Trong khi đó, một nghiên cứu hoàn chỉnh kết hợp tính toán và thực nghiệm cho các quá trình thiết kế, tổng hợp và ứng dụng của các sensor huỳnh quang hiện vẫn còn chưa, hoặc rất ít được c
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN KHOA HIỀN
THIẾT KẾ, TỔNG HỢP VÀ ỨNG DỤNG CÁC SENSOR HUỲNH QUANG TỪ DẪN XUẤT CỦA DIMETHYLAMINOCINNAMALDEHYDE
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Dương Tuấn Quang
2 PGS.TS Nguyễn Tiến Trung
Có thể tìm thấy luận án tại: Thư viện Quốc gia, thư viện trường Đại học Sư phạm Đại học Huế.
Trang 3DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
LIÊN QUAN LUẬN ÁN
1 Duong Tuan Quang, Nguyen Van Hop, Nguyen Dinh Luyen,
Ha Phuong Thu, Doan Yen Oanh, Nguyen Khoa Hien,
Nguyen Van Hieu, Min Hee Lee and Jong Seung Kim (2013), A new fluorescent chemosensor for Hg2+
in aqueous
solution, Luminescence., 28, pp 222-225
2 Nguyen Khoa Hien, Phan Tu Quy, Nguyen Tien Trung, Vo
Vien, Dang Van Khanh, Nguyen Thi Ai Nhung and Duong Tuan Quang (2014), A dansyldiethylenetriaminethiourea conjugate as a fluorescent chemodosimete for Hg2+ ions in
water media, Chemistry Letters, 43, pp 1034-1036
3 Nguyen Khoa Hien, Nguyen Chi Bao, Nguyen Thi Ai
Nhung, Nguyen Tien Trung, Pham Cam Nam, Tran Duong, Jong Seung Kim, Duong Tuan Quang (2015), A highly sensitive fluorescent chemosensor for simultaneous determination of Ag(I), Hg(II), and Cu(II) ions: Design,
synthesis, characterization and application, Dyes and
Pigments, 116, pp 89-96
4 Nguyen Khoa Hien, Nguyen Thi Ai Nhung, Ho Quoc Dai,
Nguyen Tien Trung, Duong Tuan Quang (2015), A fluorescent sensor based on dansyl-diethylenetriamine-thiourea conjugate:
design, synthesis, characterization, and application, Vietnam
Journal of Chemistry, 53(5e) pp 541-547
5 Nguyen Khoa Hien, Nguyen Chi Bao, Phan Thi Diem Tran,
Nguyen Van Binh, Duong Tuan Quang (2015), A fluorescent chemosensor based on dimethylaminocinnamaldehyde-aminothiourea for highly sensitive simultaneous
determination of silver, mercury, and copper ions, The
Analytica Vietnam Conference 2015, Ho Chi Minh City,
April 15-16, 01-07, pp 13-17
Trang 4Dyes and Pigments, 2015, 116, pp 89-96
A highly sensitive fluorescent chemosensor for simultaneous determination of Ag(I), Hg(II), and Cu(II) ions: design, synthesis,
characterization and application
Chemistry Letters, 2014, 43, pp 1034-1036
A dansyl- diethylenetriamine -thiourea conjugate as a fluorescent
chemodosimeter for Hg2+ ions in water media
Trang 5MỞ ĐẦU
Sensor huỳnh quang đầu tiên đã được tác giả Czarnik ở Đại học Ohio công bố vào năm 1992 Hiện nay, hầu như không có tuần nào là không có sensor huỳnh quang mới được công bố trên thế giới Điều này là do phương pháp phân tích huỳnh quang thường nhạy với chất phân tích, không đòi hỏi thiết bị máy móc đắt tiền, dễ thực hiện, chi phí phân tích thấp, có thể phân tích các chất trong tế bào sống Các sensor huỳnh quang được nghiên cứu ứng dụng trong phân tích nhiều đối tượng khác nhau, đặc biệt là các ion kim loại nặng, độc hại như thủy ngân (II), đồng (II) và bạc (I)
Phát triển các sensor huỳnh quang mới đã và đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học Do đó, một cơ sở khoa học cho quá trình thiết kế, tổng hợp và ứng dụng các sensor huỳnh quang là rất quan trọng, giúp giảm thời gian, chi phí và tăng khả năng thành công Hiện nay, hoá học lượng tử tính toán được hỗ trợ mạnh mẽ bởi sự phát triển của công nghệ thông tin, đã trở thành một công cụ quan trọng trong nghiên cứu hoá học Nhiều tính chất vật lý và hóa học đã được
dự đoán hoặc làm sáng tỏ từ tính toán Trong khi đó, một nghiên cứu hoàn chỉnh kết hợp tính toán và thực nghiệm cho các quá trình thiết
kế, tổng hợp và ứng dụng của các sensor huỳnh quang hiện vẫn còn chưa, hoặc rất ít được công bố
Ở Việt Nam, các sensor huỳnh quang đã được tác giả Dương Tuấn Quang nghiên cứu từ năm 2007, bao gồm: các chemosensor phát hiện ion Fe(III), F-, Cs+ và Cu(II) dựa trên calix[4]arene; chemosensor chứa vòng 1,2,3-triazole phát hiện Al(III) và chemosensor phát hiện Hg(II) từ dẫn xuất của rhodamine
