Sự nghiệp CNH-HĐH đất nước có sự đóng góp không nhỏ của sự phát triển của các Khu công nghiệp KCN, với cơ chế hoạt động riêng, đặc biệt là khối Doanh nghiệp DN hoạt động trong đó, với nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM THỊ THANH HƯƠNG
MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐẠI BÀN TỈNH
HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM THỊ THANH HƯƠNG
MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐẠI BÀN TỈNH
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP, TÍN DỤNG NHTM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 6
1.1 Khái niệm và đặc điểm khu công nghiệp, doanh nghiệp trong các khu công nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm khu công nghiệp 6
1.1.2 Sự cần thiết của KCN đối với phát triển kinh tế, đảm bảo môi trường 7
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp trong KCN 10
1.2 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp trong khu CN 12
1.2.1 Khái niệm, bản chất của tín dụng ngân hàng 12
1.2.2 Hình thức tín dụng và chức năng của tín dụng 14
1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường 20
1.2.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp trong khu công nghiệp 22
1.2.5 Chỉ tiêu đánh giá việc mở rộng tín dụng của ngân hàng và chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp trong khu CN 24
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư tín dụng của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp trong khu Công Nghiệp 27
1.3.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng 27
1.3.2 Các nhân tố thuộc về KCN và doanh nghiệp khu công nghiệp 29
1.3.3 Các nhân tố khác 31
Trang 41.4 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về phát triển các khu CN và đầu
tư tín dụng cho doanh nghiệp trong khu CN 32
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 32
1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 37
2.1 Khái quát tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương 37
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên- xã hội tỉnh Hải Dương 37
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương 37
2.1.3 Hoạt động của KCN và doanh nghiệp trong KCN ở Hải Dương 39
2.1.4 Chính sách thu hút đầu tư vào KCN của chính quyền tỉnh Hải Dương 45 2.2 Thực trạng hoạt động ngân hàng và tín dụng doanh nghiệp trong KCN tại các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh Hải Dương 47
2.2.1 Khái quát về các Ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hải Dương 47
2.2.2 Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp trong KCN tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Hải Dương 53
2.3 Những mặt hạn chế trong hoạt động tín dụng ngân hàng đối với DN trong KCN ở Hải Dương thời gian qua 65
2.3.1 Hạn chế về mặt kết quả 65
2.3.2 Vấn đề tài sản đảm bảo có tính chất quyết định trong việc cấp tín dụng 65
2.4 Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động tín dụng 66
2.4.1 Nguyên nhân thuộc về ngân hàng 66
2.4.2 Nguyên nhân thuộc về các doanh nghiệp trong KCN 73
2.4.3 Nguyên nhân thuộc về môi trường 75
Trang 5CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG KHU CN TẠI CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI
DƯƠNG 79
3.1 Định hướng mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp trong các khu CN tại các Ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hải Dương 79
3.1.1 Định hướng phát triển các khu CN và doanh nghiệp trong khu CN của Đảng và Nhà nước 79
3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương 81
3.1.3 Những định hướng về hoạt động ngành ngân hàng đến năm 2015 và những năm tiếp theo 83
3.2 Các giải pháp tầm vĩ mô để tạo điều kiện cho các NHTM mở rộng tín dụng đối với các DN trong khu CN 85
3.2.1 Xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, hiệu quả 85
3.2.2 Nâng cao chất lượng môi trường thông tin 86
3.2.3 Giải pháp thu hút đầu tư vào các KCN Hải Dương 87
3.3 Giải pháp ở tầm vi mô để các NHTM mở rộng tín dụng đối với DN trong KCN trên địa bàn tỉnh Hải Dương 90
3.3.1 Nhóm giải pháp để tăng huy động vốn 90
3.3.2 Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản trị điều hành của các NHTM 92
3.3.3 Nhóm giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với DN trong KCN 93
3.3.4 Giải pháp đối với DN trong các KCN nhằm tạo điều kiện cho các NHTM mở rộng tín dụng cho các DN trong KCN một cách hiệu quả 107
3.4 Kiến nghị 109
3.4.1 Kiến nghị với các NHTM cấp trên 109
3.4.2 Kiến nghị đối với chi nhánh NHNN tỉnh Hải Dương 110
Trang 63.4.3 Kiến nghị với Ban quản lý các KCN Hải Dương 110
3.4.4 Kiến nghị UBND tỉnh Hải Dương 111
3.4.5 Kiến nghị với các cấp Trung ương 112
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
03 CNH-HĐH Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
09 DNKCN Doanh nghiệp trong khu công nghiệp
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số dự án và vốn đăng ký vào các KCN qua các năm gần đây 42
Bảng 2.2 Tình hình thu hút các dự án vào KCN đến 31/12/2014 43
Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN trong KCN (theo giá hiện hành) 44
Bảng: 2.4 Nguồn vốn huy động (nguồn vốn kinh doanh) của các TCTD tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010-2014 49
Bảng 2.5 Vốn huy động tại địa phương của các TCTD tỉnh Hải Dương 50
Bảng 2.6 Tỷ lệ vốn trung, dài hạn huy động trên địa bàn so với dư nợ trung, dài hạn 51
Bảng 2.7 Dư nợ cho vay nền kinh tế giai đoạn 2010-2014 tỉnh Hải Dương 51 Bảng 2.8 Tình hình cho vay và dư nợ đối với các DN trong các KCN 54
Bảng 2.9 Tỷ trọng dư nợ DN trong KCN trong tổng dư nợ toàn tỉnh 55
Bảng 2.10 Thu nhập từ lãi cho vay DN trong KCN so toàn tỉnh 56
Bảng 2.11 Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay DN trong KCN tỉnh Hải Dương 56
Bảng 2.12 Các hình thức cho vay DN trong KCN 57
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Với việc gia nhập WTO (World Trade Organization), cùng với việc tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ VI khởi xướng Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong việc thực hiện tiến trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, hội nhập vào nền kinh tế thế giới nhằm mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Sự nghiệp CNH-HĐH đất nước có sự đóng góp không nhỏ của sự phát triển của các Khu công nghiệp (KCN), với cơ chế hoạt động riêng, đặc biệt là khối Doanh nghiệp (DN) hoạt động trong đó, với nhiều lợi thế, ưu đãi và cơ chế thông thoáng, đã thu hút một lượng lao động lớn trong xã hội, tạo ra tổng sản phẩm quốc nội cho nền kinh tế và nguồn thu đáng kể cho ngân sách quốc gia
Các khu công nghiệp ngày càng được đánh giá cao thể hiện sự quan tâm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp hoạt động trong đó bên cạnh được hưởng các chính sách ưu đãi của địa phương, chính sách ưu đãi của khu công nghiệp giành cho nhưng trên thực tế, các Doanh nghiệp trong KCN còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cần được tháo
gỡ như về cơ chế chính sách, trình độ năng lực quản lý của bản thân doanh nghiệp cũng như kỹ năng lành nghề của người lao động, trình độ công nghệ, khả năng thích ứng trong môi trường hội nhập kinh tế thế giới và khó khăn lớn nhất là thiếu năng lực tài chính để mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh những nguyên nhân trên đã là lực cản để phát triển một cách tối ưu các Doanh nghiệp
