Trình bày phạm trù, mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng, cái chung. nguyên nhân kết quả. từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận
Trang 1NHÓM 2
Trang 2I Phạm trù cái riêng, cái chung và mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng:
1 Phạm trù cái riêng, cái chung:
Cái riêng dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định
VD: Cái ghế, cái hoa, cái bàn……
Trang 4Cái chung dùng để chỉ những mặt, những
thuộc tính, những yếu tố, những quan hệ,…tồn tại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng
Trang 5Cần phân biệt giữa “cái riêng” và cái “đơn nhất” Cái đơn nhất dùng để chỉ những thuộc tính,những tính chất,…chỉ tồn tại ở một sự vật,một hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác
Vd: Thủ đô HN là cái riêng, ngoài các đặc điểm chung giống thành phố khác, nó còn có
Hồ Gươm chỉ HN mới có Đó là đơn nhất
Trang 72 Quan hệ giữa cái riêng và cái chung:
Cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quan, vì
nó là biểu hiện tính hiện thực tất yếu, độc lập với ý thức của con người
Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà nó phải tồn tại trong từng cái riêng
cụ thể, xác định
Trang 8Vd: Đều được gọi chung
là cây trong đó lại có nhiều loại cây khác nhau như: cây xoài, cây cam, cây quýt, nhưng cây nào cũng có thân, rễ, lá, cành, có quá trình lí hoá
để duy trì sự sống
Trang 9Không có cái riêng nào tồn tại độc lập tách rời cái chung.
Cái riêng là toàn bộ, phong phú, đa dạng hơn cái chung Cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng Bởi cái riêng là tổng hợp của cái chung và cái đơn nhất Còn cái chung biểu hiện tính phổ biến,tính quy luật của nhiều cái riêng
Trang 113.Ý nghĩa phương pháp luận:
Cần phải nhận thức cái chung để vận dụng vào cái riêng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn không nhận thức được thực tiễn khi giải quyết cái riêng, mỗi trường hợp cụ thể sẽ vấp phải những sai lầm,mất phương hướng Muốn nắm được cái chung thì cần phải xuất phát từ những cái riêng bởi cái chung không tồn tại trừu tượng ngoài những cái riêng
Trang 12II Phạm trù nguyên nhân, kết quả và mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết
quả.
1 Phạm trù nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau từ đó tạo ra
sự biến đổi nhất định
Trang 13Kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do
sự tác động giữa các mặt, yếu tố trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa sự vật, hiện tượng
Virut gây ra HIV/AIDS
Trang 142 Quan hệ biện chứng giữa NN và KQ:
Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ khách quan,bao hàm tính tất yếu; không
có nguyên nhân nào không dẫn đến kết quả nhất định và ngược lại không có kết quả nào không
có nguyên nhân
Trang 15Vd: hiện tượng nước sôi là sự tác động của nhiệt
và sự chuyển động của các phân tử nước
Trang 16Nguyên nhân sinh ra kết quả, do vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân.
Một nguyên nân có thể sinh ra một hoặc nhiều
kết quả,
Vd: nếu điều khiển phương tiện giao thông trong tình trạng say rượu có thể gây ra tai nạn giao thong cho bản thân hoặc có thể gây ra tai nạn cho người khác, hoặc gây ra các tệ nạn xã hội khác như: đánh nhau
Trang 18Vd: tình trạng thất nghiệp của nhiều sinh viên hiện nay là do nhiều nguyên nhân
nguyên nhân khách quan: tình hình kinh tế suy thoái, doanh nghiệp cắt giảm biên chế, nguyên nhân chủ quan: bản thân sinh viên không chọn đúng ngành phù hợp với năng lực, không nghiên cứu tài liệu, không chịu thực hành, lười biếng, không có kỉ luật, ham chơi
Trang 20Sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một kết quả có thể diễn ra theo các hướng thuận, nghịch khác nhau và điều có ảnh hưởng đến sự hình thành kết quả nhưng vị trí, vai trò của chúng là khác nhau có nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp, bên trong, bên ngoài, ngược lại một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả, trong đó
có kết quả chính và phụ, cơ bản và không cơ bản, trực tiếp
và gián tiếp,
Trong sự vận động của thế giới vật chất không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng.
Trang 21Vì mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tất yếu nên phải tìm nguyên nhân của sự vật, hiện tượng dẫn đến kết quả trong thế giới hiện thực khách quan chứ không phải ở ngoài thế giới đó.
Vì mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loại nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn
3 Ý nghĩa phương pháp luận:
Trang 22Câu “nhổ cổ phải nhổ tận gốc” có thể hiểu như sau:
Cỏ phát triển được nhờ gốc, có gốc thì mới có ngọn cũng như có nguyên nhân mới dẫn tới kết quả Vì sao phải “nhổ cổ tận gốc”
Vì nếu diệt cỏ mà chỉ cắt phần ngọn phía trên thì chỉ là giải pháp tình thế, có tính nhất thời chứ không có tính triệt để
Trang 23Sau một thời gian cỏ cũng phát triển trở lại Bởi “gốc” là bộ phận trung tâm cung cấp chất dinh dưỡng và sự sống cho
“cây cỏ”, nó có sự cạnh tranh chất dinh dưỡng vượt trội hơn hơn so với các cây trồng lân cận, vì vậy dù ít hay nhiều điều ảnh hưởng đến sự phát triển và nâng suất cây trồng.
Trang 24Do vậy, nếu nhổ phần ngọn thì khả năng sinh trưởng của cỏ vẫn không ảnh hưởng nhiều đến chu kì sống của nó Phần ngọn được cắt
đi nhưng phần gốc vẫn có thể cung cấp chất dinh dưỡng để tiếp tục phát triển và phận ngọn khác sẽ được “tái sinh” một lần nữa Có thể nói việc nhổ cỏ không tận gốc chính là nguyên nhân dẫn đến nhiều kết quả:
Trang 25Nguyên nhận trực tiếp: cây trồng bị cỏ tấn công kém chất lượng.
Nguyên nhân gián tiếp: người nông dân trồng lúa thất thu, sản lượng lúa sụt giảm, đời sống
khó khăn hơn, lớn hơn là nên kinh tế lúa gạo
kém phát triển
Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả được vận dụng để giải thích câu nói:
Trang 26Một nguyên nhân có thể sản sinh ra một hay nhiều kết quả và một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân tạo nên cũng như một gốc có thể sản sinh ra nhiều cây cỏ trưởng thành, từ nhiều cây cỏ đó lại sinh ra vô số các cây con khác
Do đó, nếu không nhổ cỏ tận gốc, thì từ nguyên nhân đó có thể dẫn đến nhiều kết quả tiêu cực
Trang 27CÁM ƠN THẦY VÀ CÁC BẠN
ĐÃ CHÚ Ý LẮNG NGHE!