1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc

93 541 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, hệ thống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường, mở rộng và

Trang 1

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: TS Dư Ngọc Thành

Thái Nguyên - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Hạ Văn Thiện

Học viên cao học khóa 21 chuyên ngành: Khoa học môi trường Niên khóa 2014 - 2015 Tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Đến nay tôi đã hòa thành luận văn nghiên cứu cuối khóa học Tôi xin cam đoan:

- Đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện

- Số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực

- Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng ai công bố trong các nghiên cứu khác

- Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên./

Thái nguyên, ngày tháng năm 2015

NGƯỜI CAM ĐOAN

Hạ Văn Thiện

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo cao học khoá 21 trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới Ban lãnh đạo

và cán bộ, y bác sĩ của BVĐK huyện Vĩnh Tường; BVĐK Yên Lạc; BVĐK Bình Xuyên; sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Vĩnh Phúc; Phòng Đào tạo đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; và đặc biệt là thầy giáo TS Dư Ngọc Thành, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và thực hiện luận văn

Mặc dù đã hết sức cố gắng nghiên cứu, làm việc để hoàn thiện luận văn, song do hạn chế về mặt thời gian và trình độ, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cám ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm2015

Tác giả

Hạ Văn Thiện

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Yêu cầu của đề tài 2

4 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.2 Thành phần và phân loại chất thải y tế 4

1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế 6

1.1.3.1 Môi trường nước 6

1.1.3.2 Ô nhiễm môi trường đất 7

1.1.3.3 Ô nhiễm môi trường không khí 7

1.1.3.4 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng 8

1.1.4 Qui trình quản lý chất thải y tế 8

1.2 Cơ sở thực tiễn 10

1.2.1 Kinh nghiệm trên tế giới 10

1.2.1.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tế 10

Trang 6

1.2.1.2.Phân loại chất thải y tế 11

1.2.1.3 Quản lý chất thải y tế 11

1.2.2 Kinh nghiệm quản lý chất thải y tế tại Việt Nam 12

1.2.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tế 12

1.2.2.2 Quản lý chất thải y tế 13

1.2.2.3 Biện pháp xử lý chất thải y tế 15

1.2.3 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại tỉnh Vĩnh phúc 17

1.3 Cơ sở pháp lý của luận văn 20

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24

2.3 Nội dung nghiên cứu 24

2.4 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp 25

2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 25

2.4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu 27

2.4.4 Phương pháp tính 27

2.4.5 Phương pháp phân tích 28

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Giới thiệu về quy mô cấp huyện tại tỉnh Vĩnh Phúc 31

3.2 Hiện trạng phát thải và quản lý chất thải rắn y tế quy mô cấp huyện tại tỉnh Vĩnh Phúc 32

3.2.1 Hiện trạng phát thải chất thải rắn y tế 32

3.2.1.1 Khối lượng chất thải y tế thông thường 32

3.2.1.2 Khối lượng chất thải y tế nguy hại 33 3.2.2 Hiện trạng Quản lý CTRYT tại một số bệnh viện quy mô cấp huyện tại

Trang 7

tỉnh Vĩnh Phúc 34

3.2.2.1 Hiện trạng quản lý CTRYT 34

3.2.2.2 Công tác tái chế, xử lý chất thải rắn 37

3.2.2.3 Xử lý chất thải y tế thông thường 37

3.2.2.4 Xử lý chất thải rắn y tế nguy hại 38

3.2.3 Hiện trạng phát thải và quản lý nước thải của 40

3.2.3.1 Hiện trạng phát thải nước thải y tế 40

3.2.3.2 Hiện trạng quản lý nước thải y tế 42

3.3 Đánh giá mô hình quản lý chất thải bệnh viện tuyến huyện tại

tỉnh Vĩnh Phúc 48

3.3.1.Đánh giá mô hình quản lý rác thải rắn 48

3.3.2 Đánh giá mô hình quản lý nước thải 50

3.3.2.1 Đánh giá về công tác quản lý 50

3.3.2.2 Đánh giá về hệ thống xử lý nước thải 50

3.4 Đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế quy mô cấp huyện tại

tỉnh Vĩnh Phúc 53

3.4.1 Đề xuất mô hình quản lý chất thải rắn 53

3.4.1.1 Đề xuất về quản lý rác thải rắn 53

3.4.1.2 Đề xuất về công công nghệ 55

3.4.2 Đề xuất mô hình quản lý nước thải 57

3.4.2.1 Đề xuất về quản lý 57

3.4.2.2 Đề xuất về công công nghệ 57

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65

1 Kết luận 65

2 Kiến nghị 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Sách

II Tiếng Anh

PHỤ LỤC

Trang 8

CTYT : Chất thải bệnh viện

CTYTNH : Chất thải y tế nguy hại

QCVN : Quy chuẩn Việt Nam

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới 11

Bảng 1.2 Chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam 12

Bảng 1.3 Số bệnh viện, giường bệnh và trạm y tế xã năm 2008 18

Bảng 1.4 Hiện trạng lò đốt chất thải y tế tuyến huyện trên địa bàn

tỉnh Vĩnh Phúc 19

Bảng 1.5 Khối lượng chất thải y tế nguy hại trung bình ở các bệnh viện tuyến huyện năm 2009 20

Bảng 2.1 Chỉ tiêu và phương pháp phân tích 29

Bảng 2.2 Giá trị của hệ số K 30

Bảng 3.1 Hệ thống các bộ y tế tại một số bệnh viện 32

Bảng 3.2 Khối lượng chất thải y tế thông thường tại một số

bệnh viện tuyến huyện 32

Bảng 3.3 Khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại một số bệnh viện tuyến huyện trong 1 ngày đêm 33

Bảng 3.4 Khối lượng chất thải y tế nguy hại trung bình tại một số

bệnh viện tuyến huyện 34

Bảng 3.5 Nhân lực quản lý môi trường tại các cơ sở y tế tuyến huyện 35

Bảng 3.6 Tình hình xử lý chất thải có khả năng tái chế tại các

BVĐK tuyến huyện 37

Bảng 3.7 Hiện trạng xử lý chất thải rắn y tế thông thường tại các BVĐK tuyến huyện 38

Bảng 3.8 Hệ thống lò đốt tại 3 bệnh viện tuyến huyện 39

Bảng 3.9 Lượng nước thải tại 41

Bảng 3.10 Hệ thống xử lý nước tuyến huyện 42

Bảng 3.11 Chất lượng nước thải trước và sau xử lý của BVĐK Vĩnh Tường 44

Bảng 3.12 Chất lượng nước thải trước và sau xử lý của BVĐK Yên Lạc 45

Bảng 3.13 Chất lượng nước thải trước và sau xử lý của BVĐK Bình Xuyên 47

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Sơ đồ hiện trạng quản lý chất thải bệnh viện ở các

BVĐK tuyến huyện tỉnh Vĩnh Phúc 40

Hình 3.2 Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý nước thải y tế tuyến huyện 43

