Nền kinh tế ở các nước, bất luận là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, trong hoàn cảnh chiến tranh thường là KTCH, do hoạt động trong những điều kiện khắcnghiệt của chiến tranh, do n
Trang 1CÂU HỎI THI MÔN HỌC: KINH TẾ HỌC TRONG QUẢN LÝ CÔNG
Dành cho Cao học Quản lý công
1 Hãy nêu các nguyên lý chủ yếu của kinh tế học Những nguyên lý này được vận dụng như thế nào vào quản lý công Cho ví dụ thực tiễn để minh họa.
Kinh tế học chủ yếu nghiên cứu phương thức xã hội quản lý nguồn lực khan hiếm của xã hội, tức làgiải quyết ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế (Sản xuất cái gì?, Sản xuất như thế nào? và Sản xuất cho ai?).Thực tế, nguồn lực được phân bổ không phải chỉ do nhà hoạch định duy nhất của chính phủ trung ương,
mà còn thông qua sự tác động qua lại của hàng triệu hộ gia đình và doanh nghiệp Do vậy, kinh tế học cầntìm hiểu xem mọi cá nhân ra quyết định thế nào, quyết định làm việc bao nhiêu, mua cái gì, tiết kiệm nhưthế nào và khoản tiết kiệm đó đầu tư ra sao Kinh tế học cũng cần nghiên cứu, phân tích làm thế nào màrất nhiều người mua cùng một sản phẩm lại có thể cùng nhau tạo ra một mức giá duy nhất và một lượnghàng ổn định Mục tiêu cuối cùng, kinh tế học phải phân tích được các lực lượng và xu thế ảnh hưởng đếnnền kinh tế với tư cách tổng thể, tốc độ tăng trưởng của thu nhập bình quân, thất nghiệp và sự gia tăng củagiá cả
Các nguyên lý của kinh tế học là những quy luật tổng quan về kinh tế học và là những dự báo có thểxảy ra trong nền kinh tế Trên thực tế, hộ gia đình là một bộ phận nằm trong nền kinh tế; và hộ gia đình vànền kinh tế có rất nhiều điểm chung Kinh tế học là bộ môn khoa học nghiên cứu phương thức xã hộiquản lý nguồn lực khan hiếm của mình Nó được đặt trên cơ sở của một số ý tưởng cơ bản chi phối hành
vi cá nhân, sự tương tác giữa các cá nhân và nền kinh tế với tư cách một tổng thể - Các nhà kinh tế gọichúng là các nguyên lý của kinh tế học - đây là các nguyên lý cơ bản của kinh tế học:
Nguyên lý 1: Con người đối mặt với sự đánh đổi: "Mọi thứ đều có giá" - Để có được một thứ ưa
thích, người ta phải bỏ ra một thứ khác mà mình thích Nói cách khác, quá trình ra quyết định đòi hỏiphải đánh đổi một mục tiêu nào đó để đạt được mục tiêu khác
Một học viên quyết định học cao học sẽ phải từ bỏ các lợi ích khác nếu không đi học như: Dành thờigian để nghỉ ngơi, để đi du lịch, kiếm tiền…
Ví dụ 1: Một sinh viên đứng trước một quyết định phân bổ nguồn lực quý báu của mình là thời gian.Anh ta có thể dành toàn bộ thời gian để nghiên cứu môn kinh tế học, hoặc dành toàn bộ thời gian đểnghiên cứu môn tâm lý học, và hoặc là phân chia thời gian giữa hai môn học đó Để có một giờ học mônnày, anh ta phải từ bỏ một giờ học môn kia Để có một giờ học một trong hai môn kia, anh ta phải từ bỏmột giờ đi chơi, xem ca nhạc hoặc đi làm để kiếm thêm thu nhập
Khi con người tập hợp lại thành xã hội, Chính phủ phải đối mặt với nhiều loại đánh đổi Trongcuốn "Kinh tế học" của tác giả Paul Anthony Samuelson (15/5/1915-13/12/2009) - một nhà kinh tế họcngười Hoa Kỳ, đại biểu của trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp tổng hợp và có đóng góp to lớn ở mộtloạt lĩnh vực của kinh tế học - đưa ra sự đánh đổi giữa "Súng và bơ" Khi tăng chi tiêu cho quốc phòng đểtăng khả năng phòng thủ đất nước (mua thêm súng), Chính phủ phải từ bỏ một phần tiêu dùng (một phầnbơ), và như vậy mất đi cơ hội nâng cao mức sống của nhân dân
Trong quản lý công, các mục tiêu thường xung đột với nhau : chẳng hạn giữa công bằng và hiệu quả,
mà khi đó Chính phủ phải đối mặt với sự đánh đổi Nếu như hiệu quả ám chỉ quy mô của chiếc bánh kinh
tế, thì khái niệm công bằng nói lên phương thức phân chia chiếc bánh đó Và khi Chính phủ cố gắng cắtchiếc bánh kinh tế thành những phần đều nhau hơn thì chiếc bánh nhỏ lại Do đó, khi thiết kế các chínhsách, Chính phủ phải ý thức được sự đánh đổi đó để có những quyết định chuẩn xác và ít tốn kém nhất
Nguyên lý 2: Chi phí của một thứ là thứ mà bạn phải từ bỏ để có được nó: Sự đánh đổi liên quan
đến lợi ích và tổn thất, vì vậy trong quá trình ra quyết định, ta thường so sánh giữa chi phí và lợi ích củacác cách hành động khác nhau Cái khó ở đây là trong nhiều trường hợp, chi phí của một số hành độngkhông phải lúc nào cũng rõ ràng như khi mới nhìn qua
Ví dụ, việc quyết định đi học cao học; Ích lợi của cách hành động này là giàu thêm kiến thức và có cơhội có được công việc làm tốt hơn trong suốt cả cuộc đời Thế còn chi phí của nó là gì? Nó chính là tổngcộng các khoản tiền phải trả để có được việc học hành này (học phí, tài liệu, sinh hoạt phí, ) Nhưng tổng
số tiền đó thực sự chưa phải là toàn bộ những gì bạn phải từ bỏ để theo học cao học
