Những năm gần đây, thị trường đồ gỗ xuất khẩu chính của doanh nghiệp gỗ Bình Định là EU đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng do tình trạng nợ công và chính sách thắt chặt chi tiêu của chính phủ
Trang 1KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
PHAN THỊ LỆ THỨC (TCDN 34B) NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG TRINH (TCDN 34B)
BÌNH ĐỊNH, 02/2015
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO VÀ PHÂN
TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1
1.1 KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO VÀ PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG DOANH NGHIỆP 1
1.1.1 Tổng quan về rủi ro và rủi ro tài chính trong doanh nghiệp 1
1.1.1.1 Các vấn đề về rủi ro 1
1.1.1.2 Các vấn đề về rủi ro tài chính trong doanh nghiệp 10
1.1.2 Tổng quan về phân tích rủi ro trong doanh nghiệp 19
1.1.2.1 Sự cần thiết của việc phân tích rủi ro trong doanh nghiệp 19
1.1.2.2 Nguồn thông tin để phân tích rủi ro 20
1.1.2.3 Các phương pháp phân tích rủi ro 23
1.2 KHÁI QUÁT VỀ PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 24
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của tài chính doanh nghiệp 24
1.2.1.1 Khái niệm của tài chính doanh nghiệp 24
1.2.1.2 Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp 25
1.2.2 Nội dung phân tích rủi ro tài chính 25
1.2.2.1 Phân tích rủi ro tài chính thông qua độ biến thiên của tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu 26
1.2.2.2 Phân tích rủi ro tài chính thông qua cơ cấu nguồn vốn 28
Trang 31.2.2.5 Phân tích rủi ro tài chính thông qua độ nhạy cảm với lãi suất,
biến động giá cả và tỉ giá 42
1.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 45
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP GỖ TỈNH BÌNH ĐỊNH 47
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP GỖ BÌNH ĐỊNH 47
2.1.1 Khái quát tình hình phát triển của doanh nghiệp gỗ Bình Định 47
2.1.1.1 Số lượng doanh nghiệp 47
2.1.1.2 Quy mô và cơ cấu vốn của các doanh nghiệp 51
2.1.1.3 Nguồn nguyên liệu gỗ 52
2.1.1.4 Nguồn nhân lực 56
2.1.1.5 Thị trường tiêu thụ 56
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành gỗ Bình Định 57
2.1.2.1 Điều kiện tự nhiên 58
2.1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 60
2.1.3 Thuận lợi và khó khăn của các doanh nghiệp gỗ Bình Định 62
2.1.3.1 Thuận lợi 62
2.1.3.2 Khó khăn 63
2.2 PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP GỖ ĐÃ KHẢO SÁT TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH 65
2.2.1 Khái quát kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty gỗ đã khảo sát tại Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 65
Trang 42.2.1.2 Khái quát hiệu quả kinh doanh của các công ty gỗ đã khảo sát
tại Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 70
2.2.2.1 Khái quát về tình hình tài sản và biến động tài sản của các công ty 76
2.2.2.2 Khái quát về về cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn 80
2.2.3 Phân tích rủi ro tài chính tại các doanh nghiệp gỗ Bình Định 86
2.2.3.1 Phân tích rủi ro tài chính thông qua độ biến thiên ROE 86
2.2.3.2 Phân tích rủi ro tài chính thông qua cơ cấu vốn 91
2.2.3.3 Phân tích rủi ro tài chính thông qua khả năng thanh toán 99
2.2.3.4 Phân tích rủi ro tài chính thông qua tỷ số hoạt động 121
2.2.3.5 Phân tích rủi ro tài chính thông qua độ nhạy cảm với lãi suất, biến động giá cả và tỷ giá 127
2.2.4 Đánh giá chung về rủi ro tài chính của các doanh nghiệp gỗ Bình Định trong giai đoạn 2011 - 2013 135
2.2.4.1 Những kết quả đạt được 135
2.2.4.2 Những mặt còn tồn tại 135
2.2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 136
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP GỖ BÌNH ĐỊNH 138 3.1 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP GỖ BÌNH ĐỊNH 138
3.1.1 Giảm tỷ trọng nhập khẩu gỗ từ bên ngoài, tăng cường sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ trong nước 138
Trang 53.1.3 Các doanh nghiệp gỗ trong Tỉnh cần tìm cách nắm bắt kịp thời các thông tin cần thiết, tìm hiểu kỹ đặc điểm, nhu cầu, xu hướng của từng thị
trường 139
3.1.4 Các doanh nghiệp cần có các chiến lược kinh doanh, chính sách đầu tư hợp lí 139
3.1.5 Tăng cường đào tạo lao động có tay nghề, trình độ quản lí cao từ đó giảm thất thoát trong quá trình sản xuất 140
3.1.6 Đẩy mạnh cải tiến công tác thiết kế sản phẩm, tạo cho sản phẩm sự khác biệt mang lại lợi thế cạnh tranh 140
3.1.7 Các doanh nghiệp nên mở rộng liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp khác trong và ngoài tỉnh cũng như trên địa bàn cả nước và nước ngoài 141
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP GỖ BÌNH ĐỊNH 141
3.2.1 Giải pháp về vốn 141
3.2.2 Giải pháp cho sản phẩm đầu ra 142
3.2.3 Giải pháp cho công nhân 143
3.2.4 Giải pháp về nâng cao sử dụng tài sản ngắn hạn 143
3.2.5 Giải pháp về khả năng thanh toán 144
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 149
Trang 64 LNST Lợi nhuận sau thuế
5 SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 7Bảng
Bảng 1.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán 41
Bảng 2.1 Các doanh nghiệp gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Định năm 2014 48
Bảng 2.2 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp 51
Bảng 2.3 Diện tích rừng trồng tập trung tỉnh Bình Định 53
Bảng 2.4 Sản lƣợng khai thác gỗ tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 53
Bảng 2.5 Khối lƣợng và trị giá nhập khẩu gỗ nguyên liệu của tỉnh Bình Định Giai đoạn 2011-2014 54
Bảng 2.6 Doanh thu thuần của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định Giai đoạn 2011 – 2013 66
Bảng 2.7 Biến động doanh thu thuần của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 67
Bảng 2.8 Lợi nhuận sau thuế của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 68
Bảng 2.9 Biến động lợi nhuận sau thuế của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 69
Bảng 2.10 Doanh lợi doanh thu của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 71
Bảng 2.11 Sức sinh lời căn bản của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 72
Bảng 2.12 Tỷ suất sinh lời tổng tài sản (ROA) của của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 73
Bảng 2.13 Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 75
Bảng 2.14 Tình hình nguồn vốn của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 76
Bảng 2.15 Biến động tài sản của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 79
Trang 8Bảng 2.17 Biến động ROE của một số doanh nghiệp gỗ Bình Định giai đoạn
2011 – 2013 87Bảng 2.18 Các chỉ tiêu phân tích rủi ro tài chính thông qua độ biến thiên tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 90Bảng 2.19 Độ lớn của đòn bẩy tài chính của một số doanh nghiệp gỗ Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 96Bảng 2.20 Hệ số khả năng thanh toán tổng quát của một số doanh nghiệp gỗ Bình Định giai đoạn 2011 - 2012 100Bảng 2.21 Hệ số thanh toán hiện hành của một số doanh nghiệp gỗ Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 105Bảng 2.22 Hệ số thanh toán nhanh của một số doanh nghiệp gỗ Bình Định giai đoạn 2011 - 2013 109Bảng 2.23 Hệ số thanh toán bằng tiền của một số doanh nghiệp gỗ Bình Định năm 2011 - 2013 113Bảng 2.24 Hệ số chi trả lãi vay của các công ty 118Bảng 2.25 Biến động vay nợ ngắn hạn và dài hạn giữa năm 2012 so với năm
2011 của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định 128Bảng 2.26 Biến động vay nợ ngắn hạn và dài hạn giữa năm 2013 so với năm
2012 của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định 128Bảng 2.27 Chi phí lãi vay của một số doanh nghiệp gỗ Bình Định giai đoạn
2011 – 2013 129Bảng 2.28 Biến động chi phí lãi vay của một số doanh nghiệp gỗ Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 130Bảng 2.29 Lãi (lỗ) về tỷ giá do đánh giá lại các khoản mục có gốc ngoại tệ 131Bảng 2.30 Tỷ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu bán hàng 134
