng, điều tra KAP và
điều tra tình hình SR được hai bên cùng thiết kế,
thực hiện riêng biệt ở vùng biên giới hai tỉnh
2.2 Địa điểm nghiên cứu:
- Tại Savannakhet: 14 thôn bản (10 ở huyện
Sêpôn và 4 ở huyện Nong)
-Tại Quảng Trị: 22 thôn tại 3 xã Thanh, Xy,
Thuận (huyện Hướng Hóa)
2.3 Đối tượng nghiên cứu:
-Điều tra các chỉ số về ký sinh trùng sốt rét: tất
cả các thành viên trong hộ gia đình được lựa chọn
(cả phía Lào và Việt Nam)
-Điều tra KAP: Chủ hộ, các thành viên khác
trong gia đình > 15tuổi
-Thảo luận nhóm: - Savanakhet: Trưởng bản,
người lớn, Y tế thôn bản;
- Quảng Trị: Người lớn, trưởng bản, phụ nữ,
Quân y, y tế xã
-Điều tra côn trùng: Mỗi bên chọn 3 điểm đại
diện đối xứng nhau qua biên giới
2.4 Cỡ mẫu:
2.4.1 Cỡ mẫu điều tra ký sinh trùng sốt rét: dùng để
ước lượng tỷ lệ và số trung bình, sử dụng trong
nghiên cứu cắt ngang [6] theo công thức:
Trong đó: + N : cỡ mẫu
+ P: ước lượng tỷ lệ điều tra
Với ấn định: + Độ tin cậy: 95%
+ Ước lượng tỷ lệ hiện mắc SR: 5 %
+ d: sai số tính theo phần trăm, Sai số (d):
0,01, Z(1- /2): = 1,96
Như vậy N = 1.825, là cỡ mẫu tối thiểu
- Cỡ mẫu điều tra KAP: cũng sử dụng công
thức trên, với ước tính P = 0,5 ta có
N = 324, ở điều tra này, để tăng độ chính xác
chúng tôi làm tròn N = 400 hộ gia đình và chọn cỡ
mẫu điều tra KAP cá nhân gấp đôi 2N = 800 mẫu
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn ngẫu nhiêntheo phương pháp mẫu chùm 2 bậc
2.5 Các biến số dịch tể học sốt rét được điều tra bao gồm:
- Chỉ số hiện mắc sốt rét: Theo tuổi, giới, địa dư
- Cơ cấu ký sinh trùng sốt rét: P Falciparum, P
2.6 Điều tra côn trùng:
- Điều tra bằng 6 phương pháp của Viện Sốt KST-CT Trung ương
rét Công cụ: Bẩy đèn, bẩy người
- Địa điểm: 3 thôn ở phía Savanakhet-Lào 3 thônQuảng Trị-Việt Nam
Thời gian: 23/8 9/9/2010 ở Savanakhet và 11 21/10/2010 Quảng Trị
-2.7 Điều tra định tính:
Công cụ và kỹ thuật nghiên cứu:
- Phiếu phỏng vấn được thiết kế, điều tra thử nghiệm
- Thảo luận nhóm: Thảo luận nhóm có trọng tâm
- Tại Savanakhet-Lào: Điều tra 1.258 lam vàgiấy thấm Điều tra từ 23/8 – 9/9’10
3.2 Kết quả điều tra dịch tể học:
Điều tra ký sinhtrùng sốt rét LAO VIETNAM
(
d
P P
Z
N
2
Trang 3Tỷ lệ KST ở Lào là 5.2% ở Việt Nam là 1,8%
Tỷ lệ KST nhóm dưới 5 tuổi ở Lào là: 7.4%, ở
Các bản có tỷ lệ KST cao là: Palock Bok,
Denvilai, Palieng, Vill (ở Lào) Xy, Thanh, Thuận (ở
Việt nam)
3.1.3 Kết quả điều tra côn trùng:
Anopheles LAO VIETNAM
Anophen
chung
14 loài(490 cá thể)
trong nhà
2.56con/bẩy/đêm 1,25 con/đèn/đêm
3.3 Kết quả thảo luận nhóm
3.3.1 Kết quả thảo luận nhóm tại Lào:
- Dân làng cho rằng bệnh tật thông thường, chủ
yếu là ỉa chảy, sau đó là sốt rét và sốt thông thường
- Dân làng sợ bị mắc bệnh, nhưng không đặc biệt
đối với các trường hợp mắc SR Người dân biết các
biện pháp phòng SR: mang quần áo dài tay khi đi
rừng, sử dụng màn để ngủ, phát quang bụi rậm
quanh nhà, dùng hương xua muỗi nhưng họ không
thường xuyên làm những việc cần thiết như thế để
phòng bệnh ngay cả khi họ sợ bị mắc bệnh
- Tìm kiếm các dịch vụ y tế: Nhìn chung, người
dân tìm kiếm các dịch vụ y tế khi họ nghi ngờ bị
mắc SR phụ thuộc vào khoảng cách từ nhà họ đếncác cơ sở y tế
- Một số nhóm thảo luận cho rằng họ sang VNđiều trị bởi vị họ cho rằng dịch vụ y tế tại VN tốthơn Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng, đa số ngườidân Tri nói được tiếng Việt nam
- Tất cả các nhân viên y tế thôn bản được mời đitập huấn Nhân viên y tế thôn bản được tập huấn về
sử dụng test nhanh, điều tri sốt rét và các hoạt độngtruyền thông giáo dục sức khoẻ
- Họ không tự tin trong việc cung cấp các thông
tin vì họ không tin chắc vào khả năng của họ 3.3.2.
