Tuy nhiên, Luật thuế TNCN có phạm vi điều chỉnh rộng, có nhiều khoản thu nhập chịu thuế; mỗi khoản thu nhập có căn cứ tính thuế khác nhau; số lượng đối tượng nộp thuế và người phụ thuộc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM THỊ CHUYỀN
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM THỊ CHUYỀN
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN THỊ THANH TÚ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Tác giả luận văn
Phạm Thị Chuyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo nhà trường, Ban lãnh đạo cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế - Chính trị, các thầy cô giáo trong các khoa, các phòng ban của trường đại học Kinh Tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội; Ban lãnh đạo, các chuyên viên của Chi cục Thuế huyện Đan Phượng; Bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Thị Thanh Tú, người đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu khoa học
và dành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong thời gian qua
Tôi xin cảm ơn các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ là chủ tịch hội đồng, phản biện và ủy viên hội đồng đã bớt chút thời gian quý báu để đọc, nhận xét và tham gia hội đồng đánh giá luận văn
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn nữa
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Phạm Thị Chuyền
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ TNCN VÀ QUẢN LÝ THUẾ TNCN THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP 4
1.1 Tổng quan tài liệu 4
1.2 Khái quát về Thuế TNCN 8
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò Thuế TNCN 8
1.2.2 Cơ chế tự khai tự nộp thuế 13
1.3 Nội dung quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai, tự nộp 19
1.3.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý thuế TNCN 19
1.3.2 Bộ máy quản lý thuế TNCN 22
1.3.3 Đối tượng quản lý thuế TNCN 28
1.3.4 Nội dung công tác quản lý thuế TNCN 34
1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN 41
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 47
2.1 Phương pháp nghiên cứu được sử dụng 47
2.1.1 Phương pháp thu thập và nghiên cứu tài liệu, hệ thống chính sách pháp luật: 47
2.1.2 Phương pháp tổng hợp xử lý thông tin 48
2.1.3 Phương pháp phân tích thông tin, số liệu 48
2.2 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 49
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ TNCN THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG 50
3.1 Giới thiệu về Chi cục Thuế Đan Phượng 50
3.1.1 Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay 50
3.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý thuế tại Chi cục Thuế huyện Đan Phượng 52
3.2 Tình hình thực hiện quản lý thuế TNCN tại Chi cục Thuế huyện Đan Phượng 57
Trang 63.2.1 Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT 57
3.2.2 Công tác kê khai và kế toán thuế 58
3.2.3 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNCN và xử lý vi phạm về kê khai và nộp thuế 66
3.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế TNCN tại Chi cục Thuế Đan Phượng 68
3.3.1 Những thành tựu đạt được khi quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai tự nộp 68 3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân khi áp dụng cơ chế tự khai tự nộp trong quản lý thuế TNCN 72
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ TNCN THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG 81
4.1 Các giải pháp 81
4.1.1 Về kiện toàn lại hệ thống quản lý thu thuế nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực của bộ máy Chi cục Thuế huyện Đan Phượng 81
4.1.2 Nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ chi cục thuế 81
4.1.3 Về quản lý đối tượng 82
4.1.4 Về quản lý thu nhập chịu thuế 84
4.1.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế TNCN 85
4.1.6 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT 86
4.2 Các giải pháp điều kiện 87
4.2.1 Đầu tư cơ sở hạ tầng, tin học hóa công tác quản lý thu thuế 87
4.2.2 Kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng với cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế TNCN 89
4.3 Các kiến nghị 90
4.3.1 Hoàn thiện chính sách thuế TNCN và các chính sách khác liên quan 90
4.3.2 Kiến nghị với Cục Thuế 93
4.3.3 Kiến nghị với Huyện ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), ủy ban nhân dân (UBND) 93
PHẦN KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và lý do lựa chọn đề tài
Như chúng ta đã biết Nhà nước dùng thuế làm công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội và là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho Nhà nước Cho dù trong điều kiện kinh tế Việt Nam, thuế gián thu có những vai trò rất to lớn của nó Nhưng với mục đích điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội bằng thuế trong nền kinh tế thì thuế trực thu lại thể hiện tính ưu việt, đồng thời tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước (NSNN) một cách hợp lý, hợp hiến Vì vậy, hướng đến một chính sách thu nhập là điều tất yếu nhằm góp phần điều tiết bớt một phần thu nhập từ các tầng lớp người có thu nhập cao trong xã hội, hình thành các quỹ tiền tệ tập trung giúp Nhà nước ngày càng thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội của mình
Sau một thời gian dài triển khai thực hiện, một số điểm bất cập của Luật thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) năm 2007 đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 65/2013/NĐ-
CP ngày 27/06/2013 quy định chi tiết một số điều của Luật thuế TNCN sửa đổi, bổ sung; Bộ Tài Chính cũng đã ban hành Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN, Luật thuế TNCN sửa đổi và Nghị định định số 65/2013/NĐ-CP Tuy nhiên, Luật thuế TNCN có phạm vi điều chỉnh rộng, có nhiều khoản thu nhập chịu thuế; mỗi khoản thu nhập có căn cứ tính thuế khác nhau; số lượng đối tượng nộp thuế và người phụ thuộc lớn; việc quản lý thuế TNCN đòi hỏi phải có cơ sở dữ liệu đầy đủ, tập trung; ngoài ra quá trình quản lý liên quan đến nhiều chính sách xã hội nên việc triển khai gặp không ít khó khăn
Huyện Đan Phượng là đơn vị hành chính thuộc thành phố Hà Nội – Trung tâm kinh tế - văn hóa – chính trị của cả nước Trong những năm gần đây, cùng với
sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về thuế TNCN, hoạt động quản lý thuế TNCN trên địa bàn huyện đã có rất nhiều đổi mới, cải thiện phù hợp với yêu cầu quản lý
Trang 11mới, phù hợp với tình hình phát triển đất nước nói chung và của thành phố nói riêng Tuy nhiên, hoạt động quản lý thuế trên địa bàn huyện cũng cho thấy nhiều hạn chế, bất cập: cấp mã số thuế bị trùng, bỏ sót đối tượng nộp thuế, chưa cấp mã số thuế (MST) cho người phụ thuộc, Những vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác quản lý thuế trên địa bàn huyện Vậy có những giải pháp nào nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai, tự nộp? Câu hỏi này sẽ được làm sáng tỏ trong luận văn “Quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai tự nộp trên địa bàn huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết về thuế TNCN và công tác quản lý thuế TNCN
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn huyện Đan Phượng, nêu lên những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn huyện Đan Phượng
Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp nhằm tăng cường quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai tự nộp trên địa bàn huyện Đan Phượng để phát huy tốt vai trò của Luật thuế TNCN
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai tự nộp
Phạm vi nghiên cứu : Công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn huyện Đan Phượng giai đoạn 2011-2013
4 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn sẽ được trình bày thành 4 chương như sau :
Chương 1: Tổng quan tài liệu – Những vấn đề chung về thuế TNCN và quản
lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai tự nộp
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn
Trang 12Chương 3: Thực trạng quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai tự nộp trên
địa bàn huyện Đan Phượng
Chương 4: Giải pháp nhằm tăng cường quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự
khai tự nộp trên địa bàn huyện Đan Phượng
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ TNCN VÀ QUẢN LÝ THUẾ TNCN THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP
1.1 Tổng quan tài liệu
Thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng đã được áp dụng từ lâu trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm Thuế TNCN được áp dụng lần đầu tiên ở Anh năm 1799 dưới hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842 Sau đó, thuế TNCN được lan truyền nhanh chóng sang các nước công nghiệp khác như: Nhật Bản (năm 1887), Mỹ (năm 1913), Pháp (năm 1914)… Các nước Châu Á như Thái Lan bắt đầu
áp dụng vào năm 1939, ở Philippin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, Inđônêsia năm
1949, Trung Quốc năm 1984 Đến nay, đã có khoảng 180 nước áp dụng thuế TNCN
và thuế TNCN đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thuế của nhiều nước Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế TNCN là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Tuy nhiên, đặt ra mức thuế cao hay thấp, đánh vào tổng thu nhập hay đánh vào từng khoản thu nhập khác nhau của chủ thể thường phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong chính sách kinh tế, xã hội của từng nước trong từng thời kỳ nhất định Ở các nước phát triển, thuế TNCN thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu từ thuế (Thuế TNCN chiếm tỷ trọng gần 40% trong tổng thu thuế Ngân sách Liên bang Mỹ, Tây Ban Nha 38%, Anh 35%, Đan Mạch 50%)