Trang 9năm 2014 47Biểu đồ 2.2 Cơ cấu các doanh nghiệp gỗ Bình Định năm 2014 phân theo địa bàn kinh tế 48Biểu đồ 2.3 Số lượng doanh nghiệp gỗ thành phố Quy Nhơn năm 2014 49Biểu đồ 2.4 Số lượng doanh nghiệp gỗ Bình Định năm 2014 phân theo ngành nghề kinh tế 50Biểu đồ 2.5 Cơ cấu các doanh nghiệp gỗ Bình Định năm 2014 phân theo ngành nghề kinh tế 50Biểu đồ 2.6 Quy mô doanh nghiệp gỗ Bình Định năm 2014 51Biểu đồ 2.7 Biểu đồ khối lượng và trị giá nhập khẩu gỗ nguyên liệu 54Biểu đồ 2.8 Biểu đồ thể hiện xu hướng tăng trưởng nhu cầu nhập khẩu gỗ nguyên liệu của tỉnh Bình Định giai đoạn 2011-2014 55Biểu đồ 2.9 Kim ngạch xuất khẩu từ năm 2011 – 2014 56Biểu đồ 2.10 Cơ cấu KNXK gỗ và sản phẩm gỗ tỉnh Bình Định sang một số thị trường chính năm 2014 57Biểu đồ 2.11 Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7/2014 hàng năm trong các ngành kinh tế của tỉnh Bình Định 60Biểu đồ 2.12 Tình hình tài sản của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 77Biểu đồ 2.13 Cơ cấu tài sản của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định năm
2011 80Biểu đồ 2.14 Cơ cấu nguồn vốn của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định năm 2011 81Biểu đồ 2.15 Cơ cấu tài sản của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định năm
2012 82Biểu đồ 2.16 Cơ cấu nguồn vốn của một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định năm 2012 83
Trang 10Biểu đồ 2.18 Cơ cấu nguồn vốn một số doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định năm
2013 85Biểu đồ 2.19 Hệ số nợ của một số doanh nghiệp gỗ Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 92Biểu đồ 2.20 Tỷ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu của một số doanh nghiệp
gỗ Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 94Biểu đồ 2.21 Biến động của tổng tài sản và nợ phải trả năm 2012 so với năm
2011 của một số công ty 101Biểu đồ 2.22 Biến động của tổng tài sản và nợ phải trả năm 2013 so với năm
2012 của một số công ty 103Biểu đồ 2.23 Biến động của tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn năm 2012 so với năm 2011 của một số công ty 106Biểu đồ 2.24 Biến động của tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn năm 2013 so với năm 2012 của một số công ty 107Biểu đồ 2.25 Tốc độ tăng của hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của một số doanh nghiệp 111Biểu đồ 2.26 Biến động của tiền và nợ ngắn hạn của một số doanh nghiệp gỗ Bình Định năm 2012 so với năm 2011 115Biểu đồ 2.27 Biến động của tiền và nợ ngắn hạn năm 2013 so với năm 2012 của một số doanh nghiệp 116Biểu đồ 2.28 Số vòng quay hàng tồn kho của một số doanh nghiệp gỗ Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 122Biểu đồ 2.29 Kỳ thu tiền bình quân của một số doanh nghiệp gỗ Bình Định giai đoạn 2011 – 2013 125Biểu đồ 2.30 Biểu đồ giá vốn hàng bán của một số doanh nghiệp gỗ Bình Định giai đoạn 2011 - 2013 133
Trang 11Nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập vào nền kinh tế chung của thế giới với rất nhiều cơ hội và thách thức đan xen vào nhau và dưới tác động của cạnh tranh, các doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều rủi ro Vì vậy, rủi ro tài chính đang là vấn đề ngày càng thu hút được sự chú ý của nhiều chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà phân tích tài chính
Nhất là, trong giai đoạn gần đây, kinh tế Việt Nam đang chịu những biến động to lớn về nhiều mặt ảnh hưởng đến đa số các ngành nghề kinh doanh trong đó phải kể đến ngành gỗ, đây là ngành hiện đang có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 5 trên cả nước (sau giày dép, dầu thô, hàng thủy sản và máy móc, thiết bị dụng cụ) Và trên khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được xem quốc gia đứng nhất nhì về xuất khẩu sản phẩm gỗ Bên cạnh cạnh sự phát triển vượt bậc đó, các doanh nghiệp gỗ cả nước cũng luôn đối đầu với những khó khăn và rủi ro khó lường, đặc biệt là những rủi ro xuất phải từ bản thân doanh nghiệp mà doanh nghiệp chưa nhận biết hay chưa quan tâm Chính những rủi ro này đã gây không ít khó khăn cho toàn bộ doanh nghiệp gỗ Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp gỗ Bình Định nói riêng Bởi ngành gỗ không chỉ trở thành mũi nhọn kinh tế của ngành lâm nghiệp mà còn là ngành công nghiệp chủ lực đóng góp vào tăng trưởng GDP, ổn định xã hội của tỉnh Bình Định (chiếm trên 52% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 60% giá trị kim ngạch xuất khẩu và giải quyết 3 vạn lao động tại địa phương) Ngành gỗ đã góp phần đưa Bình Định trở thành một trong bốn trung tâm sản xuất đồ gỗ lớn nhất cả nước, sau Tp Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai
Những năm gần đây, thị trường đồ gỗ xuất khẩu chính của doanh nghiệp gỗ Bình Định là EU đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng do tình trạng nợ công và chính sách thắt chặt chi tiêu của chính phủ các nước này, kinh tế trong nước chưa ổn định như lạm phát và lãi xuất cho vay cao đã tác động không ít đến tình hình hoạt động của các doanh nghiệp gỗ Vì thế, các doanh
Trang 12tình hình tài chính thì cũng cần phải quan tâm và phân tích rủi ro tài chính của doanh nghiệp
Với ý nghĩa quan trọng của việc phân tích rủi ro tài chính và xuất phát
từ thực tế trong quá trình nghiên cứu các doanh nghiệp gỗ Bình Định , cùng với sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của cô Nguyễn Thị Bích Liễu, nhóm
chúng em đã chọn đề tài “ Phân tích rủi ro tài chính của các doanh nghiệp
gỗ Bình Định” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình
2 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Mục đích của đề tài là nhằm đưa ra những lý luận cơ bản nhất về phân tích rủi ro tài chính của các doanh nghiệp gỗ Bình Định và đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tài chính cho các doanh nghiệp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng của đề tài: Rủi ro tài chính của các doanh nghiệp gỗ Bình
Định
Phạm vi nghiên cứu:
Do thời hạn nên đề tài chỉ tập trung vào việc phân tích rủi ro tài chính của các doanh nghiệp gỗ Bình Định thuộc khu công nghiệp Phú Tài, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Số liệu phân tích được thu thập từ năm 2011 đến năm 2013 của 11 doanh nghiệp gỗ tỉnh Bình Định
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để nội dung phân tích đúng với tình hình thực tế của các doanh nghiệp
gỗ, nhóm chúng em đã sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích sau: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích nguồn số liệu chủ yếu lấy từ báo cáo tài chính Trong đó, đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích rủi ro tài chính thực tế phát sinh của các doanh nghiệp theo phương pháp phân tích báo cáo tài chính và từ đó đưa ra kết luận cùng một số giải pháp để hạn chế rủi ro tài chính
Trang 13CHƯƠNG 1: Những lý luận cơ bản về rủi ro và phân tích rủi ro tài chính trong doanh nghiệp
CHƯƠNG 2: Phân tích rủi ro tài chính của các doanh nghiệp gỗ Bình Định
CHƯƠNG 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro tài chính của các doanh nghiệp gỗ Bình Định
Do kiến thức còn hạn hẹp, tài liệu còn nhiều thiếu sót và thời gian trải nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế nên dù đã cố gắng hết sức nhưng đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Nhóm chúng em kính mong các thầy cô giáo trong khoa Tài chính – Ngân hàng và Quản trị kinh doanh trường Đại học Quy Nhơn và đặc biệt là cô giáo hướng dẫn Nguyễn Thị Bích Liễu để bài nghiên cứu của chúng em được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO VÀ PHÂN TÍCH
RỦI RO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO VÀ PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Tổng quan về rủi ro và rủi ro tài chính trong doanh nghiệp
1.1.1.1 Các vấn đề về rủi ro
a Khái niệm rủi ro
Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro, những trường phái khác nhau, tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau Những định này rất đa dạng, phong phú, nhưng tựu trung lại có thể chia làm hai trường phái lớn: [13, tr24-26]
Trường phái truyền thống