Hình 3.3 Sơ đồ công nghệ của lò đốt chất thải rắn độc hại VHI - 18B 56

Hình 3.4 Sơ đồ nguyên lý hoạt động của hệ thống 61

Hình 3.5 Sơ đồ hoạt động của trạm xử lý nước thải 63

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của ngành Y tế Nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu khám chữa bệnh

và chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, hệ thống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện tuy nhiên, trong quá trình hoạt động đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải y tế, bao gồm chất thải thông thường và chất thải nguy hại Theo Tổ chức Y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện

có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hoá chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị, đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm bệnh từ bệnh viện tới các vùng xung quanh, dẫn tới tăng nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện và tăng tỷ lệ bệnh tật của cộng đồng dân cư sống trong vùng tiếp giáp [11], [13]

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội thì một loạt hệ thống bệnh viện, cơ sở y tế của nhà nước và tư nhân đã và đang được đầu tư xây dựng trên phạm vi cả nước từ đó kéo theo khối lượng chất thải bệnh viện cũng ngày một nhiều hơn Chất thải bệnh viện khi thải ra môi trường nếu không được xử lý đúng cách thì hậu quả để lại sẽ không thể lường hết được

nó có thể gây ra các đại dịch lớn cho cộng đồng, gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất từ đó quay trở lại ảnh hưởng tới cuộc sống của con người Do vậy việc quản lý chất thải bệnh viện cần phải đặt lên hàng đầu tại mỗi cơ sở đặc biệt là tại cấp huyện bởi những bệnh viện này thường không hoặc ít quan tâm đến việc quản lý chất thải do cơ sở mình thải ra mặc dù khối lượng chất thải tạo ra cũng không phải ít Để đánh giá thực trạng về CTYT cũng như những ảnh hưởng của CTYT đối với môi

Trang 12

trường, nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan đã tiến hành điều tra, nghiên cứu Các nghiên cứu đã phần nào cho thấy những tồn tại trong công tác quản lý CTYT ở nước ta [11], [2] Hiện nay, vì nhiều lý do, trong đó có áp lực về nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, sự quá tải của nhiều bệnh viện,

sự thiếu đồng bộ cơ sở hạ tầng của bệnh viện nên dẫn tới vệ sinh môi trường của nhiều bệnh viện chưa được đảm bảo Để đánh giá thực trạng công tác bảo vệ môi trường của các BVĐK tuyến huyện trong tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian qua và được sự nhất trí của nhà trường dưới sự hướng

dẫn của TS Dư Ngọc Thành, tôi tiến hành thực hiện luận văn: “ Thực trạng

quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại Vĩnh Phúc”

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá mô hình quản lý và xử lý chất thải bệnh viện tại tỉnh Vĩnh Phúc

- Đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế quy mô cấp huyện tại tỉnh Vĩnh Phúc

3 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá sơ lược tình hình cơ bản của các BVĐK tuyến huyện được chọn

nghiên cứu

- Hiện trạng phát thải và quản lý chất thải y tế quy mô cấp huyện tại tỉnh Vĩnh Phúc

- Đánh giá mô hình quản lý chất thải bệnh viện tại tỉnh Vĩnh Phúc

- Đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế quy mô cấp huyện tại tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 13

4 Ý nghĩa của đề tài

+ Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Giúp người học nâng cao và hoàn thiện kiến thức đã học, rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này

- Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác xây dựng kế hoạch quản lý chất thải y tế một cách có hiệu quả hơn, nhằm hướng tới mục tiêu phát triển

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Theo quy chế quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007, quy định [6]:

Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ

sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường

Chất thải y tế nguy hại là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khoẻ con

người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ

nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu huỷ an toàn

Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban

đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện

1.1.2 Thành phần và phân loại chất thải y tế

Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm [6]:

* Chất thải lây nhiễm: Nhóm này gồm các loại chất thải:

- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền nước, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế

- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

Trang 15

- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận

cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm

* Chất thải hoá học nguy hại: Nhóm này gồm các loại chất thải sau:

- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế

Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hoá trị liệu

Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

* Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát

sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất

Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán

và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế

* Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí

dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt

* Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây

nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)

- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại

- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

Trang 16

1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế

Bệnh viện trong quá trình hoạt động của mình sẽ thải ra các loại CTYT dưới các dạng khác nhau rắn, lỏng, khí Nếu việc quản lý và xử lý chất thải của bệnh viện không tốt chúng có thể gây ra hai ảnh hưởng Thứ nhất, CTYT

có thể gây tác động tới môi trường thông qua việc làm ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất, môi trường không khí từ đó gây ảnh hưởng gián tiếp đến sức khoẻ con người Thứ hai, CTYT có thể gây ra những ảnh hưởng trực

tiếp đến sức khoẻ cộng đồng

1.1.3.1 Môi trường nước

Chất thải BV là loại chất thải rất nguy hiểm nếu không được xử lý tốt

sẽ là nguyên nhân gây ra các mầm bệnh và lây lan dịch bệnh do nước thải ngấm vào nguồn nước nhất là hệ thống nước ngầm Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất đến môi trường nước đó chính là nước thải từ , cơ sở y tế không được xử lý mà thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung, nước thải bệnh viện có thể tiềm tàng rất nhiều nguy cơ

- Nguy cơ nhiễm khuẩn

+ Nguy cơ nhiễm khuẩn Salmonella, Shigella, dạng Coli, phẩy khuẩn, liên cầu, tụ cầu, phế cầu chủng loại này ở bệnh viện thường có khả năng kháng kháng sinh rất cao

+ Nguy cơ nhiễm virus chủ yếu là các loại virus đường tiêu hóa (bại liệt, ECHO ), virus viêm gan A, virus gây ỉa lỏng ở trẻ em Rotavirus

+ Nguy cơ nhiễm ký sinh trùng như amip, lambli, trứng giun sán

- Nguy cơ nhiễm chất độc hại thường gặp trong việc rửa, tráng phim hay thủy ngân của các nhiệt kế, huyết áp bị vỡ, các độc dược bị đổ đi rơi vào các nguồn nước thải Tuy nhiên nguy cơ này không xảy ra nhiều

- Nguy cơ nhiễm chất phóng xạ do nguồn phóng xạ sử dụng trong điều trị và nghiên cứu không được bảo quản đúng sẽ gây phát xạ nguy hiểm

Trang 17

1.1.3.2 Ô nhiễm môi trường đất

Không phải tất cả đều có điều kiện xử lý CTRYT hàng ngày Chất thải sau khi được phân loại, thu gom sẽ được tập trung về nơi lưu giữ tạm thời nếu nơi lưu giữ này không đảm bảo vệ sinh để cho nhiều loài côn trùng, loài gặm nhấm xâm nhập thì đây chính là các tác nhân trung gian sẽ mang mầm bệnh phát tán ra bên ngoài do vậy ảnh hưởng đến môi trường trong và ngoài bệnh viện Các chất độc hại như gạc, bông băng nhiễm khuẩn, hóa chất chưa được

xử lý lại thu gom đổ cùng với chất thải sinh hoạt và đem đi chôn không đảm bảo yêu cầu có thể ảnh hưởng đến môi trường đất và mạch nước ngầm