Hướng tới các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp là bước đi của nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) bởi vì mở rộng tín dụng cho các DN
Trang 10đó không chỉ giúp các Ngân hàng thương mại chiếm lĩnh thị phần tín dụng
từ đó mở rộng các dịch vụ ngân hàng đi kèm mà còn nâng cao trình độ thẩm định, nâng cao năng lực tài chính, nâng cao vị thế của ngân hàng trên thương trường
Hải Dương nằm trong trục kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh nên rất thuận tiện để hình thành và phát triển các Khu công nghiệp Hiện nay, tỉnh Hải Dương đã được Chính phủ cho phép quy hoạch và đầu tư xây dựng 10 khu công nghiệp tập trung, với diện tích quy hoạch 2.617 ha (trong đó diện tích đất quy hoạch xây dựng các nhà máy công nghiệp gần 2000 ha) Các khu công nghiệp trải khắp các địa phương trong tỉnh, trong đó có hàng trăm doanh nghiệp đủ các ngành nghề hoạt động, chiếm 36,15% giá trị sản xuất công nghiệp, 65,14% giá trị xuất khẩu toàn tỉnh, đóng góp 18,2% ngân sách địa phương và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh nhà
Đối với các Ngân hàng trên địa bàn, Hải Dương hiện có 22 chi nhánh cấp I của các ngân hàng thương mại nhà nước và cổ phần, 01 Ngân hàng HTX và 88 điểm giao dịch hoạt động, Doanh nghiệp trong các khu công nghiệp được nhắc đến như một đối tượng khách hàng quan trọng, thể hiện
rõ trong kế hoạch kinh doanh hàng năm nhưng hiện nay dư nợ cho vay các
DN đó còn rất khiêm tốn, chưa đáp ứng được nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, nhu cầu cải tiến, đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của chính bản thân doanh nghiệp Để thực hiện được chiến lược đó nhằm mở rộng tín dụng đối với Doanh nghiệp trong các khu công nghiệp thì việc chuyên nghiệp hoá, đổi mới phương pháp cho vay DN được đặt ra như một vấn đề cấp bách Xuất phát từ quan điểm và thực trạng hoạt động của các DN trong Khu công nghiệp cũng như tình hình hoạt động của các Ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hải Dương khi nghiên cứu lý luận và thực tế
Trang 11tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp
trong Khu công nghiệp của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, để làm luận văn thạc sỹ, với mong muốn được đóng góp
một phần suy nghĩ của mình vào sự phát triển của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp trên địa bàn
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về Khu công nghiệp, doanh nghiệp trong khu công nghiệp, đồng thời làm rõ tín dụng ngân hàng đối với
DN trong khu công nghiệp, trong nền kinh tế quốc dân
- Phân tích thực trạng hoạt động của các khu công nghiệp, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương, tình hình đầu tư vốn của các Ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hải Dương đối với DN đó, những khó khăn, vuớng mắc, thành tựu đạt được Tình hình phát triển của các khu công nghiệp và các DN trong khu công nghiệp ở một số nước trên thế giới, vận dụng những kinh nghiệm của các nước vào Việt Nam
- Đề ra các giải pháp tín dụng, các kiến nghị với các cơ quan hữu quan
để có một chính sách tốt, đồng bộ cho việc hình thành và phát triển DN trong các KCN
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu
- Bộ phận kinh tế DN trong các khu công nghiệp
- Công tác quản lý, huy động và đầu tư vốn cho phát triển DN trong các KCN của NHTM trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Trang 12trên địa bàn tỉnh Hải Dương
- Công tác đầu tư vốn tín dụng của các Ngân hàng đối với các DN trong khu công nghiệp trên địa bàn, giai đoạn từ năm 2010 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu khoa học logíc dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đi từ các khái niệm, đặc trưng, vai trò của đối tượng nghiên cứu, thực trạng của đối tượng đang nghiên cứu để tìm các nhóm giải pháp có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm thúc đẩy cho sự hình thành và phát triển khu công nghiệp và các doanh nghiệp trong khu công nghiệp
Dùng một số bảng biểu số liệu, các biểu đồ để diễn tả qui mô, tốc độ phát triển loại hình DN, tình hình huy động vốn và cho vay của các Ngân hàng trên địa bàn Hải Dương đối với DN trong các KCN trên địa bàn
5 Những đóng góp chủ yếu của đề tài:
Làm rõ những nội dung cơ bản về khu công nghiệp, doanh nghiệp trong khu công nghiệp và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường cũng như một
số nội dung cơ bản về tín dụng của NHTM
Đánh giá khách quan thực trạng đầu tư tín dụng của các NHTM đối với
DN trong các KCN trong 5 năm từ năm 2010 đến 2014, tìm ra những ưu điểm, nêu lên những hạn chế và nguyên nhân cụ thể trong mở rộng tín dụng đối với DN tại các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh Hải Dương Xây dựng các nhóm giải pháp nhằm mở rộng tín dụng đối với Doanh nghiệp trong KCN tại các ngân hàng thương mại tỉnh Hải Dương trong thời gian tới Đồng thời đề xuất một số kiến nghị với Nhà nước, NHNN Việt Nam, các Ngân hàng cấp trên, lãnh đạo tỉnh Hải Dương để tạo điều kiện cho những giải pháp trên phát huy tác dụng trong thực tiễn
Trang 136 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về khu công nghiệp, tín dụng ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp trong Khu Công Nghiệp
Chương 2: Thực trạng tín dụng đối với doanh nghiệp trong Khu Công Nghiệp tại các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Chương 3: Giải pháp tín dụng đối với doanh nghiệp trong Khu Công Nghiệp của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP, TÍN DỤNG NHTM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Khái niệm và đặc điểm khu công nghiệp, doanh nghiệp trong các khu công nghiệp
1.1.1 Khái niệm khu công nghiệp
Lịch sử hình thành và phát triển KCN của nhiều nước trên thế giới có những nét đặc thù khác nhau, tuỳ theo điều kiện mỗi nước, nhưng cho đến nay trên thế giới có hai mô hình phát triển KCN và vì thế cũng hình thành hai khái niệm về KCN:
Một là, theo nghĩa hẹp, KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định ở
đó tập trung các xí nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống
Hai là, theo nghĩa rộng, cho rằng KCN là danh từ chung để chỉ một khu
vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, nhà ở Thực chất, KCN theo quan niệm này là khu hành chính kinh tế Các hình thức biểu hiện cụ thể của KCN như: Khu chế xuất, khu công nghệ kỹ thuật cao, khu công nghiệp tập trung
Khu chế xuất là một khu công nghiệp chuyên sản xuất phần lớn sản phẩm để xuất khẩu, có ranh giới hành chính rõ rệt, được hưởng một quy chế pháp lý và những ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút đầu tư nước ngoài để sản xuất, chế tạo hàng xuất khẩu và tiến hành các dịch vụ và hoạt động kinh tế hỗ trợ cho sản xuất hàng xuất khẩu và cho xuất khẩu
KCN tập trung là một khu vực tập trung công nghiệp trên một lãnh thổ nhất định Một KCN có thể là một cụm công nghiệp hoặc nhiều cụm công
Trang 15nghiệp
KCN kỹ thuật cao, tập trung những DN công nghiệp thuộc những ngành nghề sản xuất có hàm lƣợng khoa học công nghệ cao và những cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ, nhờ đó quan hệ giữa nghiên cứu và ứng dụng triển khai đƣợc tổ chức có hiệu quả