Trang 2Ví dụ trên cho thấy: Thứ nhất, nó bao gồm cả những thứ không thực sự là chi phí cho việc học caohọc Kể cả không phải học cao học, người ta vẫn phải chi phí sinh hoạt, vẫn phải chi cho ăn uống, chỗ ở.Tiền ăn uống ở trường cao học chỉ trở thành chi phí cho việc học cao học khi nó cao hơn ở những nơikhác Cũng có khi, sinh hoạt phí ở trường cao học có thể rẻ hơn những nơi khác - Trường hợp này, số tiềntiết kiệm được trở thành ích lợi cho việc học cao học.Thứ hai, nó bỏ qua khoản chi phí lớn nhất cho việchọc cao học là thời gian của việc học Khi dành một khoảng thời gian để nghe giảng, đọc tài liệu và viếttiểu luận, người ta không thể sử dụng nó để làm việc khác Nhiều người hiểu rằng tiền lường phải từ bỏ
do không đi làm để đi học cao học là khoản chi phí lớn nhất cho việc học cao học
Chi phí cơ hội của một thứ là thứ mà bạn phải từ bỏ để có được nó Khi quyết định bất kỳ việc gì(chẳng hạn đi học cao học), người ra quyết định phải xem xét đến chi phí cơ hội gắn với các hành động cóthể thực hiện Chi phí cơ hội của các vận động viên thể thao ở lứa tuổi sinh viên có thể rất cao - họ có thểkiếm được rất nhiều tiền nếu bỏ học, để chơi các môn thể thao nhà nghề Đương nhiên, mọi người hiểurằng, ích lợi của việc học cao học là quá nhỏ so với chi phí
Nguyên lý 3: Con người hành động hợp lý suy nghĩ tại điểm cận biên
Các quyết định trong cuộc sống hiếm khi được đưa ra dưới dạng có hoặc không, mà thường là dướidạng tăng thêm hay giảm đi một lượng nào đó Khi đến giờ ăn tối, bạn phải đối mặt không phải là ăn haykhông ăn, mà là có nên ăn thêm một ít cơm hoặc thức ăn không Khi kỳ thi đến, vấn đề không phải là bỏmặc bài vở hay học 24 giờ một ngày, mà là nên học thêm một tiếng nữa hay dừng lại để lên mạngWikipedia Các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ thay đổi cận biên để chỉ những điều chỉnh nhỏ và tăng dầntrong kế hoạch hành động hiện tại Cận biên có nghĩa là lân cận một cái gì đó và bởi vậy thay đổi cậnbiên là những điều chỉnh ở vùng lân cận
Nhiều trường hợp, mọi người đưa ra được quyết định tối ưu nhờ tính đến điểm cận biên; bằng cách
so sánh ích lợi cận biên và chi phí cận biên Các cá nhân và doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định tốt hơnnhờ cách suy nghĩ ở điểm cận biên Con người hành động hợp lý chỉ quyết định tăng thêm hành động khithấy ích lợi cận biên còn cao hơn chi phí cận biên
Nguyên lý 4: Con người phản ứng với các kích thích: Con người ra các quyết định dựa trên sự
so sách chi phí và ích lợi, nên hành vi của họ có thể thay đổi khi chi phí, ích lợi hoặc cả hai thay đổi.Nghĩa là, con người đáp lại các kích thích Ví dụ, khi giá bưởi tăng, mọi người quyết định ăn ít bưởi hơn,
vì chi phí cho việc mua bưởi đã tăng lên Đồng thời người nông dân trồng bưởi thuê thêm lao động và thuhoạch nhiều bưởi hơn vì lợi nhuận thu được từ bán bưởi tăng lên Chúng ta thấy, tác động của giá cả lênhành vi của người mua và người bán trên thị trường, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu phươngthức vận hành của nền kinh tế
Các nhà quản lý công khi hoạch định chính sách không bao giờ được quên các kích thích, vì nhiềuchính sách làm thay đổi ích lợi hoặc chi phí mà mọi người phải đối mặt và bởi vậy làm thay đổi hành vicủa họ Ngược lại, khi các nhà hoạch định chính sách không chú ý đến ảnh hưởng của các chính sách mà
họ thực hiện đối với các kích thích, họ có thể nhận được những kết quả không định trước
Nguyên lý 5: Thương mại làm cho mọi người đều có lợi : Hiện nay trên thị trường quốc tế, Nhật
Bản là đối thủ cạnh tranh của Hoa Kỳ Xét trên một vài khía cạnh, thì điều này đúng vì các công ty Nhật
và Hoa Kỳ đều sản xuất nhiều mặt hàng giống nhau Hãng Toyota và Ford cạnh tranh để thu hút một nómkhách hàng trên thị trường ô tô Hewlett-Packard HP cũng cạnh tranh với Sony Vaio trên thị trường máytính cá nhân để thu hút cùng một nhóm hàng Rất dễ mắc sai lầm khi nghĩ về sự cạnh tranh giữa các nước,thương mại giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ không giống như cuộc thi đấu thể thao là có kẻ thắng, người thua
Sự thật thì điều ngược lại mới đúng, thương mại giữa hai nước làm cả hai đều có lợi Thương mại chophép các nước chuyên môn hóa vào lĩnh vực mà mình sản xuất tốt nhất và nhờ vậy được hưởng thụ hànghóa và dịch vụ phong phú hơn Nhật và Hoa Kỳ vừa là bạn hàng của nhau, nhưng cũng là đối thủ cạnhtranh của nhau
Nguyên lý 6: Thị trường thường là phương thức tốt để tổ chức hoạt động kinh tế: Nửa cuối
Thế kỷ XX với sự sụp đổ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu có lẽ là thay đổiquan trọng nhất của nửa cuối thế kỷ này Nền kinh tế của các nước này hoạt động dựa trên tiền đề là cácnhà hoạch định trong chính phủ được đặt vào vị trí tốt nhất để định hướng hoạt động kinh tế Họ là những
Trang 3người quyết định sản xuất hàng hóa, dịch vụ nào, sản xuất bao nhiêu, sản xuất như thế nào và phân phốicho ai Thực chất, đây là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
Hiện nay, hầu hết các nước từng có nền kinh tế hóa tập trung đều đã từ bỏ hệ thống này và đang nỗlực phát triển nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, quyết định của các nhà hoạch định kinh
