GIÀNG QUÁNG TIÊN Tên đề tài: “ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG THỰC VẬT THÂN GỖ KIỂU RỪNG TRÊN NÚI ĐÁ ĐỘ CAO TRÊN 700 M THUỘC KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN” KH
Trang 1GIÀNG QUÁNG TIÊN
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG THỰC VẬT THÂN GỖ KIỂU RỪNG TRÊN NÚI ĐÁ ĐỘ CAO TRÊN 700 M THUỘC KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2GIÀNG QUÁNG TIÊN
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG THỰC VẬT THÂN GỖ KIỂU RỪNG TRÊN NÚI ĐÁ ĐỘ CAO TRÊN 700 M THUỘC KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Văn Mạn
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của Th.S Nguyễn Văn Mạn
Các số liệu kết quả nghiên cứu trong khóa luận của tôi hoàn toàn trung thực và chưa hề công bố hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào
Nội dung khóa luận có tham khảo và sử các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí,… đã được chỉ rõ nguồn gốc
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
Trước hội đồng khoa học!
(Ký, ghi rõ họ và tên)
(Ký, ghi rõ họ và tên)
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
Đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Thực tập tốt nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường, giúp sinh viên hệ thống, củng cố kiến thức, nắm bắt được phương thức tổ chức và tiến hành ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đồng thời cũng là thời gian giúp sinh viên nâng cao thêm năng lực, kỹ năng, tiếp xúc và cọ xát với thực tế, khả năng giải quyết vấn đề, xử lí tình huống
Xuất phát từ nguyện vọng bản thân, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp – Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Đánh giá đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng trên núi đá độ cao trên 700 m thuộc Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”
Trong thời gian thực tập, tôi nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo khoa Lâm Nghiệp, cán bộ Ban quản lí Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc cùng toàn thể nhân dân gần khu vực bảo tồn Đặc biệt là
sự chỉ đạo giúp đỡ trực tiếp của thầy giáo Th.S Nguyễn Văn Mạn cùng sự cố gắng của bản thân đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Do thời gian, kiến thức bản thân còn hạn chế nên khóa luận của tôi không tránh khỏi những sai sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô giáo và các bạn để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Giàng Quáng Tiên
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích rừng khu bảo tồn phân theo trạng thái 24 Bảng 4.1 Cấu trúc tổ thành thực vật thân gỗ trên núi đá độ cao trên 700 m 34 Bảng 4.2 Chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ trên núi đá độ cao trên 700 m 36 Bảng 4.3 Tổng hợp taxon phân loại thực vật thân gỗ theo ngành và lớp kiểu
rừng trên núi đá độ cao trên 700 m 36 Bảng 4.4 Tổng hợp số loài thực vật thân gỗ của kiểu rừng trên núi đá độ cao
trên 700 m theo giá trị sử dụng 37 Bảng 4.5 Các họ và số loài thực vật thân gỗ quý hiếm của kiểu rừng trên núi
đá độ cao trên 700 m 38 Bảng 4.6 Phân cấp bảo tồn thực vật thân gỗ quý hiếm kiểu rừng trên núi đá
độ cao trên 700 m 39 Bảng 4.7 Công thức tổ thành tầng cây tái sinh ở các ô tiêu chuẩn 40 Bảng 4.8 Mật độ và chất lượng cây tái sinh của thực vật thân gỗ trên núi đá
vôi độ cao trên 700 m 42
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 7
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trến thế giới 7
2.2.2 Tình hình ngiên cứu trong nước 9
2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 21
2.3.1 Điều kiện tự nhiên tại khu vực nghiên cứu 21
2.3.2 Khái quát về tài nguyên rừng khu vực đánh giá 24
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu 26
3.1.1 Đối tượng nhiên cứu 26
3.1.2 Phạm vi nhiên cứu 26
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26
3.2.1 Địa điểm 26
3.2.2 Thời gian tiến hành 26
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.4 Phương pháp ngiên cứu 27
3.4.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu sẵn có 27
3.4.2.Phương pháp bố trí thí ngiệm 27
Trang 73.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 28
3.4.4 Đánh giá đa dạng thực vật thân gỗ 29
3.4.5 Xác định đặc điểm tái sinh 30
PHẦN 4 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Cấu trúc kiểu rừng trên núi đá độ cao trên 700 m 32
4.2 Đa dạng của thực vật thân gỗ của kiểu rừng trên núi đá độ cao trên 700 m 33
4.2.1 Tổ thành thực vật thân gỗ 33
4.2.2 Chỉ số đa dạng 36
4.3 Thống kê thực vật thân gỗ của kiểu rừng trên núi đá độ cao trên 700 m 36
4.4 Xác định các loài cây gỗ có giá trị bảo tồn cao và khả năng tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ 37
4.4.1 Các loài cây gỗ có giá trị bảo tồn cao 37
4.4.2 Khả năng tái sinh tự nhiên của thực vật thân gỗ 40
4.4.3 Mật độ và chất lượng cây tái sinh 41
4.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn thực vật thân gỗ, đặc biệt là những loài cây quý hiếm 43
4.5.1 Giải pháp chung 43
4.5.2 Giải pháp cụ thể 45
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Kiếm nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Rừng có được những chức năng đó là nhờ ĐDSH ĐDSH là nguồn tài nguyên quý giá nhất, vì nó chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, là sự sống còn và tiến hóa của các loài sinh vật
Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Do vị trí địa lý nên Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của Đông Nam Á Từ kết quả nghiên cứu khoa học trên lãnh thổ Việt Nam, các nhà khoa học nhận định Việt Nam là một trong mười nước ở châu Á và một trong mười sáu nước trên thế giới có tính ĐDSH cao
KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
đc thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/03/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn với diện tích 1.788 ha, nằm trong địa giới hành chính của xã Xuân Lạc Và chủ yếu là rừng gỗ quý hiếm trên núi đá vôi Hiện trạng ở KBT còn khá nguyên vẹn, nhiều nơi chưa bị tác động của con người, lưu giữ được nhiều loài động, thực vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng Núi đá vôi