Gần đây, các dẫn xuất của dansyl đã được sử dụng để thiết kế các sensor huỳnh quang, do các hợp chất của chúng thường phát huỳnh quang mạnh và linh hoạt trong cơ cấu các dẫn xuất của chúng Tuy nhiên, chưa có sensor nào sử dụng dẫn xuất của dansyl để phát hiện Hg(II) dựa trên các phản ứng đặc trưng của Hg(II), nhằm tăng độ chọn lọc của sensor Một chất huỳnh quang khác là 4-N,N-
Trang 6dimethylaminocinnamaldehyde, vẫn còn chưa, hoặc rất ít nghiên cứu
để phát triển các sensor phát hiện ion Hg(II), Cu(II) và Ag(I)
Trước nhu cầu và thực trạng nghiên cứu các sensor huỳnh quang
trên thế giới và Việt Nam, chúng tôi chọn đề tài “Thiết kế, tổng hợp
và ứng dụng các sensor huỳnh quang từ dẫn xuất của dimethylaminocinnamaldehyde và dansyl”
Những đóng góp mới của luận án:
- Một chemodosimeter DT mới từ dẫn xuất của dansyl đã được
công bố, có thể phát hiện chọn lọc Hg(II) dựa trên phản ứng đặc trưng của Hg(II) - phản ứng giữa dẫn xuất thiourea với amin tạo vòng guanidine khi có mặt Hg(II) - hoạt động theo cơ chế PET (sự chuyển electron do cảm ứng ánh sáng), kiểu bật-tắt (ON-OFF) huỳnh quang, với giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng Hg(II) tương ứng là 50
bật Một cơ sở khoa học cho quá trình nghiên cứu phát triển các sensor huỳnh quang mới đã được trình bày, thông qua kết quả của quá trình kết hợp linh hoạt giữa tính toán lý thuyết và thực nghiệm trong nghiên cứu thiết kế, tổng hợp và ứng dụng của chemodosimeter
DT và chemosensor DA
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan nghiên cứu về sensor huỳnh quang
1.1.1 Tình hình nghiên cứu sensor huỳnh quang
1.1.2 Nguyên tắc hoạt động của sensor huỳnh quang
1.1.3 Cấu tạo của sensor huỳnh quang
1.1.4 Nguyên tắc thiết kế các sensor huỳnh quang
1.2 Nguồn ô nhiễm, độc tính, phương pháp phát hiện Hg(II), Cu(II) và Ag(I)
1.3 Sensor huỳnh quang phát hiện Hg(II), Cu(II) và Ag(I)
Trang 71.3.1 Sensor huỳnh quang dựa trên các phản ứng đặc trưng của ion kim loại
1.3.2 Sensor huỳnh quang dựa trên các phản ứng tạo phức với ion kim loại
1.3.3 Sensor huỳnh quang dựa trên tương tác cation – π
1.3.4 Sensor huỳnh quang phát hiện đồng thời Hg(II), Cu(II)
và Ag(I)
1.4 Sensor huỳnh quang phát hiện Hg(II), Cu(II) và Ag(I) dựa trên fluorophore là nhóm dansyl và 4-N,N- dimethylaminocinnamaldehyde
1.4.1 Sensor huỳnh quang phát hiện Hg(II) dựa trên fluorophore là nhóm dansyl
1.4.2 Sensor huỳnh quang phát hiện Hg(II), Cu(II) và Ag(I) dựa trên fluorophore là 4-N,N-dimethylaminocinnamaldehyde
1.5 Tổng quan ứng dụng hoá học tính toán trong nghiên cứu các sensor huỳnh quang
CHƯƠNG 2
N I DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thiết kế, tổng hợp, đặc trưng và ứng dụng
chemodosimeter DT dựa trên dẫn xuất của dansyl để phát hiện chọn
lọc Hg(II)
- Nghiên cứu thiết kế, tổng hợp, đặc trưng và ứng dụng
chemosensor DA dựa trên DACA phát hiện Hg(II), Cu(II) và Ag(I) 2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tính toán lý thuyết
- Việc xác định cấu trúc hình học bền, năng lượng điểm đơn được thực hiện bằng phương pháp DFT tại B3LYP/LanL2DZ, sử dụng phần mềm Gaussian 03
- Các thông số năng lượng tương tác được hiệu chỉnh ZPE gồm biến thiên entanpi và biến thiên năng lượng tự do Gibbs của các phản
Trang 8ứng được tính toán dựa trên sự khác biệt giữa tổng năng lượng của các sản phẩm và tổng năng lượng các chất tham gia
- Tính toán trạng thái kích thích và các yếu tố phụ thuộc thời gian được thực hiện bởi phương pháp TD-DFT ở cùng mức lý thuyết
- Các phân tích AIM và NBO được tiến hành ở cùng mức lý thuyết B3LYP/LanL2DZ
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Đặc trưng cấu trúc của các chất được khẳng định bởi các phổ 1H NMR, phổ 13C NMR, phổ khối MS, phổ hồng ngoại và phân tích nhiễu xạ đơn tinh thể tia X
- Đặc tính, ứng dụng của các sensor được thực hiện bởi phương pháp quang phổ huỳnh quang và UV-Vis
CHƯƠNG 3 KẾT QU VÀ TH O LUẬN 3.1 Thiết kế, tổng hợp, đặc trưng và ứng dụng của DT- chemodosimeter phát hiện chọn lọc Hg(II) dựa trên liên hợp dansyl-diethylenetriamine-thiourea
3.1.1 Nghiên cứu lý thuyết về thiết kế, tổng hợp, đặc trưng và ứng dụng của chemodosimeter DT