1.1.3.3 Ô nhiễm môi trường không khí

Ở bệnh viện đặc biệt là khoa truyền nhiễm chứa rất nhiều mầm bệnh như Shetococcus, Corynebacterium diphteriea, Mycobacterium tuberculosis, Stphylococcus và không khí là môi trường truyền mầm bệnh ngoài ra còn là môi truờng truyền các loại virus như virus cúm, virus sởi, quai bị có thể gây nên các vụ dịch lớn trong cộng đồng

Môi trường không khí còn chịu tác động rất lớn của công tác xử lý chất thải

- Rác thải vứt bừa bãi, tồn đọng sẽ gây các mùi hôi thối cho bệnh viện, khu vực dân cư xung quanh và là ổ truyền nhiễm các loài dịch bệnh

- Nước thải bệnh viện gây ô nhiễm không khí do quá trình phát tán các chất độc bay hơi vào không khí, mùi hôi thối từ các bể chứa nước thải, đường ống dẫn nước thải từ nơi phát sinh đến nơi tập trung

- Hơi khí độc phát sinh từ một số khoa, phòng trong bệnh viện như khoa chuẩn đoán hình ảnh, khoa xét nghiệm không được xử lý đúng cũng là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí trong bệnh viện

- Do hoạt động đốt chất thải làm phát sinh ra các hạt bụi, NO2, SO2, các

hợp chất hữu cơ bay hơi như dioxin, furan, chì, crôm, thủy ngân Một thực t ế chung các lò đốt chất thải ở nước ta hiện nay đều không có bộ phận kiểm soát

Trang 18

ô nhiễm không khí, không được bảo dưỡng thường xuyên do đó phát sinh nhiều khí thải độc hại trong ống khói với nồng độ cao hơn nhiều so tiêu chuẩn cho phép

1.1.3.4 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng

Các nghiên cứu ở Việt Nam đã có những đánh giá về tình hình thương tích của cán bộ nhân viên bệnh viện do các vật sắc nhọn gây ra qua phỏng vấn trực tiếp Một số nghiên cứu đã đề cập đến những ảnh hưởng của chất thải y

tế đối với cộng đồng xung quanh bệnh viện nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu đánh giá thực trạng tác động của chất thải y tế đối với sức khoẻ ở những người tiếp xúc với chất thải y tế

Đào Ngọc Phong và cộng sự (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của chất thải y tế đến sức khoẻ tại 8 bệnh viện huyện đã kết luận: Một số bệnh có liên quan đến ô nhiễm môi trường ở nhóm người dân bị ảnh hưởng của chất thải

từ bệnh viện cao hơn nhóm không bị ảnh hưởng [7]

1.1.4 Qui trình quản lý chất thải y tế

Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ chất thải y tế và kiểm tra, giám sát thực hiện Giống như các loại chất thải khác thì việc quản lý chất thải y tế cũng chia thành 3 công đoạn: thu gom, vận chuyển và xử lý

* Thu gom

Thu gom CTYT tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải phát sinh chất thải trong cơ sở y tế Thu gom chất thải được tính từ khi chất thải phát sinh ra đến khi chất thải cộng với thời gian chất thải được lưu giữ tại kho lưu giữ Phân loại là việc phân các CTYT vào các nhóm khác nhau tuỳ theo đặc tính hoá học, sinh học của chúng Việc phân loại chất thải ngay tại nguồn có ý nghĩa quan trọng giúp cho việc xử lý chất thải sau này được thuận lợi bởi mỗi loại chất thải khác nhau sẽ có

Trang 19

phương pháp xử lý khác nhau Phân loại chất thải còn giúp cho cơ sở y tế có thể tái sử dụng, tái chế lại những dụng cụ y tế thích hợp nhờ đó hạn chế được lượng chất thải đưa đi xử lý

* Vận chuyển

Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý ban đầu, lưu giữ và tiêu hủy Vận chuyển chất thải gồm có 2 quá trình vận chuyển riêng biệt Thứ nhất là vận chuyển trong các cơ sở y tế thường được thực hiện bởi hộ lý của các khoa, phòng hay nhân viên vệ sinh

cử bệnh viện Chất thải được vận chuyển từ nguồn phát sinh đến nơi lưu giữ ít nhất 1 lần/ngày và vận chuyển khi cần thiết Tùy vào điều kiện thực tế của mỗi cơ sở mà việc vận chuyển CTYT có thể bằng các xe chuyên dụng hay xách tay Trong quá trình vận chuyển phải đảm bảo không gây ảnh hưởng tới hoạt động chung của bệnh viện và không làm rơi vãi chất thải ra bên ngoài Thứ hai là vận chuyển chất thải bên ngoài cơ sở y tế, các cơ sở y tế có thể ký hợp đồng với cơ sở có tư cách pháp nhân trong việc vận chuyển và tiêu hủy chất thải Nếu địa phương chưa có đơn vị chuyên về vận chuyển chất thải thì nhân viên bệnh viện phải chịu trác nhiệm vận chuyển CTYT ra nơi tiêu hủy CTYTNH trước khi vận chuyển phải được đóng gói vào trong các thùng để tránh bị bục hoặc vỡ trên đường vận chuyển Phải có các phương tiện chuyển dụng để vận chuyển chất thải bên ngoài cơ sở y tế, chúng phải được tẩy uế khử trùng sau mỗi lần vận chuyển

* Xử lý

Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy có lây nhiễm cao tại nơi phát sinh trước khi chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy Mục đích của xử lý ban đầu là giảm tính độc hại của chất thải trước khi trước khi cho đi xử lý cuối cùng

Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập nhằm làm mất khả năng nguy hại đối với môi trường và sức khỏe con người

Có rất nhiều phương pháp xử lý CTYT đang được áp dụng, mỗi phương pháp

Trang 20

lại có những ưu điểm, nhược điểm khác nhau Dựa trên những điều kiện thực

tế mà mỗi cơ sở y tế sẽ lựa chọn một mô hình xử lý chất thải cho phù hợp nhằm mục đích chi phí bỏ ra là tối thiểu nhưng hiệu quả thu về là lớn nhất

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm trên tế giới

Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu

đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng [15], [16]

1.2.1.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tế

Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng [9]

Trang 21

Bảng 1.1 Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới [13]

Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTYT

1.2.1.2.Phân loại chất thải y tế

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nước đang phát triển có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn); chất thải hoá học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao) [2], [17]

Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải

có khả năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiên cứu ; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể ); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất thải gây độc tế bào; Chất thải phóng xạ [17]

1.2.1.3 Quản lý chất thải y tế

Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở Y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy [17]

Trang 22

Từ những năm 90, nhiều quốc gia như Nhật Bản, Singapo, Australia, Newziland đã đi đầu trong công tác xử lí CTYT, Malaixia có phương tiện xử lý rác thải tập trung trên bán đảo và các hệ thống xử lý rác thải thải riêng biệt [17]

Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được

áp dụng ở các nước đang phát triển, vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu

Á đã tìm ra một số phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippin

đã áp dụng phương pháp xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị cọ rửa; Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho về mối nguy hại của CTYT gây ra để bệnh

viện có biện pháp lựa chọn phù hợp [17]

1.2.2 Kinh nghiệm quản lý chất thải y tế tại Việt Nam

1.2.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tế

Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị - Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm

1998, cho thấy tỷ lệ phát sinh chất thải y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ

sở y tế rất khác nhau Trong cùng một bệnh viện, các khoa khác nhau sẽ có lượng chất thải rắn y tế phát sinh khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa, khoa hồi sức cấp cứu, khoa sản, khoa ngoại có lượng CTYT phát sinh lớn nhất [2], [11]

Bảng 1.2 Chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam[3] Tuyến bệnh viện Đơn vị Tổng lượng CTYT CTYT nguy hại

Bệnh viện trung ương (kg/GB) 0,97 0,16

Trang 23

Lượng chất thải rắn y tế phát sinh là cơ sở quan trọng để xác định khối lượng thu gom, công suất lò đốt Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu trong nước về tổng lượng CTYT phát sinh trên địa bàn

cả nước có sự sai lệch: Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Khiển 50 - 70 tấn/ngày; kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy Nga (Bộ Y tế) là 16,5 tấn.ngày; kết quả nghiên cứu của Lê Doãn Diên 37,5 tấn ngày; theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004 là 57,5 tấn/ngày; của Bộ Xây dựng là 34 tấn/ngày Sở dĩ có sự chệnh lệch như vậy vì một số đề tài khi nghiên cứu về lượng CTYT phát sinh có xét đến cả chất thải xây dựng, bùn bể phốt

Một số đề tài nghiên cứu khác chỉ xét đến lượng CTYT phát sinh khi cần thiêu đốt Theo kết quả khảo sát của Bộ Y tế (2001) tại 280 bệnh viện lượng CTYT phát sinh mỗi ngày khoảng 429 tấn/ngày, trong đó lượng CTYT nguy hại khoảng 34 tấn/ngày, ước tính tổng lượng khoảng 15 triệu tấn/năm CTYT, trong đó có khoảng 21.000 tấn/năm CTYT nguy hại Dự báo đến năm

2010, lượng CTYT nguy hại sẽ có khoảng 25.000 tấn/năm [2], [7]

1.2.2.2 Quản lý chất thải y tế

Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật, nhưng việc thực hiện chưa nghiêm túc theo quy định, hầu hết CTYT ở chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường Nhiều bệnh viện không có hệ thống thu gom, xử lý nước thải, hoặc có thì nhiều hệ thống cống rãnh đã bị hư hỏng, xử lý xuống cấp; rác thải không được phân loại, chôn lấp thủ công hoặc đốt thủ công tại chỗ [4], [5], [6]

* Về quản lý rác thải:

Kết quả điều tra năm 2002 của Bộ Y tế tại 294 bệnh viện trong cả nước cho thấy 94,2% bệnh viện phân loại CTYT tại nguồn phát sinh, chỉ có 5,8% bệnh viện chưa thực hiện tuyến trung ương, tuyến tỉnh, bệnh viện tư nhân thực hiện phân loại CTYT ngay tại nguồn tốt hơn tuyến huyện và bệnh viện ngành Có 93,9% bệnh viện thực hiện tách riêng vật sắc nhọn ra khỏi CTYT,

Trang 24

hầu hết sử dụng chai nhựa, lọ truyền đã dùng để đựng kim tiêm Nhưng qua kiểm tra thực tế, việc phân loại CTYT ở một số bệnh viện chưa chính xác, làm giảm hiệu quả của việc phân loại chất thải 85% bệnh viện sử dụng mã màu trong việc phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải

Kết quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh của Đinh Hữu Dung (2003) cho thấy: cả 6 bệnh viện đều phân loại chất thải rắn ngay tại nguồn phát sinh nhưng chưa có bệnh viện nào phân loại rác đúng theo Quy chế của Bộ Y

tế và việc phân loại phụ thuộc vào hình thức xử lý hiện có của bệnh viện

Kết quả thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế (2004) về CTYT ở 175 bệnh viện tại 14 tỉnh, thành phố, cho thấy số bệnh viện có thùng chứa chất thải chiếm 76%, có bể chứa rác chiếm 9,6%, có nắp đậy thùng rác hoặc mái che

bể chứa rác chiếm 43%, rác được để riêng biệt chiếm 19,3% trong tổng số bệnh viện, nơi chứa rác thải đảm bảo vệ sinh chiếm 35,5%; 29% bệnh viện chôn CTR trong bệnh viện; có 3,2% bệnh viện vừa chôn, vừa đốt trong bệnh viện Hầu hết các CTR trong bệnh viện đều không được xử lý trước khi đem đốt hoặc chôn Một số ít bệnh viện có lò đốt CTYT nhưng lại quá cũ kỹ và gây ô nhiễm môi trường

Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2007) tại 4 bệnh viện Hà Nội, Bệnh viện Lao và bệnh phổi Trung ương được đánh giá là bệnh viện quản lý rác thải tốt nhất trong 4 bệnh viện được kiểm tra nhưng Đoàn kiểm tra đã phát hiện trong buồng bệnh chỉ có thùng đựng rác sinh hoạt thiếu thùng chứa đờm của bệnh nhân Ở Bệnh viện Việt Đức tất cả rác thải đều chứa chung trong một loại túi đựng rác màu vàng

Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loại CTYT là 95,6% và thu gom hàng ngày là 90,9% Phương tiện thu gom CTYT như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản lý CTYT Chỉ có khoảng 50% trên phân loại, thu gom đạt yêu cầu theo quy chế [4]

Trang 25

* Về nước thải:

Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2004) tại 175 bệnh viện ở 14 tỉnh, thành phố thì có đến 31,5% bệnh viện không có hệ thống thoát nước thải, chủ yếu ở tuyến huyện Trong số bệnh viện có hệ thống thoát nước thì có tới 47,4% bệnh viện sử dụng hệ thống thoát nước chung gồm cả nước mưa, nước thải sinh hoạt, nước thải y tế; chỉ có 21,1% bệnh viện có hệ thống thoát nước thải riêng biệt; 26,3% bệnh viện có hệ thống thoát nước thải kín; 31,4% hở và 42,3% vừa kín vừa hở

Kết quả điều tra tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh (2003): cả 6 bệnh viện đều

có hệ thống cống thoát nước thải nhưng chất lượng cống khác nhau, có bệnh viện hệ thống cống nổi nhưng không có nắp đậy, nước thải bệnh viện không được xử lý (bệnh viện Yên Bái), hoặc xử lý một phần (bệnh viện Quảng Nam, Cần Thơ), hoặc đã xử lý toàn bộ (bệnh viện Phú Thọ, Quảng Ngãi, Đồng Tháp) nhưng tất cả đều đổ nước thải ra cống thoát nước chung [8]

Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009): năm 2006 tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải tuyến Trung ương là 71%, tuyến tỉnh là 46%, tuyến huyện là 30% và bệnh viện tư nhân là 85% Tính chung tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải là 37% và chỉ có khoảng 30% trong số này đạt tiêu chuẩn cho phép Hiện cả nước còn có gần 640 bệnh viện cần được trang bị hệ thống xử lý nước thải, số bệnh viện cần cải tạo lại hệ thống xử lý nước thải khoảng 220 bệnh viện [4]

* Về xử lý khí thải bệnh viện: Chỉ có một số bệnh viện lớn có hệ thống

xử lý khí thải hoặc có hotte hút hơi khí độc tại các khoa/ phòng Xét nghiệm,

X quang, còn đa phần chưa có hệ thống xử lý khí thải

1.2.2.3 Biện pháp xử lý chất thải y tế

* Về xử lý chất thải rắn y tế:

Hình thức xử lý chất thải rắn trong bệnh viện ở nước ta rất đa dạng, phụ thuộc vào quy mô, điều kiện của từng bệnh viện

Trang 26

Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam (2004) [1], Việt Nam đã xây dựng được 43 lò đốt CTYT hiện đại, nâng công suất xử lý lên 28.840 kg/ngày Công suất thiết kế của một lò đốt khoảng 40kg/h - 50 kg/h Tuy nhiên đại đa số các lò đốt chưa sử dụng hết công suất, khi so sánh tổng công suất của các lò đốt với lượng CTYT phát sinh, đã cho thấy, các lò đốt được lắp đặt

đã đáp ứng đủ khối lượng phát sinh tại thời điểm Qua đó đã chứng tỏ rằng vẫn còn một khối lượng lớn CTYT phát sinh chưa được thu gom và xử lý đúng cách Thực trạng như sau:

- Thiêu đốt chất thải rắn y tế:

+ Thiêu đốt CTYT bằng lò đốt rác hiện đại: Tại Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh đã xử lý CTYT tập trung với công nghệ nhập của nước ngoài Một số bệnh viện đã lắp đặt lò đốt chất thải y tế Hoval MZ2 của Thuỵ Sĩ đảm bảo an toàn về môi trường Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), cả nước đã có gần 200 lò đốt CTYT (chiếm 73,3%) Trong số có lò đốt, ở tuyến trung ương

có 5/5 hoạt động thường xuyên và có bảo dưỡng định kỳ theo đúng quy định; tuyến tỉnh là 79/106 lò Nhưng chưa có một nghiên cứu thống kê cụ thể nào

về các loại lò đốt hiện đang hoạt động tại ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của các lò đốt thiết kế và chế tạo trong nước và cũng chưa có số liệu về số lò đốt đạt tiêu chuẩn khí thải Thiết kế cơ bản của các lò đốt hiện có đều thiếu hệ thống xử lý khí thải, gây ô nhiễm môi trường, công suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý [4]

+ Thiêu đốt CTYT bằng lò thủ công hoặc đốt ngoài trời: Hiện nay, phần lớn trong cả nước, nhất là bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện thiêu đốt CTYT bằng các lò đốt thủ công không có hệ thống xử lý khí thải hoặc đốt ngoài trời Nghiên cứu 6 bệnh viện tuyến tỉnh năm 2003 cho thấy: chỉ có 2/6 bệnh viện xử lý rác bằng lò đốt chuyên dụng, còn 4/6 bệnh viện chôn lấp hoặc

sử dụng lò đốt thủ công và tuyến huyện là 97/201 lò đốt Tuy nhiên chỉ có 197

lò đốt 2 buồng, còn lại là lò thủ công [11]

Trang 27

+ Chôn lấp chất thải rắn y tế: Kết quả điều tra của Bộ Y tế (1998) tại 80 bệnh viện, phần lớn CTYT ở được xử lý theo phương pháp thô sơ, đơn giản, chưa đảm bảo vệ sinh và an toàn môi trường, rác thải y tế được chôn lấp trong khu đất bệnh viện và bãi rác công cộng chiếm tỷ lệ cao (70% bệnh viện chôn rác thải nhiễm khuẩn; 44,3% bệnh viện chôn rác thải vật sắc nhọn; 44,2% bệnh viện chôn rác thải từ phòng xét nghiệm, 50% bệnh viện chôn lấp rác thải

là hoá chất và dược phẩm) Tình trạng thiếu đất để chốn lấp CTYT đang trở nên phổ biến, nhiều bệnh viện phải chôn đi chôn lại nhiều lần trong khu đất bệnh viện Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), đến năm 2006, cả nước vẫn còn 26,7% bệnh viện đang thực hiện chôn lấp CTYT hoặc đốt thủ công ngoài trời,

chủ yếu tập trung ở tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh [4]

* Về xử lý nước thải bệnh viện:

Một số bệnh viện như Bệnh viện đa khoa và Bệnh viện Lao Tuyên Quang; Bệnh viện C và Bệnh viện Lao và bệnh phổi Thái Nguyên; Bệnh viện

đa khoa tỉnh Sơn La, Trung tâm Y tế huyện Lương Tài - Bắc Ninh đang áp dụng công nghệ xử lý nước thải bệnh viện theo phương pháp lọc sinh học ngập nước cải tiến hoặc phương pháp lọc sinh học nhỏ giọt [11]

1.2.3 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại tỉnh Vĩnh phúc

Vĩnh Phúc là tỉnh đồng bằng trung du, Phía Bắc giáp hai tỉnh là Tuyên Quang, Thái Nguyên Phía Nam và Đông giáp thành phố Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ Tỉnh lỵ của Vĩnh Phúc là thành phố Vĩnh Yên, cách Hà Nội khoảng 50km

- Hệ thống các cơ sở y tế tuyến huyện bao gồm 06 bệnh viện và 03 Trung tâm y tế trực thuộc 09 huyện, thị, thành phố, cụ thể: BVĐK Lập Thạch, BVĐK Vĩnh Tường, BVĐK Yên Lạc, BVĐK Tam Dương, BVĐK Bình Xuyên, BVĐK sông Lô; TTYT Vĩnh Yên, TTYT Tam Đảo, TTYT Phúc Yên

- Hệ thống cơ sở khám chữa bệnh tuyến xã gồm 137 trạm y tế xã, phường, thị trấn trên toàn tỉnh

Trang 28

- Hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân: Bao gồm 205 cơ sở, trong đó có 18 phòng khám đa khoa, 164 phòng khám chuyên khoa và 23 cơ

GB

TB /BV

Số

GB

TB /PKK

V

Số GB TB/TYT

xã, phường

Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, để xử lý chất thải y tế phần lớn các cơ sở

y tế tuyến trung ương, tuyến tỉnh và huyện đã lắp đặt các lò đốt đốt chất hiện

Trang 29

đại, còn các cơ sở y tế tuyến xã và tư nhân chỉ đốt bằng các lò đốt thủ công

hở, được xây bằng gạch bao xung quanh

Bảng 1.4 Hiện trạng lò đốt chất thải y tế tuyến huyện trên địa bàn tỉnh

Vĩnh Phúc [12]

Công suất (kg/h)

Nước sản xuất

02 lò thủ công

01 lò thủ công cũ

Trang 30

TT Cơ sở y tế Loại lò

Công suất (kg/h)