Tại Việt Nam:
- Người dân cho rằng càng có nhiều người qualại biên giới thì càng có khả năng mắc bệnh sốt rét
Đa số người Lào qua Việt nam để xin hoặc muathuốc, chủ yếu là thuốc điều trị sốt rét Đa số ngườiViệt sang phía Lào để buôn bán hoặc thăm bà con.Việc hợp tác về phòng chống SR biên giới là cầnthiết (phun tồn lưu hoá chất trong nhà, nâng caonăng lực y tế thôn bản)
3.4 Mối liên quan của tỷ lệ mắc sốt rét:
3.1.1 Với các yếu tố tuổi, giới, địa dư:
- Kết quả điều tra lam máu cho thấy tỷ lệ mắc kýsinh trùng SR thấp hơn mong đợi, ở Lào tỷ lệ mắccao hơn nhiều (5.2%) so với Việt Nam (1.8%) Tuynhiên, ở cả hai bên biên giới, tỷ lệ mắc tập trung ởcác vùng phía nam (Xã Thanh, Xy ở VN, và huyệnNong ở Lào) Tỷ lệ mắc ký sinh trùng SR khá cao ởmột số thôn bản, cao nhất là 24% ở bản Palock Bok
- Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệmắc sốt rét giữa các xã: Xã Xy > xã Thanh > xãThuận Tại Lào cũng giống Việt Nam
- Không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc SR giữa haigiới nam và nữ
- Không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc SR giữa cáclứa tuổi
3.1.2 Với các yếu tố: Đi rừng, ngủ rẫy, giao lưu biên giới
3
Trang 4- Ở phía Quảng Trị-Việt Nam, có mối liên quan
giữa các trường hợp mắc sốt rét trong vòng 12 tháng
qua với khoảng cách nhỏ nhất từ nhà đến rừng
- Kết quả nghiên cứu côn trùng học, xét nghiệm
lam máu và mối liên quan rõ rệt giữa khoảng cách
từ nhà đến rừng với các trường hợp mắc SR cho thấy
rằng sự lan truyền sốt rét ở vùng biên giới chủ yếu
do An Dirus (sốt rét rừng) Đây là vectơ truyền
bệnh chủ yếu ở Lào
- Với giao lưu biên giới: Đã có 92% người được
phỏng vấn ở Lào và 17% người được phỏng vấn ở
Việt Nam trả lời họ đã qua lại biên giới trong vòng
12 tháng vừa qua, người dân Lào có xu hướng ở lại
qua đêm ở nước láng giềng 39% người được phỏng
vấn ở Lào và 34% người được phỏng vấn ở V.Nam
cho rằng đã có các trường hợp mắc sốt rét trong gia
đình của họ trong vòng 12 tháng vừa qua Ngủ qua
đêm ở rừng ghi nhận 17% số trường hợp ở Lào và
14% ở V.Nam, hầu hết xảy ra với nam giới
3.1.3 Với yếu tố côn trùng :
- Mật độ Anôphen cả minimus và An Dirus cao ở
phía Lào do phía Lào không phun hoá chất
- Phía Quảng Trị trước phun có An minimus mật
độ thấp, sau khi phun không bắt gặp
III BÀN LUẬN:
3.1 Tỷ lệ mắc ký sinh trùng SR: thấp so với dự
kiến, cao hơn ở phía Lào
3.2 Hầu hết các trường hợp mắc sốt rét: tập trung
tại vùng nhỏ ở biên giới phù hợp với kết quả điều tra
vectơ truyền bệnh và hành vi của người dân Vectơ
truyền bệnh phát hiện trong nhà nhiều hơn ở phía
Lào (Lào sử dụng màn tẩm hoá chất, trong lúc Việt
Nam sử dụng phương pháp phun tồn lưu trong nhà)
3.3 Hiểu biết của người dân trong PCSR tương
đối tốt:
- Hiểu biết về nguyên nhân gây bệnh SR (85%
hiểu biết đúng) và phòng SR (90% hiểu biết đúng)
được ghi nhận khá cao ở cả Lào và Việt Nam Kiến
thức này tương đối thấp ở nhóm phụ nữ Lào, tuy
nhiên nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụng màn trong
3.4 Tỷ lệ sử dụng y tế công tại Lào: còn thấp dưới
50%, gần 50% sang phía Việt Nam để điều trị Việc
sử dụng y tế thôn bản còn thấp ở cả hai tỉnh
- Người dân Lào thường qua lại VN thường xuyênhơn người VN sang Lào (nguyên nhân chính là đểbuôn bán)
3.5 Khoảng 25% đàn ông ở cả hai phía ngủ qua
đêm ở rừng, yếu tố này có liên quan đến tỷ lệ mắc
SR ở VN Trong vòng 12 tháng vừa qua tỷ lệ mắc
SR ở VN có liên quan đến khoảng cách ngắn nhất từnhà đến rừng
- Điều tra KAP cho thấy không có sự khác biệtgiữa các nhóm dân tộc, nghề nghiệp và cấu trúc nhà,tuy nhiên phía Lào gần rừng hơn Việt Nam Tỷ lệbao phủ màn tương đối cao ở Việt Nam (2.3 người/màn), ở Lào đủ màn theo tiêu chuẩn của Lào (2,6người/màn) 50% người được phỏng vấn ở phía Lào
và 67% người được phỏng vấn ở phía Việt Nam chorằng họ có đủ màn, 83% người được phỏng vấn ởphía Lào và 98% người ở phía Việt Nam trả lời họ
đã sử dụng màn để ngủ trong tối hôm trước
3.6 Sự lan truyền sốt rét ở vùng biên giới chủ
yếu: do An Dirus (sốt rét rừng) Đây là vectơ truyền
bệnh chủ yếu ở Lào mật độ vào nhà đốt người cao.Vectơ này không tìm thấy ở phía Việt Nam sau khiphun hoá chất tồn lưu
- Có khả năng rằng muỗi hoạt động trong nhà có
thể phòng tránh hữu hiệu qua phương pháp sử dụngphun tồn lưu trong nhà Tuy nhiên, như chúng ta biết
rõ rằng An Dirus (không như An Minimus) thích
đốt và sinh sống bên ngoài nhà và có thể không thểphòng chống tốt khi chỉ sử dụng biện pháp hoá chấttồn lưu
4
Trang 5- An minimus được phát hiện ở cả hai phía, hầu
hết các cá thể này được phát hiện khi đốt trâu bò và
đốt bên ngoài nhà, nghĩa là có thể là thể hỗn hợp An.