3.1.1.1 Khảo sát phương pháp tính toán
Để sử dụng mức lý thuyết B3LYP/LanL2DZ cho hệ nghiên cứu, một so sánh giữa kết quả tính toán và thực nghiệm về cấu trúc của dansyl
chloride (DC) đã được
tiến hành; và kết quả là không có sự khác biệt Điều này cho thấy, mức lý thuyết đã chọn có thể áp dụng cho hệ nghiên cứu
Hình 3.4 Năng lượng các HOMO và LUMO của
DC, DNSF, aminothiourea và phenyl
isothiocyanate tại B3LYP/LanL2DZ
Trang 9với kết quả đáng tin cậy
3.1.1.2 Lựa chọn fluorophore và receptor cho DT
Do chất đầu dùng tổng hợp DT là DC không phát huỳnh quang, nên chất huỳnh quang dansyl sunfonamide (DNSF) đã được chọn làm fluorophore, aminothiourea và phenyl isothiocyanate (PITC)
được chọn làm receptor để nghiên cứu Hình 3.4 cho thấy, nếu aminothiourea làm receptor, huỳnh quang của sensor hình thành có thể bị dập tắt do quá trình PET từ receptor đến fluorophore Vì vậy, ở
đây PITC được chọn để thiết kế sensor huỳnh quang kiểu bật-tắt 3.1.1.3 Nghiên cứu lý thuyết phản ứng tổng hợp DT
a Phản ứng giữa DC với diethylenetriamine
Phản ứng giữa DC và diethylenetriamine để hình thành trực tiếp
sulfonamides không xảy ra (∆G 298
dương) Sulfonamides được hình thành thông qua các muối amoni (Hình 3.5) Kết quả tính toán cho
thấy, ΔH 298
và ΔG 298 phản ứng (2) là âm nhất Theo đó, B là sản
phẩm thuận lợi về mặt nhiệt động Phản ứng
Phản ứng P1 với PITC có ba sản phẩm (DT, DT-1 và DT-2) có
thể được hình thành (Hình 3.7) Trong đó,
ΔH 298
và ΔG 298 phản ứng (8) là âm nhất Theo đó,
Hình 3.5 Các sản phẩm có thể có của
phản ứng giữa DC với diethylenetriamine
Trang 10DT là sản phẩm thuận lợi về mặt nhiệt động
Để đánh giá khả năng phản ứng hóa học xảy ra, ngoài điều kiện về nhiệt động học, cần phải đảm bảo điều kiện về động học Về nguyên tắc, hóa tính toán có thể xác định được hằng số tốc độ phản ứng Tuy nhiên, đối với phản ứng phức tạp, việc tính toán này mất nhiều thời
gian Thay vào đó, quá trình tính toán chỉ dừng lại ở mức dự đoán khả năng phản ứng và hướng sản phẩm dựa trên các thông số nhiệt động, sau đó tiến hành thực nghiệm sẽ cho kết quả nhanh hơn Sự kết hợp linh hoạt giữa tính toán và thực nghiệm sẽ giảm tải khối lượng công việc tính toán hoặc thực nghiệm
3.1.1.4 Nghiên cứu lý thuyết đặc tính của chemodosimeter DT
a Cấu trúc phân tử DT
Chiều dài các liên kết, số đo các góc liên kết, góc nhị diện
trong DT đã được
tính toán Trong đó,
các tiểu phần DC và diethylenetriamine trong DT ít thay đổi so với ban đầu
b Phân tích phổ UV-Vis của DT
Phổ UV-Vis của DC đạt cực đại ở 485,2 và 1055,6 nm; DNSF đạt cực đại ở 262,0 và 390,0 nm; DT đạt cực đại ở 387,5 nm Theo đó,
Hình 3.8 Hình học bền của DT tại B3LYP/LanL2DZ
Hình 3.7 Các sản phẩm có thể có của phản ứng giữa
P1 với phenyl isothiocyanate
Trang 11DT và DNSF có cùng bước sóng hấp thụ cực đại khoảng 390 nm Kết quả này đưa đến kỳ vọng huỳnh quang của DT tương tự DNSF Điều này cũng cho thấy sử dụng DNSF làm fluorophore trong nghiên cứu lý thuyết thu được kết quả chính xác hơn so với DC
c Phân tích đặc tính huỳnh quang của chemodosimeter DT
Bảng 3.5 Năng lượng kích thích, cường độ dao động và các MO có liên quan đến quá trình kích thích chính của DC, DNSF, PITC và DT tại B3LYP/LanL2DZ
Trang 12Bảng 3.5 cho thấy, trạng thái kích thích chủ yếu của DT là ở bước
sóng 387,5 nm, với bước chuyển MO114→MO116 Do ở giữa các
MO này không có các MO của receptor (Hình 3.14), nên không có quá trình PET từ receptor đến fluorophore Tuy giữa các MO này có
MO115 thuộc về spacer, nhưng do chênh lệch năng lượng giữa
MO115 và MO114 là không lớn (0,1 eV), nên quá trình PET từ
MO115 về MO114 có xảy ra thì hằng số cân bằng nhỏ Kết quả
này dẫn đến một kỳ vọng DT có đặc tính huỳnh quang tương tự như DNSF Tuy nhiên, do ảnh hưởng của quá trình PET nói trên, hiệu suất lượng tử huỳnh quang của DT có thể là không lớn
3.1.1.5 Ứng dụng của DT
a Phản ứng giữa DT với Hg(II)
Hình 3.15 trình bày
hai sản phẩm (DG, và DG-1) có thể có từ phản ứng giữa DT và
Hg(II) Kết quả tính
toán ΔG 298
và ΔH 298
của phản ứng (12) âm hơn so với phản ứng (13) tương ứng là -9,9 kcal mol-1 và -11,8 kcal mol-1 Do đó, sự
hình thành DG là
thuận lợi về mặt nhiệt động