tế của chính phủ được thay bằng quyết định của các doanh nghiệp và hộ gia đình Họ toàn quyền sảnxuất cái gì, sản xuất như thế nào và phân phối nó cho ai Các hộ gia đình tự quyết định việc làm chodoanh nghiệp nào và mua cái gì bằng chính thu nhập của mình Các hộ gia đình và gia đình tương tác vớinhau trên thị trường, nơi mà giá cả và phúc lợi cá nhân định hướng cho các quyết định của họ
Adam Smith (1723-1790) đã nêu ra nhận định nổi tiếng trong kinh tế học là: "Khi tác động qua lạivới nhau trên thị trường, các hộ gia đình và doanh nghiệp hành động như thể họ được dẫn dắt bởimột bàn tay vô hình, đưa họ tới những kết cục thị trường đáng mong muốn" Giá cả là công cụ mà nhờ
đó bàn tay vô hình điều khiển các hoạt động kinh tế Giá cả phản ánh cả giá trị của hàng hóa đối với xãhội và chi phí mà xã hội phải chịu để sản xuất ra nó; vì hộ gia đình và doanh nghiệp nhìn vào giá cả khiđưa ra quyết định mua và bán cái gì, nên vô tình họ tính đến lợi ích và chi phí xã hội mà hành vi họ tạo ra.Kết quả giá cả giúp các cá nhân đưa ra quyết định mà trong nhiều trường hợp cho phép tối đa hóa phúc lợi
xã hội Hệ quả của bàn tay vô hình: "Khi ngăn không cho giá cả điều chỉnh một cách tự nhiên theo quyluật cung - cầu, chính phủ cũng đồng thời cản trở bàn tay vô hình trong việc phối hợp hàng triệu hộ giađình và doanh nghiệp - những đơn vị cấu thành nền kinh tế" Đây là hệ quả quan trọng, nó lý giải tạisao thuế tác động tiêu cực tới quá trình phân bổ nguồn lực (thuế làm biến dạng giá cả, và do vậy làm biếndạng quyết định của các hộ gia đình và doanh nghiệp)
Nguyên lý 7: Đôi khi chính phủ cải thiện được kết cục thị trường
Thúc đẩy hiệu quả và công bằng của xã hội là hai nguyên nhân chủ yếu để chính phủ can thiệp vàonền kinh tế Nghĩa là, hầu hết các chính sách đều nhằm vào mục tiêu vừa làm cho chiếc bánh kinh tế lớnlên và vừa làm thay đổi cách thức phân chia chiếc bánh đó Bàn tay vô hình thường hướng dẫn thị trườngphân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả Song vì nhiều nguyên nhân, đôi khi bàn tay vô hình bị tê liệt.Các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ "thất bại thị trường" để chỉ tình huống thị trường tự nó thất bại trongviệc phân bổ nguồn lực theo cách có hiệu quả
Có một nguyên nhân làm cho thị trường thất bại là ảnh hưởng ngoại hiện Ảnh hưởng của ngoạihiện là tác động do hành vi của một người tạo ra đối với phúc lợi của người ngoài cuộc Ví dụ về ảnhhưởng ngoại hiện tiêu cực (hay chi phí ngoại hiện) là ô nhiễm môi trường Nếu một nhà máy hóa chấtkhông phải chịu toàn bộ chi phí cho khí thải, thì nó có thể thải ra rất nhiều khí thải Trường hợp này,chính phủ có thể làm tăng phúc lợi kinh tế nhờ các quy định về môi trường Một ví dụ nữa về ảnhhưởng ngoại hiện tích cực (hay lợi ích ngoại hiện) là phát triển khoa học Khi đi đến một phát minh quantrọng, nhà khoa học tạo ra một nguồn lực có giá trị mà mọi người có thể sử dụng Trường hợp này, chínhphủ có thể tăng phúc lợi kinh tế bằng cách trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu khoa học
Nguyên lý 8: Mức sống của một nước phụ thuộc vào năng lực sản xuất của nước đó : Hầu hết
sự khác biệt về mức sống có nguyên nhân ở sự khác nhau về năng suất lao động của mỗi quốc gia (sốlượng hàng hóa được làm ra trong mỗi một giờ lao động của một công nhân) Ở những quốc gia, ngườilao động sản xuất ra được lượng hàng hóa và dịch vụ lớn hơn trong một đơn vị thời gian, thì hầu hếtngười dân được hưởng mức sống cao; còn những quốc gia có năng suất kém hơn, thì hầu hết người dânphải chịu cuộc sống khó khăn Thực chất, tốc độ tăng năng suất lao động của một quốc gia quyết định tốc
độ tăng thu nhập bình quân của quốc gia đó Mối quan hệ cơ bản giữa năng suất và mức sống khá đơn
giản, nhưng nó mang một hàm ý sâu xa Nếu năng suất là yếu tố then chốt quyết định mức sống, thìnhững cách lý giải khác về mức sống phải đóng vai trò thứ yếu Nhiều người tin vào vai trò của côngđoàn hoặc luật về tiền lương tối thiểu trong việc làm đã làm tăng mức sống của người dân Hoa Kỳ Songngười thực sự làm tăng đời sống người dân lại là năng suất lao động ngày càng cao
Nguyên lý 9: Giá cả tăng khi chính phủ in quá nhiều tiền : Nguyên nhân gây ra lạm phát là gì?
Trong hầu hết các trường hợp, lạm phát trầm trọng hoặc kéo dài dường như đều có chung một thủ phạm
-đó là sự gia tăng của lượng tiền Khi Chính phủ phát hành ra một lượng tiền lớn, giá trị của tiền sẽ giảm
Nguyên lý 10: Chính phủ đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp
Nếu lạm phát như vậy, thì tại sao đôi khi các nhà hoạch định chính sách lại gặp rắc rối trong việc chèo lái
Trang 4con thuyền kinh tế? Một lý do là mọi người cho rằng chính sách cắt giảm lạm phát thường gây ra sự giatăng tạm thời của thất nghiệp Đồ thị minh họa cho sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp được gọi
là đường phillips
2 Trình bày các mô hình kinh tế thị trường? Hãy so sánh vai trò của Chính phủ trong mỗi loại
mô hình đó? Đánh giá vai trò của Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn 1975-1986 và từ năm 1986 đến nay.