Harrisoni Phun tồn lưu hoá chất trong nhà có thể
thử nghiệm ở phía Lào, tập trung vào các vùng SR
lưu hành, tuy nhiên không thể không chú ý đến việc
hoàn thiện tỷ lệ bao phủ màn và sử dụng màn
3.7 Do khoảng cách xa của một số làng đến các
dịch vụ y tế công ở phía Lào, nhân viên y tế thôn
bản có nhiệm vụ quan trọng là phát hiện sớm và điều
trị sớm các trường hợp mắc SR
- Tỷ lệ sử dụng y tế công tại Lào còn thấp dưới
50%, gần 50% sang phía Việt Nam để điều trị Việc
sử dụng y tế thôn bản còn thấp ở cả hai tỉnh
- Có sự khác biệt lớn trong hành vi tìm kiếm các
dịch vụ y tế trong điều trị sốt rét: 90% người n ở VN
và 47 % ở Lào tìm kiếm các dịch vụ y tế công
Đáng chú ý là 47 % người ở Lào sang điều trị ở Việt
Nam 17,5% người ở Lào chọn phương pháp tự điều
trị và các quày bán thuốc thư nhân, trong lúc đó ở
Việt Nam tỷ lệ này là dưới 1% Chỉ có 7-8% ở cả hai
phía đến nhân viên y tế thôn bản
- Việc đào tạo nhân viên y tế thôn bản trở nên
quan trọng, không những nâng cao hiểu biết, mà còn
nâng cao niềm tin của cộng đồng đối với hoạt động
của y tế thôn bản
- Về khía cạnh kỹ thuật, chúng ta cần kiểm tra lại
chất lượng và kỹ thuật thực hiện các test chẩn đoán
nhanh bởi vì có sự khác biệt khá lớn tỷ lệ âm tính
giả khi thử nghiệm ở phía Lào
IV KẾT LUẬN
4.1 Tỷ lệ mắc ký sinh trùng sốt rét:
- Tại Quảng Trị: 1,81%
-Tại Savanakhet: 5,2%; cá biệt có thôn lên đến 24%
- Hầu hết các trường hợp mắc tập trung tại vùng nhỏ
ở biên giới phù hợp với kết quả điều tra vectơ truyền
bệnh và hành vi của người dân Vectơ truyền bệnh
phát hiện trong nhà nhiều hơn ở phía Lào (Lào sử
dụng màn tẩm hoá chất, trong lúc VNam sử dụng
phương pháp phun tồn lưu trong nhà)
4.2 Hiểu biết của người dân trong PCSR tương
đối tốt, tuy nhiên nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụngmàn trong thực tế thấp)
- Truyền hình, đài phát thanh là phương tiệntruyền thông được ưu chuộng hơn các vật phẩm in
4.3 Côn trùng truyền bệnh sốt rét
- Trước khi phun hoá chất PCSR
Tổng số muỗi bắt được: 393 cá thể;An.minimus: 21 cá thể (chiếm 5,34%)
- Sau khi phun hoá chất PCSR: Mật độ muỗigiảm rõ rệt, muỗi vào nhà không có
- Tổng số muỗi bắt được: 159 cá thể;An.minimus: 10 cá thể (chiếm 6,28%)
Kết luận: Việc sử dụng hoá chất diệt vector cóhiệu quả cao trong chương trình PCSR
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2009), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị
bệnh sốt rét ban hành kèm Quyết định số 4605 ngày
24/11/2009, trang 4
2 Hoàng Hà (2001), Nghiên cứu tình hình sốt rét và
các yếu tố liên quan đến bệnh sốt rét ở huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị 2 năm 2001 - 2002,
luận văn Thạc sĩ y học, trang 24 -75
3 Lê Xuân Hùng, Nguyễn Mạnh Hùng (2010),
bệnh sốt rét và chiến lược phòng chống, NXB Y học
Hà Nội trang 13-133
4 Đinh Thanh Huề (1991), Bài giảng phương pháp
dịch tể học Trường Đại Học Y Khoa Huế, tr 12
5 World Malaria Report 2008.
6 Lwanga S.K, Lemesows (1991), Détermination
de la taille ún échantillon dan les Etudes sanometriques Organization mondiale de la sante,
Geneve, 29 - 32
5
Trang 6MALARIA AT VILLEGES ALONG COMMON BORDER BETWEEN
HUONG HOA QUANG TRI AND XAVÂNKHET - LAOS
MD Hoang Ha, Ms Le Viet, MD Mai Năm, MD Le Thanh
Huong Hoa District in Quang Tri Province is a severity malaria endemic district, consisting of 22 communes with a population of 75,000 people Three of eleven border communes have been recorded as high frequency of people moving across the border, therefore, malaria incidence occurs quite complicatedly This study is conducted as a cross-sectional study in three Vietnam- Laos border communes (Thanh, Thuan, Xy) in Huong Hoa and 14 bordering villages in Savannakhet in order to establish a baseline of actual malaria situation in border areas between Vietnam and Laos The study population in Quang Tri included 1.825 residents with overall malaria rate of 1.81% and significant difference of malaria rate in three communes was found The study population in Laos included 1.285 persons with an overall malaria rate of 5.2% and significant difference was also found in regarding malaria rate among study villages, the highest rate recorded as 24% The high density of An.Minimus and An Dius of indoor investigation was found in Laos The awareness of malaria prevention among total study population is relatively high and a good community involvement in malaria prevention was also recorded It is recommended that cooperative strategies in border malaria prevention should be encouraged in the coming time.
Keywords: Malaria; border area; endemic; moving across the border.
THEO DÕI GIÁM SÁT BỆNH NHÂN HIV/AIDS TRÊN PHẦN MỀM GIS
TS Trần Kim Phụng
Mục tiêu: Xác định sự phân bố địa lý bệnh nhân HIV/AIDS Phân tích các xu hướng diễn biến bệnh nhân
HIV/AIDS theo không gian và thời gian Nâng cao năng lực giám sát thông tin về bệnh nhân HIV/AIDS Phương
pháp: Thu thập số liệu cho việc lập bản đồ: Môt mẩu điều tra được thiết kế để thu thập các thông tin về bệnh
nhân HIV/AIDS trên địa bàn toàn tỉnh Số liệu được lấy từ các sổ khám bênh của tất cả các Trung tâm Y tế huyện thị xã và Trung tâm phòng chống AIDS tỉnh Quảng Trị Xây dựng bảng dử liệu mới: Thông tin từ file Exel được đưa vào file dBASE và được kết nối vào bảng dử liệu của chương trình Tạo số liệu trực tiếp: Đưa số liệu
vào bản đồ và tạo ra các lớp bản đồ khác nhau Kết quả: Bản đồ phân màu Bản đồ mật độ điểm Bản đồ số liệu chứa đồ thị Các bảng số liệu chứa trong bản đồ Kết luận: GIS có thể sử dụng một cách thông dụng vào việc
quản lý, theo dõi, đánh giá tình hình bệnh nhân HIV/AIDS, tiết kiệm nhiều thời gian, thuận lợi cho việc theo dõi diễn biến bệnh, xác định sự phân bố địa lý bệnh nhân HIV/AIDS trên địa bàn Phân tích các xu hướng diễn biến bệnh nhân theo không gian và thời gian Cơ sở dữ liệu GIS giúp cho việc quản lý bệnh nhân HIV/AIDS một cách
Trang 7cụ thể Việc ứng dụng này sẽ mở ra khả năng áp dụng rộng rãi công nghệ này vào trong lĩnh vực y tế, góp phần hoàn thiện các phương pháp giám sát, quản lý bệnh nhân HIV/AIDS trước đây.
Từ khoá: Không gian, thời gian, các lớp bản đồ, số liệu nguồn.