là HST đặc biệt của Việt Nam, nó chứa đựng tài nguyên sinh học vô cùng quý giá Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, KBT Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc là một đơn vị địa lý sinh vật có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc duy trì tính ĐDSH và bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 9Nhưng hiện nay, nguồn tài nguyên rừng trong KBT đang bị tác động mạnh bởi người dân sống xung quanh KBT Do phong tục tập quán của người dân sống định cư ở đây là lấy củi đun, lấy gỗ để phục vụ trong đời sống sinh hoạt, phá rừng để mở rộng diện tích đất nông nghiệp, chăn thả gia súc tự do
… trong KBT đã và đang diễn ra trong vùng đệm của KBT Vì vậy, việc bảo tồn tính ĐDSH, bảo vệ nguồn gen quý hiếm cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trong KBT rất quan trọng Để đánh giá được tính đa dạng của thực vật ở KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, làm cơ sở cho việc bảo tồn, phát tiển và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá đa dạng thực vật thân gỗ trên núi đá độ
cao trên 700 m thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.3 Ý ngĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Bổ sung ngưỡng hiểu biết về đặc điểm cấu trúc, tái sinh của thực vật thân gỗ trên núi đá độ cao trên 700 m Làm cơ sở khoa học cho các giải pháp lâm sinh phục hồi rừng tự nhiên ở khu vực nghiên cứu Thông qua ngiên cứu
Trang 10một số đặc điểm cấu trúc để đánh giá mức độ đa dạng thực vật thân gỗ, trên
cơ sở đó bảo tồn một số loài thực vật quý hiếm
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc và tái sinh để làm cơ
sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng tài nguyên rừng trên núi
đá vôi một cách hợp lý
Trang 11
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
Có thể coi, thuật ngữ “ đa dạng sinh học” (Biodiversity hay biological diversity) lần đầu tiên được Nóe and McManus ( 1980)[13] định ngĩa, bao hàm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền ( tính đa dạng
về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái ( số lượng các loài trong một quần xã sinh vật)
Có lẽ do thế giới sự sống chủ yếu được xem xét ở khía cạnh các loài
Nên thuật ngữ ĐDSH thường được dùng như một từ đồng ngĩa của “ đa dạng
loài” Đặc biệt là sự “ sự phong phú về loài”, thuật ngữ dùng để chỉ số lượng
loài trong một vùng hoạc một nơi cư trú ĐDSH toàn cầu thường được hiểu là
số lượng các loài thuộc các nhóm phân loài khác nhau trên toàn cầu ước tính đến thời điểm này đã có khoảng 1,7 triệu loài đã xác định Còn tổng số loài tồn tại trên trái đất và khoản từ 5 triệu đến gần 100 triệu Theo ước tính ước tính của công tác bảo tồn, có khoảng 12,5 triệu loài trên trái đất nếu xét trên khái niệm số lượng loài đơn thuần thì sự sống trên trái đất bao gồm côn trùng
và vi sinh vật
Cho đến thời điểm năm 1982 các nhà sinh vật đã biết được tất cả khoảng 1,4 triệu loài sinh vật, chưa đạt 5-10% tổng số các loài ước lượng có trong sinh quyển ( Parker 1982, trong A.Pitterle 1993)[13] Như vậy là đại đa
số các loài sinh vật chưa được con người biết đến và đang có nguy cơ biến mất trước khi con người biết đến vai trò của chúng đối với sự sống Vùng có ĐDSH giàu nhất là vùng nhiệt đới, trong khi đó thì rừng nhiệt đới ( nơi sống chính của đại đa số sinh vật) đang bị mất đi với tốc độ 11,3 triệu ha/năm (kéo theo từ 20-50% số loài có nguy cơ biến mất) các rừng rậm nhiệt đới có hơn một nửa số loài của thế giới , mặc dù chỉ chiếm 7% diện tích đất liền của trái
Trang 12đất Độ phong phú loài tương đối của quần xã sinh vật rừng nhiệt đới thay đổi nhóm loài, và các kiến thức khoa học về độ phong phú loài của một số bậc phân loại vẫn còn giới hạn
Thông tin đầy đủ nhất hiện có về rừng nhiệt đới là các thông tin về các loài thực vật vùng tân nhiệt đới ( trung và nam mỹ) ước tính có khoảng 86.000 loài thực vật có mạch, vùng nhiệt đới và nửa khô hạn châu phi có 30.000 loài, vùng Madagascar có 8200 loài, vùng nhiệt đới châu á bao gồm cả New Guinea và vùng nhiệt đới Australia có khoảng 45000 loài Xét chung vùng nhiệt đới chiếm 2/3 con số ước tính 250.000 loài thực vật có mạch của thế giới, theo số liệu của Alwyn Gentry, Norman Myers ước tính rằng 2/3 số loài thực vật nhiệt đới được tìm thấy ở các rừng nhiệt đới ẩm ( các rừng rậm rụng lá và thường xanh) Như vậy, khoảng 45% các loài thực vật mạch gỗ của thế giới được tìm thấy trong các rừng rậm nhiệt đới
Khu hệ thực vật là nhóm nhân tố tham gia vào quá trình phát sinh các kiểu thảm thực vật Trong thực tế có nhiều trường hợp, tuy điều kiện khí hậu
và đất hoàn toàn giống nhau nhưng lại xuất hiện các kiểu thảm thực vật khác nhau về tổ thành loài cây Giải thích điều này phải dựa vào nhóm nhân tố khu
hệ thực vật Theo quan điểm địa lí thực vật thì khu hệ thực vật ở một vùng bao gồm các thành phần thực vật bản địa đặc hữu ( kể cả đặc hữu cổ và đặc hữu mới) và các thực vật ngoại lai từ các luồng thực vật di cư từ nơi khác đến Tùy theo điều kiện địa hình, hình thức phát tán của thực vật( nhờ gió, nước….) Và khả năng thích ngi của thực vật mà tỉ lệ tham gia của các loài thực vật ngoại lai vào khu hệ thực vật địa phương khác nhau Sự tham gia của các loài thực vật di cư đã hình thành nên nhưng kiểu thảm thực vật có thành phần loài cây khác với các kiểu thảm thực vật khí hậu Khu hệ thực vật việt nam, Ngoài thành phần bản địa đặc hữu còn có các thành phần di cư bao gồm ba luồng thực vật di cư chính và một số nhân tố di cư khác
Trang 13- Luồng thực vật di cư từ Malaixia-Inđônexia: đại diện cho luông di cư này là các loài cây thuộc họ thầu dầu(Dipterocarpaceae) xuất phát từ trung tâm phát sinh ở đảo Bocneo Colani đã tìm thấy gỗ hóa thạch và dấu vết lá của rừng dầu ở lưu vực sông Đa Hưng Miền nam Việt Nam Điều này chứng