và được xem là một loại thuế rất quan trọng, thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
số thu thuế, là công cụ đảm bảo tính công bằng, tính hiệu quả kinh tế và hội nhập (PGS TS Lê Văn Ái, TS Đỗ Đức Minh, “Chương 2 - Thuế TNCN của một số
nước trên thế giới và kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam”, Thuế TNCN trên thế
giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Tài Chính, Hà Nội, 2002,
trang 45-106)
Trang 14Ở Việt Nam, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước ta không thu thuế đối với thu nhập của cá nhân không kinh doanh Bởi vì, nguồn thu nhập của cư dân trong xã hội thời kỳ đó mang tính chất thuần nhất, do cơ chế phân phối bình quân theo kế hoạch trực tiếp của Nhà nước Sau khi thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chế độ phân phối thu nhập theo cơ chế thị trường hình thành phát triển, thu nhập của người dân được cải thiện Bên cạnh đó, sự phân hóa thu nhập và phân cực giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội diễn ra rất nhanh Để động viên một phần thu nhập của một bộ phận dân cư có thu nhập cao hơn so với mức thu nhập chung của cộng đồng vào NSNN và thực hiện chính sách điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, ngày 27/12/1990 Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Pháp lệnh này được áp dụng trên thực tế kể từ ngày 1/4/1991 Qua quá trình tổ chức thực hiện, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được Ủy ban thường
vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung nhiều lần vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 1999 Ngày 19/5/2001, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao để thay thế cho tất cả các Pháp lệnh về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ban hành trước đây Ngày 24/3/2004 Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 2001 Ngày 21/11/2007, Quốc hội ban hành Luật thuế TNCN và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế cho Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trước đây Đồng thời việc quản lý thuế TNCN cũng được thực hiện theo cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế theo
QĐ 197/2003/QĐ - TTg và triển khai sâu rộng chương trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế
Dưới nhiều góc độ khác nhau đã có rất nhiều các công trình và đề tài nghiên cứu về công tác thuế trong thời gian qua, điển hình như:
Nhóm các công trình về hoàn thiện chính sách, công tác quản lý thuế:
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Giải pháp hoàn thiện công tác quản
lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay" của PGS.TS Nguyễn Thị Bất làm chủ
Trang 15nhiệm; “Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế ở Việt Nam trong quá trình đổi mới”,
Luận văn Thạc sĩ Kinh doanh và quản lý, của tác giả Trịnh Hoàng Cơ, Hà Nội,
2004; “Tăng cường quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Đặng Thị Lan Hương, Hà Nội, năm 2013;“Thực trạng và giải pháp
hoàn thiện công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Trần Hải Nam, Hà Nội, năm 2013; “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế Tại Cục Thuế Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ
Kinh tế của Hoàng Hải Yến, Hà Nội, năm 2013
Ở đây, nhóm tác giả đã phân tích thực trạng công tác quản lý thuế và chỉ ra được các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân cũng như những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách và công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay phù hợp với chiến lược cải cách ngành thuế theo hướng hiện đại hóa Tập trung nghiên cứu một cách chi tiết các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế trong quá trình đổi mới
“Quản lý và điều hành công tác thuế trong bối cảnh suy giảm kinh tế
trong nước và suy thoái kinh tế toàn cầu”, tác giả Đặng Hạnh Thu, Tạp chí Cộng
Sản số 803, 2009 Tác giả đã đặt ra những vấn đề cần phải quan tâm trong công tác quản lý và điều hành công tác thuế trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu đã có những ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam khi chúng ta đã tham gia vào WTO
Nhóm các công trình về hoàn thiện, nâng cao năng lực trong công tác thuế:
“Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ở nước ta hiện nay”, Luận
văn thạc sĩ Kinh doanh và quản lý của Vũ Thị Mai, Hà Nội, 2005; “Hoàn thiện quy
trình quản lý thu thuế theo hướng hiện đại hoá ngành Thuế ở Việt Nam”, Luận văn
thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thu Thuỷ, Hà Nội, 2006; “Cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế
và những vấn đề đặt ra ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Việt Cường,
Nxb Tài chính, Hà Nội, 2007; “Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế trong cơ chế tự khai,
tự nộp thuế ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Lê Thị Thu Hồng, 2008
Các tác giả đã tập trung nghiên cứu thực trạng các quy trình và công tác quản
lý thuế và đề ra các nhóm giải pháp nhằm thực hiện tốt các quy trình quản lý thuế trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể
Trang 16 Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách thuế TNCN:
“Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam” – Lê Văn Ái, Đỗ Đức Minh, Đỗ Thị Thìn; “Thuế TNCN: Kinh nghiệm trên thế giới và
việc triển khai thực hiện tại Việt Nam” – Nguyễn Thị Thanh Thủy – 2009 – số 143
– tr 10-13 – Tạp chí kinh tế và phát triển; “Thuế TNCN: Quá khứ - hiện tại và tương
lai” – Phạm Quang – 2009 – số 140 – tr 25-26 – Tạp chí kinh tế và phát triển Các
ấn phẩm này đưa ra những điểm khái quát nhất về quá trình hình thành, việc thực hiện thuế TNCN trong cả chặng đường từ lúc hình thành cho đến hiện tại và cả những dự báo cho tương lai sắp tới Bài báo đã tổng hợp lại những kinh nghiệm thực hiện Luật Thuế TNCN ở một số nước trên thế giới đồng thời khái quát việc triển khai thực hiện ở Việt Nam Từ đó đề xuất giải pháp để việc triển khai thuế TNCN được tốt hơn trong thời gian tới
“Thuế TNCN ở Việt Nam và định hướng hoàn thiện” – Vũ Văn Trường –
ĐH Tài chính kế toán Hà Nội ; “Hệ thống, nâng cao vạch rõ những vấn đề cơ bản
về thuế TNCN”; Luận án tiến sỹ kinh tế - Lý Phương Duyên – Học Viện Tài chính
Ngoài ra, một số nghiên cứu của các sinh viên, học viên về lĩnh vực này: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế TNCN; Chính sách thuế TNCN ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; Thuế TNCN: lý luận và thực tiễn; Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN; So sánh Luật thuế TNCN với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, …
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã cho chúng ta hiểu được thế nào là thuế TNCN, sự cần thiết phải áp dụng luật thuế TNCN vào đời sống Đồng thời qua các tài liệu đã nghiên cứu, chúng ta có cái nhìn tổng quát về quá trình hình thành, những chuyển biến, thay đổi và thực tiễn áp dụng Luật thuế TNCN ở Việt Nam – Những thành tựu đạt được và những vướng mắc còn tồn tại Mặc dù những nội dung này rất phong phú nhưng vẫn là chưa đủ để có thể hiểu một cách thấu đáo nội dung thuế TNCN đứng trên giác độ của nhà quản lý thuế Thuế TNCN vốn là một vấn đề phức tạp, khó áp dụng Vậy làm cách nào để cho nhà quản lý có thể hiểu và quản lý tốt nếu công tác trong lĩnh vực thuế TNCN đặc biệt trong thời kỳ thực hiện cơ chế
Trang 17tự khai, tự nộp – Người nộp thuế (NNT) tự kê khai, tự tính thuế và tự nộp thuế vào NSNN Với việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thì cơ quan Thuế sẽ không phải can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp mà tập trung nguồn lực cho công tác tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để NNT có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ NSNN Đồng thời cũng tăng cường các biện pháp theo dõi giám sát, kiểm tra để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các hành vi phạm pháp luật thuế, tránh gây thất thu NSNN Do vậy, vấn đề tăng cường công tác quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai,
tự nộp càng trở nên cần thiết
Từ thực trạng quản lý thuế TNCN trên địa bàn nhỏ - huyện Đan Phượng, tôi xin mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý thuế TNCN theo
cơ chế tự khai, tự nộp nói chung và trên địa bàn huyện Đan Phượng nói riêng
1.2 Khái quát về Thuế TNCN
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò Thuế TNCN
1.2.1.1 Khái niệm thuế TNCN
Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận được thu nhập dưới bất kỳ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào (do lao động, hay đầu tư, ) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp cho nhà nước dưới dạng thuế thu nhập
Thuế thu nhập được chia làm hai loại: Thuế thu nhập công ty và thuế TNCN Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) (Bộ Tài Chính -
Tổng Cục Thuế, “Chuyên đề 13: Thuế TNCN”, Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ cho
công chức mới - Kiến thức về hệ thống chính sách thuế hiện hành, Tập 3, 2011,
trang 60.)