b Phổ UV-Vis và huỳnh quang của DG
Phổ UV-Vis của DG đạt cực đại ở bước sóng 403,8 nm với cường
Trang 13ứng bước chuyển MO109→MO112, với cường độ dao động mạnh nhất là 0,0993 Do giữa các MO này có sự hiện diện của MO110 và
MO111 thuộc về receptor (Hình 3.19), nên xảy ra quá trình PET từ
receptor đến fluorophore Kết quả trên dẫn đến một kỳ vọng DG không phát huỳnh quang Do đó, DT có thể sử dụng để phát hiện
chọn lọc Hg(II) theo kiểu bật-tắt huỳnh quang
Bảng 3.6 Năng lượng kích thích, cường độ dao động và các MO có liên quan đến quá
trình kích thích chính của DG tại B3LYP/LanL2DZ
Hình 3.19 Giản đồ năng lượng các MO biên của DT và DG
(các mức năng lượng là tương đối, không theo tỷ lệ)
Trang 143.1.2 Thực nghiệm tổng hợp, đặc trưng và ứng dụng của chemodosimeter DT
3.1.2.1 Thực nghiệm tổng hợp chemodosimeter DT
a Tổng hợp dansyl-diethylenetriamine
Hoà tan diethyltriamine (8,58 mL, 80 mmol) trong 20 mL CH3CN
và làm lạnh đến khoảng 0oC Thêm từng giọt dung dịch dansyl chloride (2,70 g, 10 mmol, hòa tan trong 100 mL CH3CN) Khuấy hỗn hợp phản ứng trong 6 giờ ở nhiệt độ phòng Sau đó cô đặc hỗn hợp thu được trong thiết bị cô quay chân không Thêm 100 mL nước
và axit hóa hỗn hợp thu được bằng dung dịch HCl (khoảng pH = 3) Thêm 25 mL ethyl ether, lắc kỹ, chiết loại bỏ pha hữu cơ (3 lần) Pha nước thu được, thêm dung dịch NaOH 2M và khuấy đều đến khi dung dịch trở nên sánh (khoảng 25 mL) Thêm 25 mL CH2Cl2 lắc kỹ
và chiết lấy pha hữu cơ Loại bỏ nước trong pha hữu cơ bằng
Na2SO4 Làm bay hơi dung môi trong thiết bị cô quay chân không để thu được sản phẩm chất rắn màu vàng đậm (khoảng 2,42 g, hiệu suất 72,0%) Cấu trúc của dansyl-diethylenetriamine được khẳng định bởi phổ 1H NMR và FAB-MS
b Tổng hợp chemodosimeter DT
Dansyl-diethyltriamine (337 mg, 1,0 mmol) và phenyl isothiocyanate (0,25 mL, 1,3 mmol) được hoà tan trong 30 mL acetonitrile Đun hồi lưu dung dịch phản ứng trong 6 giờ và đồng thời có sục khí N2 đuổi không khí trong bình đun Khuấy dung dịch phản ứng ở nhiệt độ phòng qua đêm Thêm vào dung dịch thu được
200 mL nước cất, 100 mL CH2Cl2, chiết lấy pha hữu cơ Loại bỏ nước trong pha hữu cơ bằng MgSO4 Làm bay hơi dung môi trong thiết bị cô quay chân không Sử dụng sắc ký cột silicagel (dung dịch rửa giải: CH2Cl2/ethyl acetate, 6/1) để tách lấy DT trong dung dịch
rửa giải Tiếp tục làm bay hơi dung môi trong thiết bị cô quay chân
không để thu chất rắn DT (khoảng 387 mg, 82%) Cấu trúc của DT
được khẳng định bởi phổ 1
H NMR, 13C NMR và FAB-MS
Trang 153.1.2.2 Thực nghiệm ứng dụng chemodosimeter DT
a Phổ UV-Vis và phổ huỳnh quang của DT
Như dự đoán từ tính toán, DT phát huỳnh quang màu xanh lá cây,
với hiệu suất lượng tử là 0,11; bước sóng huỳnh quang cực đại 529
nm, bước sóng hấp thụ cực đại 330 nm
b Phổ chuẩn độ UV-Vis và huỳnh quang DT với Hg(II)
Hình 3.26 cho thấy, như dự đoán từ lý thuyết, Hg(II) phản ứng và
làm thay đổi phổ UV-Vis và phổ huỳnh quang của DT Cường độ huỳnh quang dung dịch DT giảm dần khi tăng nồng độ Hg(II)
Hình 3.25 Phổ hấp thụ UV-Vis và phổ huỳnh quang của DT: (a) Phổ UV-Vis, DT (10
µM) trong C 2 H 5 OH/H 2 O (1/9, v/v), pH ~7; (b) phổ huỳnh quang, DT (10 µM) trong
C 2 H 5 OH/H 2 O (1/9, v/v), pH ~7, bước sóng kích thích 330 nm
450 500 550 600 650 0
20 40 60 80 100 120 140
Hình 3.26 Phổ chuẩn độ UV-Vis và huỳnh quang của DT bởi Hg(II): (a) Phổ UV-Vis, DT
(10 µM) trong C 2 H 5 OH/H 2 O (1/9, v/v), pH ~7, Hg(ClO 4 ) 2 (0, 2, 4, 6, 8, 10, 12 µM); (b) Phổ
huỳnh quang, DT (10 µM) trong C 2 H 5 OH/H 2 O (1/9, v/v), pH ~7, Hg(ClO 4 ) 2 (0, 1, 2, 3, 4, 5,
6.5, 7, 7.5, 8, 9, 10, 12 µM), bước sóng kích thích 330 nm
Trang 16c Phản ứng giữa DT với Hg(II) Hình 3.27 cho thấy DT phản
ứng với Hg(II) theo tỷ lệ 1:1 về số
mol DG, sản phẩm phản ứng giữa DT với Hg(II) đã được tổng
hợp và cấu trúc hoàn toàn phù
hợp với kết quả tính toán DG
không phát huỳnh quang
Khi thêm EDTA với nồng độ
gấp 2 lần DT vào dung dịch sau phản ứng giữa Hg(II) và DT Kết
quả, không thấy bất kỳ một sự thay
đổi nào trong tín hiệu huỳnh quang Như vậy, phản ứng giữa DT với Hg(II) không đảo ngược được DT là một chemodosimeter huỳnh quang