tỏ những loài cây họ dầu đã di cư đế việt nam từ kỉ đệ tam, những loài cây trong họ dầu bao gồm cả những loài cây thường xanh và một số loài cây rụng
lá để thích ngi với những vùng khô hạn, hình thành nên rừng thưa cây họ dầu, điểm hình là rừng khộp ở đắc lắk, gia lai v.v…
- Luồng thực vật di cư từ vùng ôn đới theo độ vĩ ( Vân Nam-Qúi Châu)
Và vùng đai ôn đới núi vừa thuộc dãy núi Himalaya: luồng thực vật di cư này bao gồm các loài cây lá kim của ngành phụ hạt trần (Gymnospermae) như Pinus merkusjj, Pinus ke syja… ngoài ra còn có các loài cây lá rộng rụng lá trong mùa đông thuộc họ dẻ (Fagaceae), họ hoa (Betulaceae), họ thích (Aceraceae), họ Ô liu (Oleaceae), họ Óc chó (Juglandanceae), họ đỗ quên (Ericaceae), họ chú nem (Vacciniaceae) Các loài cây thuộc luồng di cư này thường xuất hiện chủ yếu ở vùng núi cao và núi vừa
- Luồng thực vật di cư từ vùng khô hạn của Ấn Độ - Myanma: Đại diện cho luồng di cư này là họ bang(Combretaceae) trong đó phần lớn các loài thuộc các chi Terminalia, Anogeissus, Finetia, combretum, có đặc điểm rụng
lá trong mùa khô Ngoài ra còn có những loài cây rụng lá như Tếch (Tectona grandis) Lõi thọ (Gmelina arborea) trong họ verbenaceae, Tung (Tetrameles nudiflora) trong họ Datiscaceae, Săng lẻ hay Bằng Lăng(Largerstroemia SP) trong họ Gạo (Cossampinus malabaricus) trong họ Bombacaceae v.v… các loài thực vật thuộc luồng di cư này di cư vào vùng núi cao ở Tây Bắc Việt Nam và dọc theo dãy trường sơn đi đến các cao nguyên ở tây nguyên Theo Thái Văn Trừng ( 1978,1999)[12] ước lượng thành phần các nhân tố bản địa
và ngoại lai trong khu hệ thực vật Việt Nam như sau:
Trang 14Nhân tố bản địa đặc hữu :( Khu hệ bắc Việt Nam- Nam Trung Hoa) 50% Nhân tố di cư: Từ khu hệ thực vật Malaixia-Indonexia 15%
Từ khu hệ thực vật hymalaya – Vân Nam –Quý Châu 10%
(không kể các loài cây nhập nội)
Thành phần khu hệ thực vật trên đây đã làm tăng tính đa dạng về loài
và hệ sinh thái cho thảm thực vật rừng Việt Nam
Phân lọai thảm thực vật của Thái Văn Trừng được tiến hành trên quan
điểm sinh thái phát sinh quần thể , tức là sự hình thành những kiểu thảm thực
vật những xã hợp thực vật dưới tác động của những nhân tố sinh thái trong hoàn cảnh bên ngoài quần thể
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trến thế giới
2.2.1.1 Ngiên cứu về đa dạng sinh học
Trước nguy cơ mất ĐDSH một cách nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới nhiều công trình ngiên cứu khoa học liên quan đã ra đời công ước RAMSAR, Iran (1971), công ước (CITES, 1972), công ước pari (1972), công ước bảo vệ các loài động vật hoang dã di cư, BORN (1979), công ước đa dạng sinh hoc (1992)
So sánh số loài cây gỗ có D 1.3>2,5cm trong một ô tiêu chuẩn có diện tích 1ha thì ở vùng địa trung hải (24-136 loài) tương tự như trong rừng khô nhiệt đới và rừng mưa bán thường xanh (39-120 loài); Trong rừng mưa
Trang 15thường xanh nhiệt đới số loài cao hơn nhiều (110-120 loài) Số loài bình quân trong rừng ôn đới khoảng 21-40 loài Sự đa dạng về loài của rừng mưa nhiệt đới được diễn đạt bằng công thức Shannon-Weaver(1971) như là một thông
số so sánh mật độ tham gia của mỗi loài với H=6,0 ( cực đại có thể 6,2 = 97%) Lớn gấp 10 lần so với rừng lá rộng ôn đới (0,6) Thông số này giảm dần
từ vùng nhiệt đới đến hai cực và phụ thuộc vào các lục địa khác nhau
Danh sách các loài có trong sách đỏ ngày càng tăng lên , có ngĩa là các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng ngày càng nhiều mà nguyên nhân không có gì khác hơn là hoạt động sống của con người Khi so sánh các dạng sử dụng đất khác nhau ( chẳng hạn nông ngiệp, du lịch, giao thông,vv…) thì lâm ngiệp đứng hàng thứ 2 ( sau nông ngiệp) như là nguyên nhân của việc suy giảm , trong khi cách đây 1 phần thế kỷ ( 1981) còn xếp ở vị trí thứ 6 ( sau nông ngiệp, du lịch, khai thác vật liệu, đô thị hóa và thủy lợi) (Sukopp, 1981- dẫn theo Pitterle, A 1993)
Theo một đánh giá mới về rừng mưa nhiệt đới ở tây nam trung quốc, diện tích che phủ của rừng mưa nhiệt đới ở phía nam vân nam đã giảm 67% trong vòng 30 năm qua, chủ yếu là do việc thành lập các đồn điền cao su, rừng mưa nhiệt đới ở nam vân nam là một kiểu rừng mưa nhiệt đới châu Á thường có độ cao so với mặt nước biển lên đến 1000m Những khu rừng ở nam vân nam đã đóng góp hơn 3600 loài thực vật có hạt, chiến 75% lượng phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á Rừng mưa nhiệt đới khác với các kiểu rừng mưa trên đất thấp ở chỗ có các cây rụng lá tầng tán , ít loài chồi lên trên mặt đất và thực vật bì sinh, nhưng rất phong phú các loài dây leo và các cây lá kim Những khác biệt này là do rừng mưa nhiệt đới bị ảnh hưởng bởi sự khô theo mùa và nền nhiệt độ tương đối thấp so với khu vực cùng vĩ độ và cao độ tương ứng Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưng độ che phủ của các khu rừng ở nam vân nam vẫn bị giảm từ 10,9% xuống còn 3,6% trong vòng 30
Trang 16năm qua, do việc chuyển đổi ruộng lúa tự cung tự cấp sang các đồn điền cao
su của nhóm người Dai – Nhóm dân tộc có mỗi quan hệ gần với người thái ở thái lan ( Theo ThanhNien.Net ngày 20/3/2008)
2.2.1.2 Các ngiên cứu liên quan đến thảm thực vật trên núi đá vôi
Để góp phần xây dựng những nguyên lý, và đề cập đến nhiều biện pháp kỹ thuật về kinh doanh rừng mưa nhiệt đới đã có nhiều tác giả nước ngoài như: Richard (1960)[5] với công trình rừng mua nhiệt đới; Catinot (1965)[2] với công trình lâm sinh học nhiệt đới; G.Baur(1970) với tác phẩm
cơ sở sinh thái của kinh doanh rừng mưa, Lampard(1989) với công trình lâm sinh học nhiệt đới … Các công trình ngiên cứu này đã chỉ ra rằng rừng nhiệt đới rất đa dạng phong phú về thành phần loài Sự đa dạng trong thành phần loài của thảm thực vật rừng phụ thuộc vào quá trình tái sinh tự nhiên
2.2.2 Tình hình ngiên cứu trong nước
2.2.2.1 Các ngiên cứu liên quan đến đa dạng sinh học
Theo ước tính gần đây nhất thì có đến 12 định ngĩa khác nhau về ĐDSH (Gaston and Spicer, 1998) Tuy nhiên trong số này thì định ngĩa được