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ giới hạn việc phân tích KCN theo nghĩa hẹp Theo nghĩa này, KCN chỉ giới hạn cho một khu vực có ranh giới địa lý xác định, tập trung các dự án sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, không có dân cƣ sinh sống, trong KCN có thể thành lập các DN xuất khẩu
KCN theo nghĩa trên cũng phù hợp với khái niệm về KCN đƣợc quy định trong nghị định 29/2008/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14/3/2008
về quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế
“KCN là khu tập trung chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục theo quy định”
1.1.2 Sự cần thiết của KCN đối với phát triển kinh tế, đảm bảo môi trường
Khu công nghiệp là một hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp mang tính khách quan gắn với phát triển vùng lãnh thổ một cách hợp lý, hiệu quả
Vì vậy KCN có một vị trí quan trọng trong việc thực hiện chiến lƣợc phát triển vùng, lãnh thổ Quy hoạch sản xuất gắn với phát triển đô thị nên vai trò của KCN trong tiến trình CNH-HĐH nhƣ sau :
Một là : KCN đóng vai trò tiên phong trong sự nghiệp phát triển nền
kinh tế quốc dân
- KCN đƣợc coi là nơi thử nghiệm chính sách kinh tế mới, tốt nhất, đặc biệt là các chính sách kinh tế đối ngoại và là đầu tầu tiên phong trong sự nghiệp phát triển kinh tế quốc dân
Trang 16- KCN là trọng điểm kinh tế của địa phương, đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, mở mang các ngành nghề mới, tạo việc làm cho người lao động, thu hút nguồn lao động sẵn có ở địa phương Việc xây dựng các KCN có thể làm thay đổi cả diện mạo một vùng kinh tế, tạo điều kiện để dân cư tiếp cận với một nền công nghiệp hiện đại, làm thay đổi tập quán sinh hoạt địa phương Các KCN được xây dựng sẽ hình thành nên các khu dân cư,
đô thị mới, kéo theo những dịch vụ mới cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng
- Phát triển các KCN sẽ là đầu tầu tăng trưởng thúc đẩy các ngành khác phát triển Đồng thời với sự xuất hiện của các KCN với nhiều ưu đãi buộc các doanh nghiệp ngoài KCN sẽ phải tính toán đến hiệu quả kinh tế để chuyển vào trong KCN Việc quy tụ các doanh nghiệp vào trong KCN sẽ hạn chế sự lãng phí đất, giúp cho địa phương có thể tập trung nguồn vốn để phát triển các
cơ sở hạ tầng trong các KCN, thu hút vốn đầu tư, giảm chi phí khai thác thị trường
Hai là: KCN là nơi tiếp nhận, chuyển giao và áp dụng có hiệu quả
những thành tựu của khoa học công nghệ
- Các KCN là nơi tiếp nhận chuyển giao và áp dụng có hiệu quả những thành tựu phát triển của khoa học công nghệ, áp dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ
- Phát triển các KCN tập trung là phương thức tốt nhất nhằm tập trung nguồn lực vào một „Vùng lãnh thổ‟ tạo ra cơ hội giúp cho các doanh nghiệp giảm thiểu các chi phí sản xuất, kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ trên thị trường
Ba là: Tạo hiệu quả về kinh tế xã hội
- Với những ưu đãi về giá thuê đất, về chính sách tài chính linh hoạt và các thủ tục tài chính đơn giản, thuận lợi sẽ là lợi thế cho các chủ đầu tư về giảm chi phí đầu tư, chi phí sản xuất kinh doanh và các chi phí hành chính
Trang 17khác
- KCN phát triển sẽ tạo điều kiện dẫn dắt công nghiệp phụ trợ, các dịch
vụ cần thiết từ từ dịch vụ công nghiệp, tài chính, ngân hàng, cung cấp nguyên liệu đến dịch vụ lao động trong KCN Đồng thời, việc thu hút lao động tạo nên khu dân cư tập trung, hình thành các đô thị, thành phố công nghiệp, giúp phân bố và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực của địa phương
- Phát triển các KCN là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả vốn đầu
tư Đối với Việt Nam do thiếu vốn chưa cho phép cùng một lúc hoàn thiện toàn bộ cơ sở hạ tầng vì vậy việc xây dựng và phát triển các KCN là một giải pháp tốt nhằm tập trung nguồn lực vốn rất hạn hẹp vào một số khu vực trọng điểm có nhiều lợi thế hơn các khu vực khác trên địa bàn lãnh thổ
Bốn là: Tạo việc làm cho người lao động
- Phát triển KCN sẽ tạo nhiều chỗ làm việc cho các khu vực có KCN, mặt khác các KCN vữa là nơi du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và học tập kinh nghiệm quản lý, vừa là môi trường đào tạo ra những người quản lý có trình độ cao, có bản lĩnh và kinh nghiệm, những công nhân có tay nghề cao, tác phong công nghiệp do được tiếp xúc với những dây chuyền công nghệ tiên tiến với kỹ thuật cao buộc người lao động phải tự rèn luyện và không ngừng học hỏi nâng cao trình độ
Năm là: KCN hình thành và phát triển sẽ là cầu nối hội nhập kinh tế
trong nước và kinh tế quốc tế Sự hình thành và phát triển các KCN có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước, phát huy tác dụng lan toả, dẫn dắt Mặt khác, các KCN còn là nơi sản xuất hàng hoá xuất khẩu hướng ra thị trường thế giới, là cửa ngõ khai thông kinh tế trong nước với bên ngoài, góp phần đẩy nhanh quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế, hội nhập vào nền kinh tế quốc tế
Sáu là: Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế KCN hình thành và phát
Trang 18triển góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, làm tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp của cả nước và điạ phương có KCN
KCN phát triển sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường trong và ngoài nước, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng, đổi mới trang thiết bị, tích luỹ thêm kinh nghiệm, làm ăn có hiệu quả
Bảy là: Góp phần đảm bảo môi trường Các KCN thường có nhà máy xử
lý nước thải tập trung cho cả KCN, do vậy vấn đề môi trường sẽ được giải quyết
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp trong KCN
1.1.3.1 Khái niệm doanh nghiệp trong KCN
Doanh nghiệp trong KCN được hiểu là các doanh nghiệp được thành lập
và hoạt động trong KCN và các cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động trong KCN
Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN bao gồm: các DN sản xuất KCN, các DN dịch vụ KCN và các DN chế xuất
- DN sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN
- DN dịch vụ KCN thực hiện các công trình kết cấu hạ tầng KCN và dịch sản xuất công nghiệp
- DN chế xuất là DN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu
Ngoài các đối tượng trên, trong KCN còn có các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc quyền sở hữu của các DN được thành lập và hoạt động ngoài KCN Các DN này hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực và có đầu tư xây
Trang 19dựng xí nghiệp hoặc nhà máy trong KCN
Loại hình DN trong KCN: trong KCN thường đa dạng các loại hình doanh nghiệp: như DNNVV, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp 100% nước ngoài, doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc
1.1.3.2 Vai trò của doanh nghiệp trong KCN
Thứ nhất, Doanh nghiệp trong KCN đóng góp đáng kể vào tổng sản
phẩm quốc dân và nguồn thu ngân sách nhà nước; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm nghèo đói và bất bình đẳng khu vực Thực tiễn các địa phương trong toàn quốc, đặc biệt là các khu vực có các KCN phát triển, DN trong KCN đã chiếm phần lớn tỷ trọng sản xuất công nghiệp của địa phương cũng như đóng góp vào ngân sách nhà nước như tại Bình Dương các DN trong KCN đóng góp 66,4% giá trị sản xuất công nghiệp, 67% tổng thu ngân sách địa phương và chiếm tỷ trọng 72,1% giá trị hàng xuất khẩu