KINH TẾ CHỈ HUY (Mệnh lệnh, Kế hoạch hóa tập trung): là nền kinh tế trong đó chính phủ chỉ huybằng cách quyết định các phương hướng phát triển, các cân đối lớn, các nhiệm vụ sản xuất, phân phối, lưuthông và tiêu thụ Không giống như trong nền kinh tế có kế hoạch, nhà nước không định ra những chỉ tiêu
cụ thể cho nền kinh tế về sản xuất và phân phối Nền kinh tế ở các nước, bất luận là xã hội chủ nghĩa hay
tư bản chủ nghĩa, trong hoàn cảnh chiến tranh thường là KTCH, do hoạt động trong những điều kiện khắcnghiệt của chiến tranh, do những yêu cầu tối cấp thiết phải động viên cao độ để đảm bảo cho chiến tranh.Trong điều kiện đó, không thể để thị trường tự do điều tiết một cách tự phát toàn bộ hay một phần lớn nềnkinh tế cũng như chưa thể quản lí nền kinh tế theo kế hoạch Trong điều kiện hoà bình, nhiều nước cũngtheo nền KTCH bằng cách hạn chế tác động của cơ chế thị trường, thực chất đó cũng là nền KTCH Ưuđiểm: Tất cả các vấn đề đều do nhà nước thống nhất, tập trung quản lý nên các vấn đề kinh tế lớn đượcgiải quyết một cách dễ dàng hơn như xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng và củng cố an ninh quốc phòng,xây dựng các công trình phúc lợi công cộng; quan hệ giữa con người với nhau bình đẳng, bác ái; hạn chếphân hóa giàu ngèo và đảm bảo sự công bằng xã hội Hạn chế: Bộ máy quản lý cồng kềnh, quan liêu, baocấp; kế hoạch sát với thực tế; người sản xuất và người tiêu dùng không có quyền tự do lựa chon nên tínhnăng động và chủ động không cao, chậm đổi mới công nghệ; Phân phối mang tính chất bình quân nênkhông kích thích người lao động, khai thác và sử dụng nguồn lực khan hiếm kém hiệu quả
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: là một thị trường mà không có sự can thiệp kinh tế và quy định của nhànước, ngoại trừ việc thực thi các hợp đồng tư nhân và quyền sở hữu tài sản Thị trường tự do ngược lạivới thị trường có kiểm soát, trong đó nhà nước trực tiếp quy định hàng hoá, dịch vụ và lao động có thểđược sử dụng, định giá giá cả, hoặc phân phối như thế nào, hơn là dựa vào cơ chế sở hữu tư nhân Nhữngngười ủng hộ thị trường tự do về mặt truyền thống xem thuật ngữ này ngụ ý rằng các phương tiện sảnxuất là thuộc tư nhân, không phải thuộc kiểm soát của nhà nước Đây là cách sử dụng đương đại cụm từ
"thị trường tự do" bởi các nhà kinh tế và văn hóa đại chúng; thuật ngữ này trong lịch sử đã có các cách sửdụng khác Một nền kinh tế thị trường tự do là một nền kinh tế nơi mà tất cả các thị trường bên trong nókhông được kiểm soát bởi các bên khác hơn so với những người tham gia trên thị trường Ở dạng thuầnkhiết nhất của nó chính phủ đóng một vai trò trung lập trong việc quản lý và điều ban hành pháp luật vềhoạt động kinh tế không giới hạn và cũng không tích cực thúc đẩy nó (ví dụ như điều tiết các ngành côngnghiệp cũng như trợ cấp cung cấp cho các doanh nghiệp cho phép một mình bảo vệ họ khỏi áp lực thịtrường nội / ngoại ) Một nền kinh tế như vậy dưới hình thức cực đoan nhất của nó không tồn tại trongnền kinh tế phát triển, tuy nhiên những nỗ lực tự do hóa nền kinh tế hoặc nỗ lực làm cho nó "tự do hơn"
để hạn chế vai trò của chính phủ theo cách như vậy Lý thuyết này cho rằng trong một thị trường lý tưởng
tự do, quyền sở hữu được trao đổi một cách tự nguyện trao đổi ở một mức giá được thỏa thuận chỉ bằng
sự đồng ý lẫn nhau của người bán và người mua Theo định nghĩa, người mua và người bán không épbuộc lẫn nhau, theo nghĩa là họ có được quyền sở hữu của nhau mà không sử dụng vũ lực, đe dọa của lựclượng vật chất, hoặc gian lận, cũng không phải là họ bị cưỡng chế do bên thứ ba (như của chính phủthông qua các khoản thanh toán chuyển giao)và họ tham gia vào thương mại đơn giản chỉ vì họ đều đồng
ý và tin rằng những gì họ đang nhận được là giá trị nhiều hơn hoặc càng nhiều càng tốt những gì họ bỏ đi.Giá là kết quả của các quyết định mua bán hàng loạt như được mô tả bởi các lý thuyết về cung và cầu
Ưu điểm: Người sản xuất và người tiêu dùng được tự do lựa chọn nên tính năng động và tính chủ độngsáng tạo cao hơn, thường xuyên đổi mới công nghệ và kích thích nâng cao năng xuất, chất lượng hiệu quảtrong sản xuất kinh doanh; Khai thác và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả và thúc đẩy nền kinh tế pháttriển Hạn chế: Coi lơi nhuận là trên hết nên gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường, hệ thống sinh thái bịphá vỡ; Mâu thuẫn ngày càng cao giữa các mối quan hệ trong nền kinh tế với mối quan hệ truyền thống,
tệ nạn xã hội nảy sinh, phân hóa giàu ngèo và bất công xã hội tăng, các nhu cầu công cộng xã hội khóđược thực hiện, chịu nhiều rủi ro
Trang 5KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HỖN HỢP: chủ trương phải kết hợp hai mặt "bàn tay vô hình" của Xmit (A.Smith) và Thuyết cân bằng tổng quát với "bàn tay của nhà nước" Phải điều hành một nền kinh tế không
có cả chính phủ lẫn thị trường thì cũng như định "vỗ tay bằng một bàn tay" Cơ chế thị trường xác định bavấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế: cái gì? như thế nào? cho ai? Nhưng "bàn tay vô hình" cũng cónhững khuyết tật và đưa đến những sai lầm; cho nên cần "bàn tay hữu hình" của chính phủ thông quanhững chính sách và biện pháp thuế khoá, chi tiêu (đầu tư, tín dụng ), lãi suất, thanh toán chuyển khoản
và kiểm soát nền kinh tế Bằng những biện pháp ấy, nhà nước thực hiện các chức năng: định ra khuôn khổpháp luật, điều tiết thị trường, bảo đảm sự công bằng, ổn định nền kinh tế vĩ mô, vv Nhưng "bàn tay hữuhình" cũng có những khuyết tật của nó, do chính phủ có những nhận định sai lầm và đưa ra những quyếtđịnh can thiệp trái với sự vận động khách quan của thị trường Cho nên phải kết hợp cả hai mặt và hìnhthành nên nền "kinh tế hỗn hợp" Kinh tế hỗn hợp cho rằng do kết quả hoạt động của nhà nước tư sản, nềnkinh tế tư bản chủ nghĩa hiện đại không còn là nền kinh tế tư nhân nữa, mà là sự kết hợp hai khu vực kinh
tế tư nhân và kinh tế nhà nước bổ sung cho nhau thành một nền "kinh tế hỗn hợp" Khu vực nhà nước đãmất tính chất tư bản chủ nghĩa xã hội Sự kiểm soát nền kinh tế do nhà nước và các cơ quan tư nhân thựchiện là nhằm mục đích "nâng cao phúc lợi xã hội của nhân dân" Theo thuyết này, nhà nước tư sản có khảnăng xoá bỏ một phần những mâu thuẫn nảy sinh trong nền kinh tế, giảm dần và đi đến không có khủnghoảng và bảo đảm một sự phát triển nhịp độ cao và ổn định Thuyết này đưa ra những biện pháp kinh tế -
xã hội của nhà nước tư sản, của kinh tế tư bản nhà nước trong chủ nghĩa tư bản Ở đây, hai khu vực tư bản