I ĐẶT VẤN ĐỀ
GIS là phần mềm được sử dụng để vẻ bản
đồ, là công cụ mạnh dễ dàng để xem xét các thông
tin địa lý GIS là sản phẩm của Viện nghiên cứu hệ
thống môi trường (Environmental Systems
Research Institute – ESRI) Có thể sử dụng GIS
trong các nghiên cứu về y tế cộng đồng như : Xác
định sự phân bố bệnh tật, các biến cố sức khoẻ
Theo dõi bệnh tật và các biện pháp phòng chống
Nâng cao năng lực quản lý giám sát thông tin Phân
tích các xu hướng diễn biến bệnh tật theo không
gian GIS được tạo lập bỡi các lớp (layers) bản đồ,
và chuỗi các hình gọi là polygon, các bảng (tabular)
và cơ sở dử liệu bản đồ (các file dBASE)
Quảng Trị vào thời điểm này chưa có ngành
nào ứng dụng GIS để quản lý số liệu Việc áp dụng
GIS cho công tác khai thác quản lý các dử liệu cơ
bản là rất cần thiết Công nghệ thông tin địa lý đang
là vấn đề thời sự, nhu cầu của nhiều ngành nhiều
lỉnh vực
Ngành Y tế Quảng Trị nghiên cứu ứng dụng
phần mềm GIS vào chương trình quản lý, theo dõi,
đánh giá tình hình bệnh nhân HIV/AIDS nhằm hoàn
thiện các phương pháp quản lý giám sát trước đây
Mục tiêu của đề tài:
- Xác định sự phân bố địa lý bệnh nhân HIV/AID
- Phân tích các xu hướng diễn biến bệnh nhân
HIV/AIDS theo không gian và thời gian.
- Nâng cao năng lực giám sát thông tin về bệnh
nhân HIV/AIDS.
II.PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
1.Thu thập số liệu GIS
Thu thập số liệu để lên bản đồ bao gồm 2
mãng số liệu: Số liệu về vị trí địa lý và số liệu các
thuộc tính liên quan Thu thập số liệu luôn là một
bước góp phần quan trọng trong bất kỳ một nghiên
cứu nào Việc thu thập số liệu bao gồm công việc thu
thập các thuộc tính, biến số không gian, và các biến
số phi không gian để phục vụ cho việc xây dựng bản
đồ không gian Trong ngành Y tế việc thu thập sốliệu phải liên quan đến việc xác định vị trí khônggian của các trường hợp bệnh, đồng thời thu thậpnhiều số liệu liên quan khác nhau Để thu thập thôngtin về HIV/AIDS, chúng tôi thu thập các thông tinchính sau đây: Họ và tên, ngày sinh, giới, địa chỉ (có
ý nghĩa trong việc phân tích các số liệu không giansau này), dân tộc, nghề nghiệp, trình độ văn hoá,ngày xét nghiệm, ngày chẩn đ dương tính, ngày tửvong Có thể xem đây là số liệu nguồn Để có số liệunguồn, một mẩu điều tra được thiết kế bao gồm cácthông tin về bệnh nhân được thu thập từ Trung tâmphòng chống AIDS tỉnh Số liệu điều tra được đưavào EXEL theo những cột mang các thông tin cầnthiết
2.Xây dựng các bảng dử liệu mới
GIS sử dung cơ sở dử liệu là các file dBASEvới tên mở rộng là DBF Các file này chứa trong thưmục dBASE/Vietnam File dử liệu DBF với các cấphành chinh tỉnh, huyện, xã tương ứng Từ EXEL sốliệu được đưa vào file dBASE và được kết nối vàobản dử liệu của chương trình
3.Xây dung bản đồ mới.
Khởi động Arcview với đường dẩn:Start/program/ESRI/AArrcviewGIS Version 3.2Khi Arcview khởi động cửa sổ chào mừng(Welcom to ArcviewGIS) hiện ra.Tạo một thư mục(Project) mới, trong đó bao gồm tạo một bản đồ mới
từ bản đồ Thế giới
Trước tiên tạo bản đồ Việt nam từ bản đồ Thếgiới Mỗi nước có một mã tương ứng được gọi làcountry code Muốn làm việc tiếp, phải nháy lênView/Add theme để có thể nạp dữ liệu từ thư mụckhác Với cửa sổ Welcom to ArcviewGIS theođường dẩn with a new view/OK, hộp thoại add datahiện ra Sau đó chọn thư mục có dữ liệu địa lýVietnam, lập tức các file địa lý bản đồ các cấp hành6
7
Trang 8chính tỉnh, huyện, xã ( province, district, commune)
hiện ra với tên mở rộng Shp Từ các file này ta có
thể tạo nên bản đồ hành chính theo ý muốn Tạo bản
đồ tỉnh Quảng Trị từ bản đồ nước Việt nam Từ bản
đồ Quảng Trị tạo ra bản đồ huyện xã
Bản đồ tỉnh Quảng Trị
4.Vào số liệu trực tiếp
Sau khi tạo được bản đồ, muốn thể hiện số
liệu của một chuyên đề (Bệnh nhân HIV/AIDS) bằng
Cách mở: Open Theme Bảng thuộc tinh
chuyên đề hiện ra Muốn sửa chữa một bảng bất kỳ,
vào Table/Add field Sau khi có bảng dữ liệu mới ta
có thể tạo nên một bản đồ thể hiện đầy đủ dữ liệu
trên bản đồ:
+ Bản đồ thể hiện phân bậc màu + Bản đồ thể hiện số ca bệnh + Bản đồ thể hiện các chấm và mỗi chấm thểhiện một hoặc nhiều ca bệnh Các bản đồ sẽ có bảng
số liệu trình bày tình hình, diễn biến tại các địa bàn,diễn biến qua từng thời điểm Trên bản đồ cũng cóthể vẽ được biểu đồ
III.KẾT QUẢ
1.Bản đồ màu bệnh nhân HIV/AIDS đến năm 2009 trên địa bàn tỉnh
Trang 92.Bản đồ chấm bệnh nhân HIV/AIDS đến năm 2009
Các bản đồ sẽ có bảng số liệu trình bày tình
hình diễn biến tại các địa bàn qua từng thời điểm
khác nhau Muốn biết tình hình bệnh nhân
HIV/AIDS tại bất kỳ một xã hoặc một huyện nào, ta
chỉ cần clic lên vị trí xã hoặc huyên đó, lập tức một
bản số liệu hiện lên cho biết tên xã huyên, dân cư,