Thuế TNCN đã được áp dụng từ rất lâu ở các nước phát triển Lần đầu tiên ra đời ở Anh vào năm 1799 thuế TNCN đã được áp dụng như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842 Sau đó thuế TNCN đã nhanh chóng được lan truyền sang các nước công nghiệp khác như: Nhật (1887), Mỹ (1913), Pháp (1914), Liên Xô
Trang 18(1922), Trung Quốc (1936) Theo thống kê của ERNST and YOUNG tại “the global Excutive” hiện nay thế giới có hơn 136 nước áp dụng thuế TNCN Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế TNCN là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế (PGS TS Lê Văn Ái,
TS Đỗ Đức Minh, Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam,
Nhà xuất bản Tài Chính, Hà Nội, 2002, trang 12)
Sự xuất hiện của thuế TNCN do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, thuế TNCN ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tế thị trường vì thu nhập của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào việc cung cấp các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ, ) Trong điều kiện đó sự phân hóa giàu nghèo khi phân phối lại thu nhập là điều khó tránh khỏi Vì vậy, cần áp dụng thuế TNCN để thực hiện điều tiết thu nhập nhằm rút gọn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội
Mặt khác, trong hệ thống thuế thông thường áp dụng hai loại thuế: thuế gián thu và thuế trực thu Thuế TNCN là loại thuế trực thu, tức là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của NNT và điều tiết TNCN đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc Nếu chỉ áp dụng các loại thuế gián thu thì mới thực hiện được công bằng theo chiều ngang, tức là tất cả mọi người đều phải nộp thuế như nhau không phân biệt khả năng của họ Để đảm bảo sự công bằng theo chiều ngang và chiều dọc trong chính sách thuế khóa thì cần thiết phải ban bành thuế TNCN để điều tiết thu nhập theo khả năng đóng góp của NNT
Thứ hai, do nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của Nhà nước Sự giảm dần của thuế quan do yêu cầu tự do hóa thương mại để phát triển kinh tế của các nước tư bản chu nghĩa đòi hỏi phải tăng nguồn thu tài chính nhà nước thông qua các loại thuế khác như thuế hàng hóa, thuế thu nhập công ty và thuế TNCN, trong đó thuế TNCN là nguồn tài chính lớn cho ngân sách của quốc gia, đặc biệt đối với các nước phát triển Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất số NNT TNCN mới chỉ chiếm
Trang 19khoảng gần 1 triệu người, năm 1939 tăng lên 5 triệu người, thì đến năm 1980 con số này là 100 triệu người, biến thuế này thành thứ thuế đại chúng (PGS.TS Lê Văn Ái,
TS Đỗ Đức Minh, Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam,
NXB Tài Chính -2002, trang 13) Khi trình độ kinh tế càng phát triển thì thuế thu nhập ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong tổng số thu về thuế Vasanthi Monsingh (1998) đã liên hệ các giai đoạn phát triển của nền kinh tế với đặc điểm cấu truc thuế như sau:
Bảng 1.1: Cấu trúc của thuế qua các giai đoạn phát triển
trí trọng yếu Thời kỳ tiến đến công nghiệp hóa hiện
đại hóa
Thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ nội địa chiếm tỷ trọng chủ yếu
hội chiếm vị trí quan trọng nhất
(PGS.TS Lê Văn Ái, TS Đỗ Đức Minh, Thuế TNCN trên thế giới và định
hướng vận dụng ở Việt Nam, NXB Tài Chính -2002, trang 14)
Vì vậy, việc nghiên cứu và cải cách hệ thống thuế thu nhập nhằm biến chúng thành chỗ dựa ngày càng quan trọng hơn theo tiến trình phát triển của nền kinh tế là một mục tiêu được chú trọng đối với các nước đang phát triển
Thứ ba, thuế thu nhập được sử dụng như một công cụ linh hoạt để điều tiết vĩ
mô, kích thích tiêu dùng hoặc đầu tư để phát triển kinh tế Một trong những lý thuyết căn bản của Kenyes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập cho rằng mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội, cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp hơn Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn giảm, ưu đãi, thuế thu nhập có thể có tác động trực tiếp đến định
Trang 20hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của nhà nước
1.2.1.2 Đặc điểm Thuế TNCN
Thuế TNCN có những đặc điểm quan trọng sau:
Một là,Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của NNT,
NNT đồng nhất với người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho người khác
Hai là, Thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp
đến lợi ích cụ thể của NNT và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội Đặc điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế TNCN
Ba là, Thuế TNCN là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội của quốc
gia mặc dù các quốc gia hiện nay vẫn luôn hướng tới một hệ thống chính sách thuế mang tính trung lập Khi tính thuế TNCN có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của NNT bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế
Bốn là, Thuế TNCN thường được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần do
thuế TNCN được đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên
sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội
Năm là, Thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ Thuế TNCN
không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hóa, dịch vụ nên nó không tạo
ra sự sai lệch giá cả hàng hóa, dịch vụ
1.2.1.3 Vai trò của Thuế TNCN
Xuất phát từ những đặc điểm kể trên, Thuế TNCN có vai trò quan trọng:
Thứ nhất, Thuế TNCN là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội
Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của một quốc gia Mặc dù về quan điểm hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng một chính sách thuế có
Trang 21tính trung lập cao, không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng trong thực tế chưa
có quốc gia nào tách rời hẳn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội Sự công bằng được biểu thị bởi biểu thuế thuế lũy tiến từng phần, mức điều tiết về thuế tăng dần đều, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều Chính sách xã hội thể hiện thông qua cơ chế chiết trừ gia cảnh và một số khoản giảm trừ trước khi tính thuế
Thứ hai, Thuế TNCN là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho NSNN
Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, khả năng tạo nguồn thu cho NSNN cao, nhất là ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển Bên cạnh đó, Thuế TNCN
có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn nên cùng với sự phát triển của nền kinh
tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng không ngừng tăng lên, nếu có chính sách động viên hợp lý, ổn định thì không cần phải thường xuyên thay đổi mà vẫn thu được một mức thu mong muốn Do sự ổn định trong mức huy động thuế đã tạo ra một môi trường phù hợp với mục tiêu đầu tư kinh tế dài hạn của quốc gia, góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thu được lợi nhuận nhiều, tạo ra mức thu nhập ngày càng cao từ đó tạo nguồn thu ngày càng tăng trưởng cho Ngân sách nhà nước (NSNN)
Kinh tế - xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế cũng ngày càng gia tăng Thêm vào đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu Ngân sách cũng chiếm
tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu NSNN Thuế TNCN cũng sẽ góp phân nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu cho NSNN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tỷ trọng thuế TNCN trong tổng số thu Ngân sách tại các nước trong khối ASEAN, như Thái Lan, Ma-lay-xi-a, Phi-lip-pin khoảng 12-16%, các nước đang phát triển khoảng 13-14%, các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức khoảng 30-40% ở Việt Nam, tỷ trọng thuế TNCN hiện nay khoảng 4,1% (Bộ Tài
chính - Tổng cục Thuế, Tài liệu Bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức mới, NXB Tài
chính, năm 2011)
Trang 22Thứ ba, Thuế TNCN là công cụ kinh tế vĩ mô được Nhà nước sử dụng điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm
Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu NSNN, thực hiện công bằng xã hội, mà còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua mức thuế TNCN và chế độ miễn giảm thuế có thể khuyến khích đầu tư, tiết kiệm
Như đã phân tích, thuế TNCN động viên trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, thể hiện rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nước và được căn cứ trên các nguyên tắc “lợi ích”, “công bằng” và “khả năng nộp thuế” Việc áp dụng thuế TNCN sẽ góp phần đảm bảo tính hợp lý, công bằng, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế và hạn chế sự gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư; đồng thời Nhà nước sẽ nắm được thông tin về thu nhập của cá nhân Thông qua đó, vừa thực hiện động viên nguồn lực vừa góp phần phòng chống tham nhũng, lãng phí
Thứ tư, thuế TNCN góp phần quản lý thu nhập dân cư
Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCN, cơ quan Nhà nước có thể phát hiện những khoản thu nhập hợp pháp, không hợp pháp để có những biện pháp xử lý phù hợp Qua tài liệu, số liệu về thuế TNCN giúp cho Chính phủ có thêm cơ sở để đánh giá khái quát về tình hình thu nhập xã hội, về cơ cấu thu nhập dân cư để đề ra các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp
Qua thời gian thực hiện thuế TNCN ở Việt nam, bước đầu đã tạo cho mọi người dân quen với việc kê khai thu nhập và nhận thức được trách nhiệm về đóng thuế thu nhập, một loại thuế phổ biến trên thế giới và cũng là tiền đề trong quá trình hoàn thiện chính sách thuế TNCN ở Việt Nam
Tóm lại, Thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của
mỗi quốc gia Tuy nhiên, vì công tác quản lý thuế TNCN còn nhiều hạn chế nên những vai trò này vẫn chưa thực sự được phát huy ở những nước chậm phát triển
1.2.2 Cơ chế tự khai tự nộp thuế
1.2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của cơ chế tự khai tự nộp
Khái niệm
Cơ chế tự khai tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó các đối tượng nộp thuế (ĐTNT) tự giác căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kì kê khai
Trang 23của mình và căn cứ vào những quy định của pháp luật tự xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai, nộp thuế vào NSNN, và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc kê khai
Đặc điểm
- Cơ chế tự khai, tự nộp thuế là một phương thức quản lý thuế được xây dựng dựa trên nền tảng là sự tuân thủ tự nguyện của đối tượng nộp thuế, quản lý thuế dựa trên kĩ thuật quản lý rủi ro
- Cơ chế tự khai tự nộp thuế đòi hỏi các tổ chức, cá nhân nộp thuế phải nâng cao trách nhiệm vì tờ khai là do tổ chức, cá nhân nộp thuế tự lập trên cơ sở sản xuất kinh doanh của mình và chính sách chế độ về thuế mà không cần có sự xác nhận của cơ quan thuế Tổ chức, cá nhân nộp thuế phải chịu trách nhiệm về kết quả của việc tính thuế, kê khai thuế của mình trước pháp luật
- Theo cơ chế này cơ quan thuế không can thiệp vào quá trình kê khai , nộp thuế của tổ chức, cá nhân kinh doanh nhưng cơ quan thuế sẽ tiến hành thanh tra, kiểm tra và áp dụng các biện pháp xử phạt, cưỡng chế theo luật định đối với những trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật về thuế như không nộp thuế, trốn thuế, gian lận về thuế …
- Áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp, cơ quan Thuế phải tăng cưòng công tác tuyên truyền, phổ biến và giải đáp các vướng mắc về chính sách, chế độ thủ tục về thuế mà các tổ chức, cá nhân thường gặp trong quá trình kê khai nộp thuế để đối tượng nộp thuế thực hiện tốt nghĩa vụ thuế của mình đối với Nhà nước
- Cơ chế tự khai, tự nộp là cơ chế quản lý thuế hiện đại, hiệu quả, được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng, nó cho phép các cơ quan thuế phân bổ nguồn lực theo hướng chuyên môn hóa, chuyên sâu trong quản lý cải tiến các quy trình quản
lý rõ ràng làm tăng sự minh bạch trong quản lý thuế, đồng thời giảm bớt chi phí quản lý, thúc đẩy cải cách hành chính thuế
1.2.2.2 Tính tất yếu của cơ chế tự khai tự nộp
Cơ chế tự khai, tự nộp là cơ chế quản lý thuế tiên tiến, hiện đại, dựa trên ý thức tuân thủ tự giác của NNT Với việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thì cơ quan
Trang 24Thuế sẽ không phải can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp mà tập trung nguồn lực cho công tác tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để NNT có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ NSNN Đồng thời cũng tăng cường các biện pháp theo dõi giám sát, kiểm tra để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các hành vi vi phạm pháp luật thuế, tránh gây thất thu NSNN
Việc chuyển sang thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp là phù hợp với xu thế cải cách quản lý hành chính của nhà nươc theo hướng dân chủ, tôn trọng và phát huy tính tự giác, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của người dân NNT được giảm bớt các thủ tục hành chính, được chủ động trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mình đối với Nhà Nước Còn về phía cơ quan Thuế, cơ chế mới sẽ tạo điều kiện để sắp xếp lại bộ máy quản lý chuyên sâu theo chức năng, chuyên môn hóa tới từng cán
bộ Khi áp dụng cơ chế này, cơ quan Thuế có thể đáp ứng yêu cầu quản lý khi số lượng doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng, các giao dịch kinh tế diễn ra ngày một phức tạp và đảm bảo yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế Hơn nữa, nền kinh tế ngày càng phát triển, luật doanh nghiệp mới có một số quyết định thông thoáng hơn nên số lượng các doanh nghiệp, đối tượng sản xuất kinh doanh ngày càng tăng lên nhiều Trong khi đó số cán bộ thuế còn thiếu nhiều về cả số lượng và chất lượng
Do vậy cơ quan Thuế phải đổi mới phương thức quản lý thuế thì mới có thể theo kịp được yêu cầu sản xuất kinh doanh
Như vậy thực hiện quản lý thuế theo cơ chế NNT tự khai, tự nộp thuế là tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế thời đại, nhất là trong điều kiện hiện nay nhà nước ta đang đẩy mạnh cải cách hành chính để đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Hơn nữa, trên thế giới có rất nhiều nước đã áp dụng cơ chế này và đã thu được kết quả rất cao trong việc thu thuế cho NSNN
1.2.2.3 Điều kiện để thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế
Việc thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế đòi hỏi các điều kiện sau:
Một là, Hệ thống luật thuế phải thực sự minh bạch, người dân có thể dễ dàng tiếp cận và tìm hiểu chính sách thuế
Trang 25Để áp dụng cơ chế quản lý thuế tiên tiến đòi hỏi đối tượng nộp thuế phải nắm chắc các quy định của luật thuế để tự mình kê khai, tính toán đúng số thuế phải nộp cho Nhà nước Muốn vậy, các quy định về thuế phải đơn giản, dễ hiểu, rõ ràng, đơn nghĩa