sử dụng trong công ước đa dạng sinh học (1992) được coi là” Toàn diện và đầy đủ nhất” xét về mặt khái niệm Trong thực tế thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng lần đầu tiên vào năm 1998 và sau khi công ước đa dạng sinh học được kí kết (5/6/1992) thì nó đã được dùng phổ biến hơn
Trong công ước về đa dạng sinh học , thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài , giữa các loài và sự đa dạng
hệ sinh thái ( Gaston anh spicer 1998) Như vậy đa dạng sinh học là toàn bộ các dạng sống trên trái đất, bao gồm tất cả các nguồn tài nguyên di truyền, các loài, các hệ sinh thái và các tổ hợp sinh thái Đa dạng sinh học thường được
Trang 17thể hiện ở 3 cấp độ: đa dạng trong loài( đa dạng di truyền), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái( đa dạng hệ sinh thái)
“Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác,
và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên: Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài( đa dạng di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái” – Công ước đa dạng sinh học, 1992
Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật có mạch, trong đó đã định tên được khoảng 7000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu và 600 loài nấm tính đặc hữu của hệ thực vật rất cao, có ít nhất là 40 % số loài đặc hữu, không có
họ thực vật đặc hữu, nhưng có tới 3% số chi thực vật đặc hữu các khu vực Hoàng liên sơn , Tây Nguyên, Bắc và Trung Trường Sơn được coi là trung tâm các loài đặc hữu
Phan kế lộc(1998) đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật việt nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và 291 họ Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở việt nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305 họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước ta có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới ẩm Indonesia-Malaisia, yếu
tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới Nam Trung hoa và các yếu
tố của thực vật ấn độ- Trung và Nam tiểu Á.( Dẫn theo Ngô xuân hải, 2010)[5]
Như chúng ta đã biết, tính đa dạng sinh học của một hệ sinh thái tiêu biểu hay một vùng lãnh thổ nào đó đều được biểu hiện trong các phạm trù khác nhau
Trang 18Trước hết là sự đa dạng các taxon ( ngành, lớp, họ, chi, loài…); Sau đó
là sự đa dạng trong cấu trúc của hệ sinh thái, mối quan hệ tương hỗ giữa các quần hệ quần xã, tạo nên sự cân bằng sinh thái bền vững, tồn tại một cách tự nhiên; Và cuối cùng là vai trò của con người tác động vào sự đa dạng đó để duy trì, phát triển, phá vỡ , hủy hoại sự cân bằng đó Việt Nam nằm ở đông nam bán đảo đông dương có phần đất liền rộng khoảng 330.000km2, với bờ biển dài khoảng 3.200km, phần nội thủy và lãnh hải gần với bờ biển rộng khoảng 22.600km Ba phần tư diện tích của cả nước là đồi núi với đỉnh cao nhất là Phăng Xi Păng 3.143m ở phía tây bắc Nơi đây các dãy núi cao được hình thành do sự kéo dài của dãy núi hymalaya Mặc dù có những tổn thất quan trọng về mặt diện tích rừng trong một thời kì kéo dài của nhiều thế kỷ nhưng hệ thực vật nước ta vô cùng phong phú và đa dạng về chủng loại… Đặc biệt là hệ thực vật nước ta giàu những cây gỗ, cây bụi, dây leo gỗ… và rất nhiều đại diện cổ tồn tại từ kỷ đệ tam Theo dự đoán của các nhà thực vật học (Takhtajan, Phạm Hoàn Hộ, Phan Kế Lộc) số loài ít nhất sẽ lên đến 12.000 loài thực vật bậc cao, trong đó có khoảng 2.300 loài được sử dụng làm nguồn lương thực, thực phẩm, làm thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc , lấy
gỗ, lấy tinh dầu, dầu béo và nhiều loại nguyên liệu khác (Nguyễn Ngĩa Thìn, 1997)[7], Mặt khác hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao, tuy rằng hệ thực vật Việt Nam không có các họ đặc hữu mà chỉ có các chi đặc hữu chiếm khoảng 3% nhưng số loài đặc hữu chiếm khoảng 20%, tập trung ở 4 khu vực chính: Núi Hoàn Liên Sơn, Ngọc Linh, cao nguyên Lâm Viên và khu vực rừng ẩm Bắc Trung Bộ
ĐDSH của Việt Nam là một sự khác biệt của các dạng sống hiện hữu trên mọi miền đất nước ĐDSH không tĩnh mà lại thường xuyên thay đổi, nó tăng lên do sự biến đổi về gen và các quá trình tiến hóa và giảm bớt như các quá trình như suy thoái và mất sinh cảnh, suy giảm quần thể và tuyệt chủng
Trang 19Năm 1992, Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới đã xác định Việt Nam là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao nhất trên thế giới Việt Nam được công nhận là một trung tâm đặc hữu về loài, 3 vùng sinh thái trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu do WWF xác định và 6 trung tâm đa dạng về thực vật do IUCN xác định Toàn bộ đất nước Việt Nam nằm trong điểm nóng Inđô- Bơ
Ma do tổ chức quốc tế xác định, là một trong những vùng sinh học bị đe dọa nhất và giàu có nhất trên trái đất Độ che phủ của rừng Việt Nam khoảng 37% với tổng diện tích tự nhiên là 12,3 triệu ha Số loài thực vật ở cạn ở Việt Nam vào khoảng 13.766 loài, chiếm khoảng 6,3% so với toàn cầu
Những đánh giá về sự suy giảm ĐDSH và các biện pháp bảo tồn cũng
đã được chú ý ngày cành nhiều ở Việt Nam Trước năm 1975, ở cả hai miền
đã xây dựng được nhiều khu rừng cấm Sau giải phóng 1975, nhà nước đã quan tâm nhiều Khu bảo tồn thiên nhiên và Vừng quốc gia để bảo vệ tính ĐDSH Số lượng các khu bảo tồn và vườn quốc gia đã tăng từ 49 khu năm
1975 lên 73 khu 1980 và năm 2005 đã lên tới 128 khu với tổng diện tích gần
2 triệu ha
Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động thực vật thuộc vùng Ấn Độ -Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđônêxia –Malaysia Cùng với các yếu tố địa lý, địa hình, khí hậu thủy văn đã tạo cho nơi đây trở thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học cao của thế giới ( Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2002 –Báo cáo quốc gia về các khu bảo tồn và phát triển kinh tế) ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất Theo ước tính Việt Nam có khoảng 15000 loài thực vật có mạch Hiện nay đã xác định tên được 11.373 loài thực vật bậc cao, 793 loài rêu và hơn 600 loài nấm Để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là các vùng có tính ĐDSH cao, nơi phân