Theo trường phái truyền thống, rủi ro được coi là sự không may, mất mát, nguy hiểm Thuộc trường phái này, ta có thể thấy các định nghĩa:
Theo từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản
năm 1995 thì “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”
Trong lĩnh vực kinh doanh, tác giả Hồ Diệu cho rằng “Rủi ro là sự tổn
thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận sự kiến”
Theo khái niệm rủi ro trong bảo hiểm, “Rủi ro là những tai nạn, tai
họa, sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, hoặc những mối đe dọa nguy hiểm khi xảy ra thì gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm”
Như vậy, theo trường phái truyền thống, “Rủi ro là những thiệt hại,
mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”
Xã hội loài người ngày càng phát triển, hoạt động của con người ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp thì rủi ro cũng ngày càng nhiều và đa
Trang 15dạng hơn, mỗi ngày qua lại xuất hiện những rủi ro mới chưa từng có trong quá khứ Con người quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên cứu, nhận dạng rủi
ro và tìm các biện pháp phòng chống rủi ro Trong quá trình nghiên cứu đó, nhận thức về rủi ro của con người cũng thay đổi, và trở nên trung hòa hơn
Trường phái trung hòa
Theo trường phái trung hòa, nhiều nhà kinh tế, nhà kinh doanh trên thế giới đã nghiên cứu và đưa ra một số khái niệm về rủi ro:
Theo Allan Willett, tác giả cuốn sách “The Economic Theory of Risk and Insurance” (Philadelphia University of Pensylvania press, USA 1951) cho
rằng “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi” [8, tr61] Như vậy, cách tiếp cận của ông liên quan đến thái độ của con người
Những biến cố ngoài sự mong đợi chính là rủi ro, và khái niệm này đã giải thích cho rủi ro suy thoái liên quan đến sự thành bại của một sự kiện diễn ra
Theo Frank Knight (Mỹ), “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”
và Inrving Preffer (Mỹ) lại cho rằng: “Rủi ro là tổng hợp của những sự ngẫu
nhiên có thể đo lường bằng xác suất” [8, tr61] Theo hai ông, rủi ro gắn liền
với sự hiện diện ngẫu nhiên, không phụ thuộc vào ý chí con người của vạn vật, hiện tượng mà có thể đo lường được bằng xác suất Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng bởi nhiều loại rủi ro chính là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp do con người gây ra, cũng như rủi ro xảy ra ngoài những dự báo,
tính toán của con người
Diễn giải một cách đầy đủ hơn về rủi ro và nguy cơ rủi ro, trong “Risk managerment and insurance”, các tác giả C Arthur William, Jr Michael, L
Smith đã viết: “Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro có thể
xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể dự đoán trước”
Trang 16Như vậy, theo trường phái trung hòa, rủi ro là sự không chắc chắn về
những gì xảy ra trong tương lai nhưng có thể đo lường được, xác định được ở mức độ nào đó Rủi ro vừa mang tiêu cực, nó có thể mang đến những
tổn thất, mất mát, nguy hiểm cho con người, vừa mang tính tích cực vì nó cũng có thể mang đến các cơ hội [5, tr172]
Tóm lại, “Rủi ro (risk) là một sự không chắc chắn (uncertainty) hay
một tình trạng bất ổn” [5, tr14] Tuy nhiên, không phải bất cứ sự không chắc
chắn nào cũng là rủi ro Chỉ có những tình trạng không chắc chắn mà có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro Những tình trạng không chắc chắn chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy
ra được xem là sự bất trắc, chứ không phải là rủi ro
Để có thể đo lường, “Rủi ro được định nghĩa như là sự khác biệt giữa
giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng” Giá trị kì vọng chính là giá trị trung bình
có trọng số của một biến nào đó với trọng số chính là xác suất xảy ra giá trị của biến đó Sự khác biệt giữa giá trị thực tế so với giá trị kỳ vọng được đo lường bởi độ lệch chuẩn Do vậy, độ lệch chuẩn hay phương sai (bình phương của độ lệch chuẩn) chính là thước đo của rủi ro Nói đến rủi ro tức là nói đến quan hệ giữa giá trị của một biến nào đó so với kỳ vọng của nó [6, tr694]
Doanh nghiệp đối diện với môi trường rủi ro, vì đó đồng thời cũng là môi trường đem lại cơ hội Mức độ rủi ro cao, lợi nhuận cao hơn (high risk, high return) Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng, đo lường rủi ro, người ta có thể tìm ra các biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận được cơ hội, mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai
b Tính chất của rủi ro
Rủi ro có ba tính chất quan trọng
Một là, rủi ro có tính bất ngờ Rủi ro là những sự kiện bất ngờ mà
người ta không lường trước được một cách chắc chắn, nó có thể xuất hiện vào một thời điểm bất kỳ trong tương lai và bất kỳ ở đâu Tính bất ngờ của rủi ro
Trang 17phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của con người và quy luật của rủi ro Ngày nay, khoa học đã giúp cho con người dự báo khá chính xác nhiều loại rủi ro, nhờ đó có thể đề ra những biện pháp thích hợp để phòng ngừa, hạn chế rủi ro Trên thực tế, một trong các mục tiêu của con người chống lại rủi ro là làm sao
để giảm đi tính bất ngờ của rủi ro
Hai là, rủi ro gây ra tổn thất Một khi rủi ro xảy ra là để lại hậu quả
cho con người, mức độ của hậu quả đó có thể là nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng Tổn thất có nguyên nhân từ rủi ro tồn tại dưới dạng hữu hình hoặc vô hình, có thể là những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần, sức khỏe hoặc trách nhiệm pháp lý Nhìn chung, mọi tổn thất đều có một đặc tính là gây thiệt hại, giảm sút lợi ích của con người
Ba là, rủi ro là sự kiện ngoài mong đợi Rủi ro là sự kiện bất ngờ và
gây tổn thất, vì vậy nó là sự kiện ngoài mong đợi của mọi người
Một sự kiện được coi là rủi ro phải đồng thời thỏa mãn ba tính chất nêu trên Theo đó nếu sự kiện xảy ra là do chủ định hoặc đã biết trước chắc chắn
sẽ xảy ra hoặc xảy ra nhưng không để lại hậu quả thì sự kiện đó không được coi là rủi ro Hoặc nếu như sự kiện xảy ra gây tổn thất, nhưng hoàn toàn nằm trong dự liệu của chúng ta cũng không được coi là rủi ro Hoặc một sự kiện chúng ta mong đợi bất ngờ xảy ra nhưng lại không gây tổn thất, mà ngược lại, đem về lợi ích thì không phải là rủi ro Chẳng hạn: khi chúng ta đầu tư vào thị trường chứng khoán, giá cổ phiếu của chúng ta tăng đột ngột mức cao Sự kiện tăng giá này không phải là rủi ro mà là may mắn
Như vậy, khi nói đến rủi ro là chúng ta đã đề cập đến một biến cố ngẫu
nhiên, gây tổn thất cho con người Những biến cố đó rất khác nhau trong từng lĩnh vực, nó có thể xuất hiện từ những nguyên nhân bên ngoài một cách ngẫu nhiên, khách quan; nhưng nó cũng có thể xuất hiện từ nguyên nhân bên trong của sự vật, hiện tượng, từ hành vi, thái độ của con người Vì rủi ro là biến cố bất lợi cho con người nên để khống chế rủi ro hoặc hạn chế thiệt hại do rủi ro
Trang 18gây ra, con người không ngừng tìm cách khắc phục, rút ra bài học kinh nghiệm và tìm cách thích hợp quản trị rủi ro Tuy nhiên, tùy từng loại rủi ro
mà người ta sẽ áp dụng những biện pháp khác nhau để quản lý rủi ro
c Nguồn gốc và nguyên nhân của rủi ro [8, tr62]
Nguồn gốc của rủi ro
Nguồn gốc tự nhiên: Do con người chưa nhận thức hết các quy luật
của tự nhiên hoặc không đủ khả năng chế ngự hết những tác động của tự nhiên dù đã nhận biết được quy luật như rủi ro động đất, rủi ro núi lửa phun
Nguồn gốc kinh tế - xã hội: Tiến bộ khoa học kỹ thuật, một mặt, thúc
đẩy kinh tế - xã hội phát triển với việc phát minh ra các máy móc, các phương tiện tinh vi, hiện đại Mặt khác, chính các thành tựu đó lại làm nảy sinh các rủi ro đe dọa đời sống con người khi có sự mất khả năng kiểm soát, chế ngự nhất thời Ví dụ: Nổ, đổ vỡ máy móc, điện giật
Bên cạnh đó, xã hội phát triển cùng với các mối quan hệ nảy sinh càng ngày càng nhiều, càng phức tạp và không phải lúc nào cũng diễn một cách thuận lợi Các mâu thuẫn tất yếu sẽ phát sinh dẫn đến phá vỡ các mối quan hệ
xã hội, trở thành một trong những nguyên nhân của các tổn thất Ví dụ: chiến tranh, trộm cắp, đình công