Hai là, Trình độ dân trí cao, sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật của người dân tốt, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đạt hiệu quả thiết thực
Vì đối tượng nộp thuế là người trực tiếp tính toán số thuế mà mình phải nộp cho NSNN, nên đòi hỏi họ phải có một kiến thức cơ bản để hiểu được các quy định của luật thuế Mặt khác, cơ chế tự khai, tự nộp đòi hỏi sự tự giác cao của đối tượng nộp thuế do vậy mà người dân cần phải có ý thức tuân thủ pháp luật tốt Để đạt được điều kiện này thì cơ quan quản lý thuế phải đổi mới và nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến các chính sách thuế
Ba là, Các cơ quan hành pháp phải có năng lực cao và phối hợp tốt với cơ quan thuế trong công tác quản lý hành chính
Trong khi cơ chế tự khai, tự nộp thuế đòi hỏi đối tượng nộp thuế phải có sự tực giác tuân thủ cao thì có một bộ phận không nhỏ dân chúng có ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan hành pháp nói chung và cơ quan thuế nói riêng phải có trình độ quản lý cao để đảm bảo thực hiện đúng những quy định của pháp luật
Bốn là, Các thủ tục như đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế…, phải đơn giản Các chương trình thanh tra thuế và cưỡng chế thuế phải có hiệu quả và hiệu lực
Các thủ tục về thuế phải đơn giản để giúp các tổ chức, cá nhân dễ dàng hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước Đồng thời cơ quan thuế phải tiến hành thanh tra, kiểm tra thường xuyên việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các đối tượng nộp thuế vì gian lận, trốn lậu thuế là một căn bệnh kinh niên tồn tại song song cùng với việc thu thuế của Nhà nước
Năm là, Cần có chế tài pháp luật đủ nghiêm để răn đe các hành vi vi phạm
Khi áp dụng mô hình quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thì các chế tài pháp luật nghiêm minh là rất cần thiết, rất quan trọng trong bối cảnh khả năng lợi
Trang 26dụng sự cho phép tự giác của Nhà nước để trốn lậu thuế là khá cao, nhất là đối với nước ta - một nước có trình độ phát triển chưa cao về mọi mặt
1.2.2.4 Ưu điểm và hạn chế của cơ chế tự khai, tự nộp
Ưu điểm của cơ chế tự khai, tự nộp
Cơ chế tự khai, tự nộp thuế đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới Đây
là cơ chế tiên tiến đem lại nhiều lợi ích cho cả cơ quan thu thuế và đối tượng nộp thuế Cơ chế này có những ưu điểm sau:
Một là, Tiết kiệm thời gian,công sức
Khi áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thì hàng tháng cán bộ quản lý thu thuế sẽ không phải mất thời gian để tính toán lại số thuế phải nộp của đối tượng nộp thuế, không phải mất thời gian đi gửi thông báo thuế cho đối tượng nộp thuế Hơn nữa, trong cơ chế “Thông báo thuế” trường hợp đối tượng nộp thuế đã thực hiện nghiêm túc luật thuế, kê khai và tính toán chính xác số thuế phải nộp thì rõ ràng việc phải tính toán lại của cơ quan thuế là thừa và lãng phí thời gian, công sức Với số lượng các đối tượng nộp thuế hiện lên đến gần 100 ngàn doanh nghiệp và các tổ chức kinh
tế hơn 1,4 triệu tổ chức hộ kinh doanh cá thể thì việc không phải tính toán lại số thuế phải nộp sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức cho cán bộ quản lý thu thuế (http://www.tct.vn)
Còn đối với các đối tượng nộp thuế thì với việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp sẽ làm giảm được các thủ tục hành chính trong việc thực hiện nghĩa vụ kê khai
và nộp thuế của mình, do đó cũng sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức
Hai là, Tiết kiệm chi phí quản lý hành chính về thuế
Khi áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thì hàng tháng cơ quan Thuế không phải gửi hàng triệu thông báo thuế nên ngành thuế tiết kiệm được chi phí giấy mực, in
ấn, cước phí bưu điện… đem lại một hiệu quả kinh tế không nhỏ, bởi chi phí hành thu càng thấp thì hiệu quả công tác quản lý thuế càng được nâng cao Ngoài ra, khi thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp cơ cấu tổ chức của cơ quan Thuế được tổ chức theo chức năng nên bộ máy quản lý sẽ gọn nhẹ hơn bớt cồng kềnh, do đó giảm được một phần lớn chi phí quản lý mà hiệu quả quản lý vẫn cao
Trang 27Ba là, Nâng cao trách nhiệm pháp lý của đối tượng nộp thuế
Với cơ chế “Thông báo thuế” trách nhiệm pháp lý của đối tượng nộp thuế đối với tính chính xác của việc tính toán số thuế phải nộp không cao bởi vì số thuế họ phải nộp được xác định theo thông báo của cơ quan Thuế Vì vậy, có thể có tình trạng các cơ sở kinh doanh tính toán số liệu một cách qua loa, đại khái và nếu cán
bộ thuế kiểm tra không kỹ thì có thể dẫn đến sai số thuế phải nộp mà các cơ sở kinh doanh đó không hề có lỗi Nhưng khi áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thì đối tượng nộp thuế phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực của số liệu kê khai và
cả tính chính xác của việc tính toán số thuế phải nộp Tức là, đối tượng nộp thuế được nâng cao trách nhiệm pháp lý trong việc kê khai thuế với Nhà nước, tăng sự tự giác, được chủ động trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình Hơn nữa, còn thiết lập được niềm tin giữa cơ quan Thuế và NNT
Bốn là, Tạo tiền đề nâng cao hiệu quả công tác của cơ quan Thuế
Thực hiện áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế cơ quan Thuế có điều kiện
để cải tiến cơ cấu tổ chức nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực hiện có, công tác quản lý thu thuế được tổ chức theo hướng ngày càng hiện đại và chuyên môn hóa Nhờ việc không mất thời gian tính toán lại số thuế phải nộp của đối tượng nộp thuế và phát hành thông báo thuế mà cán bộ Thuế có điều kiện tập trung thời gian
và công sức cho các công việc quản lý khác như: công tác phục vụ, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hiểu và tự giác thực hiện các nghĩa vụ thuế của mình đối với NSNN, công tác thanh tra, kiểm tra, công tác đôn đốc thu nộp và cưỡng chế thuế…Triển khai thực hiện cơ chế này sẽ tạo điều kiện cho ngành thuế đẩy mạnh hiện đại hóa công tác quản lý mà cụ thể là đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ tin học trong công tác quản lý thu thuế Đó là tiền đề để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế
Hạn chế của cơ chế tự khai, tự nộp
Khi áp dụng một cơ chế chính sách mới bên cạnh những lợi ích to lớn thì cũng có nhiều điểm hạn chế Việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế nếu không đáp ứng được những điều kiện nhất định thì sẽ có những hạn chế sau:
Trang 28Một là, Nguy cơ trốn lậu thuế, thất thoát thuế lớn nếu trình độ dân trí thấp
và không có biện pháp quản lý thuế phù hợp
Nếu không có biện pháp quản lý phù hợp, chẳng hạn công tác kiểm tra không kịp thời, việc phổ biến các luật thuế kém hiệu quả, công tác hướng dẫn các đối tượng nộp thuế không đầy đủ, chu đáo … Có thể dẫn đến các tình trạng đối tượng nộp thuế lợi dụng việc không kiểm tra tính toán lại số thu thường kì của cơ quan Thuế để cố tình kê khai sai nhằm trốn lậu thuế Trong trường hợp do hiểu biết các luật thuế của đối tượng nộp thuế kém và công tác hướng dẫn của cơ quan Thuế không hiệu quả thì có thể có tình trạng kê khai sai số thuế phải nộp một cách vô ý Với trình độ dân trí của nước ta còn thấp, ý thức tự giác và tuân thủ pháp luật của người dân chưa cao thì nguy cơ thất thoát thuế là rất lớn