Trang 20bố các loài quý hiếm Chính phủ Việt Nam đã cho thành lập một hệ thống các khu rừng đặc dụng bao gồm Vườn quốc gia, Khu dự trữ thiên nhiên, Khu bảo tồn loài/sinh cảnh, Khu bảo vệ cảnh quan được phân bố trên hầu khắp các vùng sinh thái, gồm 127 khu Cần phải hoàn thiện hệ thống chính sách, luật pháp, nâng cao ý thức và năng lực bảo tồn,huy động được sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo tồn ( Dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên)[3]
Nguyễn Gia Lâm ( 2003)[6], nghiên cứu về Đa dạng sinh học tài nguyên rừng Bình Định cho biết hiện có khoảng 155 họ, 1.625 loài, trong đó thực vật hạt kín hai lá mầm 113 họ, 1.162 loài; thực vật hạt kín một lá mầm
22 họ, 141 loài; ngành hạt trần có 6 họ, 286 loài, quyết thực vật 14 họ, 36 loài, số loài thực vật làm thuốc 282 loài, cây có công dụng đặc biệt có 41 loài Thực vật Bình Định mang tính đặc trưng, có rất nhiều loại cây quý hiếm như Lát, Cafte, Giáng hương, Gụ, Trắc, Thông tre
Vườn quốc gia Yok Đôn đặc trưng cho hệ sinh thái rừng khộp, kết quả điều tra thống kê được 566 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 290 chi và
108 họ Hệ cây gỗ ở đây khá phong phú và đa dạng Sự phân bố của các taxon trong ngành lá không đồng đều, trong đó ngành hạt kín có số loài nhiều nhất
599 loài chiếm 98,8% và ít nhất trong ngành hạt trần có 1 loài chiếm 0,1% Tuy nhiên tác giả cũng so sánh với thực vật ở Phù Mat, Cúc Phương, Sa Pa thì thấy mức độ đa dạng của hệ cây gỗ Đôn thấp hơn Điều đó cũng phù hợp với thực tế điều kiện khí hậu Yok Đôn khô , không thích hợp Hệ thống phân loại thảm thực vật Yok Đôn gồm: Kiểu rừng kín thường xanh, kiểu rừng thưa nửa rụng lá, kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá ( rừng khộp), phân quần xã này rất đặc trưng, độc đáo, bao trùm nhất Vườn quốc gia, chủ yếu cây họ Dầu, cây cấu trúc đơng giản về tầng thứ, nghèo về thành phần loài,mật độ cây thấp Bằng phương pháp điều tra theo tuyến song song và phóng xạ, lập các
ô tiêu chuẩn, tính đa dạng thực vật vườn quốc gia Cúc Phương, Nguyễn Bá
Trang 21Thu đã đưa ra số liêu tổng số các loài thực vật bậc cao là 1.944 loài thuộc 912 chi, 219 họ, 86 bộ của 7 ngành thực vật, trong đó 98 loài quý hiếm So với tổng số loài thực vật bậc cao của Việt Nam (11.374 loài kể cả ngành rêu), số loài thực vật bậc cao của Cúc Phương, có 19 quần xã thực vật đã được phân loại, mô tả và lần đầu tiên được thể hiện trên bản đồ
Kết quả nghiên cứu đa dạng thực vật cả dự án ICBG tại Cúc Phương đã
bổ sung thêm 119 loài thực vật mới cho Cúc Phương (so với danh lục năm 1997), phát hiện được 2 chi thực vật mới cho Việt Nam là Nyctocalos thuộc
họ Núc nác (Bignoniacea) và chi Gardneria thuộc họ Mã tiền (Loganiaceae)
Đặc biệt đã phát hiện một chi mới và loài mới cho khoa học là Vietorchis
aurea Averyanov thuộc họ Lan (Orchidaceae) Phát hiện được 45 điểm đa
dạng thực vật tại khu vực Cúc Phương
Phân tích tổ thành thực vật Vườn quốc gia Ba Vì cho thấy : thành phần loài ở đai cao Ba Vì khá phong phú, có nhiều chi và loài thuộc các học thực vật phân bố chủ yếu ở á nhiệt đới và ôn đới Đã phát hiện cóa 417 loài, thuộc
323 chi, 136 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó ngành thực vật hạt kín chiếm chủ yếu với 377 loài Có một số loài quý hiếm như: Bách xanh (
Calocedus macrolepis), Phỉ ( cephalotaxus manni), Thông tre (Podacapus neriifilius), Ba gạc ( Rauwolfia vertieilata), Sến mật ( Madhuca pasquieri),
Vàng tâm (Manglietia conifera),… Trên vùng cao Ba Vì còn tồn tại 2 kiểu
chính: kiểu rừng chín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp và kiểu rừng hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp Kiểu rừng thứ nhất chiếm phần lớn phần lớn diện tích khu vực nghiên cứu, là một phức hợp những loài
ưu thế: Re bạc, Vàng tâm,Kháo lá to, Bản xe giả,Bời lời Ba Vì, Trám trắng , Bạc tán, Dẻ đấu nứt, Vỏ mản, Tổ kén, Re lá bạc, Kiểu rừng thứ hai phân bố
ở vị trí cao hơn và thể hiện qua sự hiện diện của một loại cây hạt trần và hạt
đỗ quyên, rừng không có loài ưu thế rõ rệt
Trang 22Khi đánh giá về khả năng tái sinh phục hồi rừng vùng Đông Bắc Việt Nam, Phạm Quốc Hùng ( 2005)[9], cho biết trong vùng Đông bắc trạng thái rừng IIb có nhiều dạng ưu hợp, tùy từng nơi sẽ có loài hoặc nhóm loài ưu thế khác nhau, các loài tiên phong ưa sáng chiếm tỉ lệ lớn trong tổ thành Ở vùng
có độ cao thấp, những loài Dẻ, Thẩu tấu, Trám, dung , Cheo, Côm và Ba soi chiếm tỉ lệ cao trong lâm phần Ở Cáng lò, Vối thuốc, Chân chim, và Lòng trứng Trạng thái rừng IIb bên cạnh những loài tiên phong ưa sáng đến định
cư còn có những loài nửa chịu bóng sẽ là chủ nhân tương lai của bước diễn thế tiếp theo như Lim xanh, Trường,De, Trám và các loại Dẻ Một số loại chịu bóng dưới tán rừng cũng đã thấy xuất hiện trong lâm phần như Mạy tèo,Trâm Cọc rào Và trạng thái rừng IIb ở xã Tuấn Đạo, Sơn Động, Bắc Giang có 28 loài cây gỗ thuộc 16 họ thực vật cùng sinh sống, trong đó, 2 loài
ưu hợp là lim xanh và Trám đã chiếm 50% tổng số cá thể trong lâm phần
Đề tài do tác giả Trần Văn Con thực hiện nhằm xác định đặc điểm lâm học của rừng thứ sinh nghèo làm cơ sở đề xuất các tiêu chí lâm học cho rừng nghèo kiệt được cải tạo Tác giả tiến hành nghiên cứu đối với rừng sản xuất là rừng gỗ lá rộng thường xanh và nửa rụng lá qua việc xác định đặc điểm về tôt thành loài; trữ lượng của rừng tái sinh nghèo; khả năng phục hồi bằng quá trình tái sinh tự nhiên của rừng thứ sinh nghèo Kết quả cho thấy, rừng gỗ nghèo ở các vùng sinh thái khác nhau trong các chỉ tiêu lâm học Về đa dạng loài, sự khác nhau giữa các vùng sinh thái không lớn, biến thiên từ 32- 36 loài/ha Vùng duyên hải miền Trung (DHMT) có số loài bình quân cao nhất