d nh hưởng của các ion kim loại cạnh tranh
Hình 3.31 cho thấy DT có thể phát hiện chọn lọc Hg(II) trong sự
hiện diện của các ion kim loại Zn(II), Cu(II), Cd(II), Pb(II), Ag(I),
phản ứng giữa Hg(II) với DT (DT 10 µM
trong C 2 H 5 OH/H 2 O (1/9, v/v) ở pH ~7, bước
20 40 60 80 100 120 140
DT + C¸c ion kim lo¹i kh¸c + Hg2+
Trang 17Fe(II), Cr(III), Co(III), Ni(II), Ca(II), Mg(II), K(I) và Na(I) với nồng
độ gấp 1,5 lần với DT
e Thời gian phản ứng giữa Hg(II) với DT
Phản ứng Hg(II) với DT xảy ra gần như tức thời, khoảng 20 giây
sau khi thêm Hg(II), nhanh hơn nhiều so với các sensor đã công bố
f Sử dụng DT phát hiện định lượng Hg(II)
Trong khoảng nồng độ Hg(II) từ 0,5 đến 10µM, biến thiên cường
độ huỳnh quang (ΔI529) quan hệ tuyến tính với nồng độ Hg(II), thể hiện phương trình: ΔI529 = (2,8 ± 0,8) + (11,3 ± 0,2) x [Hg(II)], với
R=0,999 Giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng Hg(II) bởi DT
đã được xác định, tương ứng là 0,25 và 0,83 µM, hay 50 và 166 ppb
3.2 Thiết kế, tổng hợp, đặc trưng và ứng dụng của DA - chemosensor phát hiện đồng thời Hg(II), Cu(II) và Ag(I) dựa trên dẫn xuất của 4-N,N-dimethylaminocinnamaldehyde
3.2.1 Nghiên cứu lý thuyết thiết kế, tổng hợp và đặc trưng DA 3.2.1.1 Lựa chọn fluorophore và receptor cho DA
Hình 3.36 cho thấy năng lượng HOMO và LUMO của aminothiourea và
PITC đều không nằm giữa
hai mức năng lượng HOMO và LUMO của
fluorophore là DACA Vì
vậy, cả hai chất này đều có thể chọn làm receptor, ở đây chọn aminothiourea để thiết kế sensor kiểu bật-tắt huỳnh quang
3.2.1.2 Lý thuyết phản ứng tổng hợp DA
Bốn sản phẩm có thể được hình thành từ phản ứng giữa DACA và
aminothiourea (Hình 3.37) Kết quả tính toán cho thấy, phản ứng tạo
sản phẩm DA-1 và DA-2 không xảy ra (ΔG 298
có giá trị dương)
ΔG 298
và ΔH 298 của phản ứng tạo sản phẩm DA-3 và DA có giá trị
Hình 3.36 Giản đồ năng lượng HOMO và LUMO
của DACA, aminothiourea và phenyl
isothiocyanate tại B3LYP/LanL2DZ
Trang 183.2.1.3 Lý thuyết đặc tính của DA
áp dụng cho kết quả đáng tin cậy
b Phổ UV-Vis của DA Phổ hấp thụ của DACA
c Phân tích đặc tính huỳnh quang của chemosensor DA
* Khả năng phát huỳnh quang trong chemosensor DA
Bảng 3.9 cho thấy, trạng thái kích thích có cường độ dao động
mạnh nhất của DA là từ S0→S2, ở bước sóng 395,2 nm, ứng với bước chuyển từ MO61 (HOMO)→MO62 (LUMO) Do ở giữa các MO
Hình 3.37 Các sản phẩm có thể có của phản
ứng giữa DACA với aminothiourea
Hình 3.38 Hình học bền của DA tại
B3LYP/LanL2DZ
Trang 19này không có các MO của receptor, nên không có quá trình PET từ
receptor đến fluorophore Kết quả này dẫn đến kỳ vọng rằng DA là
một hợp chất phát huỳnh quang Ở trạng thái kích thích sau đó, từ
S0→S5,mặc dù cường độ dao động khá lớn, song bước chuyển đóng vai trò quan trọng nhất ở trạng thái này từ MO58→MO62, có
MO60 thuộc về receptor nằm ở giữa hai MO trong bước chuyển này, nên xảy ra quá trình PET từ receptor đến fluorophore Vì vậy
bước chuyển này không dẫn đến sự phát huỳnh quang trong DA
Bảng 3.9 Năng lượng kích thích, cường độ dao động và các MO có liên quan đến quá trình kích thích chính của DACA, aminothiourea và DA tại B3LYP/LanL2DZ
* Đặc tính huỳnh quang của chemosensor DA
Phân tử DA có cấu trúc kiểu Donor-π-Aceptor nên ảnh hưởng của
độ phân cực dung môi và quá trình phát xạ huỳnh quang ở trạng thái xoắn đã được khảo sát Kết quả cho thấy, độ phân cực của dung môi
không ảnh hưởng đến bước sóng huỳnh quang của DA Khi phân tử
DA bị kích thích bởi ánh sáng, ở trạng thái thái kích thích S1, sự chuyển đổi từ trạng thái kích thích LE*
(phẳng) sang TICT* (xoắn) là thuận lợi về mặt năng lượng Trạng thái TICT*
ứng với mức năng lượng S1 thấp nhất tương ứng với góc xoắn θ (góc giữa mặt phẳng donor và mặt phẳng π) bằng 90 Quá trình xoắn đồng thời làm tăng
Trang 20bề mặt thế năng của trạng thái cơ bản và S0 đạt giá trị cực đại khi góc xoắn θ bằng 90 Khi đó, xuất hiện một khoảng cách cực tiểu giữa S0
và S1, dẫn đến phổ huỳnh quang DA chuyển dịch về bước sóng dài
3.2.2 Thực nghiệm tổng hợp và đặc trưng của DA
3.2.2.1 Thực nghiệm tổng hợp chemosensor DA
Hoà tan DACA (175 mg; 1,0 mmol) và aminothiourea (100 mg;