Hai là, Đòi hỏi cao về cơ sở vật chất và trình độ quản lý của các cơ quan Nhà Nước
Để áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp một cách hiệu quả đòi hỏi cơ sở vật chất của ngành thuế phải được hiện đại hóa, đặc biệt là hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thông tin, liên lạc sao cho việc kiểm tra, đối chiếu số liệu có thể phục
vụ nhanh chóng và chính xác Do đó, cần phải có sự đầu tư ban đầu rất lớn trong khi NSNN còn hạn hẹp Mặt khác, trình độ quản lý của các quan hành pháp hiện nay còn thấp, nếu không có sự chuẩn bị kĩ càng có thể xảy ra tình trạng buông lỏng công tác quản lý thuế
1.3 Nội dung quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai, tự nộp
1.3.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý thuế TNCN
1.3.1.1 Khái niệm
Trước hết ta tìm hiểu về quản lý thì “quản lý là sự tác động của chủ thể quản
lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt đến mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường” (Nguyễn Hồng Sơn – Phan Huy Đường, Giáo trình khoa học quản lý, NXB Đại học Quốc gia, 2013, trang 17)
Về phương thức tác động và hiệu lực thì quản lý dựa vào pháp luật và các thể chế, quy chế, nguyên tắc, mô hình đã định trước
Trang 29Về nội dung chức năng, quản lý bao gồm các việc như xây dựng kế hoạch sắp xếp tổ chức, chỉ đạo điều hành và kiểm soát tiến trình hoạt động
Về phạm vi tác động và hình thức thể hiện: quản lý là một phạm trù rộng, để tiến hành quản lý, chủ thể quản lý phải tiến hành đồng bộ rất nhiều chức năng, trong
đó có chức năng lãnh đạo
Như vậy có thể hiểu quản lý thuế TNCN là sự tác động có chủ đích của các
cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế TNCN,
để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra
1.3.1.2 Mục tiêu quản lý thuế TNCN
- Đảm bảo đúng chủ trương, chính sách, pháp luật thuế trong từng giai đoạn Quốc hội ban hành Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành từ 01/07/2007, Luật Thuế TNCN có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 Sau đó, với sự ra đời của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN số 26/2012/QH13 đã thể hiện tính kịp thời, thích ứng với những biến động của nền kinh tế Đây là bước tiến mới trong quản lý thu thuế theo hướng tiên tiến, hiện đại Nội dung quản lý thu thuế đã thể hiện rõ hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thu thuế cả về phương pháp quản
lý, thủ tục hành chính, bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ, áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, kiểm soát cho được tất cả các đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, hạn chế thất thu thuế ở mức thấp nhất, bảo đảm thu đúng, thu đủ và kịp thời các khoản thu vào NSNN Đẩy mạnh cải cách hành chính trong công tác quản lý thu thuế nhằm nâng cao quyền hạn, trách nhiệm
và hiệu lực của bộ máy quản lý thu thuế; đã có quy định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm và hiệu lực của bộ máy quản lý thu thuế; đã quy định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của đối tượng nộp thuế, cơ quan thuế và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan Bổ sung quyền cưỡng chế thuế, điều tra các vụ vi phạm về thuế cho cơ quan thuế, áp dụng
cơ chế tự khai, tự nộp thuế trên phạm vi toàn quốc Thực hiện tuyên truyền, giáo dục về thuế bằng nhiều hình thức phong phú để nâng cao ý thức tự giác tuân thủ pháp luật của đối tượng nộp thuế; khuyến khích và phát triển mạnh mẽ các dịch vụ
Trang 30tư vấn, kế toán thuế; mở rộng diện nộp thuế theo phương pháp kê khai Mặt khác, với chính sách mở cửa và hội nhập, Việt Nam là thành viên của các tổ chức lớn trên thế giới đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Cạnh tranh ngày càng quyết liệt khiến cho nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ Do vậy việc tăng cường các biện pháp quản lý thu thuế phải đảm bảo thực hiện đúng luật nhưng phải thích nghi với bối cảnh kinh tế xã hội của đất nước
- Đảm bảo công bằng xã hội và tăng cường tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho NSNN trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Thuế TNCN chiếm tỷ trọng chủ yếu trong số thu NSNN ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho NSNN
- Góp phần tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế
và dân cư Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước thông qua công cụ pháp luật để tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô Ý thức chấp hành luật pháp của các tổ chức kinh tế và dân cư sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động này Qua công tác tổ chức thực hiện và thanh tra việc chấp hành các luật thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng, cùng với việc tăng cường tính pháp chế của chính sách thuế này, ý thức chấp hành chính sách thuế sẽ được nâng cao, từ đó tạo thói quen “sống và làm việc theo pháp luật”
1.3.1.3 Nguyên tắc quản lý thuế TNCN
Là một trong các nội dung quản lý kinh tế, quản lý thuế TNCN cũng tuân theo những nguyên tắc chung: Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế; tương hợp với thị trường; tập trung dân chủ; kết hợp hài hòa các lợi ích xã hội; kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương, vùng lãnh thổ; tiết kiệm và hiệu quả; phát triển kinh tế, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa; pháp chế xã hội chủ nghĩa; Đồng thời quản lý thuế TNCN còn tuân theo những nguyên tắc riêng:
Trang 31- Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
- Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NNT
- Áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế Việc áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế bao gồm: thu thập thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT; xây dựng các bộ tiêu chí quản lý thuế; đánh giá việc tuân thủ pháp luật của NNT; đề xuất, áp dụng các biện pháp quản lý thuế Cơ quan quản lý thuế, quản lý ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để đánh giá rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật của NNT, lựa chọn đối tượng kiểm tra, thanh tra về thuế và hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ khác trong quản lý thuế
1.3.2 Bộ máy quản lý thuế TNCN
1.3.2.1 Vai trò của Bộ máy quản lý thuế
Tổ chức bộ máy là một khâu quan trọng trong công tác quản lý thuế, bao gồm việc xác định cơ cấu tổ chức bộ máy và phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý, nhằm xây dựng hệ thống quản lý thuế khoa học, phù hợp, đảm bảo tính thống nhất, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các chức năng quản lý thuế nhằm thực thi chính sách, pháp luật một cách nghiêm minh, bảo đảm thu đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào NSNN
Bộ máy quản lý thuế có vai trò quyết định đến toàn bộ hệ thống thuế, nó được tổ chức hợp lý, thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý thuế thì bộ máy quản
lý thuế sẽ phát huy được tối đa hiệu lực của toàn bộ hệ thống chính sách thuế và hiệu quả quản lý sẽ cao Ngược lại, một cơ cấu quản lý không phù hợp sẽ kìm hãm, làm suy yếu tổ chức và hạn chế tác dụng của Bộ máy, của hệ thống chính sách thuế
và qua đó ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh tế xã hội
Vai trò của Bộ máy quản lý thuế thể hiện:
- Bảo đảm hệ thống pháp luật thuế được thực thi đầy đủ, nghiêm túc