Nguyên nhân của rủi ro
Nguyên nhân khách quan: Các nguyên nhân được coi là khách quan
nếu nó độc lập với hoạt động của con người Hay nói cách khác, đây là những nguyên nhân xảy ra ngoài ý muốn, ngoài sự kiểm soát, và không phải từ hành động trực tiếp của con người Nguyên nhân khách quan có thể là:
Trường hợp bất khả kháng gắn với tự nhiên, hoặc gắn với đời sống
xã hội như: gió, bão, sóng thần, động đất, núi lửa…,
Các trường hợp ngẫu nhiên: gắn liền với hoạt động của con người nhưng nguyên nhân không rõ ràng, không xác định được Các trường hợp này
Trang 19không ai gây ra các thiệt hại đã phát sinh, các sự cố xảy ra không có sự tham gia của con người
Nguyên nhân chủ quan: Biến cố xảy ra dưới sự tác động của con
người Nhóm nguyên nhân này rất đa dạng và phức tạp Có thể khái quát một
số nguyên nhân sau đây:
Chính sách quản lý kinh tế vĩ mô sai lầm, chính trị không ổn định,
hệ thống pháp luật luôn thay đổi, pháp chế không nghiêm, tập quán xã hội khác biệt… Nhóm nguyên nhân này gây hậu quả lớn và không mang tính quy luật nên khó dự đoán
Những sai lầm của các cá nhân, tổ chức về việc lựa chọn các chiến lược kinh doanh
Thiếu thông tin kiến thức kinh doanh cũng chính là một nguyên nhân gây ra những quyết định sai lầm dẫn đến rủi ro
Do bất cẩn, chủ quan không tập trung của các cá nhân, tổ chức
Do thiếu tinh thần trách nhiệm, đạo đức, phẩm chất, kinh nghiệm nghề nghiệp, sức khỏe, tinh thần của mọi thành viên trong tổ chức…
d Phân loại rủi ro
Hoạt động của con người ngày càng đa dạng, phức tạp cùng với sự phát triển của xã hội loài người, theo đó rủi ro cho con người cũng ngày càng nhiều, đa dạng và phong phú Để nhận dạng được rủi ro, ta cần tiến hành phân loại chúng Có nhiều tiêu thức phân loại khác nhau, song dưới đây chỉ nghiên cứu một số tiêu thức phân loại sau:
Phân loại theo bản chất của rủi ro
Theo bản chất của rủi ro, rủi ro được phân thành hai loại: Rủi ro thuần
túy (pure risk) và rủi ro suy đoán (speculative risk)
Rủi ro thuần túy: Rủi ro thuần túy là loại rủi ro chỉ mang đến những
thiệt hại, tổn thất, nguy hiểm, như: bão lụt, hỏa hoạn, tai nạn lao động… Loại
rủi ro này có đặc điểm như sau: Thứ nhất, rủi ro thuần túy nếu xảy ra sẽ dẫn
Trang 20đến kết quả tổn thất về kinh tế và không có cơ hội kiếm lời Thứ hai, rủi ro
thuần túy là loại rủi ro liên quan đến việc phá hủy tài sản (nếu hỏa hoạn xảy ra
thì tòa nhà bị phá hủy) Thứ ba, biện pháp đối phó với rủi ro này là bảo hiểm
Rủi ro suy đoán: Rủi ro suy đoán còn gọi là rủi ro suy tính hay rủi
mang tính đầu cơ Loại rủi ro này tồn tại những cơ hội tạo ra thuận lợi gắn với nguy cơ gây ra tổn thất Đây là loại rủi ro gắn liền trong với khả năng thành bại trong hoạt động đầu tư, kinh doanh, đầu cơ và là lí do tồn tại của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp đều buộc phải chấp nhận ít nhất một loại rủi ro mang tính đầu cơ, ngay khi họ đăng ký kinh doanh và hy vọng có lãi, mặc dù biết rõ ràng là cũng có thể bị lỗ Ví dụ, rủi ro thay đổi giá cả, mức thuế không
ổn định, tình hình tài chính không ổn định Tăng giá có thể mang lại nhiều lời cho người có tồn kho nhiều và giảm giá sẽ làm họ bị thua thiệt lớn Đặc điểm
cơ bản của loại rủi ro này thường là không được bảo hiểm nhưng có thể đối phó bằng biện pháp rào chắn
Phân loại theo môi trường hình thành rủi ro [13, tr28-32]
Theo môi trường hình thành, rủi ro được chia thành các loại sau:
Rủi ro do môi trường thiên nhiên: Đây là nhóm rủi ro do các hiện
tượng thiên nhiên như: Động đất, núi lửa, bão, lũ lụt, song thần, sét đánh, đất
lở, hạn hán, sương muối,… gây ra Những rủi ro này thường dẫn đến những thiệt hại to lớn về người và của, làm cho các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp xuất khẩu bị tổn thất nặng nề
Rủi ro do môi trường văn hóa: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì
dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” (Định nghĩa
về văn hóa của UNESCO) Rủi ro do môi trường văn hóa là những rủi ro do
sự thiếu hiểu biết về phong tục, tập quán,… dân tộc khác, từ đó dẫn đến các hành xử không phù hợp, gây ra những thiệt hại, mất cơ hội kinh doanh
Trang 21 Rủi ro môi trường xã hội: Sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành
vi của con người, cấu trúc xã hội, các định chế,… là một nguồn rủi ro quan trọng Không nắm được điều này có thể gánh chịu những thiệt hại nặng nề
Rủi ro do môi trường chính trị: Môi trường chính trị có ảnh hưởng
rất lớn đến bầu không khí kinh doanh Môi trường chính trị ổn định sẽ giảm thiểu rất nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp Khi một chính thể mới ra đời sẽ
có thể làm đảo lộn hoạt động của nhiều doanh nghiệp, tổ chức
Rủi ro do môi trường pháp luật: Xã hội luôn phát triển, tiến hóa,
nếu các chuẩn mực luật pháp không phù hợp với bước tiến của xã hội thì sẽ gây ra nhiều rủi ro Ngược lại nếu luật pháp thay đổi quá nhiều, quá thường xuyên, không ổn định, cũng gây ra những khó khăn rất lớn Trong kinh doanh quốc tế, môi trường luật pháp phức tạp hơn, chuẩn mực của các nước khác nhau Nếu chỉ nắm rõ và tuân thủ chuẩn mực luật pháp của mình mà không
hiểu luật pháp của đối tác, thì sẽ gặp rủi ro
Rủi ro do môi trường kinh tế: Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu
hóa nền kinh tế thế giới mặc dù trong mỗi nước môi trường kinh tế thường vận động theo môi trường chính trị, nhưng ảnh hưởng của môi trường kinh tế chung của thế giới đến từng nước là rất lớn Mọi hiện tượng diễn ra trong môi trường kinh tế như tốc độ phát triển kinh tế, khủng hoảng, suy thoái kinh tế, lạm phát, … đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp, gây ra những rủi ro, bất ổn Đặc biệt các hiện tượng: tỷ giá hối đoái thay đổi, lãi suất thay đổi, giá cả hàng hóa biến động, sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
Rủi ro do môi trường hoạt động của tổ chức: Trong quá trình họt
động của mọi tổ chức có thể phát sinh rất nhiều rủi ro ở mọi lĩnh vực: nhân
sự, công nghệ, văn hóa tổ chức, quan hệ với nhà cung cấp (đầu vào), quan hệ với khách hàng tiêu thụ (đầu ra) ,… Rủi ro do môi trường hoạt động của tổ chức có thể xuất hiện dưới nhiều dạng: thiếu thông tin hoặc có những thông
Trang 22tin không chính xác dẫn đến bị lừa đảo; máy móc, thiết bị bị sự cố; tai nạn lao động, sản phẩm bị thu hồi; chính sách tuyển dụng, đãi ngộ nhân viên không hợp lí; hoạt động quảng cáo, khuyến mãi bị sai xót, …
Rủi ro do nhận thức của con người: Khi nhận diện và phân tích
không đúng dẫn đến kết luận sai lầm Nếu nhận thức và thực tế hoàn toàn khác nhau thì rủi ro càng lớn
Phân loại theo môi trường tác động
Theo môi trường tác động, rủi ro được hình thành:
Môi trường bên trong: Môi trường hoạt động nội tại của tổ chức
Đối với một doanh nghiệp/tổ chức để nghiên cứu rủi ro từ môi trường bên trong có thể chọn hướng tiếp cận khác nhau như: Theo lĩnh vực (quản trị, Marketing, tài chính – kế toán,…); Theo bộ phận phòng ban, phân xưởng…
Môi trường bên ngoài: Gồm những yếu tố, những lực lượng, những
thể chế,… xảy ra ở bên ngoài, doanh nghiệp không kiểm soát được, nhưng có ảnh hưởng đến hoạt động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Môi trường bên ngoài được chia thành hai loại: Môi trường vĩ mô (kinh tế, chính trị, chính phủ, luật pháp, văn hóa – xã hội, địa lí, công nghệ…), Môi trường vi
mô (môi trường cạnh tranh: nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh hiện hữu, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, sản phẩm thay thế)
Phân loại theo khả năng tính toán xác suất của rủi ro
Người ta cố gắng phân định rõ và tách biệt hẳn 2 loại rủi ro: có thể tính toán được và không thể tính toán được
Rủi ro có thể tính toán được: là những rủi ro mà tần số xuất hiện cũng
như mức độ trầm trọng của nó có thể tiên đoán được ở một mức độ tin cậy nhất định
Rủi ro không thể tính toán được: người ta không thể (hoặc chưa thể)
tìm ra được quy luật vận động nên không thể (chưa thể) tiên đoán được xác
Trang 23suất xảy ra biến cố trong tương lai Ví dụ: xác suất của biến cố người ngoài trái đất đổ bộ và tàn sát nhân loại