diện tích, tình hình mắc bệnh qua từng năm, tổng sốngười mắc bệnh và nhiều thông tin cần thiết khác Vídụ: Muốn biết tình hình bênh nhân HIV/AIDS ởhuyện Hương Hoá, chỉ cấn clic lên vị trị huyệnHương Hoá và một bản số liệu hiện lên trên bản đồ:8
Trang 10Có thể vẻ biểu đồ trên bản đồ hoặc ngoài bản đồ Ví dụ biểu đồ thể hiện tình hình nhiễm HIV/AIDS ở các
huyện thị tỉnh Quảng Trị ngoài bản đồ:
Việc tạo hệ thống thu thập số liệu nguồn là
cần thiết Để có hệ thống số liệu nguồn cơ bản và
đầy đủ, trước hết hệ thống ghi chép sổ sách của các
Trung tâm y tế huyện, thị xã và Trung tâm phòng
chống HIV/AIDS tỉnh phải có đầy đủ sổ sách ghi
chép Số liệu bệnh nhân HIV/AIDS được lấy từ các
Trung tâm y tế huyện, thị xã và Trung tâm phòng
chống HIV/AIDS tỉnh
Việc ứng dụng GIS vào việc theo dõi bệnhnhân HIV/AIDS mang lại nhiều thuận lợi Về khônggian GIS cho ta biết bệnh nhân HIV/AIDS đang nằm
ở đâu, ở tỉnh, ở huyện, ở xã hoặc ở thôn nào nếuchúng ta lập bản đồ có gắn mã (code) cho thôn đó
Về mặt thời gian GIS cho biết một bệnh nhânHIV/AIDS được xét nghiệm khi nào (ngày, tuần,tháng, năm) GIS cũng cho biết rất nhiều thông tinkhác cần lưu giữ Trước khi đưa thông tin vào bản đồ9
10
Trang 11thì các nội dung thông tin được đưa vào phần mềm
EXEL Ứng với một cột của EXEL là một thông tin
cơ bản Chúng ta cần bao nhiêu thông tin thì sẽ có
bấy nhiêu cột trong EXEL Tuy nhiên khi các thông
tin được kết nối với GIS thì việc truy cập thông tin
trở nên hết sức thuận lợi và dễ dàng Chúng ta không
cần nhiều sổ sách hồ sơ Trên bản đồ GIS toàn bộ số
liệu được cất giử mang tín hệ thống Lúc này chúng
ta có thể biết thông tin về bệnh nhân HIV/AID của
toàn tỉnh hoặc bất kỳ một huyện, một xã nào Ta chỉ
cần clic lên vị trí của xã đó trên bản đồ, lập tức một
bảng số liệu mang đầy đủ thông tin của xã đó hiện
ra Ta cũng dễ dàng bỗ sung thông tin hoặc sửa chữa
thông tin vào bản đồ bằng cách mở Open Theme,
vào Table/Add field để bổ sung hoặc sửa chữa một
số liệu nào đó Sau khi có bảng dữ liệu mới ta có thể
tạo nên nhiều lớp bản đồ khác nhau:
- Bản đồ thể hiện phân bậc màu: Cho biết mật độ
của bệnh nhân HIV/AIDS của từng xã, phụ thuộc
vào màu đậm hay nhạt Ứng với mỗi màu cho biết
mật độ là bao nhiêu
- Bản đồ chấm (dot) thể hiện số ca bệnh: Ứng với
mỗi dot là một ca bệnh hoặc nhiều ca bệnh tuỳ thuộc
vào sự lựa chọn Bản đồ dot cho biết sự phân bổ các
ca bệnh ở từng xã từng huyện
Có rất nhiều cách để thể hiện thông tin về bệnh
nhân HIV/AIDS lên bản đồ, phụ thuộc ý tưởng của
từng tác giả Tuy nhiên bất kỳ một bản đồ nào cũng
chứa đựng đầy đủ bảng nội dung thông tin về bệnh
nhân HIV/AIDS của tỉnh Quảng Trị
Từ số liệu nguồn ta cũng có thể biểu diễn số liệu
lên nhiều loại biểu đồ khác nhau Biễu đố gắn với
bản đồ hoặc biểu đồ ngoài bản đồ
Việc ứng dụng GIS để theo dõi tình hình bệnh
nhân là rất cần thiết GIS là một công cụ mới để
hoàn thiện hệ thống theo dõi giám sát dịch bệnh và
được Bộ Y tế khuyến cáo hệ thống y tế dự phòngtăng cường ứng dụng Ứng dụng GIS sẽ nâng caonăng lực giám sát về HIV/AIDS của cán bộ y tế,cũng như nâng cao trình độ tin học cho cán bộ Việctrao đổi thông tin về tình hình dịch cũng sẽ trở nên
dễ dàng và thuận tiện
VI KẾT LUẬN
- GIS có thể sử dụng một cách thông dụng vàoviệc quản lý, theo dõi, đánh giá tình hình bệnh nhânHIV/AID, tiết kiệm nhiều thời gian, thuận lợi choviệc theo dõi diễn biến bệnh, xác định sự phân bố địa
lý bệnh nhân Phân tích các xu hướng diễn biến bệnhtheo không gian và thời gian
- Cơ sở dữ liệu GIS giúp cho việc quản lý bệnhnhân HIV/AIDS một cách bền vững và hữu hiệu.Việc ứng dụng này sẽ mở ra khả năng áp dụng rộngrãi công nghệ này vào trong lĩnh vực y tế, góp phầnhoàn thiện các phương pháp giám sát, quản lý bệnhnhân HIV/AIDS trước đây
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Pham Trung Vinh Tracing AcrView Evolution
http://www.gisdevelopment.net/magazine/gisdev/2003/september/tgis.shtml)
2 Tran Trung Vinh DITAGIS: Creating AcrView
awareness through innovation(http://www.gisdevelopment.net/magazine/gisdev/2003/september/tgis.shtml)
3 Faculty of Tropical Medicine, Mahidol University (2006), AcrView Disease surveillance
system in the Mekong region Bangkok, Thailand(http://www.gisdevelopment.net/magazine/gisdev/2003/september/tgis.shtml)
4 TROMED-GIS-Unit.Dengue Incidence in Thailand, 2004 (Faculty of Tropical Medicine,
Mahidol University
SummarySUPERVISION OF HIV/AIDS PATIENTS BY GIS SOFTWARE
PhD Tran Kim Phung
Objective: Locate the geographical distribution of HIV/AIDS patients Analyze the trend of HIV/AIDS
patients’ evolution with space and time Enhance the capacity of informative supervision of HIV/AIDS patients.