1,1 mmol) trong ethanol tuyệt đối (40 mL) Đun hồi lưu dung dịch phản ứng trong 6 giờ có kèm theo sục khí N2 để đuổi không khí trong bình đun Khuấy hỗn hợp sau khi đun 2 giờ ở nhiệt độ phòng để được một kết tủa rắn Lọc và rửa kết tủa (ba lần) với ethanol tuyệt đối (mỗi lần 5 mL) Chất rắn thu được tiếp tục tinh chế bằng kết tinh lại trong
ethanol tuyệt đối (25 mL) để thu sản phẩm DA tinh chất ở dạng rắn màu vàng sẫm (khoảng 207 mg, hiệu suất 83,0%) Cấu trúc của DA
được khẳng định bởi phổ 1
H NMR, FAB-MS, IR và phân tích nhiễu
xạ đơn tinh thể tia X
3.2.2.2 Thực nghiệm đặc trưng của chemosensor DA
Như dự đoán, DA phát huỳnh quang màu xanh lá cây, với hiệu
suất lượng tử là 0,25, bước sóng huỳnh quang cực đại ở 510 nm, bước sóng hấp thụ cực đại ở 390 nm, độ dịch chuyển Stoke 120 nm
Hình 3.43 Giản đồ năng lượng các MO biên của fluorophoro tự do, receptor tự do và chemosensor DA (các mức năng lượng là tương đối, không theo tỷ lệ)
Trang 21sự hiện diện các ion kim loại, bao gồm Na(I), K(I), Pb(II), Cd(II), Co(II), Ca(II), Ba(II), Mg(II), Zn(II), Fe(II), Ni(II), Al(III) và Cr(III)
b Ứng dụng chemosensor
DA để phát hiện Hg(II)
Kết quả khảo sát phổ huỳnh quang chuẩn độ của
dung dịch DA bằng Hg(II) cho thấy DA và Hg(II) phản
ứng theo tỷ lệ 2:1 về số mol Khi thêm Na2S2O3 với
nồng độ gấp 10 lần Hg(II) vào dung dịch phản ứng giữa DA và Hg(II), cường độ huỳnh quang trở lại như ban đầu của DA tự do, chứng tỏ phản ứng giữa DA và Hg(II) là thuận nghịch DA là chemosensor
Trong khoảng nồng độ Hg(II) từ 15 đến 240 ppb, phương trình
biểu diễn mối quan hệ cường độ huỳnh quang dung dịch DA với
nồng độ Hg(II) là: I = (879,9 ± 3,2) + (-2,6 ± 0,0) x [Hg(II)], với R=0,999 Giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng Hg(II) tương ứng là 2,8 và 9,5 ppb
c Ứng dụng DA phát hiện Cu(II)
Khảo sát phổ huỳnh quang chuẩn độ dung dịch DA bằng Cu(II) cho thấy, phản ứng giữa DA và Cu(II) cũng theo tỷ lệ 2:1 về số mol Cường độ huỳnh quang dung dịch phản ứng giữa DA và Cu(II) cũng trở lại ban đầu như DA tự do nếu thêm EDTA với nồng độ gấp 10 lần so với Cu(II)) DA là chemosensor phát hiện Cu(II)
Hình 3.52 Phổ huỳnh quang của dung dịch DA
trong sự hiện diện các ion kim loại: DA (3µM) trong
EtOH/H 2 O (1/9, v/v), các ion kim loại Ag(I), Hg(II),
Cu(II), Pb(II), Cd(II), Cr(III), Zn(II), Fe(II), Co(II),
Ni(II), Ba(II), Al(III), Ca(II), Mg(II), K(I) và Na(I)
(15 µM cho mỗi ion kim loại) bước sóng kích thích
390 nm
Trang 22(6) (5)
(4) (3)
Hình 3.67 Phổ huỳnh quang khảo sát khả
năng xác định riêng lẻ các ion Hg(II), Cu(II)
và Ag(I) trong hỗn hợp: (1) DA; (2) DA +
Ag(I) + Hg(II) + Cu(II); (3) DA + Ag(I) +
Hg(II) + Na 2 S 2 O 3 + Cu(II) + EDTA; (4) DA
+ Ag(I); (5) DA + Ag(I) + Hg(II) + Cu(II) +
EDTA; (6) DA + Ag(I) + Hg(II); (7) DA +
Ag(I) + Hg(II) + Na 2 S 2 O 3 + Cu(II); (8) DA +
Ag(I) + Cu(II); (9) DA + Hg(II); (10) DA +
Cu(II) (nồng độ DA, ion kim loại, Na 2 S 2 O 3 ,
và EDTA tương ứng là: 3µM; 0,6µM;
100µM; và 100µM)
Trong khoảng nồng độ Cu(II) từ 4,8 đến 67,2 ppb, cường độ
huỳnh quang dung dịch DA quan hệ tuyến tính chặt chẽ với nồng độ
Cu(II) và được xác định bởi phương trình: I = (882,9 ± 2,6) + (-10,5± 0,1) x [Cu(II)], R=0,999 Giới hạn phát hiện và định lượng Cu(II) tương ứng là 0,8 và 2,7 ppb
d Ứng dụng DA phát hiện Ag(I)
Khảo sát phổ huỳnh quang chuẩn độ dung dịch DA bằng Ag(I) cho thấy, phản ứng giữa DA và Ag(I) theo tỷ lệ 1:1 về số mol
Khi thêm Na2S với nồng độ gấp 10 lần Ag(I) vào dung dịch phản
ứng giữa DA và Ag(I), cường độ huỳnh quang trở lại như ban đầu của
DA tự do DA cũng là một chemosensor phát hiện Ag(I)
Phương trình biểu diễn mối quan hệ cường độ huỳnh quang dung dịch
DA với nồng độ Ag(I) từ 16 đến 194 ppb là: I = (874,0 ± 2,2) + (-3,4 ±
0,0) x [Ag(I)], R=0,999 Giới hạn phát hiện và định lượng Ag(I) tương
ứng là 1,0 và 3,4 ppb
e Ứng dụng DA phát hiện đồng thời Hg(II), Cu(II) và Ag(I)
Thực nghiệm cho thấy, sự thay đổi cường độ huỳnh quang
của DA bởi Hg(II) hoặc Cu(II)
có thể được ngăn chặn khi thêm
Na2S2O3 hoặc EDTA tương ứng vào các dung dịch Điều này
cho thấy khả năng sử dụng DA