Nước sản xuất

Năm

khám bệnh mới

Theo điều tra của Trung tâm Địa môi trường và Tổ chức Lãnh thổ tổng lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại tuyến huyện là 57,42 kg

Bảng 1.5 Khối lượng chất thải y tế nguy hại trung bình ở các bệnh viện

tuyến huyện năm 2009[12]

BVĐK

Chất thải

Lập Thạch

Tam Dươn

g

Vĩnh Tường

Bình Xuyên

Yên Lạc

Tam Đảo

Phúc Yên

Vĩnh Yên

Sông

Toàn tuyến

1.3 Cơ sở pháp lý của luận văn

* Luật bảo vệ môi trường

Theo điều 39 thuộc chương V: Bảo vệ môi trường trong hoạt động sản, xuất, kinh doanh, dịch vụ của Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội khóa

XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 có quy định bảo vệ môi trường đối với bệnh viện, cơ sở y tế khác

1 Bệnh viện và các cơ sở y tế khác phải thực hiện các yêu cầu bảo vệ môi trường sau đây:

a) Có hệ thống hoặc biện pháp thu gom, xử lý nước thải y tế và vận hành thường xuyên, đạt tiêu chuẩn môi trường;

Trang 31

b) Bố trí thiết bị chuyên dùng để phân loại bệnh phẩm, rác thải y tế tại nguồn;

c) Có kế hoạch, trang thiết bị phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường do chất thải y tế gây ra;

2 Bệnh viện, các cơ sở y tế khác điều trị bệnh nhân truyền nhiễm phải

có các biện pháp cách ly khu dân cư, các nguồn nước

Bệnh viện, các cơ sở y tế khác xây dựng mới điều trị các bệnh truyền nhiễm không được đặt trong khu dân cư

3 Các cơ sở chiếu xạ, dụng cụ thiết bị y tế có sử dụng chất phóng xạ phải đáp ứng các yêu cầu về an toàn hạt nhân và an toàn bức xạ quy định tại Điều 89 của Luật này và pháp luật về an toàn hạt nhân và an toàn bức xạ

4 Người lao động trong bệnh viện,cơ sở y tế khác có hoạt động liên quan đến chất thải y tế phải được trang bị quần áo, thiết bị đảm bảo an toàn,

tránh lây nhiễm dịch bệnh từ chất thải y tế

* Chỉ thị số 199/TTg

Chỉ thị số 199/TTg ngày 3/4 /1997 của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách trong công tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp

- Quản lý việc phát sinh, thu gom, vận chuyển chất thải: Tổ chức thu gom kịp thời và triệt để chất thải, tiến hành phân loại chất thải ngay tại nguồn thải đẻ thuận tiện cho việc tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy

- Quản lý việc xử lý, tiêu hủy chất thải: Áp dụng các công nghệ phù hợp

để xử lý hoặc tiêu hủy chất thải phù hợp hơn với các tiêu chuẩn môi trường, trước hết là chất thải công nghiệp độc hại và chất thải bệnh viện để bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe con người

- Bộ y tế tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và có các biện pháp buộc , trạm y tế và các cơ sở dịch vụ y tế thực hiện nghiêm túc các quy định về quản

Trang 32

lý chất thải bệnh viện Đặc biệt chú trọng xử lý các chất thải có thể gây nguy hại tới sức khỏe con người như các bệnh phẩm, băng gạc, kim tiêm

* Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg

Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại Quyết định này gồm

có 6 chương với 31 điều trong đó đặc biệt chú ý đến điều 24 trách nhiệm của

Bộ y tế giám sát, kiểm tra và có các biện pháp hữu hiệu buộc , trạm y tế, cơ sở dịch vụ y tế tuân thủ các quy định của quy chế này

Chủ trì, phối hợp Bộ khoa học công nghệ, Bộ Xây dựng trong việc quy hoạch, lựa chọn công nghệ, tiết bị, đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống lò thiêu đốt chất thải y tế đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam

Ban hành quy chế quản lý chất thải y tế

* Quy chế quản lý chất thải y tế

Quy chế này được ban hành theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ y tế Quy chế quản lý chất thải

y tế mới ban hành gồm 8 chương 34 điều quy định các khía cạnh liên quan đến quản lý chất thải y tế

- Chương I: Những quy định chung, trong đó chỉ rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích một số từ ngữ và các hành vi bị cấm

Chương II: Xác định chất thải y tế quy định các nhóm chất thải y tế và các loại chất thải y tế

- Chương III: Tiêu chuẩn các dụng cụ bao bì đựng và vận chuyển Quy trình thu gom và lưu giữ CTR tại các cơ sở y tế trong đó quy định rõ màu sắc của túi, thùng dung để đựng chất thải, dụng cụ đựng các vật sắc nhọn và phương tiện trong vận chuyển chất thải

- Chương IV: Phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTR tại các

cơ sở y tế

- Chương V: Vận chuyển CTRYT ra ngoài cơ sở y tế

Trang 33

- Chương VI: Mô hình, công nghệ xử lý và tiêu huỷ CTRYT Điều 19: Các mô hình xử lý, tiêu huỷ CTYTNH Điều 20: Công nghệ xử lý và tiêu huỷ

CTYTNH Điều 21: Phương pháp xử lý ban đầu đối với chất thải có nguy cơ

lây nhiễm cao Điều 22: Các phương pháp xử lý và tiêu huỷ chất thải lây nhiễm Điều 23: Phương pháp xử lý và tiêu huỷ chất thải hoá học Điều 24:

Xử lý và tiêu huỷ chất thải phóng xạ Điều 25: Xử lý và tiêu huỷ các bình áp suất Điều 26: Xử lý và tiêu huỷ chất thải CTR thông thường

- Chương VII: Xử lý nước thải và khí thải

- Chương VIII: Tổ chức thực hiện

* Các văn bản pháp luật khác

- Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020

- Pháp lệnh về an toàn và kiểm soát bức xạ được ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25/6/1996

- Nghị định số 50/1998/NĐ-CP ngày 16/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ

- Thông tư liên tịch số 2237/1999/TTLT/BKHCNMT-BYT ngày 28/12/1999 của Liên Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường- Bộ y tế hướng dẫn việc thực hiện an toàn bức xạ trong y tế

- Căn cứ Quyết định số 32/2007/QĐ-BKHCN ngày 31 tháng 12 năm

2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quy định về kiểm tra thiết bị

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Thực trạng quản lý chất thải y tế quy mô tuyến huyện tại tỉnh Vĩnh Phúc

- Hệ thống xử lý chất thải y tế tại các BVĐK tuyến huyện tại tỉnh Vĩnh Phúc

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu các vấn đề chất thải bệnh viện quy mô tuyến huyện tại tỉnh Vĩnh Phúc

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện quy mô tuyến huyện tại tỉnh Vĩnh

Phúc (BVĐK Vĩnh Tường; BVĐK Yên Lạc; BVĐK Bình Xuyên)

- Thời gian nghiên cứu:

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Giới thiệu về quy mô cấp huyện tại tỉnh Vĩnh Phúc