tư doanh và kinh tế nhà nước hợp thành một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thống nhất, trong đó vai tròquyết định là thuộc các tổ chức kinh tế tài chính trong tổ chức độc quyền mạnh Mô hình này phát huyhiệu quả của các nhân tố chủ quan như các quy luật của thị trường lại vừa coi trọng các nhân tố chủ quannhư vai trò của chính phủ Tuy nhiên còn tùy vào từng trường hợp của mỗi quốc gia mà mà vận dụng vaitrò của chính phủ và thị trường cho phù hợp
* So sánh vai trò của Chính phủ trong mỗi loại mô hình:
Kinh tế chỉ huy thị trường tự do Kinh tế Kinh tế thị trường hỗn hợp Sản xuất cái gì Do Nhà nướcquyết định Do cung - cầu thịtrường quyết định Do cung-cầu thị trường cósự điều chỉnh của NN
Sản xuất cho ai Do Nhà nước
quyết định
Do cung - cầu thịtrường quyết định
Do thị trường và NN quyếtđịnh
Sản xuất như
thế nào Do Nhà nướcquyết định Do cung - cầu thịtrường quyết định Do thị trường quyết địnhcó sự điều tiết của NN
* Đánh giá vai trò của Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn 1975-1986 và từ năm 1986 đến nay:
1 Giai đoạn 1975 – 1986: Đây là thời kỳ mà Chính phủ áp dụng mô hình kinh tế chỉ huy (kế hoạch
hóa tập trung)
Sau khi miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng (năm 1975) và đất nước thống nhất (năm1976), bắt đầu ngay việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980) Kế hoạch này có nhiều điểmduy ý chí nên phần lớn chỉ tiêu đều không đạt Sản xuất đình trệ, tăng trưởng chỉ đạt 0,4 %/ năm (kếhoạch là 13-14 %) trong khi tỷ lệ tăng dân số hàng năm trên 2,3 % Tình trạng thiếu lương thực diễn ragay gắt, năm 1980 phải nhập 1,576 triệu tấn lương thực Ngân sách thiếu hụt lớn, giá cả tăng hàng năm 20
%, nhập khẩu nhiều gấp 4-5 lần xuất khẩu Nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhiều công trìnhphải bỏ dở, hàng tiêu dùng thiết yếu thiếu trầm trọng
Đại hội IV ĐCS VN đã quyết định cải tạo XHCN trong cả nước với mục tiêu lớn: xây dựng chế độlàm chủ tập thể và sản xuất lớn Do các mục tiêu đề ra quá lớn nên trong kế hoạch 5 năm lần thứ III(1981-1985) nền kinh tế thiếu cân đối và lâm vào khủng hoảng trầm trọng Sản xuất đình trệ thể hiện trêntất cả các lĩnh vực Nạn lạm phát tăng nhanh, đầu những năm 80 tăng khoảng 30-50 % hàng năm, cuốinăm 1985 lên đến 587,2 % và siêu lạm phát đạt đến đỉnh cao vào năm 1986, với 774,7 % Đời sống nhândân hết sức khó khăn
Trang 6Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấpds
Trước đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế của Chính phủ là cơ chế kế hoạch hóa tập trung với nhữngđặc điểm chủ yếu là:
Thứ nhất, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chi
tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơquan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồnvật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương… đều do các cấp có thẩm quyềnquyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giaonộp sản phẩm cho Nhà nước Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu
Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các
doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất đối với các quyết định của mình Nhữngthiệt hại vật chất do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách Nhà nước phải gánh chịu.Hậu quả dohai điểm nói trên mang lại là cơ quan quản lý nhà nước làm thay chức năng quản lý sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Còn các doanh nghiệp vừa bị trói buộc, vì không có quyền tự chủ, vừa ỷ lại vào cấptrên, vì không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất
Thứ ba, quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu Nhà
nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát – giao nộp” Hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động vừa sinh ra đội ngũ
quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu
Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:
+ Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn giá trịthực của chúng nhiều lần so với giá trị thị trường Với giá thấp như vậy, coi như một phần những thứ đóđược cho không Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
+ Bao cấp qua chế độ tem phiếu (tiền lương hiện vật): Nhà nước quy định chế độ phân phối vậtphẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên, công nhân theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độtem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủtiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động
+ Bao cấp qua chế độ cấp phát vốn của ngân sách , nhưng không có chế tài ràng buộc trách nhiệmvật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho
sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin cho”
Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng thì cơ chế này có tác dụng nhấtđịnh, nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào mục đích chủ yếu trong từng giai đoạn vàđiều kiện cụ thể, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa theo xu hướng ưu tiên phát triển công nghiệpnặng Nhưng nó lại thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học – công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tếđối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh.Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thànhtựu của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộ những khiếmkhuyết của nó, làm cho kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó có nước ta, lâm vào tìnhtrạng trì trệ, khủng hoảng
Trước đổi mới, do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, chúng ta xem kế hoạchhóa là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch làchủ yếu; coi thị trường chỉ là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch Không thừa nhận trên thực tế sựtồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, lấy kinh tế quốc doanh và tập thể là chủyếu
2 Giai đoạn 1986 – nay:
Với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật”, từ Đại hội VI đến Đại hội X của Đảng, Đảng ta đãphân tích, đánh giá tình hình trong nước và thế giới một cách khách quan, xác định các xu thế phát triểntất yếu của thế giới và đã thực hiện bước chuyển đổi quan trọng cả về lý luận và thực tiễn: xóa bỏ cơ chếquản lý tập trung, hành chính, quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa Công cuộc đổi mới tiến hành 25 năm đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử
Trang 7Quan điểm cho rằng, khi chuyển sang kinh tế thị trường thì Nhà nước không cần phải can thiệp vàokinh tế và không cần thiết phải kế hoạch hóa vĩ mô nền kinh tế… là hoàn toàn sai lầm và không có căn cứ