Trang 32- Bảo đảm mục tiêu thu NSNN
- Nâng cao hiệu quả quản lý thuế, bảo đảm thuận lợi cho NNT, giảm chi phí quản lý của cơ quan thuế và chi phí tuân thủ pháp luật thuế của NNT
Con người luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trong mọi lĩnh vực quản lý Trong bộ máy quản lý thuế, đội ngũ cán bộ, công chức thuế là bộ phận quan trọng, góp phần vào việc xây dựng hệ thống chính sách thuế phù hợp, khoa học, minh bạch và quyết định đề xuất, áp dụng các phương pháp, quy trình và các biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế hợp lý, bảo đảm tính tiên tiến, hiện đại, đạt hiệu quả kinh tế cao Vì vậy, việc xây dựng, phân bố nguồn nhân lực phù hợp với nhiệm vụ quản lý thuế, bảo đảm thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý thuế là một trong những nội dung quan trọng của tổ chức Bộ máy và quyết định hiệu quả của
Bộ máy quản lý thuế
1.3.2.2 Mô hình tổ chức quản lý thuế
Mô hình tổ chức quản lý thuế là khái quát bộ máy quản lý thuế theo một nguyên tắc cơ bản nhất, bao trùm và chi phối việc xác định số lượng các bộ phận, chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế của từng bộ phận trong cơ cấu tổ chức Các nhà nghiên cứu chính sách và quản lý thuế đã tổng kết các mô hình tổ chức quản lý thuế
đã được các nước trên thế giới áp dụng gồm các mô hình như sau:
Mô hình tổ chức quản lý thuế theo sắc thuế: là việc tổ chức bộ máy quản
lý thuế thành từng phòng ban riêng biệt để quản lý một hoặc một số loại thuế cụ thể Đặc điểm cơ bản của mô hình này là mỗi phòng thực hiện tất cả các chức năng để quản lý các loại thuế mà phòng đó chịu trách nhiệm
- Ưu điểm:
+ Tạo điều kiện quản lý chuyên sâu từng sắc thuế, hiểu rõ phương pháp quản lý sắc thuế một cách hiệu quả nhất, cho phép từng phòng tự phát triển các chương trình chuyên sâu phù hợp nhất theo yêu cầu quản lý của từng sắc thuế
+ Phản ứng kịp thời với những thay đổi của luật thuế hay những biện pháp quản lý từng sắc thuế Khi một chính sách thuế nào đó có sự bổ sung, sửa đổi hoặc thay đổi quy trình quản lý thì chỉ phải thay đổi trong một phòng quản lý sắc thuế đó
Trang 33hoặc khi có sắc thuế mới phát sinh thì chỉ cần thành lập thêm một phòng mới để quản lý sắc thuế đó, các phòng khác không thay đổi
+ Mô hình này thuận lợi và phù hợp với các nước có môi trường tài chính không ổn định và thủ tục quản lý thuế đối với từng loại thuế khác nhau
+ Dễ xảy ra thông đồng giữa đối tượng nộp thuế và cán bộ quản lý thuế do mỗi phòng hoạt động độc lập và tự chủ với phòng khác, làm cho sự kiểm tra chéo giữa các phòng kém hiệu quả
+ Bộ máy quản lý cồng kềnh
Trong quá trình áp dụng, mô hình quản lý theo sắc thuế vẫn đan xen với quản lý thuế theo chức năng, bởi lẽ, trong bộ phận quản lý theo sắc thuế lại hình thành các bộ phận thực hiện từng chức năng riêng biệt để quản lý đối với các sắc thuế đó (như: hỗ trợ NNT, kê khai thuế, kiểm tra, thanh tra thuế, ) Mặt khác, mỗi chức năng quản lý còn phải điều chỉnh theo từng nhóm giao dịch (như: thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển dịch tài sản, thu nhập từ kinh doanh bất động sản, vốn
Mô hình tổ chức bộ máy theo nhóm đối tượng nộp thuế
Là việc tổ chức bộ máy quản lý thuế theo từng phòng ban chịu trách nhiệm cung cấp đầy đủ các dịch vụ quản lý nhóm đối tượng nộp thuế xác định Ở một số nước phân loại nhóm đối tượng theo quy mô Một số nước khác phân loại nhóm đối tượng nộp thuế theo ngành nghề kinh doanh hoặc theo hình thức sở hữu Từ đó hình thành các phòng quản lý thu thuế theo đối tượng: Phòng quản lý thuế các doanh
Trang 34nghiệp lớn, phòng quản lý thuế các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc phòng quản lý thuế các ngành công nghiệp, phòng quản lý thuế ngành hàng không hoặc phòng quản lý thuế khu vực kinh tế quốc doanh, phòng quản lý thuế khu vực kinh tế dân doanh
+ Tạo căn cứ để quy trách nhiệm rõ ràng đối với từng bộ phận quản lý trong trường hợp xảy ra thất thu thuế hoặc không hoàn thành nhiệm vụ thu Ngân sách
- Nhược điểm:
+ Không đáp ứng được yêu cầu quản lý thuế khi số lượng và quy mô của đối tượng nộp thuế thường xuyên tăng, loại hình sản xuất kinh doanh ngày càng đa dạng, phức tạp, phạm vi hoạt động kinh doanh ngày càng rộng và trên nhiều lĩnh vực, thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau
+ Dễ xảy ra sự không thống nhất trong việc chỉ đạo thực hiện các luật thuế, các biện pháp quản lý của cùng một sắc thuế nhưng đối với các loại đối tượng nộp thuế khác nhau, tạo ra sự không công bằng về thuế giữa các đối tượng nộp thuế
+ Chi phí quản lý cao do mỗi phòng đều phải thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý đối với nhóm đối tượng nộp thuế do phòng quản lý
+ Dễ dẫn đến quản lý chuyên quản khép kín, móc ngoặc, tham nhũng, tiêu cực nếu không có sự giám sát chặt chẽ, kiểm tra thường xuyên
Trong thực tế, mô hình này vẫn đan xen với quản lý thuế theo chức năng và theo sắc thuế Thể hiện: trong mỗi bộ phận quản lý thuế theo nhóm đối tượng lại được tổ chức thành các bộ phận quản lý theo từng chức năng đối với nhóm đối tượng đó và vẫn tồn tại bộ phận quản lý theo các sắc thuế đặc thù
Trang 35Quản lý thuế theo nhóm đối tượng, đặc biệt là quản lý nhóm đối tượng nộp thuế có quy mô lớn và theo nhóm ngành kinh tế mũi nhọn đang là xu hướng được
áp dụng ở các nước có nền kinh tế phát triển
Mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng
Cơ quan thuế tổ chức bộ máy thành các bộ phận riêng rẽ để thực hiện từng chức năng quản lý chính đối với tất cả các loại thuế Theo đó, cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận thực hiện một hoặc một số chức năng nhất định trong quy trình quản lý thuế như: phòng tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế, phòng thanh tra thuế Hầu hết các cơ quan thuế khi chuyển đổi sang mô hình này đều chịu áp lực mạnh bởi số lượng đối tượng nộp thuế phải quản lý tăng lên quá nhanh Do đó, cơ quan thuế đã phải gộp các chức năng tương tự nhau trong phòng ban để quản lý chung cho cả các sắc thuế
- Ưu điểm:
+ Thích ứng với mọi sự thay đổi về chính sách thuế và đối tượng nộp thuế + Hiệu quả quản lý cao do công tác quản lý được chuyên môn hóa, chuyên sâu, chuyên nghiệp theo từng chức năng Đặc biệt nếu kết hợp với quản lý thuế theo quy mô đối tượng nộp thuế thì hiệu quả sẽ càng cao hơn
+ Tạo điều kiện cho đối tượng nộp thuế tăng cường tính tự giác và giảm chi phí tuân thủ luật thuế của đối tượng nộp thuế, giảm chi phí quản lý của cơ quan thuế
+ Giảm thiểu hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong quản lý thuế do sự kiểm tra, giám sát của các bộ phận khác nhau trong quá trình quản lý thuế
- Nhược điểm:
+ Chưa hoàn toàn thích ứng trong điều kiện trình độ hiểu biết pháp luật thuế và trình độ tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của người dân nói chung và của đối tượng nộp thuế nói riêng còn thấp
+ Bởi đặc tính phân đoạn trong công tác quản lý dễ dẫn tới việc mỗi bộ phận chức năng chỉ tập trung vào một khía cạnh hẹp của mỗi đối tượng nộp thuế và tách biệt với công việc của các bộ phận khác, thiếu bộ phận trọng tâm để tập hợp các chức năng quản lý với nhau Do đó, nếu người đứng đầu cơ quan thuế không