Thực tế, không có ranh giới rõ ràng cho hai loại rủi ro nêu trên vì ngay
cả khi có thể xác định được xác suất xảy ra biến cố trong tương lai thì con số
đó chỉ có mức độ chính xác tương đối với một mức độ tin cậy nhất định
1.1.1.2 Các vấn đề về rủi ro tài chính trong doanh nghiệp
a Khái niệm rủi ro tài chính
Rủi ro trong doanh nghiệp là sự bất trắc sự không ổn định của kết quả kinh doanh có thể đo lường được, có thể đưa đến những tổn thất, mất mát, thiệt hại hoặc làm mất đi cơ hội sinh lời nhưng nó cũng có thể đưa đến những lợi ích, những cơ hội thuận lợi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp [2, tr172] Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải thường xuyên đương đầu với mọi rủi ro, trong đó rủi ro tài chính là rủi ro luôn tiềm
ẩn và thường trực Bởi vì, suy cho cùng, những rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải – kể cả rủi ro kinh doanh – sẽ dẫn đến làm ăn thua lỗ, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn về tài chính
Rủi ro tài chính (Financial risk) là phần rủi ro mà các chủ sở hữu phải
gánh chịu thêm do doanh nghiệp sử dụng các khoản nợ Rủi ro tài chính là
các biến động thêm của tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS) do doanh nghiệp sử dụng các khoản nợ vay [10,
tr278] Theo đó, rủi ro tài chính bao gồm cả rủi ro không trả được nợ và sự
dao động của thu nhập dành cho các cổ đông Khi một doanh nghiệp tăng tỉ lệ
nợ, thuế và cổ phần ưu đãi trong cấu trúc tài chính của nó, họ sẽ làm tăng chi phí cố định về tài chính và vì thế, có thể làm tăng nguy cơ không trả được nợ bằng ngân quỹ mà nó sản sinh [9, tr503]
Như vậy, rủi ro tài chính chỉ tính khả biến tăng thêm của thu nhập mỗi
cổ phần và xác suất mất khả năng chi trả xảy ra khi một doanh nghiệp sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí tài chính cố định, như nợ và cổ phần ưu đãi,
Trang 24trong cấu trúc vốn của mình Mất khả năng chi trả xảy ra khi một doanh nghiệp không thể đáp ứng các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng – như thanh toán lãi và vốn vay, thanh toán các khoản phải trả và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp khi đáo hạn Việc gia tăng sử dụng các số lượng nợ và cổ phần ưu đãi làm tăng các chi phí tài chính cố định của doanh nghiệp Các chi phí này lại làm tăng mức lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) mà doanh nghiệp phải đạt được để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính và duy trì hoạt động Lý do một doanh nghiệp chấp nhận rủi ro của tài trợ có chi phí tài chính cố định là để tăng lợi nhuận có thể có cho các cổ đông [11, tr150]
b Các loại rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp
Rủi ro tài chính thường rơi vào ba loại chính và liên quan đến nhau: [1, tr28-29]
Rủi ro thanh khoản (Liquidity risk) xảy ra khi công ty không có khả
năng tạo ra đủ dòng tiền nội bộ để duy trì hoạt động Vấn đề thanh khoản thường phát sinh khi một công ty đã duy trì lỗ, đang trải chi phí vốn lớn, khi chi tiêu không có kế hoạch lớn được yêu cầu, chẳng hạn như những phát sinh
từ tranh chấp không thuận lợi hoặc nếu người cho vay không sẵn sàng để làm mới cơ sở vật chất nợ nần
Vốn khả dụng (Capital availability) thường có tương quan với sự
thanh khoản Thị trường vốn có thể biến động, sự sẵn có của vốn có thể bị hạn chế theo thời gian hoặc thậm chí không tồn tại Thị trường vốn như vậy trở nên không thể tiếp cận thường xuyên tại thời điểm điều kiện kinh tế khó khăn
và các công ty phải đối mặt với vấn đề thanh khoản
Cơ cấu vốn (Capital structure) của công ty có thể gây ra rủi ro, đặc biệt
là liên quan đến việc sử dụng nợ, sự không tương xứng giữa các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn, thời gian và số lượng của các khoản thanh toán nợ
Ngoài ra, rủi ro tài chính liên quan đến thể phát sinh từ biến động tỷ
giá hối đoái, lãi suất và giá cả thị trường
Trang 25Rủi ro thị trường: Là sự biến đổi tiềm ẩn về giá trị tài sản phát sinh từ
các biến đổi về các giá trị của các công cụ tài chính căn bản Thông thường, các doanh nghiệp và các cá nhân hầu hết liên quan đến các tổn thất do rủi ro thị trường gây nên Các tổn thất như thế có thể nảy sinh lạm phát, các biến động về lãi suất hay tỉ giá (fluctuations on interest rates or exchange rates) hay các biến đổi bất lợi về các thị trường vốn Rủi ro thị trường bao gồm về tính thanh khoản của tài sản (asset liquidity risk) (tức tài sản không thể biến thành tiền mặt nhanh), các tài sản đầu tư có thể chuyển đổi thành tiền mặt (cash equivalent) Các thuật ngữ “rủi ro lãi suất” và “rủi ro tỷ giá” đều liên quan đến tổn thất đối với các thay đổi về lãi suất và tỷ giá Vì các rủi ro thị trường tác động đến xã hội hay nền kinh tế xét như một toàn thể (a whole), chúng cũng được gọi là “các rủi ro có tính hệ thống” (systematic risks) Các rủi ro xảy ra duy nhất cho doanh nghiệp và do đó thường có thể được gọi là
“rủi ro phi hệ thống” (nonsystematic risk)
Rủi ro tín dụng: Cũng được biết là “rủi ro về đối tác” là sự bất ổn định
vây quanh việc một đối tác có chịu thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình đầy
đủ và đúng hạn quy định không Các ví dụ của rủi ro này bao gồm việc con nợ không chịu hoàn tiền đã vay mượn không nhận được tiền đã thanh toán về sản phẩm hay dịch vụ mà doanh nghiệp đã cung cấp hay người bão lãnh không đáp ứng các nghĩa vụ của mình
Rủi ro giá cả: Rủi ro giá cả nghĩa là tổn thất tiềm ẩn về doanh số phát
sinh từ việc định giá sản phẩm sai lầm (price risk means the potential lossin revenue arsing from product mispricing) Đối với các doanh nghiệp có các giao dịch mua, bán hàng hóa theo hợp đồng cố định giá trong một thời gian dài, rủi ro biến động giá cả hàng hóa có thể sẽ là rủi ro lớn Đặc biệt trong trường hợp nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, giá cả hàng hóa thay đổi hàng ngày Đối với đa số doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm đầu ra thường được ký hợp đồng theo đơn hàng trước khi sản xuất, khi giá cả biến động, nguyên vật
Trang 26liệu đầu vào tăng, nhưng giá bán sản phẩm đã cố định từ trước, nguy cơ thua
lỗ là rất lớn
d Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tài chính
Các rủi ro tài chính có thể xuất phát từ nhiều nguồn, bao gồm các biến đổi về lãi suất hay lãi suất gia tăng hay giảm sút, các giao dịch hối đoái (foreign currency transactions), việc mở rộng tín dụng (extensions of credit), phát hành cổ phiếu (issurance of stock) và sử dụng các chứng khoán dẫn xuất (the use of derivatives) như hợp đồng thanh toán ngay (futures), quyền chọn (option)… Do đó, các doanh nghiệp mở rộng tín dụng cho các khách hàng của mình khiến đưa đến các rủi ro tài chính Những biến động không thể dự đoán trước của tỷ giá, lãi suất và giá cả hàng hóa không những ảnh hưởng đến lợi nhuận được báo cáo hàng quý của một công ty mà còn có thể định đoạt liệu công ty có thể tồn tại hay không Một công ty không chỉ cần có các công nghệ sản xuất tiên tiến nhất, nguồn cung lao động rẻ nhất hoặc là chiến lược tiếp thị lớn nhất, những biến động giá cả đột ngột có thể đẩy những công ty được điều hành tốt rơi vào tình trạng phá sản
Nguyên nhân từ sự bất ổn của tỷ giá [4, tr160-161]
Rủi ro ngoại hối là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá giữa đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ Những hoạt động thường bị ảnh hưởng bởi rủi ro ngoại hối là hoạt động xuất nhập khẩu, hoạt động đầu tư đa quốc gia, hoạt động đầu tư tín dụng bằng ngoại tệ
Hoạt động xuất nhập khẩu
Đối với những công ty cổ phần hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thường xuyên bị ảnh hưởng rủi ro ngoại hối Nguyên nhân của rủi ro ngoại hối là do sự thay đổi của tỷ giá ngoại tệ so với nội tệ, làm giá trị kỳ vọng của các khoản thu chi trong tương lai bị thay đổi, có thể dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh thay đổi, gây rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp
Trang 27Đối với hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động kinh doanh thu ngoại tệ, nếu tỷ giá hối đoái giảm và doanh nghiệp hạch toán sổ sách theo đồng nội tệ, thì những khoản thu được bằng ngoại tệ trong tương lai quy đổi sang đồng nội
tệ ít đi, hiệu quả kinh doanh sản xuất giảm Ngược lại, đối với hoạt động xuất nhập khẩu là việc mua hàng thanh toán bằng ngoại tệ, nếu tỷ giá hối đoái tăng
và doanh nghiệp phải chi nhiều đồng nội tệ hơn nhằm chuyển sang đồng ngoại tệ để thanh toán cho khách hàng trong tương lai Do đó chi phí tăng, doanh thu không đổi nên hiệu quả kinh doanh giảm
Hoạt động đầu tư
Những công ty đa quốc gia thường gặp rủi ro ngoại hối Những doanh nghiệp này thường đầu tư ở nhiều quốc gia bằng ngoại tệ Trong tương lai họ
có thể thu về một khoản thu nhập bằng ngoại tệ được quy đổi sang đồng nội
tệ Rủi ro ngoại hối chỉ phát sinh khi tỷ giá hối đoái trong tương lai giảm hơn
tỷ giá hối đoái tại thời điểm đầu tư nên dẫn đến hiệu quả kinh doanh bị giảm
đi Rủi ro ngoại hối cũng phát sinh trong trường hợp các doanh nghiệp đấu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán nước ngoài Họ mang những đồng nội tệ chuyển thành đồng ngoại tệ sang thị trường chứng khoán nước ngoài đầu tư Nếu tỷ giá hối đoái trong tương lai thấp, khi họ bán chứng khoán mang về những đồng ngoại tệ đổi ra đồng nội tệ giảm hơn giá trị kỳ vọng trong tương lai Hiệu quả kinh doanh trong trường hợp này cũng giảm đi Do
đó, rủi ro ngoại hối trong hoạt động đầu tư là do tỷ giá hối đoái khi thu hồi khoản đầu tư thấp hơn tỷ giá hối đoái tại thời điểm đầu tư
Hoạt động tín dụng
Trường hợp hoạt động tín dụng bằng ngoại tệ thường chứa rủi ro rất lớn Nó ảnh hưởng đến cả hai chủ thể người đi vay và người cho vay Các doanh nghiệp đi vay bằng ngoại tệ sẽ bị thiệt hại khi tỷ giá hối đoái trong tương lai tăng Các chủ thể cho vay chẳng hạn ngân hàng thương mại sẽ bị thiệt hại khi tỷ giá hối đoái trong tương lai giảm đi Như vậy nguyên nhân của
Trang 28rủi ro ngoại hối trong hoạt động tín dụng bằng ngoại tệ cũng có sự biến động
tỷ giá hối đoái với những tổ chức tín dụng hoạt động bằng ngoại tệ
Nguyên nhân từ sự bất ổn của lãi suất [4, tr159]
Hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp bằng hình thức vay mượn gián tiếp qua các tổ chức tài chính trung gian, phát hành trái phiếu, phát hành
cổ phiếu ưu đãi để đầu tư vào một dự án, và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp là những hoạt động thường gặp rủi ro lãi suất Khi lãi suất huy động vốn là lãi suất cố định và khả năng sinh lời kỳ vọng của dự án đầu tư thu được theo lãi suất thả nổi, thì rủi ro chỉ xảy ra khi lãi suất thị trường giảm Khi lãi suất huy động vốn là lãi suất thả nổi và khả năng sinh lời kì vọng của dự án đầu tư thu được theo lãi suất cố định, thì rủi ro chỉ xảy ra khi lãi suất thi trường tăng Như vậy nguyên nhân phát sinh rủi ro lãi suất là do lãi suất thu được là lãi suất cố định (hoặc thả nổi), lãi suất chi đầu tư là lãi suất thả nổi (hoặc cố định) và sự thay đổi của lãi suất thị trường
Nguyên nhân từ sự bất ổn của giá cả hàng hóa
Do xăng dầu là nguyên liệu đầu vào quan trọng của nhiều ngành sản xuất kinh doanh, việc tăng giá sẽ có những ảnh hưởng nhất định (tăng chi phí) đến các doanh nghiệp và nền kinh tế Dù tăng hay giảm giá, mỗi cuộc khủng hoảng dầu lửa trong 40 năm qua đều gắn liền với xung đột chính trị và suy thoái kinh tế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính toàn cầu
Tính bất ổn của giá dầu bắt đầu gia tăng trong giai đoạn thập kỷ 1980 xảy ra cùng lúc với việc bãi bỏ quy định quản lý xăng dầu ở Mỹ Giá tăng cao năm 1980 phản ánh tác động của việc I-rắc xâm lược Kuwait Kể từ khi Mỹ phát động chiến tranh với I-rắc lần thứ hai, giá dầu đã liên tục phá vỡ các mức
kỉ lục và đã vượt qua giá đỉnh năm 1990 Đợt khủng hoảng giá dầu nghiêm trọng 2007 – 2008 cùng với cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 (cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng nhất kể từ cuộc đại suy thoái 1929 – 1933)
Trang 29đã có lúc giá dầu lên tới 145 USD/thùng Cả thế giới rơi vào tình trạng lạm phát tăng tốc khó có thể kiểm soát lại được nữa
Sự bất ổn của giá cả hàng hóa nói chung đã tăng dần kể từ thập kỉ 1970
và 1980 Cho đến nay, cùng với tình trạng lạm phát giá cả hàng hóa đã biến động rất khó lường Tính bất ổn trong chi phí của các nhập lượng dùng để sản xuất của doanh nghiệp càng cao, rủi ro tài chính của doanh nghiệp đó càng lớn Chẳng hạn doanh nghiệp ngành gỗ đã chịu tác động đáng kể do sự biến động của giá nguyên vật liệu gỗ, chi phí vận chuyển do giá nhiên liệu biến động mạnh
Tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế mang lại không ít lợi ích Tuy nhiên quá trình này lại tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt và điều đó khiến hầu hết các doanh nghiệp đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Những tác động bất ổn của thị trường thế giới
về giá cả hàng hóa, tỉ giá, lãi suất đã tác động trực tiếp sâu rộng đến doanh nghiệp trong nước
Sự tiếp cận các yếu tố, nguyên nhân gây ra rủi ro tài chính trên đây giúp chúng ta có nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan hơn, từ đó
sẽ đưa ra được những đề xuất phòng ngừa, giảm thiểu rủi rotài chính trong kinh doanh của các doanh nghiệp một cách hữu ích và thiết thực hơn
e Tác động của rủi ro tài chính
Tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Rủi ro tỷ giá làm ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
so với các đối thủ ở yếu tố “giá của sản phẩm trên thị trường” Nếu doanh nghiệp chịu sự tác động của rủi ro tỷ giá dẫn đến tổn thất ngoại hối thì doanh nghiệp sẽ phải tìm cách nâng giá bán sản phẩm để trang trải tổn thất khi đồng nội tệ tăng giá, một công ty thuần túy kinh doanh trong nước vẫn bị tác động bởi tỷ giá do sự xuất hiện của các công ty cạnh tranh nước ngoài có chi nhánh trong nước nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về tiêu thụ trong nước Như
Trang 30vậy giá cả hàng hóa ở nước ngoài bây giờ rẻ tương đối so với hàng hóa trong nước do đó giá sản phẩm của doanh nghiệp sẽ không hấp dẫn so với các đối thủ cạnh tranh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút
Tác động đến khả năng chịu đựng tài chính và tái đầu tư của doanh
nghiệp
Rủi ro tỷ giá, lãi suất, giá cả hàng hóa tác động đến việc hoạch định tài chính của doanh nghiệp đối với các dự án đầu tư dài hạn Bên cạnh đó doanh nghiệp muốn phát triển bền vững, quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp phải diễn ra liên tục, vòng sau phải cao hơn vòng trước, đó chính là quá trình tái đầu tư Nguồn vốn để tái đầu tư là quỹ khấu hao, lợi nhuận thu được từ quá trình sản xuất kinh doanh trước đó Khi rủi rotài chính tăng cao không kiểm soát được, nguồn vốn để tái đầu tư bị giảm đi, thậm chí là một số
âm Do đó khả năng tái đầu tư bị triệt tiêu, doanh nghiệp không thể hoạt động liên tục, quy mô kinh doanh bị thu hẹp nếu điều đó xảy ra trong một thời gian dài, doanh nghiệp có thể sẽ “biến mất” trên thị trường với những doanh nghiệp đang thực hiện dự án đầu tư rủi rotài chính có thể làm cho dự án đầu
tư phải dừng lại thậm chí là “ nằm chờ vĩnh viễn” do tổng mức đầu tư tăng đột biến, lãi suất tiền vay tăng cao, việc vay vốn bị chặn lại
Tác động đến lợi nhuận ròng của doanh nghiệp
Khi có những thay đổi trong giá hàng hóa, lãi suất và tỷ giá sẽ làm thay đổi giá trị một khoản tiền thu được hoặc các khoản chi phí
Biến động trong tỷ giá đã làm cho doanh thu và chi phí không tương thích khi nhập khẩu hàng nước ngoài bán hàng trong nước hoặc ngược lại Ngoài ra biến động tỷ giá làm thay đổi giá trị công ty khi tài sản ở nước ngoài được chuyển đổi sang đồng nội tệ Tác động của thay đổi tỷ giá có thể ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến lợi nhuận ròng của công ty
Thay đổi trong lãi suất cũng có thể tác động đến báo cáo kết quả kinh doanh, tác động đến các khoản thu hoặc các khoản chi phí Đa số các công ty