lý luận, thực tiễn Trong tất cả các mô hình kinh tế đã được đúc kết trên thế giới có hai dạng điều tiết kinhtế: thứ nhất, điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch hóa và các biện pháp hành chính; thứ hai, điều tiết giántiếp thông qua thị trường, vận dụng cơ chế thị trường để tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp,dùng các đòn bẩy kinh tế để khuyến khích hoặc gây áp lực buộc các doanh nghiệp phát triển trong khuônkhổ pháp luật và theo hướng kế hoạch do Nhà nước đề ra Hai dạng điều tiết kinh tế này chỉ khác nhau ởmức độ, liều lượng và hình thức của mỗi dạng trong cơ chế chung Sở dĩ như vậy là vì, với tư cách làcông cụ điều tiết kinh tế vĩ mô, là biện pháp, thủ đoạn kinh tế, cả kế hoạch hóa và thị trường đều có cả ưuthế lẫn khuyết tật Bởi vậy, chúng cần bổ sung cho nhau để hạn chế những khuyết tật
Công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế Việt Nam do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thực hiệnbắt đầu từ năm 1986 chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang mô hình nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.Đến Đại hội lần thứ IX, Đảng ta khẳng định "phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, coi đó là đường lối chiến lược nhất quán trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam"
Thực chất của quá trình đổi mới kinh tế vừa qua ơ Việt Nam chính là thừa nhận sự tồn tại kháchquan của quan hệ hàng hoá- tiền tệ và cơ chế thị trường dựa trên tư duy, lý luận mới về quan hệ giữa kinh
tế thị trường và chủ nghĩa xã hội Theo đó, vai trò của Nhà nước đối với kinh tế cũng có sự thay đổi cănbản Đó là quá trình chuyển nhà nước từ độc quyền sang quan hệ mới giữa Nhà nước và thị trường ( “ bàntay hữu hình ” – “ bàn tay vô hình ” ),giữa Nhà nước và doanh nghiệp, giữa Nhà nước và nhân dân trongcác hoạt động của toàn bộ nền kinh tế.Nếu trước đây Nhà nước là chủ thể của chế độ sở hữu, thì hiện nayđang giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống đa sở hữu, nếu trước đây là trực tiếp sản xuất kinh doanh thì hiệnnay là thiết kế “ luật chơi ” ,hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, và nếu trứơc đâythực hiện kế hoạch hoá trực tiếp thì hiện nay chuyển sang điều tiết bằng hệ thống công cụ quản lý kinh tế
vĩ mô.Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ,chức năng cơ bản của Nhànước về kinh tế bao gồm : -Định hướng phát triển nền kinh tế thông qua chiến lược, chính sách, kế hoạch,quy hoạch và quản lý vĩ mô -Phát triển tất cả các thành phần kinh tế trên cơ sở đa dạng hoá các quan hệ
sơ hữu,lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo; thực hiện chế độ phân phối lợi ích một cách hợp lý thông quaviệc sữ dụng các công cụ quản lý kinh tế (ngân sách, thuế,tín dụng…), tạo động lực phát triển mạnh mẽcho nền kinh tế -Tạo lập môi trường pháp lý lành mạnh về kinh tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sảnxuất, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh tế hoạt động bình đẳng và tạo môi trường cạnhtranh lành mạnh.-Thực hiện tốt chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế theo đúng pháp luật
và chính sách Nghiêm trị các tệ nạn buôn lậu, trốn thuế, tham nhũng, quan liêu, sách nhiễu phiền hà …
Nhà nước có cơ chế, chính sách để bảo đảm sự ưu tiên đó, thể hiện ở cả ba lĩnh vực kinh tế cơ bảnsau:
Trên lĩnh vực sở hữu: Sự tồn tại của ba chế độ sở hữu (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tưnhân), ba hình thức sở hữu (hình thức sở hữu nhà nước, hình thức sở hữu tập thể, hình thức sở hữu tưnhân) là một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Nhà nước thông qua hệthống chính sách, pháp luật, đòn bẩy kinh tế để định hướng, làm cho kinh tế nhà nước từng bước vươn lênnắm vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân
Trên lĩnh vực quản lý: Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho ngườilao động trực tiếp hay thông qua các khâu trung gian nhất định tham gia quá trình hoạch định, tổ chức,giám sát, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp
Trên lĩnh vực phân phối: Nhà nước vừa thông qua hệ thống chính sách kinh tế do mình hoạch định,vừa sử dụng các nguồn lực - trực tiếp là bộ phận kinh tế nhà nước - để định hướng, can thiệp vào lĩnh vựcphân phối và phân phối lại theo hướng ưu tiên phân phối theo lao động và qua phúc lợi xã hội; kết hợptăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội; hoạch định các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền
ơn đáp nghĩa
Đặc biệt, trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, Nhà nước có vai trò to lớn trong việc bảođảm sự ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng kinh tế “ổn định” ở đây thể hiện sự cân đối, hài hòa
Trang 8các quan hệ nhu cầu, lợi ích giữa người và người, tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mục tiêuphát triển của đất nước Tính đúng đắn, hợp lý và kịp thời của việc hoạch định và năng lực tổ chức thựchiện các chính sách phát triển vĩ mô do Nhà nước đảm nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất hình thành sựđồng thuận đó Là những công cụ tạo ra sự đồng thuận xã hội, từ đó mà có ổn định xã hội cho phát triển
và tăng trưởng kinh tế, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, một mặt, phải phản ánh đúng những nhucầu chung của xã hội, của mọi chủ thể kinh tế ; mặt khác, phải tôn trọng tính đa dạng về nhu cầu, lợi ích
cụ thể của các chủ thể đó
Nhà nước ta cũng có vai trò to lớn trong việc bảo đảm gia tăng phúc lợi xã hội, bởi mục tiêu cănbản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là góp phần thực hiện “dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Có chính sách xã hội hợp lý; bảo đảm phúc lợi ngàymột gia tăng nhờ hiệu quả tác động của chính sách kinh tế tiến bộ do Nhà nước hoạch định và tổ chứcthực hiện bằng những nỗ lực của nhiều chủ thể kinh tế khác nhau là nhân tố có vai trò quyết định trongvấn đề này
Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng thểhiện ở việc nhà nước góp phần đắc lực vào việc tạo môi trường cho thị trường phát triển, như tạo lập kếtcấu hạ tầng kinh tế cho sản xuất, lưu thông hàng hóa; tạo lập sự phân công lao động theo ngành, nghề,vùng kinh tế qua việc nhà nước tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế theo lợi thế từng vùng, ngành vànhu cầu chung của xã hội Là chủ thể trực tiếp sở hữu hoặc quản lý, khai thác những cơ quan truyềnthông mạnh nhất của quốc gia, nhà nước góp phần cung cấp thông tin thị trường cho các chủ thể kinh tế