36 Mật độ cây ở tầng cao biến thiên từ 360 ( BTB- Bắc Trung Bộ) -410 cây/ha (DHMT) Sự khác biệt nhất là ở chỉ tiêu trữ lượng rừng với biến thiên
từ 58- 82 m/ha, theo thứ tự thấp dần của các vùng sinh thái như sau: TN ( Tây Nguyên)> ĐNB (Đông Nam Bộ) > BTB ( Bắc Trung Bộ)> DHMT >TB ( Tây Bắc) Khả năng phục hồi rừng thể hiện qua số cây tái sinh mục đích và cây
mẹ gieo trồng biến động rất lớn từ 58- 82% trên tất cả các vùng
Trang 232.2.2.2 Các nghiên cứu về thảm thực vật rừng trên núi đá vôi ở Việt Nam
Hệ sinh thái núi đá Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ có nguồn gốc phát sinh, phát triển trên nền đá mẹ là đá vôi, hình thành các kiểu thảm thực vật thường xanh, lá rộng, lá kim hoặc hỗn hợp lá giao rộng, lá kim cùng với
hệ động vật đặc thù mà không phải bất kì nơi nào cũng có Với diện tích 1.147.000 ha, hệ sinh thái núi đá vôi chiếm 6,1% tổng diện tích đất lâm nghiệp, nhưng trong đó chỉ có 396.200 ha rừng, còn lại núi đá vôi với cây bụi, hay hoàn toàn trơ trọc Mặc dù diện tích rừng của hệ sinh thái núi đá vôi chỉ chiếm 34,4% tổng diện tích núi đá vôi, nhưng tại đây, thời gian qua các nhà khoa học đã phát hiện được nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm, đặc hữu, trong đó đáng chú ý là một số loài mới cho khoa học, đặc biệt còn có một chi mới Hệ sinh thái núi đá vôi ko chỉ đóng góp to lớn cho khoa học mà còn có những đóng góp đáng kể về kinh tế Một số loại gỗ qúy như Nghiến
(Burretidendron tonkinense), Đinh (Markhamia stipulata), Lát hoa (
Chukrasia tabularis), Trai ( Garcinia fagraeoides), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Kim giao núi đá ( Nageia fleuryi)… chỉ có trên núi đá vôi Hệ sinh
thái núi đá vôi là nơi có nhiều loài cây cảnh, phần lớn thuộc họ Lan ( Orchidaceae), trong đó, đáng chú ý nhất là chi Lan hài ( Paphiopedilum)
Hệ thực vật vùng núi đá vôi mang tính chất pha trộn của nhiều luồng thực vật nhưng đặc trưng cơ bản là luồng thực vật bản địa Bắc Việt Nam –Nam Trung Hoa, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của nhiều luồng thực vật khác Thảm thực vật trên núi đá vôi Việt Nam phân bố không liên tục tập trung ở vành đai 300- 1200m so với mặt nước biển
Hệ thảm thực vật núi đá vôi phân bố theo độ cao theo “ Hệ sinh thái rừng tự nhiên Việt Nam” – Cẩm nang ngành lâm nghiệp ( 2006)[1] như sau: Rừng núi đá vôi ở đai thấp dưới 700m và rừng núi đá vôi ở đai cao 700 -1.000m
Trần Ngũ Phương (1970)[11] , đề cập đến rừng ở miền Bắc Việt Nam đã xếp rừng trên núi đá vôi vào: (1) Đai rừng nhiệt đới mưa mùa với kiểu rừng nhiệt
Trang 24đới lá rộng thường xanh núi đá vôi, kiểu này có 4 kiểu phụ thổ nhưỡng nguyên sinh1-2 tầng cây gỗ, trong đó Nghiến là loài cây ưu thế; (2) Đai rừng
á nhiệt đới mưa mùa với kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi, kiểu này
có 3 kiểu phụ 1 tầng, trong đó các loài Vân sam ( Keteeleria calcarea), Hoàng đàn (Cupressus terulus) và Kim giao ( Podocarpus latiofolia) chiếm ưu thế
Ngoài ra, theo Nguyễn Bá Thụ (1995)[8] , rừng trên núi đá vôi ở Cúc Phương được xếp vào quần hệ phụ rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa cây lá rộng trên đất thấp ( dưới 500m so với mặt nước biển) thoát nước phong hóa từ đá vôi và quần hệ phụ nay bao gồm 6 quần xã, trong đó các loại cây chính tham gia gồm Chò đãi, Sấu, Nhội, Vàng anh, Chò nhai, Sâng, Dẻ gai,
Re đá, Trường nhãn, Vải guốc, Mang cát, Hồng bì rừng và Ô rô
Trần Ngũ Phương (1970)[11] chỉ tiến hành phân loại rừng trên núi đá vôi ở trạng thái nguyên sinh, nên ở kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi Nghiến ( Burretidendron tonkinense), là loài cây giữ vai trò ưu thế Trong thực tế, phần lớn diện tích rừng trên núi đá vôi hiện nay đã bị tác động,
số lượng rừng và các loại cây ưu thế ở các rừng này đã bị thay đổi
Hệ thống phân loại rừng của UNESCO (1973) khá chi tiết và dễ dàng vận dụng thích hợp cho việc phân loại thảm thưc vật trong phạm vi một vùng khí hậu như phân loại thảm thực vật cho một Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên
Hệ thống phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng được xây dựng trên cơ sở học thuyết về hệ sinh thái của Tansley A.P (1935) và học thuyết sinh địa quần học của Sucasev (1957) theo nguyên lý “ sinh thái phát sinh thảm thực vật” Do vậy, lý luận của phân loại này hoàn toàn chặt chẽ và đáp ứng được thực tiễn, vì khả năng áp dụng dễ dàng Để xác định một kiểu rừng chính, theo Thái Văn Trừng, chỉ cần dựa vào 4 tiêu chuẩn là dạng sống
ưu thế, tàn che, hình thái sinh thái của lá và trạng mùa của tàn lá của tầng cây
Trang 25ưu thế sinh thái Mặt khác, hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng có thể áp dụng cho tất cả các thảm thực vật dù đó là rừng nguyên sinh hay rừng thứ sinh bị tác động, thậm chí là những khu nhân tạo do con người xây dựng Vì vậy,chúng tôi đã sử dụng các tiêu chuẩn phân loại rừng của Thái Văn Trừng
để tiến hành xác định các kiểu phụ và các QXTV rừng ở khu vực đánh giá của
đề tài
2.2.2.3 Các nghiên cứu liên quan đến ĐDSH trên núi đá vôi
Viện điều tra – Quy hoạch rừng ( 1965) cùng với Viện sinh thái tài nguyên sinh vật, Viện Dược Liệu,… đã tiến hành nghiên cứu mức độ đa dạng sinh vật, công tác quản lí bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng trên núi đá vôi ở Cao Bằng và một số địa phương khác ( Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001)[4]
Trong hai năm 1967 và 1968, Nguyễn Vạn Thường và đội 9 Lâm học –Viện Điều tra Quy hoạch ( Bộ Lâm Nghiệp) thực hiện chuyên đề điều tra rừng núi đá vôi tại một số khu vực thuộc tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Cao Bằng, Quảng Ninh Kết quả điều tra đã đưa ra nhận xét khái quát: sự biến đổi các đặc trưng lâm học của các quần thể rừng trên núi đá vôi miền Bắc Việt Nam có sự sai khác rõ rệt về cấu trúc ( ngay cả trong trạng thái rừng nguyên sinh) trên các dạng địa hình chủ yếu ( Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001)[4]
Báo cáo “ Đặc điểm tự nhiên rừng núi đá vôi Na Hang, Tuyên Quang”
đã đưa ra số liệu về diện tích và trữ lượng tài nguyên rừng núi đá vôi đồng thời xác định các đặc điểm chủ yếu của một số loài cây trên núi đá vôi như nghiến, Trai, Tre đinh, Đao, Báng,… và tình hình sâu bệnh hại trong vùng Ngoài ra, báo cáo này còn đưa ra một số nhận định về tái sinh của Nghiến, Trai lý… ( Dẫn Theo Bùi Thế Đồi, 2001)
Hoàng Kim Ngũ ( 1990 – 1998) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và khả năng gây trồng các loài cây như Nghiến, Mạy sao, Trai lý,
Trang 26Hoàng đàn, Mắc rạc, Xoan nhừ, Mắc mật… trên núi đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh vùng Tây Bắc Tuy nhiên do còn đang trong thời gian thử nghiệm đây chỉ là những khẳng định ban đầu về khả năng thành công của mô hình phục hồi rừng, đặc biệt là các mô hình của vùng Tây Bắc ( Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001)
Tại Phúc Sen, Cao Bằng, người dân địa phương ( chủ yếu là người Nùng Inh) đã tiến hành trồng rừng trên đất đá vôi bằng loài Mắc rạc Kết quả cho thấy, khả năng thành rừng khi trồng loài cây này rất cao, góp phần che phủ những diện tích đất trống và cung cấp chất đốt cho bà con Đây được xem
là những đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu phục hồi rừng trên núi đá vôi ( Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001)
Tài nguyên và ĐDSH trên núi đá vôi là một nguồn tài nguyên quý giá quan trọng đã tạo nên sự phong phú, đa dạng của các loài thực vật cũng như các hệ sinh thái rừng của Việt Nam Theo số liệu thống kê tài nguyên rừng năm 2003 của Viện điều tra quy hoạch rừng, diện tích rừng và đất rừng của Việt Nam là 18.866.473 ha, diện tích núi đá là 1.012.625 ha, phần lớn diện tích trên là núi đá vôi, chiếm gần 5,4% tổng diện tích đất lâm nghiệp cả nước Kết quả điều tra thành phần thực vật trên núi đá tương đối phong phú Thực vật phát triển đa dạng về thành phần loài bao gồm các loại cây lá kim và các loại cây
lá rộng Vùng Lạng Sơn có 104 họ với 365 loài,vùng Tuyên Quang – Hà Giang
có 149 họ với 1.049 loài, vùng Trường Sơn Bắc có 575 loài của 129 họ
Đánh giá tính đa dạng của thực vật trên núi đá vôi phía Đông Bắc Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên – Hữu Lung –Lạng Sơn, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự đã điều tra trong diện tích khoảng 48 km2 ,đã định được 554 loài, 334 chi, 124 họ của 5 loài thực vật bậc cao có mạch là : Thông đất –Licopodiophyta, Cỏ tháp bút –Equisetophyta, Dương xỉ -Polypodiophyta,
Trang 27Thông nghiệp ( Hạt trần) –Pinophyta (Gymnospermae), Mộc lan (Hạt kín) –Magnoliphyta ( Angiospermae)
Khi ngiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trên núi đá vôi tại 3 địa phương ở miền Bắc Việt Nam tác giả Bùi Thế Đồi ( 2001)[15] cho rằng: trong tất cả các quần xã thực vật rừng nghiên cứu tại 3 địa phương, chỉ có <10 loài cây tham gia trong công thức tổ thành, cao nhất ở Tân Hóa- Quảng Bình và thấp nhất là
ở Tự Do –Cao Bằng Các loài cây chính tham gia trong các QXTV rừng ở các địa phương khac nhau Tâng cây gỗ của các QXTV rưng Tân Hóa –Quảng Bình có chỉ số đa dạng sinh học lớn hơn so với ở Đa Phúc –Hòa Bình và Tự
Do –Cao Bằng Trong đó ở Tự Do ( Cao Bằng) thì Nghiến chiếm tỷ lệ tổ thành trên 20%
Năm 2005, tổ chức WWF đã tiến hành điều tra khảo sát về đa dạng thực vật tại những khu rừng ở Trung Trường Sơn, đã tiến hành quan sát và
mô tả các kiểu thảm thực vật chính và hệ thực vật dựa vào 3.550 mẫu vật thuộc 1.517 số hiệu đã thu thập và dự vào sự nghiên cứu thực vật ở các ô tiêu chuẩn, bao gồm các ô ở các loại cây gỗ và cây không phải gỗ Trong quá trình khảo sát đã ghi nhận được 869 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 489 chi
và 131 họ Trong số này có 64 loài đặc hữu địa phương, đặc hữu và gần đặc hữu, 15 loài có thể mới cho khoa học, và một số chi loài ghi nhận mới cho hệ thực vật Việt Nam Hệ thực vật của tất cả các điểm nghiên cứu là điển hình cho hệ thực vật ở đất thấp của tiểu vùng địa lý thuwcjvaatj Trung có sự phân
bố hẹp, tạo thành phần lõi chủ yếu, ( ít nhất 60%) của hệ thực vật ở thảm thực vật nguyên sinh Kết quả nghiên cứu các ô cho thấy ít nhất 80% số loại cây gỗ trong tất cả các ô của vùng nghiên cứu, từ rừng nguyên sinh chưa bị tác động đến bị khai thác nặng giống nhau và chỉ gồm các yếu tố tại chỗ Đó
là các loại cây gỗ thường xanh lá rộng: Hopea pierrei, Parashorea stellate,
Trang 28Canarium spp, Sindora tonkinensis, Palaquim spp, Artocarpus spp, Pometia pinnata, Paviaesia anamense…
2.2.2.4 Thảo luận và xác định vấn đề nghiên cứu của đề tài
Để xây dựng các biện pháp quản lý tài nguyên rừng phù hợp và gắn kết được mục tiêu bảo tồn với phát triển kinh tế -xã hội bền vững, các kiến thức
về đa dạng thực vật, về kiến thức, động thái và khả năng phát triển tự nhiên của các loài là hết sức quan trọng Các nghiên cứu liên quan đến việc đánh giá
sự đa dạng của hệ thực vật ở các Khu bảo tồn Nam Xuân Lạc đã thu được một
số kết quả nhất định Bước đầu đã lập được các danh mục các loài thực vật, trong đó xác định Khu bảo tồn thiên nhiên là quan trọng nhất của các loài thực vật thuộc ngành hạt kín, tập trung đến 92% số loài, trong đó có một số loài phân bố hẹp, là những đối tượng quý hiếm được ghi nhận trong sách đỏ Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng; cần có những đánh giá sâu về khu phân bố, đặc trưng cấu trúc quần xã Các tác giả cũng đã khuyến nghị cần có các đánh giá khách quan và sâu hơn để khẳng định tình trạng của tất cả các loài đã được ghi nhận tại Nam Xuân Lạc và nghiên cứu được khả năng tái sinh của các loài quan trọng Đa dạng thực vật là một lĩnh vực nghiên cứu rất rộng, các điều tra, đánh giá ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc mới tập trung đánh giá đa dạng về taxon, tức là thống kê sự đa dạng về ngành thực vật, số chi, số họ và số loài; và việc thống kê này mới chỉ mang tính chất tổng quát, chưa mang ý nghĩa bảo tồn cao, và mang tính khách quan cao
2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên tại khu vực nghiên cứu
2.3.1.1 Vị trí địa lý
Khu Bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc được UBND tỉnh Bắc Kạn phê duyệt tại Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/3/2004 với tổng diện tích tự nhiên là 1.788 ha nằm trên địa phận hai thôn Nà Dạ và Bản Khang
Trang 29thuộc xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn 35 km
- Phía Đông giáp thôn Nà Áng xã Đồng Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn;
- Phía Nam giáp thôn Phia Khao và thôn Khuổi Kẹn xã Bản Thi huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
KBT Nam Xuân Lạc nằm trong tọa độ địa lý:
- Từ 22o17’-22o19’ 120 45' - 130 10' vĩ độ Bắc;
- Từ 105o28’-105o33’E kinh độ Đông
Với diện tích 1.788 ha và chứa đựng hàng loạt các giá trị đa dạng sinh học có ý nghĩa quốc tế bao gồm cả những khu rừng đá vôi có chất lượng cao cuối cùng giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (tỉnh Tuyên Quang) và KBT NXL Quốc gia Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn)
2.3.1.2 Đặc điểm tự nhiên
2.3.1.2.1 Đặc điểm địa hình và địa mạo
Khu Bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, chủ yếu là rừng trên núi đá vôi ở miền bắc Việt Nam, với độ cao trung bình từ 400 m đến 800 m so với mực nước biển, đỉnh Tam Sao cao nhất 1.159 m và chia thành 2 vùng rõ rệt:
- Vùng núi đá: Đây là vùng rừng phân bố tập trung trên núi đá vôi, nơi
có địa hình phức tạp, gồm nhiều đỉnh núi cao, dốc lớn từ 25 ÷ 300, có nơi đến
450, tài nguyên rừng khu vực này nhìn chung là ít bị tác động bởi người dân địa phương
Trang 30- Vùng núi đất: Nằm tập trung ở các thung lũng giữa các đỉnh núi cao, độ cao trung bình từ 400 ÷ 600 m, vùng này có tiềm năng để phát triển nông - lâm nghiệp 2.3.1.2.2 Đặc điểm địa chất và thổ nhưỡng
Địa chất có nguồn gốc trầm tích với các sản phẩm chủ yếu là kết von cùng với đá vôi khó phong hoá Khu vực này còn tiếp giáp với khu quặng (Chì
và Kẽm) hiện đang được khai thác
Trong khu vực gồm có hai nhóm đất chính sau:
- Đất thung lũng dốc tụ: hình thành ở các thung lũng thấp giữa các dãy núi, hứng các sản phẩm xói mòn rửa trôi từ trên xuống, đất tốt tầng đất dày
- Đất nâu đỏ trên núi đá vôi: tầng đất dày tơi xốp, đất có hàm lượng dinh dưỡng cao, tầng đất mỏng
2.3.1.2.3 Đặc điểm khí hậu
Theo số liệu thống kê của trạm Khí tượng thuỷ văn huyện Chợ Đồn - Bắc Kạn thì Khu bảo tồn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10 Mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
- Nhiệt độ: Trung bình năm dao động từ 20-22oC Nhiệt độ tối cao:
30oC, tối thấp 4oC Nhiệt độ trung bình mùa đông là 11oC, mùa hè 25oC
- Mưa: Lượng mưa trung bình năm từ 1.153 - 1.528 mm Tập trung chủ yếu vào tháng 6 và tháng 7 trong năm, tháng có lượng mưa lớn nhất đạt trên
320 mm Mùa khô lượng mưa trung bình không vượt quá 60 mm/tháng
- Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình khoảng 1450 giờ/năm
- Gió: Hướng gió thịnh hành vào mùa hạ là hướng Đông - Nam, về mùa đông là hướng Đông - Bắc Tốc độ gió trung bình đạt 1m/s, song vào những lúc có dông, bão tốc độ gió có thể đạt 27-28 m/s
- Độ ẩm không khí: Dao động khoảng 75 - 82%, cao nhất là 88% tập trung vào tháng 7 trong năm
- Sương muối: Thường xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau nhưng mức độ không cao, ít gây ảnh hưởng đến sản xuất nông-lâm nghiệp
Trang 312.3.1.2.4 Đặc điểm thủy văn
Trong khu vực có 1 con suối chính bắt nguồn từ xã Sơn Phú, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang chảy theo hướng Tây Bắc qua các thôn Nà Dạ, Bản Eng, Bản Tưn… của xã rồi đổ ra hồ Ba Bể, có chiều dài khoảng 9 km Ngoài
ra còn suối Tả Han và các khe nhỏ bắt nguồn từ các đỉnh núi đổ vào suối Tả Han Do hiện tượng Cáxtơ nên một số khe, suối chảy ngầm trong lòng núi đá
2.3.2.Khái quát về tài nguyên rừng khu vực đánh giá
2.3.2.1 Diện tích rừng
Khu Bảo tồn loài sinh cảnh Nam Xuân Lạc có 1.788,0 ha đất lâm nghiệp
có rừng nằm trên địa phận 2 thôn, bao gồm thôn Bản Khang với 1.001,0 ha thuộc tiểu khu (254, 255) và thôn Nà Dạ với 787,0 ha thuộc tiểu khu 257 thuộc
xã Xuân Lạc
Diện tích rừng của khu bảo tồn được phân bỗ ở 2 phân khu, đó là:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt với 1.646,0 ha, trong đó rừng phục hồi 449,3 ha, rừng hỗn giao nứa/vầu và gỗ 317,3 ha, rừng nghèo 680,4 ha và rừng trên núi đá 199,0 ha
- Phân khu phục hồi sinh thái với 142,0 ha, trong đó rừng phục hồi 77,9
ha và rừng hỗn giao 64,1 ha
Diện tích rừng thuộc khu bao tồn phân theo trạng thái được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.1 Diện tích rừng khu bảo tồn phân theo trạng thái
Trang 322.3.2.2 Trữ lượng rừng
Theo báo cáo tổng thể quy hoạch Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 2012, hệ sinh thái (HST) rừng ở khu bảo tồn đã bị suy giảm nhiều về chất lượng, các trạng thái rừng IIIA2, IIIA3 còn nhiều và phân bố tập trung trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Khu bảo tồn Rừng nguyên sinh chưa bị tác động đều đạt từ trạng thái rừng IIIb trở lên vớiởit ưữ lư ơợng trên 200m3/ha Các loài cây gỗ phổ biến gồm những cây cao trên 30m, đường kính 70 đến 80
cm, nhiều cây đến trên 100 cm, mật độ 15 - 20 cây/ha Rừng có tán đứt quãng không liên tục, độ tàn che 0,3 - 0,5 Các loài thường gặp gồm Nghiến
(Exentrodendron tonkinense), Trai (Garcinia fragraeoides), Sâng (Pometia
pinnata), Giổi (Michelia sp.), Gội (Aglaia dasyclada, Aglaia spectabilis), Quếch
(Chisocheton paniculatus)
Rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác kiệt phân bố ở khu vực chân và sườn núi, nơi gần các khu dân cư hay đường đi lại thuận lợi Do tác động của khai thác, trữ lượng của kiểu rừng này không cao từ 80 - 110m3/ha
Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy là những khoảnh nhỏ phân bố ở vùng chân núi liền kề với rừng nguyên sinh hay rừng thứ sinh bị khai thác kiệt Rừng có 1 tầng cây gỗ, 1 tầng cây bụi và thảm tươi, tầng cây gỗ cao 6 – 8
m, đường kính 10 – 15 cm, mật độ 500 – 600 cây/ha, độ tàn che 0,5 - 06