Trang 36quản lý chặt chẽ, cán bộ thuế trách nhiệm không cao, để xảy ra thất thu thuế hoặc không hoàn thành dự toán Nhà nước giao thì khó quy trách nhiệm cho tổ chức và cá nhân nào vì cả bốn khâu quản lý thuế đều liên quan đến việc hoàn thành nhiệm vụ thu Ngân sách
Mô hình này được áp dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển Trong quá trình áp dụng, mô hình quản lý thuế theo chức năng được áp dụng đan xen với nguyên tắc quản lý theo nhóm đối tượng nộp thuế và theo sắc thuế
Mô hình quản lý thuế có tính hỗn hợp
Để phát huy ưu điểm và khắc phục những tồn tại của các mô hình quản lý thuế trên, nhiều nước trên thế giới áp dụng mô hình quản lý thuế kết hợp các mô hình quản lý thuế vừa theo chức năng vừa theo nhóm đối tượng và theo sắc thuế, thông thường có một số hình thức kết hợp sau:
Mô hình kết hợp Chức năng – quy mô đối tượng - sắc thuế:
Mô hình này thường được áp dụng ở các nước phát triển và đang phát triển
và trong điều kiện thực hiện cơ chế cơ sở kinh doanh tự kê khai, tự tính thuế và tự nộp thuế vào NSNN
Theo mô hình này, trong cơ quan Thuế thành lập các bộ phận quản lý theo từng chức năng quản lý thuế (bộ phận hỗ trợ NNT; bộ phận kê khai và kế toán thuế;
bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế thu nợ thuế; bộ phận kiểm tra, thanh tra thuế) Trong mỗi bộ phận quản lý theo chức năng nêu trên lại hình thành các bộ phận quản
lý đối với từng loại nhóm đối tượng nộp thuế (lớn, vừa, nhỏ hoặc theo từng ngành kinh tế: hàng không, điện lực, ngân hàng )
Tuy nhiên, cũng có những chức năng được thành lập để quản lý đối với tất cả NNT Như: bộ phận kê khai, kế toán thuế sẽ quản lý việc kê khai của tất cả các đối tượng nộp thuế và theo dõi kết quả thu thuế trong toàn ngành
Bên cạnh các bộ phận quản lý thuế theo chức năng, một số sắc thuế (chủ yếu
là TNCN, thuế tài sản) lại được thành lập bộ phận quản lý riêng, độc lập để quản lý các sắc thuế này Trong bộ phận quản lý theo sắc thuế, cũng thành lập các bộ phận
Trang 37quản lý theo từng chức năng Ví dụ: trong bộ phận quản lý thuế TNCN, hình thành các bộ phận: hỗ trợ NNT, kê khai thuế TNCN, thanh tra thuế TNCN
Mô hình kết hợp đối tượng (quy mô, ngành nghề) - Chức năng - sắc thuế Hiện nay một số nước tiên tiến trên thế giới đang áp dụng mô hình quản lý theo nhóm đối tượng chia theo quy mô (lớn, vừa, nhỏ) hoặc theo nhóm ngành kinh
tế quan trọng (điện lực, hàng không, bảo hiểm, ngân hàng, bưu chính viễn thông, ) Trong mỗi bộ phận quản lý theo đối tượng lại thành lập các bộ phận quản lý theo chức năng để quản lý và thu thuế đối với NNT đó (như các bộ phận: hỗ trợ; Kê khai
và kế toán thuế; Quản lý nợ thuế; Thanh tra, kiểm tra thuế)
Bên cạnh đó, một số sắc thuế (chủ yếu là thuế TNCN, thuế tài sản) lại được thành lập bộ phận quản lý riêng, độc lập để quản lý các sắc thuế này và trong từng
bộ phận quản lý thuế lại hình thành bộ phận quản lý thuế theo từng chức năng
1.3.3 Đối tượng quản lý thuế TNCN
1.3.3.1 Đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật Thuế TNCN phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam Cá nhân cư trú
là người đáp ứng một trong các điều kiện sau: i) có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; (ii) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà cho thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn Cá nhân không đáp ứng điều kiện trên là cá nhân không cư trú
1.3.3.2 Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây: (i) Thu nhập từ kinh doanh; (ii) Thu nhập từ tiền lương, tiền công; (iii) Thu nhập từ đầu tư vốn; (iv) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn; (v) Thu nhập từ chuyển nhượng Bất động sản; (vi) Thu nhập từ trúng thưởng; (vii) Thu nhập từ bản quyền; (viii) Thu nhập từ nhượng quyền thương mại; (ix) Thu nhập từ nhận thừa kế; (x) Thu nhập từ nhận quà tặng Bên cạnh đó, một số khoản thu nhập được miễn thuế: (1) Thu nhập
Trang 38từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị,
em ruột với nhau; (2) Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất; (3) Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất; (4) Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau; (5) Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chê thông thường; (6) Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để sản xuất; (7) Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; (8) Thu nhập từ kiều hối; (9) Phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật; (10) Tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả; (11) Thu từ học bổng; (12) Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật; (13) Thu nhập nhận được từ quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, không nhằm mục đích lợi nhuận; (14) Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức chính phủ và phi chính phủ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt
1.3.3.3 Căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế đối với cá nhân cư trú
Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh của cá nhân cư trú là thu nhập tính thuế và thuế suất
Trang 39Thuế TNCN từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh của cá nhân cư trú được xác định theo công thức:
từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho NNT
- Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh được xác định bằng doanh thu trừ đi các khoản chi phí hợp lý theo quy định và liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế từ kinh doanh là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội
mà cá nhân kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền Các khoản chi phí hợp lý được trừ là các khoản chi phí thực tế phát sinh,
có liên quan trực tiếp đến việc tạo ra doanh thu, thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế và có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật
khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú Mức giảm trừ gồm có 2 phần: Phần giảm trừ đối với bản thân NNT và phần giảm trừ đối với người phụ thuộc;
nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc theo
Trang 40quy định của Bộ Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội được trừ các khoản bảo hiểm này vào TNCN khi tính thuế TNCN Tiền đóng bảo hiểm của năm nào được trừ vào TNCN của năm đó Các khoản bảo hiểm bắt buộc được trừ và TNCT trước khi tính thuế TNCN bao gồm: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách hiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc và các khoản bảo hiểm bắt buộc khác theo quy định của pháp luật
+ (3) Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học, bao gồm: Khoản chi đóng góp vào các tổ chức, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, người già không nơi nương tựa; Khoản chi đóng góp vào các quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học được thành lập và hoạt động theo quy định tại Nghị định số 148/2007/NĐ-CP ngày 25/09/2007 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học, không nhằm mục đích lợi nhuận và quy định tại các văn bản khác có liên quan đến việc quản lý, sử dụng các nguồn tài trợ
Thuế suất: Thuế suất thuế TNCN đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công được áp dụng theo biểu thế lũy tiến từng phần, cụ thể như sau:
Bảng 1.2 Biểu thuế lũy tiến từng phần
(Khoản 2 Điều 22 Luật Thuế TNCN)
Bậc
thuế
Phần thu nhập tính thuế/năm (triệu đồng)
Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng)
Thuế suất (%)