để các chủ thể này chủ động lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, đối tác kinh tế, thời điểm thực hiệncác giao dịch kinh tế, cách thức sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất trong điều kiện cụ thể của mình
Tuy nhiên, việc phát huy vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay cũng còn những hạn chế đáng kể: thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa còn chưa được xây dựng đồng bộ, vận hành suôn sẻ; quản lý nhà nước vềkinh tế còn nhiều bất cập; chưa có giải pháp mang tầm đột phá để kinh tế nhà nước thực sự hoàn thành tốtchức năng chủ đạo trong nền kinh tế; kinh tế tập thể còn rất yếu kém; năng lực cạnh tranh của nền kinh tếthấp; chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
Nhìn lại nền kinh tế nước ta những năm qua, mặc dù kinh tế trưởng liên tục với tốc độ cao, nhưngchuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, sức cạnh tranh và hiệu quả vẫn còn kém, nhất là yếu kém xuất phát
từ nội bộ nền kinh tế Ngoài sự tác động từ những nguyên nhân bên ngoài, một trong những nguyên nhânnổi bật thuộc về cơ chế quản lý và chính sách kih tế của nhà nước đối với doanh nghiệp Nổi cộm nhất là
sự đan xen giữa cơ chế quản lý cũ và mới, giữa nhận thức và phương thức chỉ đạo thực hiện ở TW và cấp
cơ sở, giữa cách nghĩ, cách nhìn và cách làm của đội ngũ viên chức Nhà nước đã làm cho các doanhnghiệp thiếu phấn chấn trong kinh doanh
Thực trạng đó có thể quy tụ vào 4 loại vấn đề sau: 1) Cơ chế và chính sách kinh tế chưa đảm bảotính đồng bộ, lại hay thay đổi Cơ chế xin – cho với những thủ tục hành chính phức tạp, vẫn còn thiếuchiến lược, quy hoạch tổng thể làm phân tán mục tiêu và lãng phí nguồn lực 2) Đối với việc sản xuất,kinh doanh của doanh nghiệp, tiền kiểm tuy có giảm bớt, nhưng còn phiền hà, nhũng nhiễu, còn hậu kiểmthì hữu khuynh, buông lỏng, thả nổi hoặc vi phạm quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp 3) Bộ máyquản lý các cấp nặng nền, cồng kềnh, chống chéo, đầy khó khăn cho doanh nghiệp gánh chịu, cơ quanquản lý trực tiếp vô can; các quan hệ dân sự kinh tế thường bị hình sự hóa làm cho doanh nghiệp lo ngại.4) một bộ phận không nhỏ đội ngũ viên chức yếu kém về năng lực, trình độ quản lý và xuống cấp về đạođức, phẩm chất trở thành đường dây móc ngoặc bên ngoài, trên dowis hoặc là kẻ tiếp tay, bao che chonhững kẻ kinh doanh lừa đảo, gian lận, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp
Hiện nay, trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nước và ngoài quốc doanh có những tiếng nóiđối lập nhau Doanh nghiệp nhà nước thì kêu bị trói buộc bởi cơ chế, tạo cho họ ít lợi thế cạnh tranh trênthương trường, trước hết so với doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang có nhiều lợi thế hơn từquyền tự chủ.Doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì cho rằng, nhà nước vẫn còn quá ưu đãi đối với doanh nghiệp nhànước trên nhiều lĩnh vực, tạo sự bất đối xứng và có sự cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh.Hiện nay, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đã và đang tác động rõ nét đến nền kinh tếnước ta Chúng ta đang phải đối mặt với những khó khăn về vấn đề thanh khoản của hệ thống tín dụng, lãi
Trang 9suất ngân hàng không ổn định, những cơn sốt giá lương thực và năng lượng, sự sụt giảm của thị trườngchứng khoán…
Với chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế của Việt Nam với cácnước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng Việt Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á, thực hiện các cam kết về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định thương mại ViệtNam - Hoa Kỳ, gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đến nay Việt Nam đã có quan hệ thươngmại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ, ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương với các nước, tạo
ra một bước phát triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại.Tuy nhiên, hiện nay nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam vẫn chưa được một số nước trên thế giới công nhận (Mỹ) vì một số ngành nghề ở Việt Namvẫn được Chính phủ Việt Nam bảo hộ
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả, hiệu lực tác động của Nhà nước tới phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Nhà nước cần sớm hoàn thiện thể chế của nền kinh tếthị trường, đặc biệt là hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu Hệ thống luật này phải khẳng định và bảo
vệ sự tồn tại khách quan, lâu dài tính đa dạng của các hình thức sở hữu; bảo vệ các quyền và lợi ích hợppháp của các chủ sở hữu Cần xác định rõ, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Nhà nước ta là cung cấpmôi trường pháp lý tin cậy cho các chủ thể kinh tế phát huy tối đa năng lực của họ
Cùng với vấn đề then chốt trên, cần tiếp tục phân định rạch ròi chức năng quản lý hành chính nhànước đối với kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; Nhà nước cần làm tốt chức năng
hỗ trợ cho toàn xã hội sản xuất hàng hóa công cũng như tư; đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội
Để nâng cao năng lực của bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế, cần cải cách thể chế xây dựngchính sách, tích cực đấu tranh chống các hành vi độc đoán, chuyên quyền, tệ quan liêu, tham nhũng trong
bộ máy nhà nước
Việc giải quyết có hiệu quả những vấn đề vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài đó sẽ nâng caohơn nữa hiệu quả tác động của Nhà nước tới sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập toàn cầu hiện nay./
3 Hãy phát biểu luật cầu Cho một ví dụ minh họa về dịch vụ công và biểu diễn đường cầu dịch vụ công đó Hãy chỉ ra một vài nhân tố tác động đến cầu về dịch vụ này và biểu diễn bằng đồ thị dịch chuyển của đường cầu.
FILE RIÊNG
4 Vài năm trước ngập lụt ở Đồng bằng sông Cửu Long đã phá hủy hàng ngàn hecta lương thực.
a Những người nông dân bị mất mùa do lũ lụt bị thiệt, trong khi những người nông dân không bịmất mùa được lợi Tại sao?
b Bạn cần có thông tin gì về thị trường này để đánh giá xem nông dân nói chung được lợi hay bịthiệt hại do lũ lụt
5 Theo bạn hệ số co giãn của cầu về điện thoại di động nói chung lớn hơn hay hệ số co giãn của cầu về Iphone lớn hơn? Thế còn hệ số co giãn của cung về 2 loại điện thoại di động này? Hãy giải thích.