Trang 12Method: Collect data for mapping through a investigation form for HIV/AIDS patients in the whole province
based on the health records from District/township Health Stations and Provincial controll HIV/AIDS Center Build up a new database: Database from Excel was transfered to dBASE and connected to the program Create
a direct dadabase: Use GIS sofware for mapping with diffrent map layers Results: Map for colour classification Map for dot density Map for graphics and tables in the map Conclusions: GIS is commonly used
for management, supervision and assessment of HIV/AIDS patients GIS is convinient for supervision, location of HIV/AIDS patients and analyzing the trend of HIV/AIDS patients’ evolution with space and time Database from GIS help supervise HIV/AIDS patient sustainably and effectively The utilization of the software contribute to improving the previous supervision system of HIV/AIDS patients.
Keywords: Space, time, map layers, original data.
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA MAGNESIUM SULFATE ĐƯỜNG TĨNH MẠCH TRONG 24 GIỜ ĐẦU ĐIỀU TRỊ HEN PHẾ QUẢN NẶNG CẤP Ở NGƯỜI LỚN
TS.Lê Thị Thu Trang, ThS.Lê Văn Lâm
Chúng tôi nghiên cứu tác dụng của Magnesium Sulfat (MgSO 4 ) đường tĩnh mạch trong 24 giờ đầu điều trị hen phế quản nặng cấp ở 67 BN người lớn không đáp ứng với điều trị giờ đầu tiên theo phác đồ bộ Y tế, từ
tháng 1 đến tháng 10 năm 2012 tại khoa HSTC BVĐK tỉnh Quảng trị Mục tiêu: 1) Nghiên cứu hiệu quả của
MgSO 4 đường tĩnh mạch trong 24 giờ đầu điều trị hen phế quản nặng cấp người lớn 2) Tìm hiểu các tác dụng không mong muốn của MgSO 4 đường tĩnh mạch trong 24 giờ đầu điều trị hen phế quản nặng cấp người lớn.
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả, can thiệp, tiến cứu, có so sánh đối chứng Chọn đối tượng BN HPQ nặng cấp
không đáp ứng điều trị đầu tiên theo tiêu chuẩn lâm sàng của Bộ Y tế 2010, phương pháp điều trị HPQ theo Bộ
Y tế 2010 [1] Xử lý số liệu: So sánh và kiểm định trị trung bình bằng test t-student So sánh và kiểm định tỷ lệ bằng test Chi-square Kết quả: Nhóm MgSO 4 có đáp ứng điều trị sớm (31,4% trong 30 phút đầu; 65,7% trong vòng 6 giờ), trong khi nhóm Sal thì đáp ứng điều trị chậm hơn (không có BN nào đáp ứng trong giờ đầu, chỉ 31,2% cắt cơn trong 6 giờ) Thời gian cắt cơn của nhóm MgSO 4 thấp hơn ý nghĩa so với nhóm Sal Tác dụng phụ của MgSO 4 gặp khá nhiều gồm khoảng 50% BN có cảm giác nóng ở vị trí truyền và hoặc cảm giác phừng
mặt, 6 BN có giảm HA, các tác dụng phụ không quan trọng và chỉ thoáng qua Kết luận: MgSO 4 có hiệu quả cắt cơn sớm (57,1% cắt cơn trong vòng 1 giờ), khi cần phối hợp với Sal và hoặc là Diaphyllin thì làm giảm đáng kể liều lượng của các thuốc này MgSO 4 giúp giảm tỷ lệ BN tăng độ nặng và giảm tỷ lệ BN thở máy so với các BN chỉ sử dụng Sal Tác dụng phụ của MgSO 4 thường gặp là phừng mặt, nóng ở vị trí tiêm truyền chỉ là các triệu chứng thoáng qua và không quan trọng.
Từ khóa: Magnesium Sulfat; cắt cơn nhanh; tác dụng
11
Trang 13I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỷ lệ tử vong trong hen phế quản (HPQ) nặng
cấp còn cao mặc dù 85% trong số này có thể tránh
được nếu bệnh được phát hiện sớm và chữa trị đúng
cách [1] Điều trị cắt cơn HPQ nặng cấp theo phác
đồ cổ điển chủ yếu bằng các thuốc kích thích β2
đường tĩnh mạch, nhưng đây là một thuốc có nhiều
tác dụng phụ nguy hiểm đối với hệ tim mạch vì vậy
khó áp dụng, nhất là ở các cơ sở Y tế thiếu thiết bị
và BS chuyên khoa [1], [3] Magnesium Sulfate
(MgSO4) là một thuốc rẻ tiền, dễ sử dụng, giúp điều
trị cắt cơn nhanh, giảm tỷ lệ BN chuyển biến nặng
[3], [7] Từ năm 2010 Bộ Y tế đã ra khuyến cáo về
việc sử dụng MgSO4 trong điều trị HPQ nặng cấp,
tuy nhiên cho đến nay việc sử dụng MgSO4 trong
HPQ nặng cấp vẫn chưa trở thành thường qui và
chưa có tổng kết đầy đủ về tác dụng có lợi và tác
dụng phụ không mong muốn của nó Chúng tôi NC
đề tài với hai mục tiêu:
1) Nghiên cứu hiệu quả của MgSO 4 đường tĩnh
mạch trong 24 giờ đầu điều trị hen phế quản nặng
cấp người lớn
2) Tìm hiểu các tác dụng không mong muốn của
MgSO 4 đường tĩnh mạch trong 24 giờ đầu điều trị
hen phế quản nặng cấp người lớn.
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
67 BN HPQ nặng cấp người lớn không đáp ứng
với điều trị giờ đầu tiên theo phác đồ bộ Y tế, từ
tháng 01 đến tháng 10 năm 2012 tại khoa HSTC
BVĐK tỉnh Quảng Trị
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả, can thiệp, tiến
Lơ mơ hoặc
lú lẫnTần số thở
(lần/ph) Nhanh
Nhanh > 30
Chậm – rối loạn
Co kéo
cơ hô hấp
Có hoặckhông
Có Thở
nghịch lý
Khò khè
Có hoặckhông
Thường to Không
khò khèTần số
tim/phút < 120 ≥ 120 Rối loạn
SpO2
(thở khí trời)
> 90% < 90% < 90%
- Chọn đối tượng là các BN HPQ nặng không
đáp ứng với điều trị “Giờ đầu tiên”.