- Hiện trạng phát thải và quản lý chất thải y tế quy mô cấp huyện tại tỉnh Vĩnh Phúc

+ Hiện trạng phát thải và quản lý chất thải rắn y tế

+ Hiện trạng phát thải và quản lý nước thải

- Đánh giá mô hình quản lý chất thải bệnh viện tại tỉnh Vĩnh Phúc + Đánh giá mô hình quản lý rác thải rắn

+ Đánh giá mô hình quản lý nước thải

- Đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế quy mô cấp huyện tại tỉnh Vĩnh Phúc

+ Đề xuất mô hình quản lý chất thải rắn

+ Đề xuất mô hình quản lý nước thải

Trang 35

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp

Phương pháp này kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước cũng như các số liệu thu thập được từ , các số liệu thu thập được từ các đề tài,

dự án, báo cáo về môi trường của … để làm cơ sở dữ liệu cho luận văn

- Các thông tin, số liệu, hình ảnh về công tác quản lý chất thải y tế lượng rác phát sinh, tình hình thu gom, khối lượng thu gom, thời gian thu gom, phương tiện thu gom, vận chuyển, xử lý…

- Thu thập các số liệu ở báo chí và trên internet

- Thu thập tài liệu văn bản có liên quan

2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lí thuyết và các số liệu thu thập được, tiến hành khảo sát thực tế:

- Điều tra hiện trạng chất thải y tế, lượng chất thải phát sinh hàng ngày

của của các BV

- Tiến hành khảo sát thực tế: xem xét công nghệ xử lý nước thải, chất thải của bệnh viện

- Thu thập mẫu nước thải của BV:

+ Mỗi BV lấy 2 mẫu nước thải: Trước xử lý (tại bể tập trung nước thải của bệnh viện) và sau xử lý(tại cống xả thải ra môi trường bên ngoài)

+ Địa điểm phân tích nước thải: Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc

* Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu, điền thông tin vào mẫu phiếu in sẵn thống nhất

* Quan sát trực tiếp quá trình xử lý chất thải y tế

- Chất thải lây nhiễm: gồm chất thải sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (chất thải thấm máu và các dịch sinh học của cơ thể từ các buồng bệnh cách ly), chất thải lây nhiễm nguy cơ cao (phát sinh từ các phòng xét nghiệm), chất thải giải phẫu

Trang 36

- Chất thải hóa học nguy hại: gồm dược phẩm quá hạn, các hóa chất trong y tế, chất gây độc tế bào, chất thải chứa kim loại nặng (từ nhiệt kế, huyết áp kế )

- Chất thải thông thường: gồm chất thải sinh hoạt, các chất thải từ hoạt động khám chữa bệnh không dính máu và dịch sinh học và hóa chất độc hại, chất thải sinh hoạt từ khu vực hành chính, lá cây

* Cân định lượng toàn bộ chất thải y tế theo kế hoạch

* Đánh giá thực trạng quản lý chất thải y tế: dùng bảng kiểm, dựa vào

quyết định số 43/2007/QĐ-BYT, ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế Cụ thể là:

- Xây dựng thang điểm để đánh giá thực trạng quản lý chất thải (thu gom, phân loại, vận chuyển, lưu giữ, xử lý) Cụ thể như sau:

- Xác định các tiêu chí chính và phụ để đưa ra thang điểm (lập bảng ma trận để xác định tiêu chí chính và phụ)

+ Tiêu chí chính cho thang điểm tối đa là 5 điểm

+ Tiêu chí phụ cho thang điểm tối đa là 3 điểm

- Chấm điểm: chấm điểm từ 1 đến mức điểm tối đa cho mỗi tiêu chí có thực hiện theo mức độ đạt được; 0 điểm cho tiêu chí không thực hiện hoặc không có

- Mức điểm đánh giá như sau:

+ Đạt >90% số điểm tổng được đánh giá là tốt

+ Đạt từ 70 đến <90% số điểm tổng được đánh giá đạt mức khá

+ Đạt từ 60 đến <70% số điểm tổng được đánh giá đạt mức trung bình + Đạt từ <50% số điểm tổng được đánh giá là thực hiện chưa tốt

+ Lấy mẫu nước thải y tế theo TCVN 6663-1:2002;

* Xác định lưu lượng nước thải: thu thập số liệu về lượng nước sử dụng

hàng năm (nước giếng khoan và nước máy) để ước tính lượng nước thải trung bình/ngày, theo cách: lượng nước sử dụng/ngày = lượng nước thải tối đa/ngày

Trang 37

2.4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu

- Trên cơ sở số liệu thu thập được, cùng với các số liệu khảo sát thực tế tiến hành phân tích, tổng hợp, xử lý nguồn số liệu

- Sử dụng phần mềm Word và Excel để xử lý thông tin số liệu và được thể hiện dưới các dạng bảng, biểu, sơ đồ,…

2.4.4 Phương pháp tính

- Đối với chất thải y tế thông thường (chất thải sinh hoạt): Khối lượng chất thải phát sinh được tổng hợp và tính toán dựa trên kết quả điều tra, khảo sát và phiếu phỏng vấn tại các cơ sở y tế

- Đối với chất thải y tế nguy hại: Để tính toán lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh trong từng khoa của từng bệnh viện, nhóm tác giả sử dụng phương pháp bình quân đơn giản (hay trung bình cộng giản đơn) do ở đây các lượng biến có tần số bằng nhau và đều bằng 1 Công thức tính như sau:

Xtb = - hay Xtb = -

Trong đó: xi (i = 1, 2, 3,…n) Là lượng chất thải y tế nguy hại phát

sinh trong mỗi ngày, đơn vị: kg

Xtb: Số bình quân, đơn vị: kg/ngày n: Số ngày tính toán, đơn vị; ngày Theo nghiên cứu của GS.TS Đào Ngọc Phong khoa y tế cộng đồng - Trường Đại Học y Hà Nội: Số lượng mẫu cho phỏng vấn tại các cơ sở y tế được áp dụng theo công thức:

Z

2 (1-ỏ/2) x p x q

n = - (p x  )

Trang 38

p = 0,6 (tỷ lệ người có hiểu biết về quản lý chất thải bệnh viện và ảnh hưởng của chất thải y tế)

q = 1 - p = 0,4;

 tỷ lệ so với p, (thường lấy từ 0,1 đến 0,4) Dựa trên tỉ lệ số người có hiểu biết về quản lý chất thải y tế và ảnh hưởng của chất thải y tế tại tỉnh Vĩnh Phúc, trong nghiên cứu này lấy bằng 0,18

(1,96)2 x 0,6 x 0,4

n = - = 79

(0,6 x 0,18)2Như vậy, số lượng phiếu điều tra cần thiết phải điều tra tại các cơ sở y

tế là 79 phiếu điều tra

2.4.5 Phương pháp phân tích

- Phương pháp phân tích:

+ Phương pháp phân tích xác định các thông số chất lượng nước thải thực hiện theo hướng dẫn của các tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn phân tích tương ứng của các tổ chức quốc tế:

- TCVN 6001-1995 (ISO 5815 -1989) - Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxi sinh hoá sau 5 ngày (BOD5) - Phương pháp cấy và pha loãng

- TCVN 6491-1999 (ISO 6060 -1989) - Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxy hoá học

Trang 39

- TCVN 6187-1:2009 (ISO 9308-1:2000) - Chất lượng nước - Phát hiện

và đếm Escherichia coli và vi khuẩn Coliform

- TCVN 4829-2001 (ISO 6579 - 1993) - Vi sinh vật học - Hướng dẫn chung về phương pháp phát hiện Salmonella

Bảng 2.1 Chỉ tiêu và phương pháp phân tích

phân tích

Đơn vị tính

QCVN 28:2010/BTNMT (B)

Trang 40

Ghi chú:

- Giá trị giới hạn (Cột B): Trích theo QCVN 28: 2010/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế

- Cột B quy định giá trị C của các thông số và các chất gây ô nhiễm làm

cơ sở tính toán giá trị tối đa cho phép trong nước thải y tế khi thải vào các nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt

- Nước thải y tế thải vào cống thải chung của khu dân cư áp dụng giá trị

C quy định tại cột B Trường hợp nước thải y tế thải vào hệ thống thu gom để dẫn đến hệ thống xử lý nước thải tập trung thì phải được khử trùng, các thông

số và các chất gây ô nhiễm khác áp dụng theo quy định của đơn vị quản lý, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung

Ngày đăng: 24/02/2016, 09:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Chất thải rắn - Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất thải rắn - Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2004
2. Bộ Y tế (2006), Sức khỏe môi trường, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe môi trường
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
3. Bộ Y tế (2008), "Tăng cường triển khai thực hiện quản lý và xử lý chất thải y tế", Công văn số 7164/BYT-KCB ngày 20/10/2008, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường triển khai thực hiện quản lý và xử lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
4. Bộ Y tế (2009), "Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009 - 2015" Quyết định số 1783/QĐ-BYT ngày 28/5/2009, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009 - 2015
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
5. Bộ Y tế (2009), Vệ sinh môi trường Dịch tễ (tập I), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường Dịch tễ
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2009
8. Cù Huy Đấu, trường đại học Kiến Trúc Hà Nội (2004), "Thực tiễn quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam", Tuyển tập các báo cáo khoa học hội nghị môi trường Việt Nam, Hà Nội, (tr 61 - 74) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Tác giả: Cù Huy Đấu, trường đại học Kiến Trúc Hà Nội
Năm: 2004
9. Nguyễn Huy Nga (2004), "Tổng quan tình hình quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam", Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 67 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tình hình quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
10. Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên (2007), Điều tra thống kê nguồn thải và xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thống kê nguồn thải và xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Tác giả: Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên
Năm: 2007
11. Trần Thị Minh Tâm (2005), “Thực trạng quản lý chất thải y tế tại huyện tỉnh Hải Dương”, Luận án tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải y tế tại huyện tỉnh Hải Dương”, "Luận án tiến sỹ y học
Tác giả: Trần Thị Minh Tâm
Năm: 2005
12. Trung tâm Địa môi trường và Tổ chức Lãnh thổ “Điều tra tình hình phát sinh chất thải ở các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”II. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Điều tra tình hình phát sinh chất thải ở các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”
13. Canadian Standards Association (1992), Guidelines for the management of biomedical waste in Canada, Ottawa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines for the management of biomedical waste in Canada
Tác giả: Canadian Standards Association
Năm: 1992
14. Health Services Advisory Committee (1999), Safe disposal of clinical waste, Sudbury: HSE Books, Great Britain Sách, tạp chí
Tiêu đề: Safe disposal of clinical waste
Tác giả: Health Services Advisory Committee
Năm: 1999
15. Hendarto. H (1998), Medical waste treatment options in Indonesia, California Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medical waste treatment options in Indonesia
Tác giả: Hendarto. H
Năm: 1998
16. WHO (1994), Managing medical waste in developing country. Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managing medical waste in developing country
Tác giả: WHO
Năm: 1994
17. WHO (1997), Treatment waste from hospitals and other health care establishment, Malaysia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treatment waste from hospitals and other health care establishment
Tác giả: WHO
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3. Số bệnh viện, giường bệnh và trạm y tế xã năm 2008 - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Bảng 1.3. Số bệnh viện, giường bệnh và trạm y tế xã năm 2008 (Trang 28)
Bảng 1.4. Hiện trạng lò đốt chất thải y tế tuyến huyện trên địa bàn tỉnh - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Bảng 1.4. Hiện trạng lò đốt chất thải y tế tuyến huyện trên địa bàn tỉnh (Trang 29)
Bảng 1.5. Khối lƣợng chất thải y tế nguy hại trung bình ở các bệnh viện - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Bảng 1.5. Khối lƣợng chất thải y tế nguy hại trung bình ở các bệnh viện (Trang 30)
Bảng 2.1. Chỉ tiêu và phương pháp phân tích - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Bảng 2.1. Chỉ tiêu và phương pháp phân tích (Trang 39)
Bảng 3.1. Hệ thống các bộ y tế tại một số bệnh viện - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Bảng 3.1. Hệ thống các bộ y tế tại một số bệnh viện (Trang 42)
Bảng 3.3. Khối lƣợng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại một số bệnh - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Bảng 3.3. Khối lƣợng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại một số bệnh (Trang 43)
Bảng 3.5. Nhân lực quản lý môi trường tại các cơ sở y tế tuyến huyện - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Bảng 3.5. Nhân lực quản lý môi trường tại các cơ sở y tế tuyến huyện (Trang 45)
Bảng 3.8. Hệ thống lò đốt tại 3 bệnh viện tuyến huyện - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Bảng 3.8. Hệ thống lò đốt tại 3 bệnh viện tuyến huyện (Trang 49)
Bảng 3.9. Lượng nước thải tại - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Bảng 3.9. Lượng nước thải tại (Trang 51)
Hình 3.2. Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý nước thải y tế tuyến huyện - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Hình 3.2. Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý nước thải y tế tuyến huyện (Trang 53)
Bảng 3.11. Chất lượng nước thải trước và sau xử lý của BVĐK Vĩnh Tường - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Bảng 3.11. Chất lượng nước thải trước và sau xử lý của BVĐK Vĩnh Tường (Trang 54)
Bảng 3.13. Chất lượng nước thải trước và sau xử lý của BVĐK Bình Xuyên - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Bảng 3.13. Chất lượng nước thải trước và sau xử lý của BVĐK Bình Xuyên (Trang 57)
Hình 3.4. Sơ đồ nguyên lý hoạt động của hệ thống - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Hình 3.4. Sơ đồ nguyên lý hoạt động của hệ thống (Trang 71)
Hình 3.5. Sơ đồ hoạt động của trạm xử lý nước thải - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Hình 3.5. Sơ đồ hoạt động của trạm xử lý nước thải (Trang 73)
Bảng tổng hợp kết quả phân tích - Thực trạng quản lý và đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế của các bệnh viện quy mô cấp huyện tại vĩnh phúc
Bảng t ổng hợp kết quả phân tích (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w