để phát hiện định lượng đồng thời Hg(II), Cu(II) và Ag(I) Hình 3.67 trình bày khả năng
sử dụng DA phát hiện đồng thời
Hg(II), Cu(II) và Ag(I) Trước tiên, Ag(I) được phát hiện dựa trên sự biến đổi cường độ huỳnh quang giữa dung dịch (1) với dung dịch (3) Tiếp theo, Hg(II) được
Trang 23phát hiện dựa trên sự biến đổi cường độ huỳnh quang giữa (3) với (5) Cuối cùng, Cu(II) có thể phát hiện dựa trên sự biến đổi cường độ huỳnh quang giữa (3) với (7) Sự hiện diện các ion kim loại, Na2S2O3
và EDTA không ảnh hưởng đến việc phát hiện định lượng từng ion kim loại
Mối quan hệ giữa biến thiên cường độ huỳnh quang dung dịch DA
với nồng độ các ion kim loại đã được xác định như sau:
∆I[Hg(II)] = (-6,6 ± 3,2) + (2,6 ± 0,0) x [Hg(II)], R=0,999, khoảng nồng độ Hg(II) từ 15 đến 240 ppb
∆I[Cu(II)] = (-9,7 ± 2,6) + (10,5 ± 0,0) x [Cu(II)], R=0,999, khoảng nồng độ Cu(II) từ 5 đến 67 ppb
∆I[Ag(I)] = (3,1 ± 2,2) + (3,6 ± 0,0) x [Ag(I)], R=0,999, khoảng nồng độ Ag(I) từ 16 đến 194 ppb
a Hình học bền và năng lượng tương tác của các phức
giữa DA và các ion kim loại tại B3LYP/LanL2DZ
(đơn vị độ dài là Å, đơn vị góc là ( 0 ))
S1
S2
S3
S4
Trang 24AgAg Các liên kết này được cho là hình thành dựa trên kết quả tính toán khoảng cách giữa các nguyên tử nhỏ hơn đáng kể so với tổng bán kính Van der Waals của nguyên tử tham gia liên kết Sự hình thành các phức đều thuận lợi về mặt nhiệt động, trong đó phức
S2 thuận lợi hơn so S1
b Phân tích AIM
Phân tích AIM đã chỉ ra có sự hiện diện các điểm tới hạn liên kết (BCP) giữa các tiếp xúc AgN, AgS, HgS, và CuN trong các phức và AgAg trong S1 Tất cả các giá trị 2 (ρ(r)) tại các điểm
BCP trên đều lớn hơn 0 Vì vậy, tất cả những tương tác trên là liên kết ion Kết quả phân tích AIM cũng đã phát hiện sự tồn tại các điểm
tới hạn vòng (RCP), tức là có hình thành vòng trong phức S1 và S2
c Phân tích NBO
Kết quả phân tích NBO cho thấy, sự hình thành các phức đã dẫn
đến sự dịch chuyển mạnh mật độ electron từ các phối tử DA sang các
ion kim loại trung tâm, làm thay đổi mức độ hệ thống liên hợp
electron π trong DA, dẫn đến làm thay đổi tín hiệu huỳnh quang
d Phân tích năng lượng kích thích, HOMO, LUMO và MO biên Đối với phức S1, ở trạng thái kích thích, bước chuyển từ HOMO
lên LUMO tuy có cường độ dao động lớn, nhưng do năng lượng kích thích bé, bước sóng phát xạ huỳnh quang chuyển về vùng bước sóng dài, không quan sát được trong thực tế Thêm vào đó, việc chuyển electron qua lại giữa HOMO (nơi electron tập trung ở khu vực ion kim loại) với LUMO (nơi electron chủ yếu ở fluorophore), có thể không gây ra hiện tượng huỳnh quang do khoảng cách không gian Các bước chuyển còn lại không phải từ HOMO lên LUMO không đưa đến huỳnh quang do xảy ra quá trình PET từ cặp electron của
HOMO Kết quả huỳnh quang dập tắt trong S1
Trang 25Đối với phức S2, ở trạng thái kích thích, bước chuyển chính là từ
S0 lên S3, tương ứng từ MO139 lên MO141 và từ MO140 lên
MO142 Trong đó, bước chuyển từ MO139 lên MO141 không dẫn đến huỳnh quang do xảy ra quá trình PET từ MO140 đến
MO139 Bước chuyển từ MO140 lên MO142 cũng không dẫn
đến huỳnh quang, có thể là do nguyên nhân
về khoảng cách không
gian như trong S1 Các
kết quả trên dẫn đến dập tắt huỳnh quang
trong S2
Ngoài ra, trong cả
hai phức S1 và S2, do
sự dịch chuyển mạnh mật độ electron từ các
phối tử DA đến ion
kim loại, từ MO131 đến MO140, mật độ electron chủ yếu tập trung khu vực ion kim loại Quá trình chuyển electron từ trạng thái
cơ bản lên trạng thái kích thích xảy ra ở fluorophore phải trải qua bước chuyển năng lượng lớn, từ MO130 đến MO141 Do đó,
các phức S1, S2 không
thể kích thích để phát huỳnh quang bởi năng
Hình 3.72 Giản đồ năng lượng các MO biên của DA và S1
Hình 3.73 Giản đồ năng lượng các MO biên của DA và S2
Trang 26lượng ánh sáng như khi kích thích chemosensor tự do, dẫn đến huỳnh quang dập tắt
Đối với phức S3, sự hình thành phức dẫn đến khoảng cách năng
lượng giữa HOMO và LUMO trong phức rất nhỏ, khoảng 0,65 eV
Do bước chuyển HOMO→LUMO là bước chuyển chính trong S3, nên bước sóng phát xạ huỳnh quang trong S3 lớn hơn 1451 nm và
không quan sát thấy trong thực tế
Ở trạng thái kích
thích trong phức S4,