- Loại trừ: HPQ nhẹ và trung bình, HPQ nguykịch; Bệnh tim (bệnh mạch vành, bệnh van tim, bệnh
cơ tim ); Các bệnh lý khác của phổi (COPD, Laophổi, Viêm phổi, )
2.2.3 Phương pháp phân nhóm đối tượng
Các đối tượng được đánh số theo thứ tự nhậpviện, phân nhóm bằng cách:
- Nhóm MgSO4: Mang số thứ tự chẵn
- Nhóm chứng “Nhóm Sal”: Mang số thứ tự lẻ
2.2.4 Phương pháp điều trị HPQ nặng cấp
- Giờ đầu tiên: Theo phác đồ Bộ Y tế với Oxy,
khí dung Berodual, Methylprednisolon [1] Nếukhông đáp ứng thì chọn làm đối tượng NC
- Đối tượng được phân ngẫu nhiên vào 2 “NhómMgSO4” và “ Nhóm Sal”
- Giờ tiếp theo và trong 24 giờ:
13
Trang 14CTM, xem xét dùng Diaphyllin và thở máy nếu
không cải thiện
+ Nhóm chứng: “nhóm Sal”: Sử dụng ngay
Salbutamol CTM kết hợp khí dung như trên, xem
xét dùng Diaphyllin và thở máy nếu không cải thiện
- Nếu sau 24 giờ không cắt được cơn hen thì vẫn
tiếp tục điều trị theo phác đồ bộ Y tế cho BN, nhưng
ngừng nghiên cứu
2.2.5 Phương pháp theo dõi, đánh giá
- Đánh giá BN ở các thời điểm (lấy điểm mốc 0h
là ngay lúc chọn đối tượng nghiên cứu): 0h; 30 phút;
01h; 02-06h; 06-12h; 12h-24h
- Đánh giá hiệu quả của điều trị: Giảm độ nặng
(còn HPQ trung bình hoặc nhẹ); Chuyển sang HPQ
nguy kịch; Cắt cơn (Hết khó thở, phổi thông khí tốt,
SpO2 > 95%)
- Đánh giá tổng liều Salbutamol đến khi cắt cơn
- Đánh giá tổng liều Diaphylline đến khi cắt cơn
- Đánh giá tác dụng phụ của thuốc: Tác dụng phụ
của Sal: Mất ngủ, bất an, tăng nhịp tim, run cơ…
[3]; Tác dụng phụ của MgSO4 đường TM: Cảm giác
phừng mặt; Mỏi yếu cơ, giảm hoặc mất phản xạ gân
sâu, block thần kinh cơ gây yếu cơ hô hấp; Có thể có
block tim gây nhịp tim chậm; Giảm huyết áp nếu
truyền quá nhanh; Cảm giác nóng ở vị trí truyền…
[7], [9]
2.3 Phương pháp xử lý số liệu: So sánh và
kiểm định trị trung bình bằng test t-student; So sánh
và kiểm định tỷ lệ bằng test Chi-square với 2 hoặc
kiểm định Z
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Một số đặc điểm nhân trắc và dấu hiệu
lâm sàng lúc nhập viện
Đặc điểm Nhóm Sal
(n = 32)
NhómMgSO4
cơn hen (ngày) (X
3,4 ±2,2
3,5 ± 2,1 >0,0
5
SD)Dấu hiệu lúc nhậpviện:
-Tần số tim (lần/ph),(X SD)
- SpO2 (%),(X SD)
Nhận xét: Hai nhóm được chọn tương đồng nhau về
tuổi, giới, thời gian khởi phát cơn hen, tần số tim và
độ bảo hòa Oxy máu lúc nhập viện
Bảng 3.2: Đặc điểm của nhóm MgSO 4
Đặc điểm MgSO4 đơn
thuần
ThêmSalbutamol p
n (%) 23 (65,7%) 12 (34,3%)Tuổi
(X SD) 51 ± 12 64 ± 15 <0,05Thời gian khởi
phát cơn (ngày) 2,5 ± 1,2 3,7 ± 1,8 <0,05Tiền sử mắc
HPQ ≥5 năm 5 (21,7) 11 (91,7) <0,05Tác dụng phụ
3.2 Hiệu quả của MgSO 4 trong 24h đầu điều trị HPQ nặng cấp
Bảng 3.3: So sánh đáp ứng điều trị theo thời gian giữa 2 nhóm
Thờiđiểm
Kết quảđiều trị
NhómSal
n (%)
NhómMgSO4
n (%)
p
30 phút
Giảm, cắt cơn 0 (0) 11 (31,4)
< 0,05Không đổi 32 (100) 24 (68,6)
Nặng lên 0 (0) 0 (0)
1 giờ
Giảm, cắt cơn 0 (0) 20 (57,1)
< 0,05Không đổi 32 (100) 15 (42,9)
Nặng lên 0 (0) 0 (0)1-6
giờ Giảm, cắt cơn
10(31,2) 23 (65,7)
< 0,05
Không đổi 19
(59,4) 12 (34,3)Nặng lên 3 0 (0)
14
Trang 15(9,4) 6-12
giờ Giảm, cắt cơn
14(43,75) 35 (100) < 0,05
Trang 16Không đổi 14
(43,75) 0 (0)
Nặng lên 4 (12,5) 0 (0)
Trang 17giờ
Giảm, cắt cơn 28
(87,5) 35 (100) < 0,05Không đổi 0 (0) 0 (0)
Nặng lên 4 (12,5) 0 (0)
Nhận xét: Nhóm MgSO4 có đáp ứng điều trị (giảm
hoặc cắt cơn) sớm (31,4% trong 30 phút đầu; 65,7%
trong vòng 6 giờ), trong khi nhóm Sal thì đáp ứng
điều trị chậm hơn (không có BN nào đáp ứng trong
giờ đầu, chỉ 31,2% cắt cơn trong 6 giờ)
Bảng 3.4: So sánh thời gian cắt cơn (giờ) trung
n = 12(c)
a
và b
a
và c10,9 ± 9,2 0,8 ± 0,5 4,8 ± 0,7 <0,05 <0,05
Ghi chú:*:Nhóm Sal có 04 bệnh nhân không cắt
được cơn trong 24 giờ
Nhận xét: Thời gian cắt cơn của nhóm MgSO4 thấp
hơn ý nghĩa so với nhóm Sal
Ghi chú:*:Nhóm Sal có 04 bệnh nhân không cắt
được cơn trong 24 giờ; **:Nhóm MgSO4 có 23 bệnh
nhân cắt cơn sớm nên chỉ có 12 BN có sử dụng kết
Nhận xét: Ở nhóm MgSO4 kết hợp Diaphylline thìliều Diaphylline sử dụng đến khi cắt cơn thấp hơn ởnhóm Sal
3.3 Tác dụng không mong muốn của MgSO 4 , Salbutamol
Bảng 3.7: So sánh tần số tim (Lần/phút) ở thời điểm
cắt cơn giữa các nhóm
Nhóm Sal (a)(X SD)
n = 28
Nhóm MgSO4
(X SD) pĐơn
thuần(b)
n = 23
Kết hợpSalbutamol(c)
n = 12
avà b
bvà c
a
và c126
Nhận xét: Tần số tim BN ở nhóm Sal cao hơn có ý
nghĩa so với nhóm MgSO4 Tần số tim BN ở nhómMgSO4 đơn thuần và nhóm MgSO4 kết hợp thêmSalbutamol thì khác nhau không có ý nghĩa
N = 12
n (%)Phừng mặt 0 12 (52,2) 5 (41,6%)Nóng ở vị trí
truyền 0 10 (43,5) 6 (50)Giảm HA 0 4 (17,4)) 2 (16,7)Tăng HA 7 (21,9) 0 0Block A-V 0 5 (14,3) 0Tim nhanh 30 (93,7) 0 2 (16,7)Đau thắt ngực 5 (15,6) 0 0Yếu mỏi cơ 0 3 (8,6) 0Kích thích, bất
Run cơ 10 (31,2) 0 0
15
Trang 18Nhận xét: Nhóm MgSO4 có khá nhiều tác dụng phụ
như phừng mặt, nóng ở vị trí truyền, trong khi tác
dụng phụ của nhóm Sal là tim nhanh (93,7%), run cơ
(31,2%), kích thích và đau thắt ngực
IV BÀN LUẬN
4.1 Về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Hai nhóm được chọn tương đồng nhau về tuổi,
giới, thời gian khởi phát cơn hen, đặc điểm lâm sàng
lúc nhập viện (bảng 3.1), điều này đảm bảo tính
khách quan của phương pháp nghiên cứu so sánh đối
chứng
Nhóm MgSO4 có 34,3% BN phải dùng thêm
Salbutamol mới cắt được cơn hen (phần lớn là ở BN
lớn tuổi, thời gian khởi phát cơn hen dài, tiền sử hen
≥ 5 năm), tác dụng phụ do MgSO4 tương tự nhau ở
cả 2 phân nhóm (bảng 3.2) Điều này là phù hợp, vì
MgSO4 là thuốc tác động giãn phế quản trực tiếp, tác
dụng ngắn hạn, thuốc dùng trong 20 phút vì thế chỉ
có tác dụng cắt cơn trong thời gian ngắn, ở các
trường hợp bệnh đã lâu năm, lớn tuổi thì phế quản
đã tổn thương viêm mạn tính, vì vậy MgSO4 ít có
hiệu quả giãn PQ trực tiếp mà chỉ có tác dụng hổ trợ
các thuốc khác
4.2 Hiệu quả của MgSO 4 trong 24h đầu điều trị
HPQ nặng cấp
Nhóm MgSO4 có đáp ứng điều trị (giảm hoặc
cắt cơn) sớm, trong khi nhóm Sal thì đáp ứng điều
trị chậm hơn (bảng 3.3), chứng tỏ MgSO4 có tác
dụng nhanh hơn nhiều so với Sal Tác dụng cắt cơn
của MgSO4 chỉ trong vòng 30 phút đến 1 giờ
(57,1%), trong khi thời gian có tác dụng cắt cơn của
Salbutamol khoảng 10,9 ± 9,2 giờ, ngay cả đối với
phân nhóm sử dụng MgSO4 cần kết hợp Salbutamol
thì thời gian cắt cơn cũng ngắn hơn nhiều so với
nhóm dùng Sal đơn thuần (4,8 ± 0,7 so với 10,9 ±
9,2) (bảng 3.3 và bảng 3.4) Nhóm Sal có 4 BN tăng
độ nặng không cắt cơn sau 24 giờ phải chuyển sang
thở máy trong khi nhóm MgSO4 và nhóm MgSO4 +
Sal thì không có BN nào tăng độ nặng (bảng 3.3).
Như vậy rõ ràng là MgSO4 có hiệu quả giãn phế
quản nhanh và mạnh hơn nhiều so với Sal trong điều
trị cơn HPQ nặng cấp Theo Silverman M vàSilverman R., nên sử dụng MgSO4 ở ngoài bệnhviện đối với HPQ nặng cấp nếu không đáp ứng vớiliều đồng vận β2 đầu tiên [7], [8] Song W-J chorằng, không nên chần chừ sử dụng MgSO4 ở BNHPQ nặng cấp không đáp ứng với điều trị ban đầu[9] Theo Hội lồng ngực Anh, liều MgSO4 duy nhấtđường TM có tính an toàn và cải thiện chức năngphổi ở BN HPQ nặng cấp [3]
Bảng 3.5 cho thấy nhóm MgSO4 kết hợp Sal thìliều Sal (ống 0,5mg) sử dụng đến khi cắt cơn thấp
hơn ở nhóm Sal (3,3 ± 0,5 so với 10,2 ± 6,3) Bảng
3.5 và bảng 3.6 cho thấy nhóm MgSO4 khi cần kếthợp Diaphylline thì tổng liều Diaphylline (mg) sửdụng đến khi cắt cơn cũng thấp hơn nhóm Sal(320 ±
156 so với 883 ± 631) - điều này cho thấy rằng ngay
cả khi MgSO4 đơn thuần không cắt được cơn hen thì
nó cũng góp phần quan trọng giúp làm giảm đáng kểliều Sal và liều Diaphyllin
Tóm lại: MgSO4 có tác dụng cắt cơn nhanh, nhất là
ở các BN trẻ tuổi, tiền sử mới mắc HPQ Đối với các
BN cần phối hợp thêm Sal và Diaphyllin thì thờigian cắt cơn cũng ngắn hơn nhiều so với nhóm Sal
và tổng liều Sal cũng như Diaphyllin giảm đáng kể
4.3 Về tác dụng phụ của MgSO 4 và Salbutamol
Bảng 3.7 cho thấy tần số tim ở nhóm Sal cao
hơn nhiều so với nhóm MgSO4 (cả ở nhóm đơnthuần và nhóm có kết hợp với Sal) Tác dụng kíchthích tim nhanh của Sal rõ ràng là bất lợi ở BN HPQ
vì nó càng làm tăng nhu cầu Oxy của cơ tim và kích
thích thần kinh (bảng 3.8), kích thích tăng tần số hô
hấp, làm mệt cơ hô hấp nhiều hơn và là một trongnhững yếu tố góp phần tăng độ nặng của bệnh vàthúc đẩy can thiệp an thần thở máy, trong nghiêncứu này nhóm Sal có đến 93,7% có tăng tần số tim,
15,6% có cơn đau thắt ngực (bảng 3.8) và 04 BN
(12,5%) dùng Sal đơn thuần phải chuyển sang thở
máy (bảng 3.3) Ngược lại, ở các BN sử dụng
MgSO4 sớm thì tác dụng chẹn kênh Ca2+ giúp ức chếcác rối loạn tim nhanh giúp làm giảm công tim, giảmkích thích cơ hô hấp và tránh mệt cơ hô hấp Trong
16