6 Chính phủ quyết định bãi bỏ quy định về giá sàn đối với nông sản Hãy dự báo tác động của quyết định này đến giá nông sản Có những đối tượng nào được lợi và bị thiệt trong quyết định này? Minh họa bằng mô hình.
7 Trên thị trường mía (cầu về mía là không co giãn), lo ngại giá mía xuống thấp có thể làm nông dân nản lòng, chặt mía trồng cây khác nên Chính phủ đã quyết định các doanh nghiệp sản xuất đường phải mua mía với một mức giá sàn.
a Ở mức giá đó, lượng mua mía mà người nông dân bán được sẽ như thế nào? Người nông dânđược lợi hay bị thiệt từ chính sách này của Chính phủ? Biểu diễn trên mô hình
b Chính phủ để người nông dân bán toàn bộ số mía đã trồng cho nhà máy theo giá thỏa thuận rồi
bù lỗ cho nông dân bằng phần chênh lệch giữa mức giá thỏa thuận với mức giá sàn đã quy định Vẽ môhình biểu diễn và chỉ ra phần người nông dân được lợi trong trường hợp này
c Chính phủ dùng ngân sách mua hết lượng mía thừa rồi thiêu hủy Vẽ mô hình biểu diễn và chỉ raphần người nông dân được lợi trong trường hợp này
Trang 108 Trên thị trường cặp sách cho học sinh, Chính phủ muốn khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phục vụ học tập nên quyết định trợ cấp cho mỗi sản phẩm sản xuất ra là 3000 đồng Hãy cho biết:
a Cân bằng thị trường, thặng dư sản xuất và thặng dư tiêu dùng trước khi có trợ cấp
b Tổng số tiền trợ cấp mà ngân sách Chính phủ phải chi, lợi ích trợ cấp mà người sản xuất, ngườitiêu dùng được hưởng
c Sự thay đổi thặng dư sản xuất, thặng dư tiêu dùng khi có trợ cấp? Tổn thất phúc lợi xã hội do trợcấp gây ra?
9 Trên thị trường bia mức giá hiện tại là 5000 đồng/cốc, Chính phủ quyết định đánh thuế 1000 đồng/cốc bia vào người tiêu dùng Dùng mô hình cân bằng cung-cầu, chỉ ra những điều sau:
a Cân bằng thị trường, thặng dư sản xuất, thặng dư tiêu dùng trước khi có thuế
b Doanh thu thuế của Chính phủ, gánh nặng thuế về phía người sản xuất, người tiêu dùng, sự thay đổithặng dư sản xuất và thặng dư tiêu dùng sau khi có thuế
c Tổn thất phúc lợi xã hội do thuế gây ra? Tổn thất về phía người sản xuất và người tiêu dùng?
c) Giá tăng khiến cả người tiêu dùng và nhà sản xuất đều bị thiệt do cả hai đều phải gánh thuế trên giámỗi cốc bia: người tiêu dùng phải trả giá cao hơn, trong khi giá nhà sản xuất nhận được thì thấp hơn Tuynhiên, khi cầu co giãn hơn cung như trong trường hợp này thì người tiêu dùng bị thiệt ít hơn do gánh thuế
Lượng bia bán ra là lượng bia tai điểm cân bằng thị trường Q*
Bây giờ hãy vẽ đồ thị thị trường bia khi có thuế Và thực hiện các yêu cầu như câu a Lượng biabán ra tăng hay giảm?
P S
D1D2
Cân bằng trước thuế
Cân bằng sau thuế Giá người bán
Trang 11Khi chính phủ dánh thuế 2$ cho mỗi thùng bia người tiêu dùng mua, quy định này tác độnglàm đường cầu dịch chuyển qua trái (xuống dưới) một lượng đúng bằng mức thuế 2$, tức là từ D1xuống D2
Lúc này:
Giá người tiêu dùng phải trả là Pc > P*
Giá người bán nhận được là Ps < P*
Lượng bia bán ra là Q1 < Q*
Mức chênh lệch giữa giá người tiêu dùng phải trả và giá người sản xuất thu được là : ∆P =
Pc – Ps = T = 2 ($/thùng) G
10 Những nhận định dưới đây đúng hay sai Giải thích vì sao.
a Quy định về giá trần không phải lúc nào cũng bảo vệ được lợi ích của người tiêu dùng như ý đồchính sách đặt ra
Đúng vì nó không chắc chắn làm tăng thặng dư tiêu dùng Có 2 lý do gây thất bại của việc định giátrần: 1) giá trần đặt cao hơn giá cân bằng của thị trường 2) Làm giảm phúc lợi xã hội do phần mất khônglớn hơn ban đầu
b Kết hợp giữa chính sách đặt giá sàn và hạn chế định lượng sẽ khắc phục được tất cả tổn thất phúclợi xã hội
Sai vì cả 2 biện pháp này đều gây ra tổn thất phúc lợi xã hội
c Muốn biết giữa người tiêu dùng và người sản xuất ai là người thực sự chịu thuế, cần phải biết thuế
đó đánh vào bên cung hay bên cầu
Sai vì biết độ co giãn của đường cung và đường cầu
11 Chính phủ cho rằng gạo trên thị trường tự do quá thấp Chính phủ đặt giá sàn có tính ràng buộc lên thị trường gạo
a Hãy sử dụng đồ thị cung cầu để chỉ rõ ảnh hưởng của chính sách này đối với giá và lượng gạo bán
ra Sẽ có tình trạng dư thừa hay thiếu hụt gạo?
b Nông dân phàn nàn rằng, giá sàn làm giảm thu nhập của họ Điều đó có thể xảy ra không? Hãy giảithích
bộ phận là thăng dư sản xuất (PS) và Thăng dư tiêu dùng (CS)
12 Chính phủ quyết định rằng Việt Nam sẽ giảm ô nhiễm không khí bằng cách giảm mức tiêu thụ xăng Họ quyết định đánh thuế 1.000 VND cho mỗi lít xăng bán ra
a Khoản thuế này đánh vào người sản xuất hay người tiêu dùng? Hãy giải thích cặn kẽ bằng đồ thịcung cầu
b Nếu cầu về xăng co giãn hơn, khoản thuế này có tác dụng hơn hay kém tác dụng hơn trong việcgiảm lượng xăng tiêu thụ? Hãy giải thích bằng lời và đồ thị
c Người tiêu dùng được lợi hay thiệt vì luật thuế này? Tại sao?
…………
Trả lời:
a) Khoản thuế này đánh vào nhà sản xuất hay người tiêu dùng? Giải thích cặn kẽ bằng đồ thị cungcầu