Trang 31đều tập trung quan tâm vào chi phí lãi vay, thay đổi lãi suất tác động đến chi phí của công ty, có thể làm thay đổi số lượng hàng hóa do công ty bán ra
Tác động biến động của giá cả hàng hóa ảnh hưởng đến các khoản thu hoặc các khoản chi phí Tác động này phản ánh trong báo cáo thu nhập của các công ty theo hướng làm tăng giảm khoản thu hoặc tăng giảm khoản chi phí của một công ty Việc tăng giá dầu trong các năm qua, độ nhạy cảm giao dịch đối với giá dầu xuất hiện trong báo cáo thu nhập của các công ty theo hướng tăng các khoản thu của các công ty sản xuất dầu, tăng chi phí với các công ty sử dụng dầu
Tác động đến dòng tiền của doanh nghiệp
Các luồng tiền vào của doanh nghiệp (dòng tiền vào) và các luồng tiền
ra khỏi doanh nghiệp (dòng chi) diễn ra một cách thường xuyên liên tục Trên thực tế tại những thời điểm nhất định có thể xảy ra, hiện tượng lượng tiền vào doanh nghiệp (số thu) nhỏ hơn lượng tiền ra khỏi doanh nghiệp (số chi) đến hạn Khi đó, tình trạng mất cân đối về dòng tiền đã xảy ra Sự mất cân đối này tiềm ẩn một rủi ro lớn đối với hoạt động kinh doanh
Sự mất cân đối dòng tiền được chia thành: mất cân đối tạm thời và mất cân đối dài hạn Mất cân đối tạm thời về dòng tiền có thể khắc phục được bằng nhiều biện pháp và hậu quả thường không lớn Mất cân đối dài hạn xảy
ra do những nguyên nhân quan trọng như: phần định phí trong tổng chi phí của doanh nghiệp quá lớn; vốn lưu động tự có quá ít; nợ khó đòi tăng lên; doanh thu chưa đủ bù đắp các khoản chi phí thường xuyên; v.v…
Khi rủi ro tài chính tăng cao do các biến động về giá cả hàng hóa, tỷ giá
và lãi suất đã tác động lớn làm mất cân đối dòng tiền trong doanh nghiệp và
do tác động dây chuyền giữa các doanh nghiệp, số nợ phải thu, đặc biệt là nợ phải thu khó đòi tăng lên, mất cân đối tạm thời rất dễ chuyển thành mất cân đối dài hạn Mất cân đối dài hạn về dòng tiền có thể làm cho doanh nghiệp bị phá sản
Trang 321.1.2 Tổng quan về phân tích rủi ro trong doanh nghiệp
1.1.2.1 Sự cần thiết của việc phân tích rủi ro trong doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp
Phân tích rủi ro là công cụ để phát hiện những rủi ro tiềm ẩn trong kinh doanh của mọi doanh nghiệp Bất kỳ ngành nghề kinh doanh với điều kiện và môi trường kinh doanh khác nhau thế nào đi chăng nữa cũng luôn tồn tại những nhân tố gây bất lợi có ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của doanh nghiệp Chỉ khi tiến hành phân tích mới phát hiện những yếu tố bất lợi đó và
có những giải pháp ngăn chặn kịp thời để giảm thiểu rủi ro và mang lại hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp
Đối với nhà đầu tư
Để đưa ra quyết định đầu tư, các nhà đầu tư cần xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên đó chỉ mới là một mặt để xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp Những kết luận rút ra từ nội dung phân tích này sẽ không đầy đủ nếu ta không xem xét một dạng khác của nó, đó là phân tích rủi ro của doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp chỉ có thể được xem xét tương ứng với một mức rủi ro mà nó có thể chịu và ngược lại Nhà đầu tư chỉ chấp nhận một rủi ro đầu tư tương ứng với một hiệu quả trông chờ nào đó Khi tiến hành phân tích rủi ro của doanh nghiệp, nhà đầu tư
sẽ biết được mức độ rủi ro của doanh nghiệp từ đó đưa ra quyết định có nên đầu tư hay không
Đối với các chủ nợ
Cái chủ nợ quan tâm đầu tiên đó là mức độ an toàn của các doanh nghiệp để đảm bảo trả nợ Thông qua việc phân tích rủi ro của doanh nghiệp, các chủ nợ sẽ biết được mức độ an toàn của doanh nghiệp từ đó đưa ra quyết định cho vay hay không và mức vay là bao nhiêu Doanh nghiệp có mức rủi
ro càng thấp sẽ được các nhà cho vay càng tin tưởng, ưu tiên để tiếp cận với nguồn vốn của họ
Trang 331.1.2.2 Nguồn thông tin để phân tích rủi ro
a Nguồn thông tin bên trong doanh nghiệp
Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán phản ánh khái quát tình hình tài sản của doanh
nghiệp tại một thời điểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản Về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả của doanh nghiệp Các chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán được phản ánh dưới hình
thái giá trị và theo nguyên tắc cân đối: Tổng Tài sản = Tổng Nguồn vốn
Bảng cân đối kế toán lập theo nguyên tắc tài sản nào có tính thanh khoản cao sẽ được báo cáo trước, hay nói cách khác: tài sản được xếp theo thứ tự tính thanh khoản giảm dần Về nguồn vốn, trước tiên là nguồn vốn vay
nợ (khoản vay nợ nào đến hạn trước sẽ được báo cáo trước) và sau đó là nguồn vốn chủ sở hữu [6, tr63] Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng để phân tích, đánh giá một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, trình
độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hay còn gọi là báo cáo lãi lỗ là báo cáo tài chính tổng hợp trình bày kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán Nó liệt kê tất cả các khoản doanh thu, thu nhập
mà doanh nghiệp đạt được, các khoản chi phí phát sinh, và lợi nhuận của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định [14, tr73]
Cùng với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
là một trong những báo cáo quan trọng nhất của hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp Nó cung cấp số liệu cho người sử dụng thông tin để kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong
kỳ, so sánh với các kỳ trước và các doanh nghiệp khác trong cùng ngành để
Trang 34nhận biết khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ và xu hướng vận động nhằm đưa ra các quyết định tài chính cho phù hợp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn gọi là báo cáo ngân lưu là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp [10, tr70] Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động Báo cáo lưu chuyển tiền tệ làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng
so sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ được các ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch và hiện tượng
Bảng thuyết minh báo cáo tài chính
Đây là báo cáo mô tả các phương pháp kế toán, phương pháp tính giá, phương pháp khấu hao… mà doanh nghiệp đang sử dụng Đồng thời nó cũng cung cấp thêm các thông tin chi tiết hơn cho các khoảng mục quan trọng trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh như: tiền và các khoản tương đương tiền, tài sản cố định, các khoản vay, các khoản phải thu, phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu… phục vụ công tác phân tích cụ thể và xác thực
b Các nguồn thông tin khác
Ngoài thông tin từ báo cáo kế toán, phân tích rủi ro doanh nghiệp còn
sử dụng nhiều nguồn thông tin khác để các kết luận trong phân tích có tính thuyết phục hơn Các nguồn thông tin khác được chia thành ba nhóm sau:
Thông tin liên quan đến tình hình kinh tế
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu nhiều sự tác động bởi nhiều nhân tố thuộc môi trường vĩ mô nên phân tích cần đặt trong bối cảnh
Trang 35chung của kinh tế trong nước và khu vực Kết hợp thông tin này sẽ đánh giá đầy đủ hơn tình hình tài chính và dự báo nguy cơ của doanh nghiệp Những thông tin quan tâm bao gồm:
Thông tin về tăng trưởng, suy thoái kinh tế
Thông tin về lãi suất ngân hàng, trái phiếu kho bạc, tỷ giá ngoại tệ
Thông tin về chỉ số lạm phát
Các chính sách kinh tế lớn của Chính phủ, chính sách chính trị, ngoại giao của đất nước…
Thông tin theo ngành
Ngoài những thông tin về môi trường vĩ mô, những thông tin liên quan đến ngành, lĩnh vực kinh doanh cũng cần được chú trọng Đó là:
Mức độ và yêu cầu công nghệ của ngành
Mức độ cạnh tranh và quy mô của thị trường
Tính chất cạnh tranh của thị trường hay mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp, khách hàng
Nguy cơ xuất hiện những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn…
Những thông tin trên sẽ làm rõ hơn nội dung của từng chỉ tiêu tài chính trong từng ngành, lĩnh vực kinh doanh, đánh giá rủi ro doanh nghiệp