Thứ hai, Doanh nghiệp trong khu CN góp phần giải quyết việc làm, tăng
thu nhập cho người lao động, hạn chế các tệ nạn xã hội Các DN trong KCN với nhiều loại hình, hình thức sản xuất, một số DN chuyên gia công, lắp ráp sản phẩm nên trình độ lao động không cần cao đã giải quyết được phần lớn lao động địa phương, những người đã bị mất đất sản xuất, từ đó hạn chế việc
“ăn không ngồi rồi” gây các tệ nạn xã hội
Thứ ba, Doanh nghiệp trong khu CN cung cấp hàng hoá, dịch vụ phong
phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu Giúp tăng khả năng chịu đựng của nền kinh tế về cán cân xuất nhập khẩu Các ngành nghề trong KCN rất phong phú, đa dạng đã đáp ứng phần lớn nhu cầu tiêu dùng, đặc biệt hầu hết các công ty nước ngoài hoạt động trong KCN, sản phẩm đều dành cho xuất khẩu nên đã thu về một lượng lớn ngoại tệ, đáp ứng cán cân thanh toán quốc tế của cả nền kinh tế
Thứ tư, sự phát triển của các Doanh nghiệp trong khu CN góp phần khôi
Trang 20phục, giữ gìn và phát triển các làng nghề truyền thống đồng thời giải quyết tốt vấn đề môi trường Một số địa phương (trong đó có cả Hải Dương) có xu hướng tập trung các làng nghề truyền thống, gây ô nhiễm về các KCN tập trung để duy trì và xử lý ô nhiễm
Thứ năm, sự phát triển của các Doanh nghiệp trong khu CN góp phần
làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn Sự hoạt động của các DN có vốn đầu tư nước ngoài, các DN liên doanh đã biến nền công nghiệp hoạt động một cách chuyên nghiệp hơn, bài bản hơn và năng động hơn, do được tiếp thu với công nghệ, phong cách quản lý hiện đại
1.2 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp trong khu CN
1.2.1 Khái niệm, bản chất của tín dụng ngân hàng
1.2.1.1 Khái niệm tín dụng:
Thuật ngữ tín dụng xuất phát từ chữ La-tinh: Creditium, có nghĩa là tin
tưởng, sự tín nhiệm (trong tiếng Anh: Credit; tiếng Pháp: Crédit) Theo thuật ngữ dân gian Việt Nam tín dụng có nghĩa là sự vay mượn
Tín dụng xuất phát từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động
và trao đổi hàng hoá Trong quá trình trao đổi hàng hóa đã hình thành những
sự kiện nợ nần lẫn nhau, phát sinh những quan hệ vay mượn để thanh toán Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa hẹp tín dụng là một quan hệ kinh tế hình thành trong quá trình chuyển quyền sử dụng tiền tệ từ tổ chức này sang tổ chức khác hay từ người này sang người khác, theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định
Nói cách khác, tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời gian nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng, nói theo ngôn ngữ kinh tế là tiền lãi
Trang 21Trong thực tế tín dụng hoạt động rất phong phú và đa dạng, nhưng dù ở bất cứ dạng nào đi nữa thì tín dụng vẫn luôn là một quan hệ kinh tế của nền sản xuất và trao đổi hàng hoá, nó tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại
và phát triển của những quan hệ hàng hoá, tiền tệ Mục đích và tính chất của tín dụng do mục đích và tính chất của nền sản xuất hàng hóa trong xã hội quyết định Sự vận động của tín dụng luôn luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan của phương thức sản xuất trong xã hội đó
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm tổng quát về tín dụng như sau: Tín
dụng là một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả (cả vốn và lãi) sau một thời gian nhất định
1.2.1.2 Bản chất của tín dụng
Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay Giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, hoặc hàng hoá Quá trình vận động đó thể hiện khái quát qua 3 giai đoạn
- Giai đoạn 1: Phân phối vốn tín dụng dưới hình thức cho vay Ở giai
đoạn này, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hóa được chuyển từ người cho vay sang người đi vay Như vậy, khi cho vay, giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay, đây là đặc điểm cơ bản khác với việc mua bán hàng hóa thông thường Bởi vì, trong quan hệ mua bán hàng hóa thì giá trị chỉ thay đổi hình thái tồn tại Ở đây người bán và người mua cả hai đều có một giá trị như trước, giá trị mà họ đã nhượng đi, người thứ nhất thì nhượng đi dưới hình thái hàng hoá, người thứ hai nhượng đi dưới hình thái tiền tệ Còn trong việc cho vay, chỉ có một bên nhận được giá trị và cũng một bên nhượng
đi giá trị mà thôi
- Giai đoạn 2: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất Sau
khi nhận được giá trị vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị
Trang 22đó để thoả mãn một mục đích nhất định ở giai đoạn này, vốn vay được sử dụng trực tiếp nếu vay bằng hàng hoá; hoặc vốn vay được sử dụng để mua hàng hoá; nếu vay bằng tiền để thoả mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của người đi vay Tuy nhiên, người đi vay không có quyền sở hữu giá trị đó mà chỉ được quyền sử dụng trong một thời gian nhất định
- Giai đoạn 3: Sự hoàn trả của tín dụng Đây là giai đoạn kết thúc một
vòng tuần hoàn của tín dụng Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở thành hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại người cho vay
Sự hoàn trả tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là dấu hiệu phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác Mặt khác, sự hoàn trả của tín dụng là quá trình quay trở về của giá trị Hình thái vật chất của sự hoàn trả là sự vận động dưới hình thái hàng hóa hoặc giá trị Tuy nhiên, sự vận động đó không phải với tư cách một lượng giá trị được vận động ban đầu, mà với một lượng giá trị lớn hơn Chính vì thế, sự hoàn trả luôn luôn phải được bảo tồn về mặt giá trị và có phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức
1.2.2 Hình thức tín dụng và chức năng của tín dụng
1.2.2.1 Các hình thức tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng hoạt động rất đa dạng
và phong phú Người ta thường dựa vào các tiêu thức sau đây để tiến hành phân loại tín dụng
a Căn cứ vào thời hạn tín dụng: dựa vào tiêu thức này tín dụng được chia làm 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng,
thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ,
Trang 23tiêu dùng của nhân dân
- Tín dung trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 1 năm đến 5
năm Loại tín dụng này được dùng dể cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đối mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên Loại
tín dụng này dùng đến cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cai tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn
b Căn cứ vào đối tượng tín dụng: Căn cứ vào tiêu thức này tín dụng được phân chia thành 2 loại:
- Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được cung cấp để bổ sung
vốn lưu động của DN, cá nhân hoặc cho vay để bù đáp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời
- Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được cung cấp nhằm bổ sung
vốn cố định của DN, cá nhân Loại tín dụng này, thường dùng để cho vay phục vụ việc mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng xí nghiệp và công trình mới Thời hạn cho vay loại tín dụng này là trung hạn và dài hạn
c Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng: Dựa vào tiêu thức này tín dụng được chia làm 2 loại:
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: Đây là loại tín dụng được
cung cấp cho các nhà SXKD để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá
- Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng đối với các cá nhân để đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng Loại tín dụng này, thường được cung cấp cho việc mua sắm, sửa chữa nhà cửa, phương tiện sinh hoạt cho cá nhân, gia đình
Trang 24d Căn cứ vào chủ thể tín dụng: Dựa vào thể thức này được chia làm các loại:
- Tín dụng nặng lãi
Xét về lịch sử ra đời và phát triển của tín dụng thì cho vay nặng lãi là hình thức tín dụng xuất hiện sớm nhất Loại này đã phát triển mạnh mẽ, giữ vị trí chủ yếu trong chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến nơi mà nền sản xuất nhỏ chiếm địa vị độc tôn
Tín dụng cho vay nặng lãi với mức lãi suất rất cao, không có giới hạn nên người đi vay chỉ sử dụng chủ yếu vào mục đích tiêu dùng Vì vậy, dưới
"lớp vỏ" cho vay nặng lãi tín dụng không phải là động lực kích thích sản xuất
và lưu thông hàng hoá
Ngày nay hình thức tín dụng nặng lãi mặc dù không còn giữ vị trí trọng yếu trong hệ thống tín dụng, nhưng nó vẫn tồn tại dựa trên các khó khăn về vật chất trong đời sống của một số bộ phận nhân dân Vì vậy để có thể thu hẹp hoạt động của hình thức cho vay nặng lãi cần phát triển những hình thức tín dụng lành mạnh, phục vụ lợi ích của nền kinh tế - xã hội
Quan hệ tín dụng thương mại hai bên sẽ ký với nhau giấy nhận nợ gọi
là kỳ phiếu thương mại hay gọi tắt là thương phiếu, một công cụ của tín dụng
Trang 25thương mại
Tín dụng thương mại mang 3 đặc điểm: Cho vay dưới dạng hàng hoá; Các chủ thể quan hệ tín dụng đều là các nhà doanh nghiệp trực tiếp hoạt động trên lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; Sự vận động, phát triển của hình thức tín dụng thương mại phù hợp với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá
- Tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các nhà SXKD, các tầng lớp dân cư, v.v được thực hiện dưới hình thức cung ứng vốn tín dụng bằng tiền Trong quan hệ tín dụng này, ngân hàng vừa là người đi vay, đồng thời là người cho vay
Tín dụng ngân hàng có 3 đặc điểm: Cho vay dưới dạng tiền tệ; Người
đi vay là các DN, các cá nhân và người cho vay là những ngân hàng, tổ chức tín dụng; Quá trình vận động và phát triển của hình thức tín dụng ngân hàng phù hợp với quy mô phát triển của sản xuất, lưu thông hàng hoá
Với quy mô lớn về nguồn vốn, ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt và kịp thời ở mọi mức độ, cũng như mọi thời hạn nợ (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) Do vậy, tín dụng ngân hàng là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và trở thành hình thức tín dụng chủ yếu của hệ thống tín dụng
- Tín dụng nhà nước:
Là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tổ chức và dân cư ở trong nước với Chính phủ nước ngoài Tín dụng nhà nước được thực hiện dưới hình thức Nhà nước phát hành công trái và các hiệp định vay nợ quốc tế để huy động vốn cho ngân sách Nhà nước
- Tín dụng doanh nghiệp:
Tín dụng doanh nghiệp là quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các doanh
Trang 26nghiệp và công chúng Quan hệ vay mượn này được thể hiện dưới 2 hình thức:
+ Quan hệ tín dụng tiêu dùng: là tín dụng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Trong đó, các tổ chức thương nghiệp lớn là người cho khách hàng của mình vay bằng cách cho phép họ sử dụng một số lượng hàng hóa tiêu dùng nhất định và không phải trả tiền trong một thời gian nhất định
+ Quan hệ tín dụng giữa DN và công chúng với tư cách là người tiết kiệm: Trong mối quan hệ này các DN là người có nhu cầu đầu tư Họ huy động vốn trực tiếp bằng cách phát hành trái phiếu trên thị trường vốn Người mua trái phiếu là người cho vay Đây là quan hệ chuyển nhượng vốn trực tiếp, nó đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn trung, dài hạn cho nhu cầu
mở rộng quy mô sản xuất của các DN và nền kinh tế
e Căn cứ vào mức độ tín nhiệm với khách hàng:
Dựa vào tiêu thức này tín dụng được chia làm 2 loại:
- Tín dụng có đảm bảo: Là việc cho vay vốn qua các chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thể chấp hoặc bằng chính tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hay bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
- Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản (tín chấp) có 3 loại như sau:
+ Loại 1: Tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng có tín nhiệm và
khả năng tài chính trong việc sử dụng vốn vay và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi
+ Loại 2: Tổ chức tín dụng nhà nước cho vay không có đảm bảo bằng
tài sản theo chỉ định của nhà nước như sau: cho vay để thực hiện các dự án đầu tư thuộc chương trình kinh tế đặc biệt, chương trình trọng điểm của nhà nước, thuộc khách hàng được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi về điều kiện vay vốn theo quy định của Chính phủ
Trang 27+ Loại 3: Tổ chức tín dụng cho vay qua sự bảo lãnh bằng tín chấp của
các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội cho các cá nhân, hộ gia đình, hộ gia đình nghèo thiếu vốn
1.2.2.2 Chức năng của tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng có 3 chức năng sau đây:
a Chức năng tập trung, phân phối vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả:
Đây là chức năng cơ bản Từ nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và thông qua tín dụng đã phân phối lại vốn đó dưới hình thức cho vay để bổ sung cho doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu về vốn nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh và dịch vụ đời sống của nhân dân Hiện nay, vốn tín dụng là một
bộ phận quan trọng trong toàn bộ vốn lưu động của doanh nghiệp Ngoài ra, vốn tín dụng là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong lĩnh vực vốn cố định
b Chức năng thoả mãn thanh khoản
Tín dụng thực chất là tạo ra thanh khoản cho nền kinh tế dưới dạng người cho vay cung cấp cho người vay một khoản tiền tệ để chi trả một món
nợ nào đó, hoặc thanh toán một giá trị hàng hoá, dịch vụ nào đó Tín dụng luôn luôn gắn với sự chi trả Nhờ tín dụng mà nhu cầu thanh khoản của xã hội được thoả mãn Khi các chủ thể thừa thanh khoản tạm thời cho các chủ thẻ thiếu thanh khoản vay để đáp ứng nhu cầu thanh toán
c Chức năng phản ảnh và kiểm soát hoạt động của nền kinh tế
Trong việc thực hiện chức năng tập trung va phân phối lại vốn tiền tệ nhằm phục vụ yêu cầu tái sản xuất ngày càng mở rộng, tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế,
do đó tín dụng còn được xem như một trong những công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thực hiện các chiến lược hoạch định và phát triển kinh tế đất nước Ngày nay các nhà nước đều thông qua
Trang 28chính sách tín dụng để thực hiện các chính sách phát triển kinh tế của đất nước Với khía cạnh đó khi nền kinh tế cần gia tăng tốc độ phát triển thì Nhà nước có chính sách mở rộng tín dụng cho nền kinh tế, ngược lại khi cần hạn chế tốc độ phát triển kinh tế, thì Nhà nước có chính sách giảm tín dụng
1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, để
mở rộng sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu hàng hoá trên thị trường, các doanh nghiệp phải trích một phần lợi nhuận để lập quỹ tái sản xuất mở rộng Nhưng để chờ đợi số vốn tích luỹ đủ số lượng để thực hiện tái sản xuất mở rộng, thì các doanh nghiệp phải mất một thời gian dài Trong khi chờ đợi đủ vốn tích luỹ, các doanh nghiệp có thể sử dụng vốn tín dụng ngân hàng để thực hiện mục đích của mình Như vậy, tín dụng ngân hàng đã đóng vai trò tích tụ vốn, giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều thời gian trong quá trình
mở rộng sản xuất Điều đó một mặt, cho phép các doanh nghiệp trang trải kịp thời các chi phí cho quá trình sản xuất kinh doanh; mặt khác giúp cho các doanh có khả năng đổi mới công nghệ, áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, có nhiều lợi thế trong cạnh tranh, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá Việc phân phối tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế
từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn mà không làm tăng thêm hay giảm bớt tổng
số vốn trong nền kinh tế
- Tín dụng ngân hàng nhằm thu hút nhằm thu hút nguồn vốn tiết kiệm, nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức đem đến gửi vào ngân hàng để hưởng lãi Ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để đáp ứng nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp có nhu cầu thiếu vốn Tín dụng ngân hàng là nơi liên kết giữa tiết kiệm
và đầu tư
Trang 29- Tín dụng ngân hàng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thường chọn lĩnh vực đầu tư mang lại hiệu quả cao nhất, nhưng xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế phải có sự cân đối trong cơ cấu kinh tế giữa các vùng, các ngành Thông qua chính sách tín dụng sẽ là đòn bẩy kích thích đầu tư phát triển, góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế
- Tín dụng ngân hàng tác động đến chế độ hạch toán kinh tế, công cụ để bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp Đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng là sự vận động trên cơ sở có hoàn trả và có lợi tức, do vậy các doanh nghiệp muốn vay vốn ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn sao cho
có hiệu quả nhất, vữa phải đảm bảo lợi nhuận cho mình, vừa phải đảm bảo trả
nợ (gôc+lãi) cho ngân hàng Khi quan hệ tín dụng với ngân hàng, các doanh nghiệp phải tuân thủ theo luật và chế độ ngân hàng, bị xử lý tài sản hoặc bị khởi kiện nếu vi phạm hợp đồng Bằng cách tác động như vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng lợi nhuận, giảm chi phí sản xuất
Mặt khác, các ngân hàng chỉ cho vay đối với các doanh nghiệp hoạt động tốt, kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo khả năng tài chính để trả nợ ngân hàng Như vậy, không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng được ngân hàng cấp tín dụng, mà ngân hàng cho vay có xem xét, chọn lọc Với cơ chế cho vay như vậy, buộc các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn tín dụng ngân hàng phải
tự nâng cao trình độ quản lý, chấp hành đúng và đầy đủ chế độ kế toán, thống
kê
- Tín dụng ngân hàng giúp cho các doanh nghiệp mở rộng quan hệ thương mại và giao lưu quốc tế Trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, phát triển kinh tế của một nước luôn gắn liền với thị trường thế giới, nền kinh tế đóng đã nhường bước cho nền kinh tế mở vì vậy tín dụng ngân hàng đã trở
Trang 30thành phương tiện nối liền nền kinh tế các nước với nhau
Thông qua tín dụng ngân hàng như: thư tín dụng, bảo lãnh, bao thanh toán, tài trợ xuất nhập khẩu các quan hệ kinh tế diễn ra nhanh chóng và thường xuyên là cơ sở để các doanh nghiệp đẩy mạnh hàng xuất khẩu Hoạt động ngân hàng hiện nay đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia với sự đa dạng của tín dụng và thanh toán quốc tế Điều đó giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện quảng bá sản phẩm của mình trên thị trường quốc tế, có điều kiện đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hàng hóa Điều đó làm cho quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, là cầu nối nền kinh tế các nước với thế giới trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp trong khu công nghiệp
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, tín dụng ngân hàng ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các DN Đối với các DNKCN, vai trò của vốn vay ngân hàng thể hiện qua những nét chính sau:
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng là một nguồn quan trọng để thúc đẩy sự ra
đời và duy trì hoạt động của các DNKCN Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng là một trong những nguồn cung cấp vốn chủ yếu cho các chủ thể kinh tế nói chung và các DNKCN nói riêng Ngay cả ở các nước có nền kinh tế phát triển, dù bản thân các doanh nghiệp có lớn đến đâu thì vốn vay ngân hàng vẫn
là khoản lớn nhất trong cơ cấu vốn của các doanh nghiệp
Ở Việt Nam hiện nay, các DNNN hoạt động chủ yếu dựa vào: vốn Nhà nước cấp (khi thành lập và cấp bổ sung trong quá trình hoạt động), vốn vay các tổ chức tín dụng (trong đó vốn vay ngân hàng là chủ yếu) và chiếm dụng vốn của các đối tác (tín dụng thương mại)
Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, do quá trình tích tụ và tập
Trang 31trung tư bản mới chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, nguồn vốn chủ
sở hữu còn nhiều hạn chế, thị trường chứng khoán còn kém phát triển, khả năng huy động vốn từ phát hành trái phiếu công ty thấp thì vốn từ ngân hàng (bao gồm vốn vay và vốn góp cổ phần) càng trở nên có ý nghĩa hơn
Xét dưới góc độ cung cấp vốn, vai trò của ngân hàng không chỉ dừng lại
ở việc tài trợ vốn để hình thành nên các doanh nghiệp (thường thông qua việc góp cổ phần, cho vay dài hạn, cho vay “khởi nghiệp" ) mà còn thể hiện rõ nét trong việc thường xuyên tài trợ, đáp ứng các nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động
Thứ hai, tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn tài trợ chính cho
các DNKCN để thực hiện đầu tư chiều rộng và chiều sâu Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và hệ quả của quá trình toàn cầu hoá kinh tế, sự cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt cả về giá, chất lượng, mẫu mã sản phẩm, Để tồn tại và phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới, cải tiến thiết bị và công nghệ Muốn làm được điều này, doanh nghiệp phải huy động được nguồn vốn đủ lớn, đặc biệt là các nguồn vốn trung và dài hạn Rõ ràng, ở Việt Nam hiện nay chỉ có ngân hàng mới có khả năng đáp ứng tốt nhất các nhu cầu trên của doanh nghiệp Ngân hàng đang là nhà cung cấp vốn quan trọng nhất giúp các DNKCN thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng, ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
Thứ ba, tín dụng ngân hàng có tác động mạnh, thậm chí là định hướng
xu hướng phát triển của các DNKCN Thông qua việc điều chỉnh hạn mức tín dụng, lãi suất và/hoặc các điều kiện vay vốn, ngân hàng có thể mở rộng hay thu hẹp nguồn vốn đầu tư đối với các DNKCN hoặc ngành nghề nào đó Điều này có thể dẫn đến việc tăng hay giảm số lượng DNKCN và/hoặc thay đổi cơ cấu DNKCN, thay đổi cơ cấu ngành nghề từ đó góp phần vào việc chuyển đổi
Trang 32cơ cấu kinh tế
Thứ tư, tín dụng ngân hàng góp phần tạo ra thị trường "đầu vào" và "đầu
ra" của các DNKCN Vai trò góp phần tạo ra thị trường "đầu vào" thể hiện ở chỗ: thông qua các hoạt động cho vay của mình, ngân hàng có thể thúc đẩy sự phát triển của các cơ sở sản xuất kinh doanh đầu vào của các DNKCN; đóng vai trò cầu nối cho sự hợp tác giữa DNKCN với các nhà cung cấp đầu vào; trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho các DNKCN, Vai trò góp phần tạo ra thị trường "đầu ra" thể hiện ở chỗ: hỗ trợ vốn giúp doanh nghiệp thực hiện các hoạt động quảng bá thương hiệu; trợ giúp các doanh nghiệp tiêu thụ đầu ra của các DNKCN thêm phát triển; làm cầu nối đưa các DNKCN và các doanh nghiệp tiêu thụ đầu ra xích lại gần nhau, hợp tác với nhau; cho vay tiêu dùng góp phần kích cầu, gia tăng sản lượng tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ của các DNKCN
1.2.5 Chỉ tiêu đánh giá việc mở rộng tín dụng của ngân hàng và chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp trong khu CN
- Số lượng DNKCN vay vốn: chỉ tiêu này phản ánh số lượng các DNKCN có phát sinh vay vốn trong một khoảng thời gian nhất định So sánh chỉ tiêu này qua các năm sẽ cho thấy sự tăng hoặc giảm số DNKCN
có quan hệ vay vốn tại NH theo thời gian
Trang 33ra những đánh giá chính xác
- Doanh số cho vay các DNKCN: phản ánh tổng số tiền các lần giải ngân của NH cho các DNKCN vay trong một thời gian nhất định
- Doanh số cho vay bình quân 1 DNKCN:
Doanh số cho vay
bình quân 1 DNKCN =
Doanh số cho vay các DNKCN
Số DNKCN vay vốn Chỉ tiêu này phản ánh số tiền trung bình mà NH giải ngân cho 1 DNKCN vay trong 1 khoảng thời gian nhất định
- Tỷ trọng doanh số cho vay DNKCN/Tổng doanh số cho vay:
Tỷ trọng doanh số cho vay
Doanh số cho vay DNKCN x 100
(%) Tổng doanh số cho vay
Chỉ tiêu này cho biết trung bình cứ trong 100 đơn vị doanh số cho vay có bao nhiêu đơn vị là cho vay DNKCN Thông qua chỉ tiêu này chúng ta biết đƣợc quy mô của doanh số cho vay DNKCN trong mối quan hệ với tổng doanh số cho vay
- Dƣ nợ các DNKCN: là tổng số tiền các DNKCN còn nợ ngân hàng tại một thời điểm nhất định
Dƣ nợ DNKCN bình quân trong năm:
Dƣ nợ DNKCN cuối tháng 1
+
Dƣ nợ DNKCN cuối tháng 2
+
Dƣ nợ DNKCN cuối tháng 11
+
Dƣ nợ DNKCN cuối năm
12
Trang 34- Dư nợ bình quân 1 DNKCN trong năm:
Dư nợ bình quân 1 DNKCN
Dư nợ các DNKCN bình quân trong năm
Số DNKCN có quan hệ vay vốn trong năm
(Trong công thức này, tổng dư nợ bình quân được xác định tương tự như
Dư nợ DNKCN bình quân trong năm)
- Tỷ lệ nợ xấu: phản ánh chất lượng tín dụng của các NHTM đối với các DNKCN
%) Tổng dư nợ
Ngoài ra, khi xem xét hoạt động tín dụng người ta còn chú ý đến tỷ trọng
dư nợ ngắn, trung, dài hạn trên tổng dư nợ; tỷ lệ nợ không đủ tiêu chuẩn
Trang 351.3 Nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư tín dụng của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp trong khu Công Nghiệp
1.3.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Thứ nhất là chiến lược kinh doanh của ngân hàng: chiến lược kinh
doanh có vai trò quan trọng trong cơ chế thị trường Nó chỉ rõ hướng đi của mỗi ngân hàng trong một khoảng thời gian tương đối dài (thường là từ 5 năm trở lên), về định hướng phát triển các mặt nghiệp vụ, các nhóm khách hàng mục tiêu, và các mục tiêu cần đạt tới Trong quá trình thực hiện, chiến lược kinh doanh được cụ thể hoá thành các kế hoạch ngắn hạn, các bước đi cụ thể với các chính sách về sản phẩm, dịch vụ, chính sách khách hàng, và các giải pháp cụ thể để đạt được các mục tiêu đề ra
Thứ hai là chính sách tín dụng của ngân hàng: Chính sách tín dụng của
mỗi ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, cơ cấu hoạt động tín dụng nói chung và cho vay DNKCN nói riêng Chính sách mở rộng hoặc thu hẹp tín dụng; các định hướng về cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế, theo thời hạn cho vay, theo đối tượng khách hàng; các quy định về quy trình, thủ tục cho vay; các quy định về tài sản bảo đảm, lãi suất sẽ quyết định quy mô, cơ cấu cho vay theo các tiêu thức khác nhau Ngoài ra, việc đa dạng hoá các hình thức vay vốn sẽ giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu vay vốn của khách hàng, tạo điều kiện thu hút khách hàng
Thứ ba là trình độ cán bộ ngân hàng: Với tính chất là một ngành dịch vụ
đặc biệt, hoạt động ngân hàng đòi hỏi chất lượng phục vụ rất cao mà điều này chủ yếu phụ thuộc vào trình độ đội ngũ cán bộ ngân hàng Có thể nói, con người là yếu tố quyết định mọi thành bại trong các hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay DNKCN nói riêng Hoạt động ngân hàng ngày càng đa dạng, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và tính cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng ngày càng cao, tội phạm ngân hàng ngày càng tinh vi,
Trang 36đòi hỏi mỗi cán bộ ngân hàng không chỉ giỏi chuyên môn, đủ trình độ tiếp thu các nghiệp vụ mới và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến mà còn cần phải
có đạo đức tốt; nhã nhặn, niềm nở trong tiếp xúc với khách hàng
Thứ tư là hoạt động Marketing ngân hàng: Trong nền kinh tế thị trường,
hoạt động marketing có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, ngân hàng không thể thụ động chờ khách hàng đến quan hệ mà phải chủ động tiếp cận, thu hút khách hàng Thông qua hoạt động Marketing, ngân hàng giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ với khách hàng; tư vấn cho khách hàng; thực hiện các hoạt động chăm sóc khách hàng, Đồng thời, thông qua tiếp xúc khách hàng, ngân hàng sẽ hiểu thêm về các yêu cầu của khách hàng để có những sản phẩm phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu đó Ngân hàng nào thực hiện các hoạt động maketting tốt hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn
Thứ năm là chất lượng tín dụng DNKCN: trong việc cho vay bất kỳ đối
tượng khách hàng nào, ngân hàng cũng rất quan tâm đến chất lượng tín dụng của khách hàng vì đó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động tín dụng nói riêng và hiệu quả kinh doanh nói chung của ngân hàng Chất lượng tín dụng DNKCN tốt là một tín hiệu "bật đèn xanh" cho ngân hàng mở rộng cho vay Ngược lại, nếu chất lượng tín dụng DNKCN kém tức là tỷ lệ nợ xấu cao, nguy cơ mất vốn lớn thì chắc chắn ngân hàng sẽ tăng cường kiểm soát,
áp dụng nhiều hơn các biện pháp phòng ngừa, hạn chế cho vay, kết quả là việc vay vốn sẽ rất khó khăn, thậm chí là không vay được
Bên cạnh đó, các nhân tố khác như: việc bố trí, phân công cán bộ làm công tác cho vay DNKCN; phân quyền phán quyết tín dụng, hệ thống thông tin tín dụng; trình độ công nghệ; quy mô, thương hiệu ngân hàng; thái độ phục vụ, chất lượng dịch vụ cũng ảnh hưởng đến khả năng cho vay nói
chung và cho vay DNKCN nói riêng của mỗi ngân hàng
Trang 371.3.2 Các nhân tố thuộc về KCN và doanh nghiệp khu công nghiệp
Một là: Cơ sở hạ tầng các KCN chưa được đồng bộ: một số KCN các
chủ đầu tư do yếu về khả năng tài chính nên việc đầu tư để xây dựng đồng bộ
hạ tầng KCN chưa thực hiện được mà phần lớn thực hiện việc đầu tư từng phần, thu hút doanh nghiệp vào thuê đất sau đó lại đầu tư tiếp Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến việc đầu tư và thực hiện sản xuất kinh doanh của các
DN
Hai là, khả năng tài chính của DNKCN: khả năng tài chính được hiểu
là khả năng về vốn, tài sản của khách hàng để bảo đảm hoạt động thường xuyên và thực hiện các nghĩa vụ thanh toán Khả năng tài chính là một trong những điều kiện quan trọng nhất để ngân hàng xem xét cho vay Thông thường, các ngân hàng đánh giá khả năng tài chính của DNKCN trên các khía cạnh: vốn tự có là bao nhiêu? Kinh doanh có hiệu quả không? Khả năng thanh toán thế nào?
Vốn tự có là yếu tố quan trọng phản ánh khả năng tự chủ tài chính của mỗi doanh nghiệp và là một trong những căn cứ để ngân hàng chấm điểm tín dụng, xác định mức cho vay tối đa Chính vì vậy, nếu doanh nghiệp có vốn tự có lớn tham gia vào dự án, phương án sản xuất kinh doanh sẽ thuận lợi hơn trong vay vốn ngân hàng Ngược lại, nếu doanh nghiệp có vốn tự có tham gia thấp nhưng nhu cầu đầu tư lớn thì sẽ rất khó để vay được vốn ngân hàng
Kinh doanh có hiệu quả hay không được phản ánh tổng quát ở chỉ tiêu lợi nhuận Trường hợp lỗ thì phải có phương án khả thi khắc phục lỗ đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết Dự án, phương án sản xuất kinh doanh có lãi tức là vốn đầu tư không bị thâm hụt, rủi ro mất vốn thấp Trong phần lớn các trường hợp, đây là điều kiện tiên quyết để ngân hàng xem xét cho vay
Xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp là để đánh giá mức độ đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán và cho điểm độ tín nhiệm của doanh nghiệp
Trang 38Doanh nghiệp nào có khả năng thanh toán tốt sẽ hạn chế rủi ro phát sinh nợ xấu, là một trong những điều kiện để ngân hàng xem xét cho vay
Ba là, trình độ tổ chức quản lý, khả năng lập và thuyết trình dự án,
phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: khả năng tổ chức quản lý
một cách khoa học sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh doanh Đặc biệt, việc tổ chức bộ máy theo dõi, quản lý tình hình tài chính đảm bảo thông tin thường xuyên được cập nhật, phản ánh đầy đủ, chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp theo đúng các quy định của nhà nước về chế độ thông tin, báo cáo tài chính sẽ giúp doanh nghiệp tạo được niềm tin với ngân hàng Bên cạnh đó, khả năng lập dự án dựa trên những căn cứ chính xác, những dự tính đáng tin cậy và được thuyết trình một cách mạch lạc, rõ ràng bởi những cán bộ có trình độ, có kinh nghiệm sẽ giúp doanh nghiệp thuyết phục được ngân hàng về tính khả thi và hiệu quả của dự án - cơ sở để ngân hàng xem xét cho vay
Bốn là, tài sản đảm bảo tiền vay: do những hạn chế của bản thân các
DNKCN về vốn tự có, về khả năng lập và thuyết trình dự án, thông tin tài chính thiếu độ tin cậy, và do ngân hàng còn thiếu thông tin về các DNKCN nên trong phần lớn trường hợp, muốn vay vốn các DNKCN bắt buộc phải có tài sản đảm bảo
Ngoài ra, các nhân tố khác thuộc về bản thân doanh nghiệp như: trình độ khoa học công nghệ; triển vọng phát triển; uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường, cũng có ảnh hưởng đến khả năng cho vay của ngân hàng đối với các DNKCN
Năm là, hình thức sở hữu của DN trong KCN: một số DN trong KCN là
các công ty con hạch toán phụ thuộc công ty mẹ đóng tại địa phương khác, nước khác nên toàn bộ quyết định về vay vốn được công ty mẹ quyết định, công ty con đó chỉ thực hiện việc sản xuất Mặt khác, nếu công ty là công ty
Trang 39100% vốn nước ngoài, thường là rất mạnh về tài chính nên không có nhu cầu
vay vốn
1.3.3 Các nhân tố khác
Các chính sách vĩ mô của Nhà nước có tác động mạnh mẽ đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, và do đó, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay DNKCN nói riêng Đường lối, chủ trương của Đảng được cụ thể hoá thành các chiến lược, kế hoạch, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có tác động chi phối mạnh mẽ đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nói chung, các DNKCN nói riêng
sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng cung cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước thì pháp luật
là yếu tố không thể thiếu Hệ thống luật pháp đồng bộ, nhất quán, minh bạch
và được tuân thủ chặt chẽ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế
- xã hội diễn ra trôi chảy Trong hoạt động ngân hàng, các quy định pháp luật
về thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp; về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng; các quy định về mua bán nợ; thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay và xử lý tài sản làm bảo đảm tiền vay; có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập quan hệ vay vốn giữa các bên Nếu những yếu tố này không đầy đủ, không đồng bộ hoặc thiếu nhất quán sẽ tạo ra môi trường kinh doanh không ổn định, thậm chí là những kẽ hở cho bọn tội phạm lừa đảo, chiếm đoạt vốn của ngân hàng Với những rủi ro như vậy, chắc chắn các ngân hàng sẽ rất cẩn trọng trong cho vay, làm cho khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của các chủ thể nói chung và của các DNKCN nói riêng trở nên khó khăn hơn
Trang 401.4 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về phát triển các khu CN và đầu tư tín dụng cho doanh nghiệp trong khu CN
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Để phát triển kinh tế, đẩy nhanh tốc độ CNH-HĐH, nhiều nước đã sử dụng mô hình KCN, KCX và đã thu hút được nhiều thành công, song bên cạnh những kết quả đã đạt được thì còn xuất hiện những tồn tại nhất định Việc phân tích, nghiên cứu mô hình phát triển các KCN, nghiên cứu các chính sách dành cho các DN trong KCN ở một số nước trong khu vực và trên thế giới là hết sức cần thiết Qua đó, chúng ta có thêm kinh nghiệm trong quá trình phát triển các KCN và doanh nghiệp trong KCN ở nước ta:
* Tại Singapore :
Đất nước Singapore có vị trí địa lý hết sức thuận lợi, nằm trên đường hàng hải quốc tế, có cảng nước sâu vào loại lớn nhất thế giới Với vị trí này, Singapore trở thành khu trung chuyển lớn cho Malaysia và Indonexia
Song điểm yếu của đất nước này là thiếu nguồn tài nguyên trong nước, thiếu tầng lớp doanh nghiệp trong nước, thị trường trong nước quá nhỏ bé (đất nước chỉ có 3 triệu dân) Điểm quan trọng trong chiến lược phát triển của Singapore là biến lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh Trong giai đoạn đầu chỉ phát triển khu vực dịch vụ (dịch vụ cảng biển, sân bay, thương mại, du lịch khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động nhằm giải toả tình trạng thất nghiệp) Khi tích luỹ trong nước khá lên thì từ những năm 1970 đến nay, Chính phủ Singapore nhận thấy rằng không chỉ dựa vào lợi thế trực tiếp mà cần hoạch định một chiến lược dựa trên phát triển cân đối giữa ngành dịch vụ và các ngành khác như phát triển ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu Từ 1980 trở lại đây, Chính phủ Singapore tập trung vào đào tạo tay nghề cao, phát triển các ngành công nghiệp sử dụng ít lao động, công nghiệp sạch có công nghệ hiện đại đặc biệt là công nghiệp điện tử, tin