sự hình thành phức kèm theo quá trình chuyển 1 electron từ
DA sang Cu(II) Kết
quả dẫn đến MO131 chỉ chứa 1 electron
Sự dập tắt huỳnh
quang trong S4 có thể
do các nguyên nhân: bước chuyển electron
từ MO131 lên
MO132 có độ bội bằng 2, nên trạng thái kích thích là doublet, không phải trạng thái kích thích singlet; các bước chuyển khác không dẫn đến huỳnh quang do xảy ra quá trình PET từ MO có mức năng lượng nằm
Hình 3.74 Giản đồ năng lượng các MO biên của DA và S3
Hình 3.75 Giản đồ năng lượng các MO biên của DA và S4
Trang 27ở giữa mỗi bước chuyển
NHỮNG KẾT LUẬN CHÍNH CỦA LUẬN ÁN
1 Lần đầu tiên, một sự kết hợp linh hoạt, hoàn chỉnh giữa tính toán hóa học lượng tử và nghiên cứu thực nghiệm đã được áp dụng thành công trong nghiên cứu phát triển hai sensor huỳnh quang
mới là chemodosimeter DT và chemosensor DA Đối với chemodosimeter DT, tính toán đã dự đoán và định hướng cho tất
cả các quá trình; nghiên cứu thực nghiệm sau đó đã kiểm chứng
và khẳng định lại các kết quả tính toán Đối với chemosensor DA,
tính toán chỉ dùng để dự đoán và định hướng cho thực nghiệm ở giai đoạn thiết kế, tổng hợp và đặc trưng của sensor; ứng dụng của
chemosensor DA được nghiên cứu trước từ thực nghiệm, và sau
đó, tính toán lý thuyết dùng để giải thích và làm rõ bản chất các kết quả từ thực nghiệm Sự kết hợp linh hoạt này đã giảm đáng kể khối lượng tính toán lý thuyết và thực nghiệm, tăng khả năng thành công, tiết kiệm thời gian và chi phí hóa chất sử dụng
2 Các fluorophore, receptor và spacer, cũng như phản ứng tổng
hợp các chemodosimeter DT và chemosensor DA đã được định
hướng trước từ tính toán và thực nghiệm đã cho thấy hoàn toàn phù hợp với lý thuyết
3 Cấu trúc, đặc tính và ứng dụng của chemodosimeter DT và chemosensor DA đã được xác định tại B3LYP/LanL2DZ với kết
quả đáng tin cậy, thông qua kiểm tra, đối chiếu và khẳng định từ các kết quả thực nghiệm Dữ liệu phân tích nhiễu xạ đơn tinh thể
tia X của DA đã được lưu trữ tại Trung tâm dữ liệu tinh thể
Cambridge, Vương Quốc Anh
4 DT là một chemodosimeter huỳnh quang, có thể phát hiện chọn
lọc Hg(II) với giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng tương ứng là 50 và 166 ppb; phản ứng xảy ra gần như tức thời; sử dụng một lượng nhỏ dung môi hữu cơ và không bị ảnh hưởng bởi các ion kim loại khác bao gồm Zn(II), Cu(II), Cd(II), Pb(II), Ag(I), Fe(II), Cr(III), Co(III), Ni(II), Ca(II), Mg(II), K(I) và Na(I)
Trang 28Chemodosimeter DT phát hiện chọn lọc Hg(II) đã được giải thích
là do Hg(II) gây nên phản ứng đặc trưng với DT- phản ứng giữa
dẫn xuất thiourea với amin tạo vòng guanidine khi có mặt Hg(II)
Phản ứng giữa chemodosimeter DT với Hg(II) đã được nghiên
cứu bằng phương pháp tính toán và khẳng định bởi phổ 1
H NMR, phổ 13C NMR và phổ khối MS
5 DA là một chemosensor có thể phát hiện đồng thời các ion
Hg(II), Cu(II) và Ag(I) trong các mẫu thực tế nhờ những đặc tính nổi bật của nó, bao gồm: giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng thấp, tương ứng là 2,8 và 9,5 ppb; 0,8 và 2,7 ppb; 1,0 và 3,4 ppb; khoảng pH rộng, từ 5 đến 9; sử dụng một lượng nhỏ dung môi hữu cơ; không bị ảnh hưởng của các ion kim loại cạnh tranh, bao gồm Na(I), K(I), Pb(II), Cd(II), Co(II), Ca(II), Ba(II), Mg(II), Zn(II), Fe(II), Ni(II), Al(III) và Cr(III) Phản ứng tạo
phức giữa DA với Hg(II), Cu(II) và Ag(I), cũng như cấu trúc
hình học và đặc điểm các liên kết trong các phức đã được nghiên cứu và xác định
6 Đặc tính huỳnh quang, cũng như sự thay đổi tín hiệu huỳnh quang trước và sau khi các sensor tương tác với chất phân tích
đã được nghiên cứu thông qua phân tích trạng thái kích thích bằng phương pháp TD-DFT và nghiên cứu bản chất các liên kết
từ phân tích NBO Theo đó, Hg(II) gây nên phản ứng tách loại lưu huỳnh và đóng vòng guanidine, kích hoạt quá trình PET, dẫn
đến dập tắt huỳnh quang khi tương tác với DT Trong khi, huỳnh quang dập tắt trong các phức giữa DA với các ion Hg(II), Cu(II)
và Ag(I) là do sự hình thành phức kèm theo chuyển dịch mạnh
mẽ mật độ electron từ các phối tử DA đến các ion kim loại đã
dẫn đến thay đổi cấu trúc và mức độ liên hợp của hệ thống electron π trong fluorophore