Thông tin về đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Do mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng trong tổ chức sản xuất kinh doanh và trong phương hướng hoạt động, nên để đánh giá hợp lí tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, nhà phân tích cần nghiên cứu
kĩ lưỡng đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Những vấn đề cần quan tâm bao gồm:
Mục tiêu và chiến lược hoạt động của doanh nghiệp gồm cả chiến lược tài chính và chiến lược kinh doanh
Đặc điểm quá trình luân chuyển vốn trong các khâu kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 36 Tính thời vụ, tính chu kỳ trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Mối liên hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp, khách hàng, ngân hàng và các đối tượng khác
Các chính sách hoạt động khác
1.1.2.3 Các phương pháp phân tích rủi ro
Phân tích rủi ro doanh nghiệp cần xác định các chỉ tiêu phù hợp và so sánh giữa các thời kì, giữa các doanh nghiệp hoặc so sánh với các chỉ tiêu trung bình ngành Qua đó có thể đánh giá mức độ rủi ro của doanh nghiệp giữa các thời kì hoặc giữa các phương án nghiên cứu khác nhau hoặc xu hướng rủi ro
Trên cơ sở đó, ta thiết lập các công thức thể hiện mối liên quan giữa các chỉ tiêu phản ánh rủi ro với các nhân tố ảnh hưởng qua đó làm rõ mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đối với rủi ro của doanh nghiệp Từ đó tìm hiểu nguyên nhân để có phương hướng khắc phục và các biện pháp cụ thể để chọn được phương án ít rủi ro nhất hoặc để giảm rủi ro trong các giai đoạn sau
Để phân tích các nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro của doanh nghiệp nhằm có biện pháp khắc phục, cần kết hợp các yếu tố định tính
và định lượng Rủi ro giữa các doanh nghiệp thuộc các ngành khác nhau thường không giống nhau, do vậy phải so sánh với các chỉ tiêu của ngành hoặc mức độ rủi ro giữa các doanh nghiệp cùng ngành để có sự đánh giá chính xác hơn Rủi ro cũng thay đổi theo thời gian do môi trường kinh tế - chính trị - xã hội không phải lúc nào cũng ổn định Phân tích rủi ro không chỉ xem xét đến hoạt động của doanh nghiệp mà còn xem xét đến tác động của môi trường, đó là sự ảnh hưởng của các nhân tố như sự tăng trưởng kinh tế cả nước, lạm phát, tỷ giá, lãi suất,… và nhiều yếu tố khác Vì vậy phân tích rủi
ro phải xem xét toàn diện các vấn đề trên
Trang 37Bên cạnh cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần phải dự báo các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai, từ đó có những quyết định kinh doanh đúng đắn và lựa chọn những chiến lược kinh doanh phù hợp nhất
1.2 KHÁI QUÁT VỀ PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm của tài chính doanh nghiệp
Tài chính nói chung là hoạt động liên quan đến việc hình thành và sử
dụng các quỹ tiền tệ “Tài chính doanh nghiệp là hoạt động liên quan đến
việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp” [6, tr27] Như vậy, tài chính
doanh nghiệp liên quan đến ba loại quyết định chính: quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn và quyết định phân phối lợi nhuận nhằm đạt được mục tiêu đề
ra là tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu doanh nghiệp
Bên cạnh đó, tài chính doanh nghiệp cũng được định nghĩa là “các mối
quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp” [14, tr14]
Xét về mặt hình thức: Tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền tệ trong
doanh nghiệp, được tạo lập và sử dụng cho mục đích kinh doanh của DN
Xét về mặt bản chất: Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh
tế giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác:
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác trong nền kinh tế trong việc góp vốn, vay vốn, cho vay, trong việc thanh toán,…
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp: trả lương, trợ cấp, thưởng phạt vật chất,…
Trang 38 Quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp như: thanh toán giữa các bộ phận, phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, hình thành
và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp,…
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các tổ chức xã hội: tài trợ, từ thiện, thể dục thể thao, văn hóa,…
Quan hệ với các doanh nghiệp nước ngoài: liên doanh, liên kết, thanh toán xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ,
1.2.1.2 Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính và là khâu
cơ sở nên nó có những đặc điểm sau:
Gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
Sự vận động của các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp (vốn kinh doanh)
có những nét riêng biệt đó là: sự vận động của vốn kinh doanh luôn gắn liền với yếu tố vật tư và lao động, sự vận động này là vì mục tiêu doanh lợi
Ngoài phần tạo lập ban đầu khi khởi nghiệp, sau mỗi quá trình sản xuất kinh doanh, nguồn tài chính của doanh nghiệp còn có thể được bổ sung thêm từ kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc phân phối lợi nhuận
1.2.2 Nội dung phân tích rủi ro tài chính
Rủi ro tài chính gắn với mức độ sử dụng nợ, với cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp và mức độ tăng rủi ro cùng với mức độ tăng của nợ Ngoài ra, rủi ro tài chính còn được phản ánh qua khả năng thanh toán cũng như tình hình quản lý hàng tồn kho, tình hình thu hồi và thanh toán công nợ ở doanh nghiệp Phân tích rủi ro tài chính được tiến hành thông qua nghiên cứu diễn biến của các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn và khả năng thanh toán lãi vay, tình hình và khả năng thanh toán, các tỷ số hoạt động [2, tr189]
Trang 391.2.2.1 Phân tích rủi ro tài chính thông qua độ biến thiên của tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu [12, tr149]
Theo quan điểm phân tích thống kê, người ta sử dụng phương sai để đánh giá tính bấp bênh và độ biến thiên của một đại lượng Giả sử để xem xét
độ biến thiên của chỉ tiêu k, ta dùng phương sai (ký hiệu là Var, 2) để thể hiện và phương sai sẽ được tính bằng bình phương các độ lệch của chỉ tiêu nghiên cứu với giá trị trung bình, giá trị kì vọng của nó
Là giá trị kỳ vọng hoặc giá trị trung bình của chỉ tiêu nghiên cứu
ki là giá trị thứ i của chỉ tiêu nghiên cứu
pi là xác suất để đạt được chỉ tiêu ki
Tuy nhiên trong khá nhiều trường hợp, để chỉ tiêu nghiên cứu có giá trị tương ứng và phù hợp trong nghiên cứu và đơn vị tính toán, người ta còn thường dùng chỉ tiêu độ lệch chuẩn () Nó được tính bằng căn bậc hai của phương sai
Trang 40đo khác nhau, giá trị kì vọng giữa các phương án so sánh khác nhau thì phương sai, giá trị độ lệch chuẩn không thể làm căn cứ để đánh giá Để giải quyết hạn chế này, người ta sử dụng hệ số biến thiên
Hệ số biến thiên (Hbt) được thể hiện bằng tỷ số giữa độ lệch chuẩn và giá trị trung bình hoặc kỳ vọng của nó
𝐻𝑏𝑡 = 𝜎
𝑘
Hệ số biến thiên được sử dụng để đánh giá mức độ rủi ro chính xác hơn khi kết quả hoặc sự kiện có kì vọng giữa các phương án kinh doanh khác nhau Nó cho phép ta loại bỏ sự khác nhau về đơn vị nghiên cứu cũng như sự khác nhau về quy mô giữa các doanh nghiệp Hệ số biến thiên thường dùng để
so sánh giữa các phương án hoặc giữa các doanh nghiệp, các thời kì Doanh nghiệp nào có hệ số biến thiên càng nhỏ thì phương án đó ít rủi ro hơn
Rủi ro tài chính diễn ra cùng với mức độ sử dụng nợ Nếu gắn liền việc vay nợ với hiệu quả của doanh nghiệp thì ta có thể xem xét thông qua sự biến thiên của tỷ suất sinh lời nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu được qua chỉ tiêu sau:
Tỷ suất sinh lời
vốn chủ sở hữu =
Lợi nhuận sau thuế
× 100%
Vốn chủ sỡ hữu bình quân
Tuy nhiên, nếu xét về mối quan hệ giữa chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn chủ
sở hữu và tỷ lệ nợ, thì chỉ tiêu này còn được thể hiện như sau: [14, tr101]
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần ×
Doanh thu thuầnTổng tài sản bình quân
×
Tổng tài sản bình quânVốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu Tổng tài sản bình quân được gọi là hệ số nhân vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu bình quân
Tiếp tục biến đổi, ta được: